Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ THANH HẢI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN
CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI


TRẦN THỊ THANH HẢI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN
CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60380101

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Trung

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh Hải


BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NCTN:

Người chưa thành niên

CRC:

Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN .................................. 8

1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về đảm bảo quyền của
người chưa thành niên ................................................................................. ...8
1.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về đảm bảo
quyền của người chưa thành niên ................................................................ 20
1.3. Pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên của một số
quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam ............................ 27
Chƣơng 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM ...... 33

2.1. Quá trình phát triển của pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa
thành niên ở Việt Nam ................................................................................. 33
2.2. Thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở
Việt Nam ...................................................................................................... 37
Chƣơng 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM ...... 63

3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa
thành niên ở Việt Nam ................................................................................. 63
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành
niên ở Việt Nam ........................................................................................... 69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là thành quả phát triển của lịch sử lâu dài sự nghiệp đấu
tranh, giải phóng, cải tạo xã hội và cải tạo thiên nhiên của cả nhân loài. Trong xã
1.

hội đương đại, đời sống xã hội luôn được vận hành và quản lý bằng pháp luật của
nhà nước; pháp luật là tối thượng, con người sống và hoạt động theo pháp luật,
được pháp luật bảo vệ và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bảo vệ quyền con
người là chức năng của pháp luật, phản ánh tính nhân văn của pháp luật trong xã
hội hiện đại. Bảo vệ quyền con người đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm,
chú trọng và thành quả về xây dựng lý luận cũng như thực tiễn đảm bảo quyền con
người ngày càng có những bước hoàn thiện nhằm tiến tới một xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh…
Đối tượng người chưa thành niên là những chủ thể đặc biệt, chiếm tỷ lệ lớn,
chưa biết cách tự bảo vệ mình trước những sự kiện pháp lý, là đối tượng dễ bị tổn
thương nên cần sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt của Nhà nước, gia đình và toàn xã
hội. Người chưa thành niên đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống, là
tương lai của đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng này, trong những năm qua,
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm thúc đẩy việc đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên. Việt Nam là quốc gia đầu tiên
ở châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quyền Trẻ em vào
năm 1990. Qua đó, Nhà nước ta cam kết với Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế sẽ
thực hiện đầy đủ các điều khoản của Công ước. Về cơ bản, trong những năm qua,
việc ghi nhận, bảo vệ và đảm bảo cho các quyền của người chưa thành niên đã được
thực hiện nghiêm túc và đúng đắn với một tinh thần trách nhiệm cao của Nhà nước
và toàn thể xã hội. Có thể khẳng định Việt Nam cũng đã xây dựng được hệ thống
pháp luật đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, đồng thời từng bước đảm bảo tính tương
thích với pháp luật quốc tế, tạo căn cứ pháp lý quan trọng cho các cơ quan bảo vệ
pháp luật để nâng cao hoạt động đảm bảo quyền của người chưa thành niên.
Tuy nhiên, tình trạng vi phạm và xâm hại các quyền của người chưa thành
niên, đặc biệt là tình trạng bóc lột sức lao động, lạm dụng, bạo hành, phân biệt đối
xử… và tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên vẫn là vấn đề bức
xúc của xã hội, nhiều trường hợp mang tính chất hình sự. Ở nước ta hiện nay, tuy đã
có một số văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Lao động; Bộ luật Dân sự; Bộ
luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Chăm sóc sức


