Tải bản đầy đủ

Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ HỒNG HẠNH

LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI


LÊ THỊ HỒNG HẠNH

LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số: 60380102

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN QUANG

Hà Nội - 2017


LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các giảng viên của Đại học Luật
Hà Nội – những người luôn tâm huyết giảng dạy cho lớp cao học Luật niên
khoá 2015-2017. Cảm ơn bố mẹ và gia đình đã luôn ủng hộ và tạo mọi điều
kiện tốt nhất để con có thể hoàn thành khoá học và luận văn này. Xin gửi lời
cảm ơn tới các anh chị, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên tôi trong
suốt quá trình làm luận văn.
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS. Nguyễn Văn
Quang, giảng viên Luật Hành chính, Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế Trường
Đại học Luật Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ dạy tôi
trong suốt quá trình làm luận văn. Em xin cảm ơn thầy.
Luận văn này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời và chặng
đường nghiên cứu khoa học của bản thân, xin cảm ơn Đại học Luật Hà Nội đã
cho tôi cơ hội được gắn bó và cố gắng.
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ

Lê Thị Hồng Hạnh


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ
ràng, được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Hồng Hạnh


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật

LĐTBXH

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

LHPNVN

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

CVĐXH

Uỷ ban Về các vấn đề xã hội

CEDAW

Convention on the Elimination of all forms of
Discrimination against Women
Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử chống lại phụ nữ


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỒNG GHÉP BÌNH
ĐẲNG GIỚI TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH ..............................8
1.1. Khái niệm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh.................8
1.1.1. Giới tính, giới, bình đẳng giới, lồng ghép bình đẳng giới ........................8
1.1.2. Xây dựng luật, pháp lệnh và lồng ghép bình đẳng giới trong xây
dựng luật, pháp lệnh ..........................................................................................14
1.1.2.1. Xây dựng luật, pháp lệnh ..................................................................14
1.1.2.2. Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh ..............17
1.2. Sự cần thiết lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh.............20
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây
dựng luật, pháp lệnh .............................................................................................23
Kết luận chương 1 ................................................................................................27
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ......................28
2.1. Thực trạng pháp luật về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật,
pháp lệnh ..............................................................................................................28
2.1.1. Quy định pháp luật hiện hành về lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng luật, pháp lệnh ...................................................................................28
2.1.1.1. Nguyên tắc bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ..........................................................28
2.1.1.2. Lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng luật,
pháp lệnh ........................................................................................................33


2.1.2. Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về lồng ghép bình đẳng
giới trong xây dựng luật, pháp lệnh ..................................................................51
2.2. Thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật,
pháp lệnh ..............................................................................................................55
2.2.1. Kết quả đạt được về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
luật, pháp lệnh ...................................................................................................55
2.2.2. Hạn chế, bất cập về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật,
pháp lệnh ...........................................................................................................60
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập về lồng ghép bình đẳng
giới trong xây dựng luật, pháp lệnh ..................................................................64
Kết luận chương 2 ................................................................................................69
Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM LỒNG GHÉP
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH ................70
3.1. Quan điểm bảo đảm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật,
pháp lệnh ..............................................................................................................70
3.2. Giải pháp bảo đảm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật,
pháp lệnh ..............................................................................................................74
3.2.1. Giải pháp về pháp lý ...............................................................................74
3.2.2. Giải pháp về tổ chức thực hiện ...............................................................79
3.2.3. Giải pháp nâng cao nhận thức về bình đẳng giới ...................................82
Kết luận chương 3 ................................................................................................84
KẾT LUẬN .........................................................................................................85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới là mục tiêu cho sự phát triển bền vững của xã hội, là một
trong những tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia. Xuất
phát điểm của khái niệm bình đẳng giới chính là kết quả của cả một quá trình
lịch sử lâu dài đấu tranh đòi quyền cho người phụ nữ từ những năm cuối thế kỷ
XVIII nổ ra ở Pháp. Ở thời kỳ này người ta bắt đầu thừa nhận vai trò của phụ nữ
trong xã hội, nhìn nhận những thiệt thòi mà phụ nữ phải chịu đựng và đòi quyền
lợi cho người phụ nữ. Cốt lõi của vấn đề bình đẳng giới chính là sự bình đẳng về
vị thế, cơ hội và các quyền của phụ nữ với nam giới. Trên phương diện pháp lý
quốc tế, nhiều công ước quốc tế về bảo vệ phụ nữ ra đời để ghi nhận quyền của
phụ nữ, toàn diện hơn hết là Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử
chống lại phụ nữ (CEDAW) được Liên Hợp quốc thông qua vào ngày 18 tháng
12 năm 1979. Để có thể đạt được bình đẳng giới thực chất, một trong những biện
pháp chiến lược được các quốc gia áp dụng là lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Ở Việt Nam, lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật mới thực sự được lưu tâm trong khoảng 10 năm trở lại đây, kể từ sau
khi có Luật Bình đẳng giới được thông qua năm 2006. Luật này đã chính thức
thừa nhận nguyên tắc bảo đảm bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật. Sự ra đời của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
gần đây đã mở ra bước tiến mới cho hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, với nhiều quy định củng cố cơ sở pháp lý
cho hoạt động này. Việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật mà trước tiên là văn bản luật, pháp lệnh có vai trò quan trọng, là
vô cùng cần thiết để có thể xây dựng một hệ thống các quy phạm pháp luật bảo
đảm bình đẳng cho nam giới và nữ giới. Tuy nhiên, vấn đề lồng ghép bình đẳng


