Tải bản đầy đủ

Mối quan hệ giữa tư pháp quốc tế việt nam và luật dân sự việt nam


TR Ư Ờ N G ĐẠI HỤC L U Ậ T HÀ NỘI
K H O A PHÁP LUẬT Q U Ố C TÊ

------- o O o ---- ---

ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÂP c ơ SỞ

“MỐI QUAN HỆ
GIỮA T ư PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM
VÀ LUẬT DÂN Sự VIỆT NAM”






Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Hồng Bác
Phó trưởng bộ môn Tư pháp quốc tê
Khoa pháp luật quốc tế
Trường Đại học Luật Hà Nội


THƯ VỈỀN
TRƯỜNG ĐAI HOC lŨ Ặ Ĩ HA N ỏ l



/ị/-ị

Hà Nội - 2004


TR Ư Ờ N G Đ Ạ I HỌC LU ẬT H À NỘI
K H O A PHAP l u ậ t QUỐC T Ế
--------- o O o ----------

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP c ơ s ở
“ MỐI QUAN HỆ GIỮA Tư PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM VÀ
LUẬT DÃN Sự VIỆT NAM”






Chủ nhiệm đ ề tài: TS. N guyễn H ồng Bắc, Phó trưởng bộ môn Tư pháp
quốc tế, Khoa pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội.
T hư ký đê tài: N guyễn Bá Bình, Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế, Đại
■ học Luật Hà Nội.

Các cộng tác viên tham gia đề tài:
1. TS. Vũ Đức Long, Cục trưởng Cục con nuôi quốc tế, Bộ Tư pháp.
2. TS. Nguyễn C ông K h an h , Cục con nuôi quốc tế, Bộ Tư pháp.
3. TS. Phạm V ăn T uyết, Giảng viên Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội.
4. TS. Nguyễn T ru n g T ín, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật.
5. Chuyên viên chính Hồ V ăn Phú, Vụ pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp.
6. Nguyễn V ăn N am , Giảng viên Khoa Luật - Học viện An ninh nhân dân.
7. ThS. Nguyễn T h ái M ai, Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà Nội.
8. ThS. Bùi T hị T hu, Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội.
9. Nguyền Bá B ình, Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội.



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


ASEAN

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

APEC

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái bình
dương

BLDS

Bộ luật Dân sự

BERNE

Công ước về bảo hộ quyền tác giả

BNG

Bộ Ngoại giao

BNV

Bộ Nội vụ

BTP

Bộ Tư pháp

CHDC

Cộng hoà dân chủ

CHLB

Cộng hoà liên bang

HĐTM

Hiệp định thương mại

LDS

Luật dân sự

JICA

Cơ quan phát triển hải ngoại của Nhật Bản

SHCN

Sở hữu công nghiệp

TANDTC

Toà án nhân dân tối cao

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

TPQT

Tư pháp quốc tế

TRIPS

Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên
quan đến quyền sở hữu trí tuệ

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

WIPO

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới

WTO

Tổ chức thương mại thế giới


MỤC LỤC


Mục



Trang

PHẦN THỨ NHẤT: TổNG QUAN VỀ ĐỂ TÀI NGHIÊN c ứ u .............. 01

I. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tà i...........................................01
II. Tình hình nghiên cứu..........................................................................01
III. Mục đích và phạm vi nghiên cứu......................................................02
IV. Phương pháp nghiên cứu đề tà i.......................................................03
PHẦN THỨ HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỂ T À I.............................04
I. MỐI QUAN HỆ GIỮA TPQT VIỆT NAM VÀ LDS VIỆT NAM TRONG
VIỆC ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ DÂN s ự ................................. 04
I. Vị trí của TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam trong hệ thống pháp
luật....................................................................................................04

í 2. Sự giống nhau và khác nhau giữa TPQT và LDS........................... 05
y 3. Mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau giữa TPQT Việt Nam
và LDS Việt Nam..............................................................................
4. Sự tác động qua lại giữa TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam trong
điều chỉnh các quan hệ dân sự....:...................................................11
II. THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ DÂN s ự VÀ QUAN HỆ
DÂN Sự CÓ YỂU TỔ NƯỚC NGOÀI TRONG BLD S.....................13
1. Thực trạng điều chỉnh quan hệ dân sự trong Bộ luật dân sự.......... 13
2. Thực trạng điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
trong Bộ luật dân s ự ...................... .................................................. ỉ t
III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ
DÂN Sự Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.................................................... 20
1. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện BLDS.............................................20
2. Hoàn thiện pháp luật về quan hệ dân sự trong TPQT và LDS....... 21
PHẦN THỨ BÁ: c á c c h u y ê n đ ề n g h iê n c ứ u t h u ộ c đ ề t à i .32

1. Chuyên đề 1: Vị trí của tư pháp quốc tế Việt Nam và luật dân sự Việt

Nam trong hệ thống pháp lu ậ t ......................................................... 33
„2. Chuyên đề 2: Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật dân sự

và Tư pháp quốc tế Việt Nam .......................................................... 45
3. Chuyên đề 3: Đổi tượng và phương pháp điều chỉnh của Tư pháp

quốc tế một sổ nước .........................................................................54


r^4. Chuyên đề 4: vấn đề cơ bản về chủ thể của Tư pháp quốc tế và chủ

thể của Luật dân sự ......................................................................... 69
% 5. Chuyên đề 5: Hợp đồng dân sự trong Tư pháp quốc tế ................. 93
6. Chuyên đề 6: Quyền sở hữu trong Luật dân sự và trong Tư pháp

quổc tế ........................................................................................... 112
7. Chuyên đề 7: Quyền sỏ hữu trí tuệ trong Luật dân sự Việt Nam... 126
8. Chuyên đề 8: Quyền sỏ hữu trí tuệ trong Tư pháp quốc tế .......... 141
9. Chuyên đề 9: Thừa kế trong Luật dân sự và trong Tư pháp quốc tế.. 164
10. Chuyên đề 10: Trách nhiệm bồi thường tráọh nÍTÌềữỊ ngoài hợp

đồng trong Luật dân sự và Tư pháp quốc tế ................................. 177
11. Chuyên đề 11: Thực trạng điều chỉnh quan hệ dân sự và quan hệ

dân sự có yếu tố nước ngoài.......................................................... 199 đ 4/
12. Chuyên đề 12: Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ

dân sự ở nước ta hiện n a y ............................................................. 223


BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI

“ MỐI QUAN HỆ GIỮA Tư PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM




VÀ LUẬT DÂN Sự VIỆT NAM”


É

A.

a

PHẦN THỨ NHẤT

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN c ứ u

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập hiện nay các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ
dân sự (theo nghĩa hẹp) có yếu tố nước ngoài nói riêng phát sinh ngày càng
nhiều. Để điều chỉnh các quan hệ đó Nhà nước ta đã kí kết một số điều ước
quốc tế với các nước ngoài, ban hành Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và các
văn bản hướng dẫn. Các văn bản nói trên đã tạo được một khung pháp lí góp
phần tích cực điều chỉnh kịp thời và hiệu quả các quan hệ dân sự đặt ra. Tuy
nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự trong
thời gian qua cũng bộc lộ một sô' điểm hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của
công cuộc đổi mới. Nhất là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài. BLDS chỉ điều chỉnh một số loại quan hệ có yếu tố nước
ngoài, không đủ đáp ứng các yêu cầu do thực tiễn đặt ra. Đổng thời, thực tế
hiện nay nhận thức về việc điều chỉnh các quan hệ dân sự theo các quy phạm
của Tư pháp quốc tế (TPQT) và Luật dân sự (LDS) chưa phải thống nhất và đầy
đủ. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề mối quan hệ giữa TPQT
Việt Nam và LDS Việt Nam để làm sáng tỏ những điểm giống nhau và khác
nhau cơ bản cũng như sự tác động qua lại của hai ngành luật này trong quá
trình điều chỉnh các quan hệ dân sự, đồng thời xác định rõ cơ chế điều chỉnh
các quan hệ này của TPQT và LDS đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Việc đánh

1


giá thực trạng pháp luật điều chính quan hệ dân sự ở Việt Nam và đề xuất
những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này sao cho đáp
ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế mà Đảng
và Nhà nước ta đặt ra cũng là một đòi hỏi khách quan.

II. TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
Tư pháp quốc tế và Luật dân sự là hai ngành luật khác nhau nhưng giữa
chúng có mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau nhằm điều chỉnh và thúc
đẩy các giao dịch dân sự phát triển. Mối quan hệ giữa TPQT và LDS đã được
một số luật gia trong nước quan tâm nghiên cứu như TS. Nguyễn Trung Tín
(bài viết về mối quan hệ giữa TPQT và LDS đăng trên tạp chí Nhà nước và
Pháp luật số 4 năm 1996) và gần đây nhất trong đề tài “Hoàn thiện pháp luật
điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tô' nước ngoài” của Vụ hợp tác quốc tế do TS.
Vũ Đức Long làm chủ nhiệm đề tài đã có chuyên đề về vấn đề này. Nhưng các
bài viết đó chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nhỏ về mối quan hệ giữa TPQT và
LDS, còn việc nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống từ các quy định
chung đến các quy định cụ thể của mối quan hê giữa TPQT và LDS thì hầu như
chưa có một công trình nào đề cập tới. Do vậy, đề tài này như là sự tiếp tục các
vấn đề mà các tác giả đã có dịp đề cập và gợi mở.

III. MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
1. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài là nghiên cứu những quy định chung và những quy
định cụ thể của TPQT và LDS để tìm ra sự tương đồng và sự khác biệt giữa
TPQT và LDS trong điều chỉnh quan hệ dân sự. Từ việc nghiên cứu đó khẳng
định TPQT và LDS có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau trong
quá trình điều chỉnh các quan hệ dân sự phát sinh trong thực tiễn xã hội. Đồng
thời, thông qua việc nghiên cứu, đề xuất những kiến nghị nhằm tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện các quy phạm TPQT và LDS cho phù hợp với giai đoạn
hiện nay mà trước mắt là phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung BLDS năm 1995.
Thực hiện thành công mục đích trên, đề tài sẽ có ý nghĩa lí luận và thực
tiễn:

2


- Nâng cao nhận thức của cán bộ làm công tác nghiên cứu và thực thi pháp
luật về quan hệ dân sự, đặc biệt đối với năng lực của thẩm phán toà án trong
quá trình áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài. Qua đó bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của Nhà nước và của
các bên khi thạm gia quan hệ dân sự.
- Kết quả của đề tài nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu để phổ biến,
sử dụng trong các cơ quan Nhà nước, các cơ sở đào tạo pháp luật, viện nghiên
cứu cũng như cho các đối tượng khác có quan tâm.
- Góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực TPQT và LDS.
2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đây là đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, do vậy trong nội dung của
đề tài này chỉ tập trung phân tích những quy định về luật nội dung của TPQT
và LDS để tìm ra sự tương đổng, sự khác biệt giữa TPQT và LDS. Từ đó, phân
tích sự tác động qua lại giữa chúng trong quá trình điều chỉnh quan hệ dân sự;
đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp cơ bản để’ hoàn thiện các quy
phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự cho phù hợp với giai đoạn hiện nay.
- Khi phân tích về mối quan hệ giữa TPQT và LDS, thì quan hệ dân sự
được đề cập trong đề tài này được hiểu là các quan hệ dân sự theo nghĩa hẹp,
tức chỉ bao gồm các quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế, hợp đổng, bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng và quyền sở hữu trí tuệ.
Với phạm vi nghiên cứu trên, đề tài được bố cục thành 3 phần có các nội
dung sau:
1. Mối quan hệ giữa TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam trong việc điều
chỉnh các quan hệ dân sự.
2. Đánh giá thực trạng điều chỉnh quan hộ dân sự và quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài trong BLDS.
3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự ở nước
ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

3


IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u ĐỀ TÀI
Đê’ thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng tống hợp các phương pháp nghiên
cứu, nhưng chú trọng các phương pháp: Tổng hợp, phân tích, liệt kê, khái quát
hoá...và đặc biệt là phương pháp so sánh. Phương pháp so sánh được sử dụng
trong hầu hết các chuyên đề của đề tài nhằm tìm ra những điểm giống nhau,
nhất là những điểm khác nhau giữa TPQT và LDS.