2
khỏe nhân dân; Luật Khám chữa bệnh; Luật Phòng chống HIV/AIDS; Luật Bảo hiểm
y tế; Luật Giáo dục; Luật Giáo dục tiểu học, Luật Phòng chống bạo lực gia đình;
Luật Phòng chống buôn bán người; Luật Nuôi con nuôi; Luật Xử lý vi phạm hành
chính; Luật Người khuyết tật; Luật Đất đai; Luật Thanh niên; Luật Hôn nhân và gia
đình; Luật Quốc tịch; Luật Bình đẳng giới... đều có quy định riêng đối với người
chưa thành niên nhưng nhìn chung, các quy phạm đó thiếu toàn diện, thiếu thống
nhất, chưa đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện chưa đầy đủ
những quy chuẩn cũng như những chính sách đối với các em; nhiều văn bản quy
phạm pháp luật và chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn và trùng lặp; thiếu sự phối
hợp của các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật,
cùng với đó là ý thức chấp hành pháp luật của bộ phận cán bộ, nhân dân chưa tốt,
chưa coi trọng công tác đảm bảo quyền của người chưa thành niên. Vì vậy, pháp luật
về đảm bảo quyền của người chưa thành niên chưa đủ sức để phòng ngừa vi phạm,
tội phạm cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhóm đối tượng này. Do đó,
cần nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về đảm bảo quyền
của người chưa thành niên để đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện cho phù
hợp với điều kiện phát triển của đất nước.
Chính vì vậy, tác giả chọn việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về
đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở Việt Nam” với mong muốn có những
đóng góp không chỉ cho việc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên mà còn nhằm tìm ra những “khoảng trống”, những hạn chế của pháp
luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, trên cơ sở đó tìm ra được những
giải pháp hoàn thiện.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề quyền con người nói chung và quyền của người chưa thành niên nói
riêng trong thời gian qua đã được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế cũng như nhiều
quốc gia và đã được nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu ở các phạm vi khác nhau. Cụ
thể như sau:
- Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Trước tiên phải kể đến Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (ngày
26/8/1789) được các nhà cách mạng Pháp công bố, đánh dấu sự phát triển lên một
bậc thang mới về quyền con người. Và, thành tựu quan trọng cho sự phát triển về
quyền con người đó chính là sự ra đời của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người
(UDHR) - được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948. Đến ngày


3
16/12/1966, Liên Hợp Quốc thông qua hai Công ước quốc tế về quyền con người, là
Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và Công ước về các quyền dân sự,
chính trị. Có thể khẳng định, đây là các văn kiện quốc tế đặt nền tảng cho khung
pháp lý quốc tế về quyền con người trên thế giới.
Cuốn “Protecting the world’s children: Impact of the Convention of the
Rights of the child in Diverse Legal Systems” (Bảo vệ trẻ em trên thế giới: Tác động
của Công ước về quyền trẻ em tới các hệ thống pháp luật) do Quỹ Nhi đồng Liên hợp
quốc ấn hành năm 2007 lại xem xét vấn đề tư pháp người chưa thành niên dưới góc
nhìn so sánh các kinh nghiệm lập pháp trong việc đưa Công ước về quyền trẻ em vào
khung pháp luật của các quốc gia.
Cuốn “Canadian Child Welfare Law, Famillies and the State” (Luật Bảo vệ,
chăm sóc trẻ em Canada: Trẻ em, gia đình và Nhà nước do các tác giả: Nicholas
Bala, Michale Kim Zapf, R.James Williams, Robbin Vogl, Joseph p. Hornick do Nhà
xuất bản Thompson Educational Publishing ấn hành năm 2004. Công trình đã trình
bày một cách hệ thống pháp luật Canada trong việc quy định và thực thi việc bảo vệ
trẻ em.
-

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

 Sách chuyên khảo:
+ “Quyền con người - Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học” - GS.TS Võ
Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010 (3 tập 1010 tr);
+ “Quyền con người” (Giáo trình giảng dạy sau đại học) - GS.TS Võ Khánh
Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2011 (431 tr);
+ “Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người”, Khoa luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2009, Nxb Chính trị quốc gia (670 tr);
+ Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong Tố tụng hình sự. Trung tâm nghiên
cứu quyền con người - quyền công dân và Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và tư
pháp hình sự trực thuộc khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội;
+ Quyền, lợi ích của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 1999;
+ Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Hoàng Thế Liên, Nxb Giáo
dục 1996;
+Luật Quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Trung tâm
nghiên cứu quyền con người và quyền công dân trực thuộc khoa Luật - Đại học quốc
gia Hà Nội;