2

giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa được quan tâm đúng
mức. Thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật còn nhiều bất cập, hạn chế, trong đó phải kể đến những bất cập
về nhận thức về vai trò của việc bảo đảm lồng ghép bình đẳng giới trong xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật, những tồn tại trong hệ thống các quy định
pháp luật làm cơ sở cho việc thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật và hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện lồng
ghép bình đẳng giới… Nhận thấy tầm quan trọng của việc lồng ghép bình đẳng
giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cùng với mong muốn nâng cao
chất lượng, hiệu quả lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật nói chung, và trong xây dựng văn bản luật, pháp lệnh nói riêng, tác giả
đã quyết định lựa chọn đề tài: “Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật,
pháp lệnh” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ định hướng nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở bình diện chung, đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về bình
đẳng giới và lồng ghép bình đẳng giới trong một số lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên
vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và
trong xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ, chưa
được tập trung quan tâm nghiên cứu.
Thực tế cho thấy, đến nay mới chỉ có một số bài viết nghiên cứu ở phạm vi
hẹp về vấn đề này đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Nguyễn Văn Huệ
(2007), “Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 10/2007; Đỗ Văn Quân (2009),
“Lồng ghép giới – qua một số tài liệu nghiên cứu tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên
cứu gia đình và Giới số 04/2009; Võ Thị Như Hoa (2016), “Lồng ghép vấn đề
bình đẳng giới trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Ngành
tư pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 05/2016… Các bài viết này đều mới


3

chỉ đề cập tới lồng ghép bình đẳng giới là một nguyên tắc trong xây dựng pháp
luật mà chưa đi sâu tìm hiểu, phân tích các nội dung, khía cạnh của vấn đề lồng
ghép bình đẳng giới.
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta còn rất hạn chế về số lượng, đây
là một lĩnh vực chưa được đầu tư nghiên cứu. Đặc biệt kể từ khi Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực vào ngày 01/7/2016 đến nay,
chưa có thêm công trình khoa học nào nghiên cứu về lồng ghép bình đẳng giới
trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung và trong xây dựng luật,
pháp lệnh nói riêng.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật nói chung vẫn
còn là mới đối với giới nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt được quan tâm một
cách sâu sắc trong thời gian gần đây.
Về sách, cuốn “Mainstreaming gender, democratizing the State”, biên tập
bởi Shirin M. Rai, xuất bản dưới sự đặt hàng của Liên hợp quốc, năm 2013, tập
hợp nhiều bài viết đề cập tới xu thế dân chủ hóa nhà nước, toàn cầu hóa đặt ra
những yêu cầu đối với sự phát triển vai trò của phụ nữ. Cuốn sách đề cập tới bài
học về lồng ghép bình đẳng giới ở các quốc gia Bắc Âu, Uganda, Hàn Quốc, Libăng, Úc.v.v.
Về tạp chí, bài viết “Resistance to implementing gender mainstreaming in
EU research policy” (2014) của Lut Mergaert và Emanuela Lombardo, đăng
trên tạp chí European Integration online Papers (EIoP), Special issue 1, Vol. 18,
Article 5, phân tích những sự cản trở đối với việc lồng ghép bình đẳng giới vào
chính sách nghiên cứu của EU. Bài viết “Gender mainstreaming in the United
States: A new Vision of Equality” của tác giả Melissa Bellitto, tạp chí UCLA
Women’s Law Journal, 22(2), 2015, trình bày về vấn đề lồng ghép bình đẳng
giới ở Mỹ trong bối cảnh các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về giới và bình đẳng