4


B.

PHẨN THỨ HAI

KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI

I. MỐI QUAN HỆ GIỮA TPQT VIỆT NAM VÀ LDS VIỆT NAM TRONG VIỆC
ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ DÂN s ự




1. Vị trí của TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam trong hệ thống pháp luật
Để giải quyết mối quan hệ giữa TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam vấn đề
trước tiên cần làm sáng tỏ đó là xác định vị trí của chúng trong hệ thống pháp
luật.
Việc xác định vị trí của LDS trong hệ thống pháp luật quốc gia có nhiều
quan điểm khác nhau. Tuy vậy, nhìn chung thì hiện nay trong khoa học pháp lý
cũng như thực tiễn điều chỉnh pháp luật, LDS được coi là một ngành luật độc
lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Còn về vị trí của TPQT Việt Nam,
trong khoa học pháp lí cũng có những quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho
rằng: TPQT là bộ phận của LDS theo nghĩa rộng với các luận cứ sau: Thứ nhất,
TPQT và LDS đều điều chỉnh một nhóm quan hệ. Hay nói cách khác các quan
hệ dân sự thông thường và các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cũng là các
quan hệ dân sự; Thứ hai, phương pháp bình đẳng của các bên trong quan hệ
được áp dụng cả trong lĩnh vực TPQT; Thứ ba, không có một ranh giới rõ ràng
cho sự phân biệt các nhóm quan hệ đó.
Có quan điểm lại cho rằng, ở nhiều quốc gia trong BLDS có ghi nhận qui
phạm xung đột của TPQT, vì vậy, các vấn đề của TPQT là một trong những vấn
đề của LDS1. Có quan điểm phủ nhận tính riêng biệt của TPQT với luận điểm
TPQT là một hệ thống tổng hợp.
Theo quan điểm được nhiều người thừa nhận hiện nay, TPQT là bộ phận
pháp luật quốc gia chứ không phải pháp luật quốc tế hay bộ phận pháp luật liên
hệ thống và TPQT được xem là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp
luật quốc gia.
1 X e m Sadicov O .N , Luật d ân sự, sự điều chính các q uan hệ đối ngoại. T ạp chí “ N hà nước và pháp luật Lién
X ồ ” 1986, N o 1 1 ,C 1 1 - 20

5


Như vậy, TPQT và LDS là những ngành luật độc lập trong hệ thống pháp
luật Việt Nam. Việc xác định vị trí của TPQT và LDS Việt Nam có ý nghĩa lớn
trong việc xem xét mối quan hệ giữa chúng với các ngành luật của hệ thống
pháp luật quốc gia, mà đặc biệt là mối quan hệ giữa TPQT với LDS. TPQT và
LDS là hai ngành luật độc lập nhưng giữa chúng có điểm giống nhau và khác
nhau cơ bản.

2. Sự giống nhau và khác nhau giữa TPQT và LDS
Mối quan hệ giữa TPQT và LDS thực chất thể hiện chủ yếu ở ba vấn đề là
chủ thể, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của hai ngành luật này, xét theo
nghĩa hẹp. Do đó, khi xem xét về sự giống nhau và khác nhau giữa TPQT và
LDS là xem xét về ba vấn đề trên. Cụ thể:
2.1.

V ề chủ th ể
Chủ thể của TPQT và LDS có nhiều điểm tương đổng và chính sự tương

đồng này làm cho LDS gắn bó với TPQT. Bên cạnh điểm giống nhau thì giữa
chủ thể của TPQT và LDS có những điểm khác nhau và những điểm khác nhau
giữa chúng cho thấy TPQT có vị trí độc lập nhất định trong mối quan hệ với
các ngành pháp luật khác, nhất là đối với LDS.
Những điểm giống nhau:
Thứ nhất: v ề cơ cấu thành phần chủ thể TPQT và LDS đều là các cá nhân
(thể nhân) và pháp nhân. Các chủ thể này tham gia vào quan hệ dân sự với tư
cách là chủ thể cơ bản. Quốc gia tham gia vào quan hệ do TPQT và LDS điều
chỉnh với tư cách là chủ thể đặc biệt. Tính chất chủ thể của TPQT chỉ khác chủ
thể của LDS ở những nội dung gắn với yếu tố nước ngoài.
Thứ hai: Cắc chủ thể cơ bản của TPQT và LDS đều bình đẳng trong các
quan hệ mà chúng tham gia.
Những điểm khác nhau
Chính yếu tố nước ngoài trong TPQT đã làm cho chủ thể của TPQT có
những điểm khác so với chủ thể của LDS.
Thứ nhất: Xét về thành phần chủ thể, thì TPQT có các chủ thể đa dạng
hơn. Chủ thể của TPQT không chỉ bao gồm cá nhân và pháp nhân trong nước

6


mà còn bao gồm cả cá nhân là người nước ngoài, người không có quốc tịch,
pháp nhân nước ngoài, nhà nước nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Rõ ràng,
những chủ thể nước ngoài đã làm cho tính chất chủ thê của TPQT khác với các
chủ thể truyền thống của LDS.
Thứ hai: Yếu tố nước ngoài gắn với một số chủ thể của TPQT làm cho qui
chế pháp lý liên quan đến các chủ thể này khác hẳn với các chủ thể của LDS.
Chẳng hạn, việc xác định năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lưc
hành vi) của người nước ngoài trong quan hệ TPQT. Vấn đề này cũng có thể
liên quan đến nhiều hê thống pháp luật và nó còn tuỳ thuộc vào từng mối quan
hệ TPQT cụ thể mà chủ thể này tham gia. Nếu công dân Việt Nam tham gia
vào quan hộ TPQT, thì vấn đề xác định năng lực hành vi của chủ thể này chỉ
cần căn cứ vào các qui định cụ thể của BLDS là có thể xác định được chủ thể
này có năng lực hành vi đầy đủ hay không. Nhưng đối với chủ thể là người
nước ngoài thì việc xác định năng lực hành vi hay năng lực pháp luật lại phải
dựa trên các dạng hệ thuộc được qui định trong các qui phạm xung đột. Đó có
thể là hệ thuộc luật quốc tịch (Lex patriae), hệ thuộc luật nơi cư trú (Lex
domicili), hay hệ thuộc luật toà án (Lex fori)...
Đối với các chủ thể là pháp nhân theo qui định của BLDS cũng có nhiều
điểm khác so với các chủ thể là pháp nhân nước ngoài trong TPQT. Theo pháp
luât Vị,êt Nam, bất kỳ tổ chức nào ở Viêt Nam nếu thoả mãn các điều kiên của
Điều 94 BLDS năm 1995 được coi là pháp nhân trong quan hệ dân sự. Nhưng
đối với các pháp nhân nước ngoài trong quan hê TPQT vấn đề xác định tiêu
chí như thế nào là một pháp nhân là một việc làm không đơn giản. Bởi vì, đối
với chủ thể là pháp nhân nước ngoài việc xác định tư cách pháp nhân gắn với
vấn đề xác định quốc tịch pháp nhân. Hiện nay, tiêu chí để xác định quốc tịch
pháp nhân trong TPQT của các nước khác nhau là không giống nhau.
Thứ ba: Trong cơ cấu chủ thể của TPQT có các chủ thể khác hẳn với các
loại chủ thể của LDS đó là: chủ thể là Nhà nước nước ngoài, các tổ chức quốc
tế liên chính phủ. Đây là hai chủ thể có quyền năng chủ thể luật quốc tế hiện
đại (Luật công pháp quốc tế). Khi nhà nước nước ngoài hay các tổ chức quốc tế
liên chính phủ tham gia vào các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì các
7