4
+ Nguyễn Đình Lộc, Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1996.
 Luận án, luận văn:
+ Trần Thắng Lợi, Hoàn thiện pháp luật về người lao động chưa thành niên
trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ, năm 2012;
+ Lê Minh Thắng, Đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong tố tụng
hình sự ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, năm 2012;
+ “Xây dựng mô hình mạng lưới bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên dựa
vào cộng đồng” (đề tài cấp cơ sở, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội, năm 2008);
+ Lã Văn Bằng, Hoàn thiện pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, năm 2011;
+ Nguyễn Phương Linh, (2014), Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền con
người của người chưa thành niên bị tước tự do ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, năm 2014.
 Tạp chí:
+ Quyền và bổn phận của trẻ em - những vấn đề đặt ra cho xã hội hiện nay,
Đặng Khanh, Tạp chí Cộng sản số 16/2013;
+ Bài viết: “Phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em và lao động trẻ em những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Tiến sĩ Đỗ Ngân Bình, Trường Đại học Luật
Hà Nội, đăng trên Tạp chí Luật học số 2, năm 2009.
Các công trình này đã nghiên cứu quyền của người chưa thành niên dưới góc
độ là một bộ phận của quyền con người, triển khai các vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ
em, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quyền của người chưa thành niên, xây dựng cơ
chế quản lý Nhà nước về thực hiện quyền của người chưa thành niên… Đến nay đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu dưới các dạng khác nhau về vấn đề quyền của
con người, của nhóm người yếu thế nói chung và người chưa thành niên nói riêng.
Điều này chứng tỏ được việc nghiên cứu về quyền của người chưa thành niên trong
những năm qua đã được quan tâm và đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền
của người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay. Luận văn có thể bổ sung cái nhìn
tổng quát về quyền người chưa thành niên dưới góc độ nhân quyền, từ đó hoàn thiện
hơn pháp luật Việt Nam về người chưa thành niên nhằm có những sự điều chỉnh hợp
lý nhằm tăng cường đảm bảo các quyền của người chưa thành niên trên thực tế.


5
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, qua
đánh giá thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, từ đó,
luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của
người chưa thành niên ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền của người
chưa thành niên, pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, hoàn thiện
pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên.
Thứ hai, phân tích thực trạng những quy định của pháp luật về đảm bảo quyền
của người chưa thành niên ở Việt Nam trên một số lĩnh vực, đánh giá, chỉ ra những
ưu điểm và mặt còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong xây dựng, hoàn thiện
pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nêu lên quan điểm và đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên
ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn của
pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, những giải pháp được đề
xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở Việt
Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do vấn đề đảm bảo quyền của người chưa thành niên có phạm vi rất rộng,
luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền của người
chưa thành niên trên các lĩnh vực chính trị - dân sự, lao động, văn hóa, tư pháp, hôn
nhân gia đình, giáo dục… để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế làm cơ sở đề xuất quan
điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu,
Luận văn sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lê
Nin cũng như của lý luận chung về Nhà nước và pháp luật làm cơ sở phương pháp
luận. Đồng thời, luận văn cũng bám sát các chủ trương, định hướng, chính sách của
Đảng, Nhà nước về quyền con người và các Công ước về quyền con người cũng như
Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc.