4

giới ngày càng ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của Mỹ. Tác giả coi việc lồng
ghép vấn đề giới là một tầm nhìn mới của bình đẳng, nhằm cải thiện những thiếu
sót cố hữu của hệ thống nhân quyền ở Mỹ. Bài viết “Mainstreaming gender in
the European Union” của Mark A. Pollack và Emilie Hafner-Burton, đăng trên
tạp chí Journal of European Public Policy, 7:3, trình bày về vấn đề lồng ghép
bình đẳng giới trong 5 chính sách lớn của Liên minh châu Âu bao gồm: Các Quỹ
châu Âu, việc làm, phát triển, cạnh tranh, khoa học. Qua đó, bài viết làm rõ một
khung chiến lược về lồng ghép bình đẳng giới đang được chấp nhận rộng rãi ở
châu Âu.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài cho thấy, lồng ghép bình đẳng giới
trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn đang là một lĩnh vực mới, nhất là
trong lịch sử xây dựng pháp luật của Việt Nam. Riêng đề tài lồng ghép bình đẳng
giới trong loại văn bản quy phạm pháp luật cụ thể như luật, pháp lệnh là một khía
cạnh hết sức mới mẻ, từ trước đến nay chưa được nghiên cứu, phân tích.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
- Các khái niệm có liên quan tới lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
luật, pháp lệnh;
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây
dựng luật, pháp lệnh;
- Các quy định của pháp luật hiện hành về lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng luật, pháp lệnh;
- Thực tiễn thực hiện hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
luật, pháp lệnh ở nước ta hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu
Với tính chất là một luận văn thạc sĩ luật học theo định hướng nghiên cứu,
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng lồng ghép
bình đẳng giới trong xây dựng hai loại văn bản quy phạm pháp luật cụ thể là luật


5

và pháp lệnh ở Việt Nam. Nội dung lồng ghép bình đẳng giới được Luận văn
nghiên cứu trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh với trình tự, thủ tục thông
thường, đầy đủ các bước theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2015, loại trừ trường hợp xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự,
thủ tục rút gọn.
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu được một cách có hệ thống một số vấn
đề lý luận về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh; trên cơ sở
quan điểm về lý luận, Luận văn phân tích được thực trạng pháp luật và thực tiễn
thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh. Thông qua
việc đánh giá những ưu, nhược điểm của thực trạng, Luận văn đề xuất được
phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật đồng thời kiến nghị được
một số giải pháp bảo đảm thực hiện và thực hiện có hiệu quả hoạt động lồng
ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
luật, pháp lệnh: định nghĩa, nội dung lồng ghép, phương pháp lồng ghép…; chỉ
ra sự cần thiết phải lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh và
các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này;
- Đánh giá mức độ cụ thể hóa của lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
luật, pháp lệnh trong các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành; đánh giá thực
tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm thực hiện và
nâng cao hiệu quả lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, luận văn dự kiến sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:


6

- Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp này được sử dụng để phân
tích các tài liệu thu thập được trên cơ sở đó có những đánh giá khoa học về
những ưu điểm, hạn chế của các vấn đề nghiên cứu. Phương pháp này được sử
dụng trong cả 3 chương của Luận văn.
- Phương pháp thống kê: Bằng phương pháp này, tác giả thu thập được các
số liệu thống kê cần thiết phục vụ cho việc đưa ra các luận chứng khoa học cho
việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện lồng ghép bình đẳng giới
trong xây dựng luật, pháp lệnh. Phương pháp này được sử dụng trong Chương 2
của Luận văn khi nghiên cứu thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng luật, pháp lệnh.
- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các
số liệu, tri thức có được từ việc phân tích tài liệu, chuyên gia… nhằm đưa ra
những luận giải, nhận xét của tác giả về các vấn đề nghiên cứu. Phương pháp
này được sử dụng trong chương 2 của Luận văn khi tác giả đưa ra những đánh
giá về thực trạng lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh các vấn
đề nghiên cứu trong nước tại từng thời điểm về lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng luật, pháp lệnh. Từ đó, rút ra bài học và lựa chọn những yếu tố hợp lý,
phù hợp để áp dụng trong đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện và nâng cao hiệu
quả lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Với trọng tâm nghiên cứu về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật,
pháp lệnh, Luận văn mong muốn có ý nghĩa trong việc là một tài liệu tham khảo
góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung và luật, pháp lệnh nói riêng.
Đồng thời với những kết quả nghiên cứu thu được sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh trong
thực tiễn. Tuy nhiên với tính chất của một luận văn thạc sĩ theo định hướng


7

nghiên cứu và vốn hiểu biết còn hạn chế của tác giả, Luận văn không thể tránh
khỏi những thiếu sót về kiến thức thực tiễn và những hạn chế nhất định. Hy vọng
rằng Luận văn sẽ thực sự có ý nghĩa trong khoa học pháp lý, là một tài liệu tham
khảo có giá trị cho các cơ quan, tổ chức và người học về vấn đề lồng ghép bình
đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh ở Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về lồng ghép bình đẳng giới trong xây
dựng luật, pháp lệnh;
- Chương 2: Thực trạng lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp
lệnh ở nước ta hiện nay;
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm lồng ghép bình đẳng giới trong
xây dựng luật, pháp lệnh.