chủ thể này được coi như là chủ thể củaTPQT. Tuy nhiên, tư cách pháp lý của
hai loại chủ thể này trong TPQT được xác định dựa trên cơ sở kết hợp với các
qui định của luật quốc tế. Trong đó nhà nước luôn được coi là chủ thể đặc biệt
khi tham gia vào các quan hệ tư pháp với quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối. Đối
với các tổ chức quốc tế liên chính phủ khi tham gia vào quan hệ TPQT các chủ
thể này coi như là các pháp nhân đặc biệt. Bởi lẽ, chủ thể này không giống như
pháp nhân nước ngoài mang quốc tịch của một nước ngoài nào đó, cũng như
không thể hiểu về tư cách pháp nhân theo các qui định của BLDS năm 1995
của nước ta.
2.2. Vê đôi tượng điều chỉnh
Đ iểm giông n h a u : TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam đều điều chỉnh
quan hệ dân sự - các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân - trong lĩnh vực khác
nhau như sở hữu, thừa kế, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và sở
hữu trí tuệ...
Điểm khác n h a u :
Thứ nhất, về mặt phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự nói chung
là các quan hệ dân sự. Nhưng phạm vi quan hệ dân sự gồm những loại quan hệ
nào, hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau. Tại các cuộc hội thảo, toạ đàm khoa
học về việc sửa đổi Bộ luật Dân sự, các chuyên gia Nhật Bản thường nhấn
mạnh rằng, quan hệ dân sự là tất cả các quan hệ giữa con người (chủ yếu là cá
nhân, pháp nhân) với nhau. Song cũng có ý kiến cho rằng, quan hệ dân sự phải
hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm cả các quan hệ hôn nhân và gia đình, lao
động, thương m ại...
Theo quan điểm của nhiều luật gia Việt Nam, thì phạm vi quan hệ dân sự
(đối tượng điều chỉnh của luật dân sự) bao gồm những nhóm quan hệ xã hội
giữa người với người, phát sinh trong cuộc sống hàng ngày. Đó là nhóm quan
hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối,
lưu thông, trao đổi, tiêu dùng... nhằm thoả mãn những nhu cầu về mọi mặt của
các chủ thể trong sản xuất, kinh doanh hoặc trong sinh hoạt, tiêu dùng của đời
sống xã hội. Như vậy, khái niệm quan hệ dân sự ở đây được hiểu theo nghĩa
khá rộng, song không trái với quy định tại Điều 1 của Bộ luật Dân sự 1995 (chủ
8


yếu bao gồm các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân). Phạm vi quan hệ tài
sản - đối tượng điều chính của luật dân sự - cũng rất phong phú, là quan hệ giữa
người với người thông qua một tài sản nhất định như tư liệu sản xuất, tư liệu
tiêu dùng hoặc các quyền về tài sản. Còn phạm vi quan hệ nhân thân - đối
tượng điều chỉnh của luật dân sự - là những quan hệ mà theo khoa học luật dân
sự được hình thành từ một giá trị tinh thần của một cá nhân hoặc một tổ chức
và luôn gắn liền với cá nhân hoặc tổ chức đó.
Từ những phân tích trên đây, có thể đi đến nhận định rằng, khái niệm
“quan hệ dân sự”, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự, theo quan điểm của
đông đảo các luật gia, nhà nghiên cứu khoa học pháp lý của Việt Nam, được
hiểu tương đối thống nhất là các quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc
sống hàng ngày, các quan hệ về đời sống, sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất,
kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí.
Đối tượng điều chỉnh của TPQT, khi xem xét về đối tượng điều chỉnh của
TPQT có thể nhận thấy, nó rộng hơn đối jư ạng.điệu chỉnh của LDS, nó điều
chỉnh không chỉ là các quan hệ dân sự theo nghĩa truyền thống (là đối tượng
điều chỉnh của LDS) mà còn điều chỉnh cả các quan hệ khác có tính chất dân
sự như quan hệ kinh tế - thương mại, quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân và
gia đình, quan hệ tố tụng dân sự.,. Ị
Thứ hai, về mặt tính chất, các quan hệ dân sự - đối tượng điều chỉnh của
LDS - không có yếu tố nước ngoài. Nói cách khác, các quan hệ này chỉ phát
sinh trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, giữa các cá nhân và pháp nhân
mang quốc tịch của quốc gia đó, không vượt ra nước ngoài, không liên quan
đến nước ngoài. Do đó, chỉ cần duy nhất một hệ thống pháp luật của quốc gia
đó điều chỉnh.
Khác với đối tượng điều chỉnh của LDS, đối tượng điều chỉnh của TPQT
là các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài. Hiện nay, quan
điểm tương đối thống nhất của các luật gia trong và ngoài nước đều cho rằng,
khi quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được coi là quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: thứ nhất, khi trong quan hệ đó có người nước
ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài tham gia; thứ hai, khi căn cứ pháp lý làm
9


phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài; thứ ba, khi
tài sản liên quan đến quan hệ đó tồn tại ở nước ngoài. Như vậy, quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài có thể là quan hệ dân sự thuộc một, hai hoặc cả ba trường
hợp đó.
Việc xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự ở trường hợp thứ
nhất là dựa vào yếu tố quốc tịch của chủ thể (là người nước ngoài hoặc pháp
nhân nước ngoài). Khái niệm pháp nhân ở đây có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao
gồm cả chủ thể của luật quốc tế nói chung. Xét về mặt lý thuyết, thì Nhà nước
cũng có thể tham gia vào một số quan hệ dân sự trong trường hợp đặc biệt
(chẳng hạn Nhà nước là người hưởng thừa kế đối với tài sản của công dân mình
ở nước ngoài trong trường hợp người đó chết không để lại di chúc, không còn
ai thừa kế theo pháp luật).
Trong trường hợp thứ hai, yếu tố nước ngoài được xác địph dựa vào nơi
r

xảy ra căn cứ pháp lỷ (sự kiện pháp lý) làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan
hệ dân sự ở nước ngoài, thực chất là dựa vào nơi xảy ra hành vi pháp lý. Chẳng
hạn, khi hai công dân Việt Nam giao kết với nhau hợp đồng dân sự trên lãnh
thổ Pháp, làm phát sinh quan hệ hợp d<ồng dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trong trường hợp thứ ba, yếu tố nước ngoài được xác định dựa vào nơi tồn
tại tài sản (nơi có vật) ở nước ngoài liên quan đến quan hệ dân sự. Chẳng hạn,
hai công dân Việt Nam ly hôn với nhau tại Toà án Việt Nam, nhưng vào thời
điểm ly hôn họ có tài sản chung ở nước ngoài.
Như vậy, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể là quan hệ dân sự
thuộc một, hai hoặc cả ba trường hợp trên. Các quan hệ dân sự không thuộc
một trong ba trường hợp trên, thì về nguyên tắc chỉ cần một hệ thống pháp luật
điều chỉnh là đủ. Chẳng hạn, quan hệ dân sự giữa công dân Việt Nam với nhau
phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam, thì chỉ cần áp dụng pháp luật Việt Nam điều
chỉnh các quan hệ đó. Như vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài và quan hệ dân sự thông thường là quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài luôn liên quan đến hai hay nhiều hệ thống pháp luật. Do vậy, vấn
đề cơ bản đặt ra là phải lựa chọn hệ thống pháp luật nào trong số các hệ thống

10


pháp luật liên quan để điều chinh. Đây là vấn đề mấu chốt, nhưng phức tạp
nhất khi nghiên cứu về bản chất của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Tom lại, yếu-tố nước ngoài trong quan hệ dân sự đã làm cho đối tượng
điều chỉnh của TPQT khác với đối tượng điều chỉnh của LDS. Việc xác định có
hay không có yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự là vấn đề rất quan trọng.
Ngoài mục đích tìm cho nó phương pháp điều chỉnh thích hợp, thì việc xác
định yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự còn giúp cho việc lựa chọn một hệ
thống pháp luật áp dụng tương ứng trên cơ sở dẫn chiếu của quy phạm xung
đột, nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong điều kiện giao lưu dân sự ngày
càng gia tăng hiện nay.
2.3. Vê phương pháp điều chỉnh
Điểm giống nhau:
Xét về mặt lý luận, bất kỳ quan hệ xã hội nào thuộc đối tượng điều chỉnh
của pháp luật, cũng được điều chỉnh bằng phương pháp nhất định, phù hợp với
tính chất của ngành luật đó. Việc xác định các quan hệ xã hội nào thuộc đối
tượng điều chỉnh của một ngành luật, cũng như lựa chọn phương pháp điều
chỉnh nào đối với ngành luật đó, là tùy thuộc vào mục đích, tính chất và vai trò
của ngành luật đó trong đời sống xã hội. Từ đó có thể thấy, TPQT Việt Nam và
LDS Việt Nam về cơ bản đều có phương pháp điều chỉnh chung của luật dân
sự. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù riêng nên chúng có phương pháp điều chỉnh
cơ bản phù hợp với quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh.
Điểm khác nhau:
Phương pháp điều chỉnh cơ bản của LDS Việt Nam đó là phương pháp
bình đẳng và tự do thoả thuận. Sự ra đời của phương pháp này bắt nguồn từ cơ
sở hình thành các quan hệ dân sự là sự tự nguyện, thoả thuận, tự do thể hiện ý
chí của các chủ thể. Không có sự tự nguyện, tự do ý chí, thì không thể có thoả
thuận. Xét về mặt bản chất, quan hệ dân sự thể hiện ý chí tự nguyện, thoả thuận
của các bên liên quan đến mọi nhu cầu phát sinh trong đời sống hàng ngày. Có
nhu cầu thuộc về đời sống tinh thần và liên quan đến yếu tố nhân thân (thể hiện
và phản ánh những giá trị tinh thần - không có tính định lượng), có nhu cầu