6
Bên cạnh đó, Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù
hợp với từng nội dung, từng khía cạnh của Luận văn. Phương pháp tổng hợp là
phương pháp được sử dụng chủ yếu tại Chương I và Chương II khi nghiên cứu
những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền của người
chưa thành niên. Phương pháp phân tích, so sánh và logic được sử dụng trong hầu
hết các nội dung nghiên cứu ở cả ba chương để giải quyết các nội dung cụ thể.
6. Ý nghĩa và những đóng góp của Luận văn
6.1. Ý nghĩa
- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm giàu thêm
vấn đề lý luận về pháp luật đảm bảo quyền con người nói chung và người chưa thành
niên nói riêng. Góp phần luận giải tính phổ biến và đặc thù của quyền của người
chưa thành niên, coi quyền của người chưa thành niên là giá trị được thừa nhận
chung và nó cũng được cụ thể hóa trong từng lĩnh vực cụ thể, ở từng quốc gia.
- Ý nghĩa thực tiễn: Thực tiễn hệ thống pháp luật của nước ta thời gian qua
cho thấy quyền của người chưa thành niên vẫn chưa được đảm bảo tốt nhất, pháp
luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên chưa thực sự thống nhất, có nhiều
điểm còn mâu thuẫn, chồng chéo.Với việc đưa ra nhận thức đầy đủ, có hệ thống về
đảm bảo quyền của người chưa thành niên và phân tích thực trạng của vấn đề này sẽ
góp phần hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên. Các
khuyến nghị khoa học của đề tài có giá trị tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp
luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở nước ta, cũng như quá trình tổ
chức thực hiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở nước ta,
góp phần thống nhất nhận thức xã hội và nâng cao công tác xây dựng hoàn thiện
pháp luật về lĩnh vực này.
6.2. Đóng góp
Luận văn là công trình nghiên cứu pháp luật về đảm bảo quyền của người
chưa thành niên. Với mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về
đảm bảo quyền của người chưa thành niên nói riêng và quyền con người nói chung,
luận văn đã có những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, góp phần luận giải hệ thống lý luận hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền của người chưa thành niên: Chỉ rõ cơ sở để xác định khái niệm người chưa thành
niên, quyền của người chưa thành niên, đảm bảo quyền của người chưa thành niên và
xác định các đặc điểm riêng của đối tượng này để phân biệt với các đối tượng khác,
đồng thời làm căn cứ cho việc hoàn thiện các quy định riêng đối với người chưa thành
niên; chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với đối tượng này.


7
Thứ hai, luận văn đã phân tích, chỉ ra những kinh nghiệm của một số nước khi
điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề đảm bảo quyền của người chưa thành niên. Đây
là một trong cơ sở tham khảo quan trọng nhằm so sánh, học hỏi kinh nghiệm và hoàn
thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở nước ta.
Thứ ba, đưa ra sự đánh giá toàn diện về thực trạng về các quy định pháp luật
về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, cũng như thực tiễn áp dụng và chỉ ra
những vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung trong hệ thống pháp luật.
Thứ tư, xác định những yêu cầu cần thiết của việc hoàn thiện các quy định
hiện hành về quyền của người chưa thành niên, đề xuất, xây dựng, bổ sung những
quy định thể chế, thiết chế nhằm hoàn thiện pháp luật, tăng cường hiệu quả về đảm
bảo quyền của người chưa thành niên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1. Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của
người chưa thành niên.
Chương 2. Quá trình phát triển và thực trạng pháp luật đảm bảo quyền của
người chưa thành niên ở Việt Nam.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền
của người chưa thành niên ở Việt Nam.