8

Chƣơng 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH
1.1. Khái niệm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Bình đẳng giới không còn là khái niệm xa lạ nhưng lồng ghép bình đẳng
giới trong xây dựng luật, pháp lệnh là vấn đề tương đối mới mẻ về cả lý luận lẫn
thực tiễn. Trong bối cảnh đó, với số lượng ít ỏi những công trình nghiên cứu trực
tiếp đề cập đến khái niệm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp
lệnh, cần xây dựng và chuẩn hoá một số khái niệm công cụ nhằm làm rõ cả về
nội hàm và ngoại diên của khái niệm này.
1.1.1. Giới tính, giới, bình đẳng giới, lồng ghép bình đẳng giới
Giới tính là một khái niệm được xây dựng từ góc độ sinh học. Theo Từ
điển Tiếng Việt, giới tính là: “những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ,
giống đực với giống cái”1. Từ điển Bách khoa Việt Nam nêu rõ giới tính chỉ
“đặc điểm đực và cái trong giới sinh vật, ở người là toàn bộ những đặc điểm
riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ, những đặc điểm giải phẫu và
sinh lí của cơ thể là tiền đề tạo nên sự khác biệt của giới tính”2. Dù có sự khác
nhau về cách diễn đạt nhưng tựu chung lại giới tính là một khái niệm khoa học
chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Con người sinh ra đã có những
đặc điểm về giới tính (bẩm sinh), ví dụ như mang thai là đặc điểm giới tính riêng
của phụ nữ. Giới tính theo quy định tại Điều 5, khoản 2 Luật Bình đẳng giới
2006 “ chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”.
Giới là thuật ngữ được xây dựng từ từ góc độ xã hội học, chỉ sự khác biệt
giữa nam và nữ về mặt xã hội. Nói tới giới là nói tới vai trò, trách nhiệm và
quyền lợi của nam giới và nữ giới trong các quan hệ xã hội. iới đề cập đến việc

1

Viện Ngôn ngữ học (2003), Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.405
Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển quốc gia Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB
Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, tr.142
2


9

phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong bối
cảnh xã hội cụ thể. Quan niệm về giới không đồng nhất, có sự khác nhau ở mỗi
nước, mỗi địa phương, và có thể thay đổi theo thời gian, theo quá trình phát triển
kinh tế xã hội. Chẳng hạn như theo quan niệm đã hình thành từ rất lâu đời ở
nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới, phụ nữ gắn liền với hầu hết các công
việc trong gia đình như chăm sóc, nấu ăn, dọn dẹp…; còn nam giới gắn liền với
trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và đảm đương các công việc xã
hội. Khi sinh ra, con người hoàn toàn chưa có trong bản thân sự phân biệt giới
mà họ dần dần tiếp thu và chấp nhận từ nề nếp của gia đình, quy ước của xã hội
và chuẩn mực của nền văn hoá. Một cách khái quát nhất, khái niệm giới được
quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006: “Giới chỉ đặc điểm, vị
trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”.
Việc hiểu đúng khái niệm giới tính và giới ảnh hưởng trực tiếp đến việc
hiểu đúng về khái niệm bình đẳng giới. Theo từ điển tiếng Việt, “bình đẳng”
được hiểu là “ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi”3. Cũng với ý nghĩa này,
có quan điểm cho rằng: “Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau
các đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Nam giới và
phụ nữ đều có vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau”.4 Theo đó, có thể
hiểu bình đẳng giới là nam và nữ ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi trong
xã hội. Bình đẳng giới theo nội dung Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)5: là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, việc
làm…) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ
hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình,
phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển
của quốc gia. Theo Công ước này, bình đẳng giới dựa trên ba nguyên tắc chính:
nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc bình đẳng giới thực chất, và
3

Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên(2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.68
Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (2008), Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong hoạch
định và thực thi chính sách, Hà Nội, tr.6
5
Viẹt Nam phê chuẩn CEDAW và chính thức trở thành thành viên CEDAW từ nam 1982.
4


10

nguyên tắc nghĩa vụ quốc gia.6 Khi nói tới bình đẳng giới, cần hiểu rằng quyền,
trách nhiệm và cơ hội của nữ giới và nam giới sẽ không phụ thuộc vào việc họ
sinh ra là nam hay nữ.7 Bình đẳng giới không có nghĩa là cào bằng như nhau
giữa nam và nữ, mà là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của
gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
Với tính chất phức tạp của vấn đề bình đẳng giới, để hiểu được sâu sắc khái
niệm này cần phải hiểu được một số thuật ngữ có liên quan mật thiết, đóng vai
trò bổ trợ cho khái niệm bình đẳng giới, trong đó phải kể tới“vai trò giới”.
Vai trò giới thể hiện ở những hoạt động, quyền lợi và trách nhiệm khác
nhau mà xã hội mong chờ nam giới và nữ giới thực hiện trong gia đình và xã
hội. Ở những nơi có sự phân biệt đối xử giới và bất bình đẳng giữa nam và nữ,
xã hội thường có quan niệm và mong muốn nam giới và phụ nữ có những vai trò
tách biệt theo giới tính. Chẳng hạn, phụ nữ chuyên làm công việc nội trợ trong
nhà, chăm sóc con cái còn nam giới làm việc ở ngoài phạm vi gia đình, tham gia
công việc chính quyền, xã hội… do đó, phụ nữ và nam giới cũng sẽ không bình
đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng, kiểm soát các nguồn lực cũng như cơ hội ra
quyết định trong gia đình và xã hội. Vai trò giới thể hiện ở cả ba khía cạnh:
- Vai trò sản xuất: Lao động kiếm sống, sản xuất, có thu nhạp, làm kinh tế.
-Vai trò nuôi du ng, tái sản xuất sức lao động: Chăm sóc và tái tạo sức lao
động, ví dụ nhu việc nội trợ, việc chăm sóc con cái, chăm nom nguời ốm… Đay
là các việc "không tên", không tạo ra thu nhập và thuờng do nguời phụ nữ phải
đảm nhận và ít đuợc xã hội đánh giá đúng mức.
- Vai trò cộng đồng: các hoạt động cải thiẹn cộng đồng, ví dụ nhu đi thăm
hỏi, dự các đám cuới, công tác hòa giải...
6