11


thuộc về đời sống vật chất và liên quan đến yếu tố tài sản (thế hiện và phản ánh
những giá trị vật chất - có thể định lượng và định tính). Đây là nhóm quan hệ
phát sinh hàng ngày, liên quan mật thiết đến các lĩnh vực của đời sống con
người mà cái đích của nó, là sự trao đổi nhằm phục vụ những nhu cầu thiết yếu
phát sinh trong đời sống, không có tính thương mại, phi lợi nhuận. Đó là bản
chất của quan hộ dân sự. Vì vậy, phương pháp điều chỉnh tối ưu nhất đối với
các quan hệ này, phải là phương pháp thoả thuận, theo đó cho phép con người
có thể trao đổi mọi vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản trong đời sống
hàng ngày mà không bị pháp luật cấm. Có thể nói, hậu quả của phương pháp
điều chỉnh này là rất tích cực, có tác dụng thúc đẩy, khuyến khích các quan hệ
dân sự phát triển và hướng tới sự lành mạnh hoá xã hội theo ý chí của nhà làm
luật2.
Phương pháp điều chỉnh của TPQT Việt Nam, nếu như phương pháp điều
chỉnh cơ bản của LDS Việt Nam là phương pháp bình đẳng và tự do thoả thuận
thì phương pháp điều chỉnh cơ bản nhất, có ý nghĩa và vai trò to lớn trong cơ
chế điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó là phương pháp
xung đột. Đây là phương pháp đặc thù của TPQT so với LDS cũng như các
ngành luật khác. Do đó, bàn về phương pháp điều chỉnh các quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài cũng chính là bàn về phương pháp đặc thù của TPQT, hay
chính là kĩ thuật xây dựng quy phạm xung đột.
Xét về bản chất, phương pháp xung đột không nhằm mục đích trực tiếp
giải quyết những khác nhau giữa các hệ thống pháp luật liên quan, tức là không
trực tiếp quy định các quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi tham gia vào quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài, mà chỉ dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của
một trong các quốc gia liên quan để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài. Như vậy, theo phương pháp này, hiện tượng xung đột pháp luật được
giải quyết bằng chính quy phạm xung đột (quy phạm dẫn chiếu đến việc áp
dụng hệ thống pháp luật có thẩm quyền). Đây là điểm đặc biệt nhất và cũng là

2 TS. N g uy ễn C õng K hanh, C ơ s ở lý luận và thực tiễn của p h á p lu ật diêu chỉnh m ột sô qu an hệ dân sự có yếu
t ế nước ngoài ở nước ta hiện n a y, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội, 2003, tr. 1 15.

12


phức tạp nhất của phương pháp xung đột điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài. Vai trò của phương pháp xung đột trong điều chỉnh các quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài được thể hiện rõ qua việc lựa chọn các hệ thuộc cơ
bản. Nếu lựa chọn hệ thuộc phù hợp với tính chất của quan hệ dân sự (đối
tượng bị điều chỉnh) thì sẽ phát huy được tối đa giá trị của nó; ngược lại, nếu
lựa chọn không đúng, thì sẽ làm giảm đi nhiều hiệu lực của quy phạm pháp luật
nói chung hoặc thậm chí làm vô hiệu chính nó. Chẳng hạn, khi xuất hiện quan
hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài, vấn đề đặt ra là nên lựa chọn hệ thuộc nào làm
quy tắc chỉ dẫn (dẫn chiếu) đến hệ thống pháp luật có thẩm quyền. Chúng ta
đều biết, việc xác định quyền sở hữu tài sản nói chung và sở hữu có yếu tố
nước ngoài nói riêng là vấn đề rất quan trọng. Cho nên không thể tùy ý áp dụng
bất kỳ hệ thuộc nào đối với nó. Giả sử, nếu chúng ta thừa nhận quyền sở hữu có
yếu tố nước ngoài được xác định theo lex nationalis (luật quốc tịch), thì dẫn
đến hậu quả là người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng quyền sở hữu theo
pháp luật của nước mà người đó là công dân. Như vậy, pháp luật Việt Nam trở
thành hình thức, không còn đủ sức mạnh (hiệu lực) để bảo vệ trật tự công được
nữa. Đó là điều trái với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền tối cao của quốc gia
trong phạm vi lãnh thổ mà pháp luật quốc tế đã thừa nhận.
Do đó, việc xây dựng các hệ thuộc phù hợp đối với các loại quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài, cũng chính là biện pháp bảo đảm và phát huy vai trò
của phương pháp xung đột trong điều chỉnh pháp luật các quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài. Phương pháp xung đột được ghi nhận trong các văn bản
pháp luật của Việt Nam, mà quan trọng nhất là được ghi nhận trong Phần thứ 7
BLDS Việt Nam năm 1995. Ngoài ra, phương pháp này còn được ghi nhận
trong các hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam kí kết với nước ngoài. Tuy
nhiên, phương pháp xung đột chỉ có hiệu quả nếu hệ thống pháp luật được dẫn
chiếu đến đủ hoàn thiện để toà án có thể áp dụng giải quyết triệt để quan hệ đặt

13


3. Mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau giữa TPQT Việt Nam và
LDS Việt Nam
Từ việc phân tích những sự giống nhau giữa TPQT Việt Nam và LDS Việt
Nam thể hiện qua ba điểm trên, có thể thấy, TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam
có mối liên quan mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau. Mối liên quan đó thể hiện
trong thực tiễn điều chỉnh pháp luật các quan hệ dân sự củaViệt Nam. Việc làm
sáng tỏ vấn đề đó không chỉ có ý nghĩa trong lý luận mà còn có tầm quan trọng
đặc biệt trong chính sách phát triển TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam.
Thứ nhất, TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam đều điều chỉnh các quan hệ
mang tính chất dân sự. Cho dù LDS Việt Nam thì làm nhiệm vụ điều chỉnh các
quan hệ dân sự trong nước, còn TPQT Việt Nam lại điều chỉnh các quan hệ dân
sự (theo nghĩa rộng) có yếu tô' nước ngoài (liên quan đến các quốc gia khác
nhau), nhưng điểm chung nhất có thể thấy là chúng đều hướng đến việc điều
chỉnh các quan hê mang tính chất dân sự.
Thứ hai, trong TPQT, các quy phạm xung đột luôn luôn được xem xét
trong mối liên hệ với các quy phạm thực chất của LDS một quốc gia nhất định
(quốc gia ban hành quy phạm xung đột đó). Mối liên hệ mật thiết được đặt ra
khi quy phạm xung đột dẫn chiếu áp dụng pháp luật quốc gia để điều chỉnh
một mối quan hê dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi ấy các quy phạm của LDS,
thông qua sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột điều chỉnh quyền và nghĩa vụ
các bên trong các quan hệ dân sự về thực chất không phải là đối tượng điều
chỉnh của LDS mà là đối tượng điểu chỉnh của TPQT. Chẳng hạn, công dân của
Bungari cư trú ở Việt Nam khi chết đi để lại di sản thừa kế (bao gồm động sản
và bất động sản) ở Việt Nam. Các con ông ta tranh chấp với nhau về di sản thừa
kế đó, làm đơn khởi kiện ra trước toà án Việt Nam. Trong trường hợp này, toà
án Việt Nam phải căn cứ vào quy phạm xung đột thống nhất ghi nhận trong
Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt nam và Bungari (năm 1986) để giải
quyết. Theo đó, tranh chấp về bất động sản ở Việt Nam, toà án Việt Nam áp
dụng pháp luật Việt Nam, cụ thể là áp dụng quy định về thừa kế theo luật trong
BLDS để giải quyết. Như vậy, các quy định của LDS Việt Nam đã được áp