8

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về đảm bảo quyền của ngƣời
chƣa thành niên
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên và đảm bảo quyền của người chưa thành niên
Người chưa thành niên (NCTN) là một thuật ngữ nhằm chỉ ra một nhóm
người trong xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát
triển con người, là giai đoạn có những bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất lẫn
tâm hồn. Lúc này, NCTN không hẳn là trẻ em, cũng chưa hẳn là người trưởng
thành, đây là thời kỳ chuyển tiếp, các em không còn thụ động với vai trò của
người được dạy dỗ nhưng lại chưa có đủ khả năng phán đoán và giải quyết tất cả
các tình huống.
Thuật ngữ NCTN được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học khác
nhau như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, luật học... Tuy nhiên, thuật ngữ
NCTN chưa được thống nhất, tùy theo từng góc độ, lĩnh vực mà thuật ngữ này được
định nghĩa khác nhau. Khái niệm NCTN được đề cập tới trong nhiều văn kiện pháp
lý quốc tế quan trọng cụ thể như sau:
Theo Các quy tắc Bắc Kinh được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
29/11/1985, “Người chưa thành niên là trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng
hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội theo một phương thức khác người
lớn”1. Các quy tắc Bắc Kinh cũng nhấn mạnh rằng giới hạn độ tuổi được coi là chưa
thành niên phụ thuộc vào quy định của từng hệ thống pháp luật. Điều này mở ra cho
mỗi quốc gia được quy định giới hạn tuổi khác nhau đối với NCTN để phù hợp với
hoàn cảnh và điều kiện thực tế của quốc gia mình.
Tại Điều 1, Phần 1 của Công ước về quyền trẻ em (CRC) được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989, có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 quy định
“Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ
trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”2.
1

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1985), “Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về hoạt động tư pháp đối với
người vị thành niên (Các quy tắc Bắc Kinh)”, Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Lao động – Xã
hội, Hà Nội, tr. 234 -241.
2
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1989), “Công ước về quyền trẻ em”, Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người,
Nxb Lao động - Xã hội, tr.162-185.


9
Tại Các Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do, được Đại
hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990, trong phần phạm vi áp dụng
quy tắc, có quy định “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn độ tuổi
thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự do của trẻ em cần được pháp
luật quy định”3.
Các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền của NCTN nói trên có phạm vi điều
chỉnh khác nhau, các văn bản này không dựa vào đặc điểm tâm sinh lý hay sự phát
triển mà trực tiếp hoặc gián tiếp ghi nhận, thống nhất NCTN là người dưới 18 tuổi.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tùy từng đối tượng và phạm vi điều chỉnh
của mỗi ngành luật mà lại có những quy định khác nhau về NCTN. Bộ luật Dân sự
năm 2015 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người
chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” [Điều 21]. Như vậy, NCTN là
người dưới 18 tuổi. Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người lao động chưa
thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [Điều 161]. Luật Trẻ em 2016 khẳng
định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [Điều 1]. Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ
sung quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự...” [Điều 90]. Từ những quy định này cho thấy, độ tuổi của NCTN
theo quy định của pháp luật Việt Nam trùng với quy định về độ tuổi của trẻ em theo
CRC. Pháp luật Việt Nam nói chung có khá nhiều quy định khác nhau về NCTN
nhưng đều thống nhất khái niệm NCTN là những người dưới 18 tuổi hay là người
chưa đủ 18 tuổi.
Tựu chung lại, có thể đưa ra một khái niệm của pháp luật quốc gia về NCTN
như sau: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về
thể chất, tinh thần, tâm sinh lý, do vậy chưa đủ năng lực hành vi thực hiện các quyền
và nghĩa vụ pháp lý như các chủ thể khác là người đã thành niên.
Người chưa thành niên là một chủ thể pháp luật, cũng như các chủ thể khác
đều có khả năng trở thành các bên tham gia quan hệ pháp luật, có được những quyền
và nghĩa vụ pháp lý trên cơ sở những quy phạm pháp luật quy định. Như vậy, đặc
điểm của NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện trên ba khía cạnh: thứ
nhất, khía cạnh sinh học - thể chất, chưa phát triển đầy đủ về thể lực; thứ hai, khía
cạnh xã hội - nhận thức, chưa phát triền đầy đủ về trí tuệ, tinh thần; và thứ ba, khía
cạnh pháp lý, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý.
* Quyền của người chưa thành niên

3

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1990), “Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do”,
Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Lao động-Xã hội, tr 674 -711.