Phụ nữ nhân quyền Việt Nam, Công ước CEDAW – nguyên tắc không phân biệt đối xử,
https://www.youtube.com/watch?v=8Bv379Q7gcM, ngày truy cập 03/8/2017
7
Kate Andrew và Janet Chow (2015), Lồng ghép giới trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật –
Kinh nghiệm của Canada, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề dự án Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật


11

Trong bất cứ vai trò nào, nam và nữ đều phải được coi trọng như nhau,
không bên nào nặng hơn bên nào, không phải cứ vai trò sản xuất phải là của
nam giới và vai trò nuôi dư ng phải là của nữ giới. Vai trò giới thường thay
đổi theo thời gian, điều kiện, hoàn cảnh. Theo xu thế hiện đại, nam giới và
phụ nữ ngày càng chia sẻ với nhau các vai trò và trách nhiệm trong công việc,
gia đình và xã hội.
Với cách tiếp cận như vậy, bình đẳng giới được thể hiện ở các cấp độ khác
nhau: bình đẳng về quyền (vị trí pháp lý và vai trò ngang nhau); bình đẳng về
điều kiện, cơ hội tiếp cận các nguồn lực xã hội; bình đẳng về năng lực sử dụng,
khai thác các nguồn lực xã hội, bình đẳng trong việc tham gia xây dựng quyết
định, chính sách phát triển; bình đẳng trong thụ hưởng các lợi ích và kết quả của
sự phát triển, kiểm soát quá trình phát triển xã hội.8
Bình đẳng giới là vấn đề liên quan đến nhân quyền, là một điều kiện tiên quyết
để đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Bình đẳng giới sẽ chỉ là hình
thức nếu không tính đến sự khác biệt về giới và giới tính của nam và nữ, nếu chỉ áp
dụng các chuẩn mực pháp lý chung đối với nam và nữ mà không tính đến những
đặc trưng riêng do giới và giới tính của nam, nữ.
Bình đẳng giới được thể hiện trên hai phương diện: Bình đẳng giới về pháp lý
và bình đẳng giới thực chất. Bình đẳng giới về pháp lý hay chính là việc bình đẳng
giới đã được thể hiện trong các quy định của pháp luật. Theo đó, trong các văn bản
quy phạm pháp luật đã có những quy phạm, những điều luật quy định về vấn đề
này, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm bình đẳng giới được diễn ra trên thực
tế, ngăn chặn nguy cơ bất bình đẳng giới. Bình đẳng giới thực chất tức là bình đẳng
giới đạt được trong thực tế chứ không chỉ dừng lại ở những “quy định trên giấy tờ”.
Đó là việc đạt được những mục tiêu bình đẳng giới trong thực tiễn đời sống, thông
qua việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật. Bình đẳng giới về pháp lý và
bình đẳng giới thực chất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và không thể
8

Giới và lồng ghép giới trong hoạt động của Quốc hội (2009) , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội


12

tách rời nhau. Bình đẳng giới pháp lý là một trong các điều kiện cần để tạo nên cơ
sở cho việc bảo đảm bình đẳng giới thực chất được diễn ra trong thực tiễn đời sống.
Ngược lại, kết quả bình đẳng giới thực chất sẽ là căn cứ để đánh giá, để nhìn nhận
lại các quy định pháp luật hiện hành đã phù hợp, đã đầy đủ chặt chẽ hay chưa, từ đó
đưa ra những bài học kinh nghiệm để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của
pháp luật, thông qua hoạt động này bình đẳng giới về pháp lý được củng cố. Suy
cho cùng, quá trình hoàn thiện bình đẳng giới về pháp lý cũng không nằm ngoài
mục tiêu chung là hướng tới việc đạt được bình đẳng giới thực chất, đây là mục tiêu
cuối cùng mà mọi biện pháp, mọi chiến lược bình đẳng giới hướng đến.
Vì vậy có thể khẳng định bình đẳng giới thực chất là bình đẳng giới dựa trên
cơ sở thừa nhận có sự khác biệt về giới tính và giới giữa nam và nữ để có những
biện pháp pháp lý và các biện pháp khác phù hợp nhằm đạt được sự bình đẳng giới
trên thực tế.
Phù hợp với tinh thần của Công ước CEDAW, Luật Bình đẳng giới 2006 đã
xác định mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội
như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn
nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố
quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và
gia đình.
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, không nên bó hẹp quan điểm về bình đẳng
giới chỉ là bình đẳng giữa giới nam và giới nữ. Quan điểm xuyên suốt về bình
đẳng giới thường chỉ coi phụ nữ là trung tâm, bình đẳng giới hiện nay phải được
hiểu rộng hơn rằng trong chính mỗi giới cũng phải chú ý tới bình đẳng cho các
cá nhân khác nhau, đồng thời phải quan tâm đến quyền bình đẳng của một số đối
tượng tương đối nhạy cảm nhưng càng ngày càng thu hút sự quan tâm của xã hội
đó là “giới thứ ba” hay chính là nhóm LGBT.10 Quan điểm về bình đẳng giới cần
10