14


dụng để điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài (quan hệ thuộc đối
tượng điều chỉnh của TPQT).
Thứ ba, các quy phạm TPQT và LDS thường được ghi nhận trong một văn
bản nhất định. Ví dụ, trong BLDS Việt Nam năm 1995 có cả các quy phạm
LDS cả các quy phạm TPQT.
Thứ tư, trong TPQT, các quy định của BLDS được áp dụng đối với các
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Vấn đề này được quy định tại Khoản 4
điều 25 về hiệu lực của BLDS năm 1995: “BLDS được áp dụng đối với quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký
kết hoặc gia nhập có quy định khác". Đổng thời, mối quan hệ này được khẳng
định lại một lần nữa tại Khoản 2 điều 827 BLDS “Trong trường hợp điều ước
quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của
Bộ Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế

Như vậy, đối với

những nước mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế thì quy định
của điều ước quốc tế được ưu tiên được áp dụng. Còn đối với nhữg nước không
có quan hệ điều ước quốc tế với Việt Nam thì áp dụng theo quy định của pháp
luật dân sự Việt Nam để điều chỉnh quan hệ dân sự.
Những đặc điểm trên của mối quan hệ giữa TPQT Việt Nam và LDS Việt
Nam đặt ra sự cần thiết cần phải nghiên cứu liên ngành nhằm mục đích soi
sáng các vấn đề điều chỉnh pháp luật của TPQT cũng như LDS.
4. Sự tác động qua lại giữa TPQT Việt Nam và LDS Việt Nam trong điều
chỉnh các quan hệ dân sự
Như phần trên chúng tôi đã phân tích, TPQT và LDS có những điểm giống
và khác nhau nhất định. Chính những điểm giống nhau làm cho TPQT và LDS
có mối liên quan mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau, đồng thời những điểm khác
nhau đã làm chúng có tính độc lập tương đối trong một hệ thống pháp luật. Do
vậy, một vấn đề nữa đặt ra khi phân tích về mối quan hệ giữa TPQT và LDS là
sự tác động của LDS đối với TPQT và ngược lại.

15


4.1. Sự tác động của LDS Việt Nam đối vói TPQT Việt Nam
Chúng ta biết rằng, LDS điều chỉnh quan hệ nhân thân và tài sản giữa các
chủ thể có cùng quốc tịch của một nước. Do vậy, sự tác động của LDS đối với
TPQT thể hiện ở chỗ, việc điều chỉnh của LDS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong giải quyết các vấn đề của TPQT và vì vậy, nó có thể thúc đẩy hoặc kìm
hãm sự phát triển TPQT Việt Nam. Mối tác động này thể hiện ngay trong quá
trình điều chỉnh của TPQT Việt Nam.
Trước hết, sự tác động của LDS Việt Nam đối với TPQT Việt Nam thể
hiện, trong nhiều trường hợp điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa hẹp có
yếu tố nước ngoài, các quy phạm xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp
luật Việt nam (các quy phạm LDS) mà pháp luật Việt Nam còn thiếu, chưa quy
định cụ thể, rõ ràng thì chắc chắn sẽ gây khó khăn cho việc điều chỉnh pháp
luật các quan hệ cụ thể của TPQT. Việc thiếu các quy phạm pháp luật nội dung
trong LDS Việt Nam là trở ngại lớn cho việc giải quyết các quan hệ thuộc đối
tượng điều chỉnh của TPQT Việt Nam. Thực tế cho thấy, các quy phạm xung
đột chỉ thực sự phát huy tác dụng nếu hệ thống pháp luật thực định (trong đó có
LDS) đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với thực tế khách quan, tạo cơ sở pháp lí an
toàn cho việc áp dụng. Như vậy, rõ ràng sự điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực
LDS Việt Nam đầy đủ, phù hợp thì sự điều chỉnh của TPQT Việt Nam mới
thuận lợi, đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ TPQT.
Thứ hai, sự tác động của LDS Việt Nam đối với TPQT Việt Nam còn thể
hiện, những quy định trong LDS giúp cho việc triển khai các quy định trong
điều ước quốc tế được dễ dàng. Trong nhiều trường hợp các quy định trong
pháp luật dân sự chính là việc cụ thể hóa quy định trong điều ước quốc tế
màViệt Nam kí kết hoặc gia nhập. Chẳng hạn, khi Việt Nam kí kết Hiệp định
bản quyền với Hoa kì năm 1997, để thi hành Hiệp định Bộ văn hoá Thông tin
ban hành Thông tư số 05/1998/TT-BVHTT hướng dẫn chi tiết thi hành một số
quy định của Hiệp định.

16


4.2. Sự tác động của TPQT Việt Nam đối với LDS Việt Nam
Ngày nay, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài xuất hiện ngày càng
nhiều và giữ vai trò quan trọng trong tổng thể các quan hệ xã hội thuộc đối
tượng điều chỉnh của pháp luật. Sự phát triển của TPQT Việt Nam đặt ra một
loạt các vấn đề pháp lí trong lĩnh vực dân sự phải giải quyết. Như vậy, các quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát triển sẽ thúc đẩy các quan hệ dân sự thông
thường phát triển. Từ đó dẫn đến kết quả thúc đẩy LDS Việt Nam phát triển để
điều chỉnh kịp thời và có hiệu quả các quan hệ đó.
Ngoài ra, sự tác động của TPQT Việt Nam đối với LDS Việt Nam còn thể
hiện, thông qua việc nghiên cứu và áp dụng các qui định trong các điều ước
quốc tế giúp cho pháp luật dân sự trở nên hoàn thiện và ngày càng phù hợp các
chuẩn mực của quốc tế. Ví dụ, trong lĩnh vực sở hĩru trí tuệ, thông qua việc áp
dụng các qui định về quyền sở hữu trí tuệ trong Hiệp định thương mại Việt
Nam - Hoa Kỳ rất nhiều các văn bản pháp luật mới của Việt Nam đã được ban
hành. Những qui phạm này được xây dựng theo hướng phù hợp với các chuẩn
mực chung của quốc tế. Cũng thông qua việc thực hiện các qui định mà các cơ
quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng có nhiều đổi mới trong
hoạt động và hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn.

II. THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ DÂN s ự VÀ QUAN HỆ DÂN s ự
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN s ự
1. Thực trạng điều chỉnh quan hệ dân sự trong Bộ luật dân sự
BLDS của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành ngày
28/10/1995, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/1996. Việc Quốc hội nước ta thông
qua BLDS là một bước tiến quan trọng trong công tác lập pháp, khẳng định và
cụ thể hoá các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp 1992 về các quyền dân sự
của công dân. Cùng với các quy định của Hiến pháp 1992 và các văn bản
hướng dẫn thi hành, BLDS đã thực sự tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục giải
phóng năng lực sản xuất, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân và các chủ thể khác, cũng
như bảo vệ lợi ích công cộng, đạo đức xã hội nói chung.

17


BLDS có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
điều chình một cách rộng lớn các quan hệ và giao lưu dân sự trong xã hội Việt
Nam nói chung, trong đó có các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Việc thi
hành BLDS đã từng bước đi vào nền nếp, tạo hành lang và chuẩn mực pháp lý
cho cách ứng xử trong đời sống nhân dân, góp phần làm lành mạnh hoá các
quan hệ xã hội. Trên tinh thần đó, BLDS còn được coi là "cẩm nang" của mỗi
người dân, mỗi gia đình khi tham gia vào các quan hệ xã hội, đặc biệt trong các
quan hệ sở hữu, thừa kế hay quan hệ hợp đồng.
Đồng thời, trên phương diện lý luận, BLDS còn được coi là bộ phận cấu
thành quan trọng - dưới khía cạnh nguồn - của TPQT Việt Nam. Các quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh tập trung tại Phần thứ bảy. Phần
này tuy chưa được đầy đủ và hoàn thiện, song cùng với các văn bản pháp luật
dân sự khác cũng như điều ước quốc tế mà Việt Nam là một bên ký kết, đã tạo
ra khuôn khổ pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài nói chung ở nước ta trong thời gian qua.
Tuy nhiên, trong cơ chế điều chỉnh đối với các quan hệ dân sự, kể cả dưới
góc độ LDS cũng như TPQT đều cho thấy, BLDS đã bộc lộ nhiều vấn đề bất
cập, tồn tại, đó là:
Thứ nhất, BLDS chưa thể hiện được ý nghĩa, vai trò của một đạo luật gốc
trong việc điều chỉnh các quan hê xã hội nói chung. Xét về mặt lý luận, lẽ ra
BLDS phải là một bộ luật gốc (luật mẹ), có giá trị chi phối đối với tất cả các
quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể của pháp luật trong những lĩnh vực
khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội (như hôn nhân và gia đình, lao động,
kinh tế - thương m ại...)- Theo đó, nếu trong các văn bản pháp luật chuyên
ngành mà không có quy định, thì có thể áp dụng các quy định của BLDS để
điều chỉnh. Nhưng trên thực tế lại không phải như vậy. Trong nhiều lĩnh vực,
nhất là các lĩnh vực lao động, kinh tế - thương mại, các văn bản pháp luật đều
"khoanh vùng" việc áp dụng chỉ trong phạm vi các quan hệ thuộc lĩnh vực
chuyên ngành đó, không có mối liên hệ với BLDS, cho nên đã không phát huy
được hiệu lực của BLDS. Ảnh hưởng của BLDS, vì thế, cũng bị hạn chế rất

18


nhiều. Chẳng hạn, lĩnh vực hợp đồng hiện nay được điều chính trong nhiều vãn
bản pháp luật khác nhau (BLDS, Luật thương mại, Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế ...), nhưng giữa các văn bản này không có mối liên hệ với nhau, ít nhất là
trên khía cạnh xác định tính hợp pháp về hình thức của hợp đồng hay năng lực
hành vi khi giao kết hợp đồng. Do đó, đã gây không ít khó khăn trong công tác
thi hành, áp dụng pháp luật, cũng như nghiên cứu và giảng dạy pháp luật nói
chung.
Thứ hai, nhiều quy định trong BLDS đã tỏ ra lạc hậu, không phù hợp với
thực tế sôi động của đời sống kinh tế - xã hội đang có những chuyển đổi mạnh
mẽ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Qua điều tra, khảo sát cho thấy, những

quy định về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ (như cầm cố, thế chấp tài sản) đã
không còn đáp ứng được với nhu cầu thực tiễn hiện nay.
Bên cạnh đó, có nhiều quy định không rõ ràng, không đầy đủ, chỉ mang
tính chất tuyên ngôn chung chung, không áp dụng được. Chẳng hạn, nhiều quy
định về tài sản và quyền sở hữu, cũng như quy định về thừa kế, đã không đi vào
cuộc sống do không có văn bản hướng dẫn thi hành hoặc hướng dẫn không đầy
đủ (như việc đăng ký quyển sở hữu tài sản), khiến cho việc bảo vệ quyền lợi
của công dân còn bị chậm hoặc giải quyết kéo dài. Việc bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình khi tham gia giao dịch dân sự cũng chưa thực sự được
quan tâm. Trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhiều quy định
của BLDS chưa cụ thể hoặc chưa quy định gây khó khăn, vướng mắc cho cơ
quan thực thi pháp luật. Chẳng hạn, những vướng mắc về việc xác định mức bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng về vật chất và vướng mắc về bổi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng về tinh thần trong LDS. Cụ thể:
- Vướng mắc về việc xác định mức bồi thường thiệt hại vể vật chất.
Thực tiễn giải quyết các vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng tại Toà án cho thấy, vướng mắc lớn nhất là việc xác định thiệt hại và ấn
định mức bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tài sản, đặc biệt là trong trường
hợp thiệt hại về vật chất do tính mạng, sức khoẻ và những thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×