10
“Quyền” là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật
công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để cá nhân, tổ chức được
hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. Theo định nghĩa
của Từ điển tiếng Việt thì “quyền” là: 1. Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho
được, được làm, được đòi hỏi. 2. Những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm4. Như
vậy có thể hiểu khái quát về quyền của NCTN theo pháp luật là những đặc lợi mà chỉ
NCTN mới có, do Nhà nước và pháp luật trao cho họ. Do người NCTN là một thực thể
sinh học - xã hội, là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội, cho nên quyền của
NCTN vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội. Mặt khác, cũng do NCTN là một
thực thể sinh học - xã hội, cho nên quyền của NCTN vừa mang tính phổ biến vừa mang
tính đặc thù, tính phổ biến thể hiện ở chỗ những quyền này được áp dụng phổ biến ở
mọi nơi, cho mọi đối tượng được gọi là NCTN, tính đặc thù thể hiện ở chỗ các quyền
này ở các quốc gia, lãnh thổ do những điều kiện và trình độ phát triển khác nhau mà có
những đặc điểm riêng biệt phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, lãnh thổ đó.
Quyền của NCTN trước hết cũng mang những tính chất của quyền con người
(cái chung, cấp độ cơ bản), sau đó mới mang những tính chất riêng tương ứng với
đặc điểm của độ tuổi (cái riêng, cấp độ ưu tiên). Nội dung quyền của NCTN ngày
càng được quan tâm nhiều hơn và được khẳng định mạnh mẽ trong lịch sử phát triển
quyền con người. Với sự ra đời của CRC đã khẳng định được sự cần thiết bảo vệ
quyền NCTN với tư cách một bộ phận quyền con người đặc biệt. Từ CRC, pháp luật
quốc gia đã quy định các vấn đề như môi trường, gia đình, giáo dục, việc làm, mức
sống, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí và trách nhiệm bảo vệ NCTN khỏi sự
trừng phạt về thể xác và bóc lột tình dục và bảo vệ quyền của NCTN làm trái pháp
luật… NCTN là một thành viên trong xã hội, đây là nhóm người do điều kiện tự
nhiên - xã hội có những hạn chế nên cần được đảm bảo những quyền đặc biệt, ghi
nhận cho họ nhiều quyền hơn hoặc được hưởng các quyền mang tính ưu tiên hơn. Sự
phân biệt các nhóm người, các nhóm quyền không phải là sự bất bình đẳng của pháp
luật mà là một bước tiến để hướng tới sự bình đẳng thực sự.
Các quốc gia trên thế giới đều thống nhất rằng mọi người đều phải được đối
xử bình đẳng và chung sống với nhau trong hòa bình và tự do. Điều này là dựa trên
niềm tin rằng tất cả mọi người đều có các “quyền” bình đẳng như nhau và ai cũng
phải thừa nhận và tôn trọng quyền của người khác. Tất cả NCTN cũng đều có các
4

Từ điển tiếng Việt (2007), Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr. 815.