LGBT là tên viết tắt của cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam
(Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và hoán tính hay còn gọi là người chuyển giới (Transgender). LGBT thể
hiện sự đa dạng của các nền văn hoá nhân loại dựa trên thiên hướng tình dục và bản dạng giới.


13

phải được tiếp cận ở góc độ rộng hơn, không chỉ tạo sự công bằng giữa nam và
nữ mà còn phải tạo sự công bằng ngay chính trong mỗi giới nam hoặc nữ11.
Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hợp quốc liên
tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng
tình dục như thế nào, chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình
đẳng của cộng đồng LGBT, xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những
thách thức của nhân quyền hiện đại … Những động thái đó cho thấy, đã đến lúc
cần có sự đổi mới quan niệm về bình đẳng giới. Đây là vấn đề sẽ còn gây ra
nhiều tranh cãi từ các nhà khoa học, nhưng chúng ta không thể không thừa nhận
rằng cộng đồng LGBT đang tồn tại và là một phần trong xã hội, bản thân họ
đang chịu rất nhiều sự thiệt thòi, sự kỳ thị… Quan điểm về bình đẳng giới rồi sẽ
phải thay đổi để bảo vệ quyền và điều kiện sống cho họ. Tuy nhiên, đây không
phải là trọng tâm mà luận văn muốn hướng đến, riêng về nội dung này tác giả
cho rằng cần bàn luận sâu thêm ở các công trình khác. Theo quan điểm cá nhân,
bình đẳng giới không chỉ là bình đẳng giữa nam và nữ, mà còn là bình đẳng
trong chính giới nam hoặc giới nữ với nhau, quan điểm này có sự tiệm cận với
quan điểm bình đẳng giới trên thế giới hiện nay.
Từ cách hiểu chung thống nhất về bản chất của bình đẳng giới thực chất,
lồng ghép bình đẳng giới (lồng ghép giới) là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu
bình đẳng giới. Đó là viẹc tính đến nhu cầu và mối quan tam của nữ giới và nam
giới trong quá trình xay dựng, thực hiẹn và kiểm tra, giám sát từng chính sách,
chuong trình, dự án, hoạt động nhằm xóa bỏ bất bình đẳng giới12. Khái niệm
lồng ghép giới được đưa ra lần đầu tiên tại Hội nghị quốc tế lần thứ IV về phụ
nữ (Bắc Kinh, 1995) là một khái niệm mới không chỉ đối với Việt Nam, song đã
nhanh chóng được chấp nhận như một biện pháp chiến lược của các quốc gia để
https://vi.wikipedia.org/wiki/LGBT
11
https://hongtquang.wordpress.com/2012/06/18/can-thay-doi-quan-niem-ve-binh-dang-gioi/ngày truy cập
05/8/2017.
12
Justice partnership programme(JPP) Justice initiatives facilitation fund (JFF) (2014), Bọ tài liẹu Huớng dẫn
Lồng ghép giới dành cho các t chức phi ch nh phủ hoạt đọng trong l nh vực luạt & tu pháp tại Viẹt Nam