11
quyền như vậy và những quyền này đều được thừa nhận trong các văn bản quốc tế và
quốc gia. Tất cả các quyền này đều rất quan trọng và cần phải được tôn trọng trong
bất kỳ hoàn cảnh nào.
Từ những sự phân tích trên, có thể khái niệm như sau về quyền của NCTN:
Quyền của người chưa thành niên chính là một bộ phận của quyền con người, được
pháp luật ghi nhận và bảo vệ phù hợp với các nhu cầu, đặc trưng phát triển, là những
đặc lợi vốn có, tự nhiên mà chỉ chủ thể này mới được trong những điều kiện chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.
*Đảm bảo quyền của người chưa thành niên
Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “đảm bảo” được định nghĩa như sau: “Làm
sao cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”5.
Như vậy, nếu xuất phát từ cách định nghĩa của khái niệm “đảm bảo” thì có thể hiểu
đảm bảo quyền của NCTN là những hoạt động, những công việc tạo ra điều kiện, tiền
đề cần thiết làm cho quyền của NCTN được ghi nhận và thực hiện đầy đủ trên thực tế.
Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử, Nhà nước luôn có những
quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Những quyền cơ bản đó
được Nhà nước đảm bảo thực hiện đồng thời công dân cũng có nghĩa vụ tôn trọng và
đảm bảo quyền lợi của người khác. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định quan niệm: “Nhà
nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, chăm lo hạnh phúc, sự
phát triển tự do của mỗi người”6. Như vậy, ở đây Nhà nước nhận về mình trách
nhiệm, nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền con người, quyền công dân, đảm bảo các
quyền con người, quyền công dân, đồng thời chăm lo hạnh phúc, sự phát triển của
mỗi người. Nhà nước Việt Nam luôn coi việc đảm bảo quyền của NCTN là vấn đề có
tầm quan trọng đến sự phát triển của đất nước. Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn
xác định NCTN không phân biệt gái, trai; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn
giáo, thành phần, địa vị xã hội… đều có những khả năng xã hội như nhau để phấn
đấu trở thành người có ích cho xã hội, đều được hưởng các quyền và thực hiện các
nghĩa vụ công dân mà Nhà nước và pháp luật quy định.
Quan niệm về đảm bảo quyền của NCTN là các chủ thể có trách nhiệm, trước
hết và chủ yếu là Nhà nước, tạo ra các tiền đề về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý,
thực hiện các biện pháp về thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp để hiện thực hóa các
5

Từ điển tiếng Việt (2007), Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr. 38.

6

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.56.


12
nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền của NCTN nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm
bảo thực hiện và thúc đẩy quyền của NCTN trên mọi phương diện.
Về chủ thể đảm bảo - chủ thể của những hoạt động nêu trên, ở bình diện chung,
Nhà nước thay mặt xã hội thực hiện những đảm bảo cho quyền của NCTN được thực
hiện. Nhà nước phải xây dựng hệ thống pháp luật ghi nhận các quyền đối với NCTN,
đồng thời giao trách nhiệm áp dụng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức có liên quan.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm chung trong
việc đảm bảo quyền của NCTN. Trách nhiệm đó bao gồm ban hành pháp luật, hình
thành các thiết chế xây dựng các chủ trương chính sách và đảm bảo thực hiện quyền
của NCTN. Bao gồm các cơ quan Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp;
Tòa án, Viện Kiểm sát, Mặt trận tổ quốc… Hiện nay, trong bộ máy nhà nước từ
trung ương đến địa phương, Nhà nước cũng đã thành lập nên hệ thống các cơ quan
trong lĩnh vực đảm bảo quyền của NCTN. Cụ thể, như Ủy ban Văn hóa, giáo dục,
Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng thuộc Quốc hội; Bộ Lao động - Thương binh và
xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo... cũng đảm nhiệm việc thực hiện đảm bảo các quyền
của NCTN. Hệ thống các thiết chế đảm bảo quyền của NCTN của Việt Nam chính là
sự cam kết mạnh mẽ của quốc gia đối với cộng đồng quốc tế về vấn đề đảm bảo
quyền của NCTN.
Bên cạnh các thiết chế Nhà nước, các thiết chế khác như nhà trường, gia đình,
các tổ chức kinh tế - xã hội cũng có vai trò trong việc đảm bảo quyền của NCTN.
Như vậy, về mặt pháp lý cũng như trên thực tế, toàn xã hội Việt Nam cùng tham gia
vào việc đảm bảo thực hiện quyền của NCTN. Không những thế, đảm bảo quyền của
NCTN ở Việt Nam còn được sự hỗ trợ rất lớn của cộng đồng quốc tế, các tổ chức
quốc tế liên chính phủ cũng như phi chính phủ. Sự giúp đỡ không chỉ đơn thuần là sự
hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật mà quan trọng hơn là nhằm nâng cao nhận thức của xã
hội, người dân về vị trí, vai trò của NCTN.
Về đối tượng đảm bảo - các quyền của NCTN bao gồm những quyền đặc thù,
dành riêng cho NCTN trên cơ sở quyền con người. Bởi lẽ, đây là nhóm tuổi dễ bị tổn
thương do “còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt,
kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”7. Đây là các
quyền được xác lập và thực hiện theo hướng ưu tiên đối với NCTN, phù hợp với các
đặc điểm tâm sinh lý của NCTN, thể hiện trách nhiệm xã hội và bản chất dân chủ,
7

Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (2002), Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đấu tranh, phòng chống các
tệ nạn xã hội ở nước ta, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 123.