14

thúc đẩy bình đẳng giới. Mục tiêu của lồng ghép giới là đảm bảo cho mọi chính
sách, chương trình và dự án khi ban hành đều được cân nhắc dưới góc độ giới
nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của mọi thành viên trong xã hội và các quyền
lợi được phân phối một cách công bằng giữa hai giới.
Về cơ bản, các chiến lược lồng ghép bình đẳng giới bao gồm13:
- Lồng ghép bình đẳng giới xuyên suốt: là đua những uu tiên, nhu cầu của
nam giới và nữ giới một cách hệ thống và rõ ràng vào tất cả cách chính sách, dự
án, co chế và ngan sách. Theo đó, bất cứ một chính sách nào của Nhà nước đều
phải có tính đến vấn đề bình đẳng giới, cần một hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật thống nhất và hoàn thiện các quy định bảo đảm bình đẳng giới thực
chất. Yếu tố này được thể hiện rõ trong việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây
dựng VBQPPL.
- Xây dựng và thực hiện hành động chuyên biệt về giới nhằm bảo vệ sức
khoẻ sinh sản của nam giới và phụ nữ; và giải quyết những hạu quả của sự phân
biẹt đối xử giới trong quá khứ hoặc hiện tại bằng cách tăng cuờng vị thế cho nam
giới hoặc nữ giới - thuờng hay dành cho phụ nữ - đối tuợng thuờng gặp nhiều
khó khăn hon về kinh tế, chính trị và xã hội. Bên cạnh chiến lược lồng ghép bình
đẳng giới xuyên suốt, những chương trình, biện pháp hành động ngắn hạn, dài
hạn đóng vai trò quan trọng để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.
Có thể khẳng định, lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
chính là một trong các biểu hiện rõ nét của chiến lược lồng ghép bình đẳng giới
xuyên suốt.
1.1.2. Xây dựng luật, pháp lệnh và lồng ghép bình đẳng giới trong xây
dựng luật, pháp lệnh
1.1.2.1. Xây dựng luật, pháp lệnh
Luật và pháp lệnh là hai loại văn bản quy phạm pháp luật tương đối điển
hình, có hiệu lực pháp lý cao trong hệ thống các VBQPPL của nước ta. Luật

13

Justice partnership programme(JPP) Justice initiatives facilitation fund (JFF), tlđd chú thích 12


15

(bao gồm cả bộ luật và luật) được ban hành bởi Quốc hội, có nội dung quy định
về các vấn đề: Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ,
Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán
nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ
quan khác do Quốc hội thành lập; Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định, việc hạn chế quyền con
người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt; Chính sách cơ bản về tài chính,
tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;
Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;
Quốc phòng, an ninh quốc gia; Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà
nước; Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm,
cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
Chính sách cơ bản về đối ngoại; Trưng cầu ý dân; Cơ chế bảo vệ Hiến pháp; Vấn
đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội14. Pháp lệnh là văn bản quy phạm pháp
luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành, có hiệu lực pháp lý thấp hơn Luật,
có nội dung quy định các vấn đề được Quốc hội giao15.
Luật và pháp lệnh có hiệu lực pháp lý thấp hơn Hiến pháp – đạo luật cơ
bản. Luật và pháp lệnh chứa đựng những nội dung quy định cơ bản nhất, điều
chỉnh mọi lĩnh vực của xã hội. Nước ta có một hệ thống VBQPPL tương đối đồ
sộ và trong đó luật, pháp lệnh chiếm vai trò lớn, là tiền đề để các văn bản có hiệu
lực pháp lý thấp hơn ra đời.
Là điển hình cho nhóm VBQPPL, luật và pháp lệnh mang những đặc điểm
đặc trưng của loại văn bản này. VBQPPL là văn bản chứa đựng các quy phạm
pháp luật mà những quy phạm đó chính là “quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt
buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, t chức, cá
nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà
nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà
14

Theo quy định tại Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Theo quy đinh tại khoản 1 Điều 16 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

15


16

nước bảo đảm thực hiện”16. Yếu tố này đã khiến cho các VBQPPL, trong đó có
luật và pháp lệnh, đều mang những đặc điểm: do chủ thể có thẩm quyền ban
hành; nội dung chứa đựng các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung,
được Nhà nước đảm bảo thực hiện; được ban hành theo thủ tục, trình tự và hình
thức do pháp luật quy định.
Xây dựng luật, pháp lệnh mang bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật.
Một cách khái quát nhất, xây dựng pháp luật là hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ các quy định của pháp luật cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh
pháp luật đối với các quan hệ xã hội, đó là hoạt động đưa ý chí của Nhà nước, ý
chí của nhân dân lên thành pháp luật17. Xây dựng pháp luật ở Việt Nam là một
quá trình hoạt động vô cùng quan trọng, phức hợp, bao gồm rất nhiều các hoạt
động kế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều tổ chức và cá nhân có vị
trí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành, nhằm chuyển hóa ý
chí của Nhà nước, của nhân dân Việt Nam thành những quy định pháp luật dựa
trên những nguyên tắc nhất định và được thể hiện dưới những hình thức pháp lý
nhất định mà chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật.18 Theo đó, bản chất của
xây dựng luật, pháp lệnh là một quá trình hoạt động bao gồm các hoạt động kế
tiếp nhau nhằm tạo ra các quy phạm pháp luật. Xây dựng pháp luật nói chung và
xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng là hoạt động mang tính tổ chức rất chặt chẽ,
được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục pháp luật
quy định.
Luật và pháp lệnh cùng trải qua một quy trình ban hành tương đối giống
nhau và quy trình này gồm các khâu, các bước rất chặt chẽ. Quy trình ban hành
luật, pháp lệnh gồm hai giai đoạn lớn: giai đoạn đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
và giai đoạn soạn thảo luật, pháp lệnh. Trong quy trình đó, việc xây dựng nội
dung chính sách và các giải pháp thực hiện chính sách được thực hiện ngay từ
16

Khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015
Nguyễn Minh Đoan (2011), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 8.
18
Nguyễn Minh Đoan, tlđd chú thích 17, tr.13.
17


17

giai đoạn lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; chỉ sau khi chính sách đã được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì mới bắt đầu giai đoạn soạn thảo luật, pháp
lệnh với nhiệm vụ là “quy phạm hoá” đúng đắn và đầy đủ chính sách cùng các
giải pháp thực hiện chính sách đã được phê duyệt.
1.1.2.2. Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL nói chung và trong xây
dựng luật, pháp lệnh nói riêng chính là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình
đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản,
trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh 20. Hay nói cách khác, chính là việc các
chủ thể có thẩm quyền trong quá trình xây dựng VBQPPL hay xây dựng luật,
pháp lệnh phải luôn tính đến yếu tố giới, và thực hiện các nội dung lồng ghép
bình đẳng giới.
Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật là cách thức mà chủ thể
có thẩm quyền phải tiến hành nhằm bảo đảm đưa vấn đề bình đẳng giới vào hệ
thống các quy phạm pháp luật, mà trước tiên là những văn bản có hiệu lực pháp
lý cao nhất đó là luật và pháp lệnh. Lồng ghép bình đẳng giới tức là phải tính
đến nhu cầu và mối quan tâm của nam giới và nữ giới trong quá trình xây dựng
pháp luật nhằm xóa bỏ bất bình đẳng giới và giải quyết hiệu quả các yếu tố như
định kiến giới, phân công lao động theo giới, nhu cầu giới, phân biệt đối xử về
giới… còn tồn tại trong xã hội hiện nay. Bất cứ một chính sách nào được thể chế
hoá đều phải có tính đến vấn đề giới, nhằm đảm bảo có được những quy định
trong luật, pháp lệnh có hiệu quả, tạo ra được môi trường thuận lợi, hài hoà và
tạo cơ hội, điều kiện phát triển bình đẳng cho cả nam và nữ. Trong suốt quá
trình các công đoạn xây dựng luật, pháp lệnh, các chủ thể có liên quan đều phải
tính đến yếu tố giới ở trong đó, phải lồng ghép nội dung về bình đẳng giới
trong bất cứ một bước nào. Theo đó với quy trình xây dựng luật, pháp lệnh
20

Khoản 7 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006


18

gồm rất nhiều các hoạt động liên kết chặt chẽ với nhau, việc lồng ghép bình
đẳng giới sẽ phải được bảo đảm tiến hành xuyên suốt với trình tự và mức độ ở
mỗi bước là khác nhau.
Nội dung lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm
những yếu tố sau đây21:
Thứ nhất, xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong l nh vực
mà luật, pháp lệnh điều chỉnh. Vấn đề giới22 bao gồm sự bất bình đẳng giới,
phân biệt đối xử về giới, khoảng cách giới trong một lĩnh vực, một quan hệ xã
hội cụ thể. Phân tích giới là một bộ phận của phân tích chính sách, là việc thu
thập, xử lý thông tin, dữ liệu về thực trạng mối tương quan giữa nam và nữ liên
quan đến nhu cầu, cơ hội, điều kiện, năng lực tiếp cận các nguồn lực và thụ
hưởng các kết quả, lợi ích từ việc sử dụng, khai thác các nguồn lực trong một
lĩnh vực cụ thể, từ đó, xác định được vấn đề giới trong lĩnh vực đó cũng như dự
báo được tác động của các chính sách, giải pháp chính sách đối với mỗi giới
nhằm đạt được bình đẳng giới ở các cấp độ khác nhau.
Theo đó, bằng việc phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện
hành kết hợp với tổng kết số liệu, dẫn chứng phản ánh từ thực tiễn có phân tách
theo quan hệ giới, để xác định vấn đề bất bình đẳng giới đang tồn tại, hay đang
có sự phân biệt đối xử về giới trên các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc phạm vi
điều chỉnh của luật, pháp lệnh. Từ đây, xác định các nguyên nhân gây ra vấn đề
giới và đề ra những biện pháp và phương án giải quyết cụ thể.
Thứ hai, dự báo tác động của các quy định trong luật, pháp lệnh khi được
ban hành đối với nữ và nam. Dựa trên cơ sở việc thu thập, phân tích, đánh giá
theo định tính và định lượng các thông tin, nội dung dữ liệu cụ thể và phản ánh
của nhận thức, thái độ xã hội đối với việc lồng ghép đó…để đưa ra những dự
báo tác động chính xác, nhất là liên quan đến tác động về vị trí, vai trò của mỗi
21

Theo quy định tại Điều 21 của Luật Bình đẳng giới năm 2006
Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (NCFAW) (2008), Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong hoạch
định chính sách và thực thi chính sách, Hà Nội
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×