13
nhân văn của Nhà nước. Những quyền này nhằm đảm bảo rằng NCTN được hưởng
những gì mà các em cần để lớn lên, phát triển và học tập, có sức khỏe và trở thành
người có ích cho xã hội.
Về các phương thức, hoạt động đảm bảo - đảm bảo quyền của NCTN bao gồm
những đảm bảo về xây dựng pháp luật (xây dựng định chế pháp lý về quyền của NCTN)
và đảm bảo về thực hiện pháp luật (vận hành hệ thống của các cơ quan có trách nhiệm
đảm bảo thực hiện nội dung quyền trên thực tế, bảo vệ các quyền, chống xâm hại, vi
phạm và đảm bảo bằng các hoạt động hợp tác quốc tế trên lĩnh vực này…).
Đảm bảo pháp lý về quyền của NCTN chính là nói đến hệ thống pháp luật về
NCTN đầy đủ, hoàn thiện là cơ sở để Nhà nước, tổ chức, công dân thực hiện quyền
và trách nhiệm của mình đối với NCTN. Hệ thống văn bản pháp luật về đảm bảo
quyền của NCTN quy định về tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước, quy định về
quyền của NTCN và quy định trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà
nước. Cơ chế tổ chức thực thi quy định pháp luật về quyền của NCTN.
Các hoạt động này chỉ đạt được kết quả tốt trên cơ sở những đảm bảo chung
về chính trị - quyền và bổn phận của NCTN được đảm bảo bằng thể chế chính trị,
bằng sự ổn định chính trị, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị, sự lãnh đạo
của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; đảm bảo về kinh tế - chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của nhà nước là đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng và phát
huy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, tập thể và cả dân tộc; đảm bảo về xã hội - thông
các mối quan hệ, sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa các giai cấp, tầng lớp, nhóm
dân cư, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện nhằm đảm bảo quyền; đảm bảo về văn
hóa - tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân
đạo, dân chủ, tiến bộ và hướng tới việc xây dựng con người phát triển toàn diện về
đức, trí, thể, mỹ.
Để đảm bảo quyền của NCTN cần phải có các điều kiện đảm bảo chung như
trên và đặc biệt là hệ thống pháp luật. Những yếu tố này đóng vai trò cơ sở hạ tầng
cho việc xây dựng và hiện thực hóa các quyền của NCTN.
Qua phân tích, tổng hợp các phương diện tiếp cận nêu trên, có thể đưa ra khái
niệm đảm bảo quyền của NCTN như sau: Đảm bảo quyền của người chưa thành niên
là hoạt động của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng và thực
hiện pháp luật nhằm thiết lập, hiện thực hóa các quyền của người chưa thành niên
trong tất cả các lĩnh vực trên cơ sở những đảm bảo chung của quyền con người.


14
Với những đảm bảo về chính trị, kinh tế, pháp luật, xã hội… Việt Nam là
nước đang và sẽ tích cực thực hiện cam kết, hợp tác với quốc tế nhằm cải thiện phúc
lợi của NCTN trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Mặc dù còn
nhiều khó khăn, nhưng với sự nỗ lực kiên trì, trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng
cuộc sống, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và đảm bảo quyền của NCTN.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật đảm bảo quyền của người chưa thành niên
Pháp luật là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh
hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội nói chung cũng như tới tất cả các yếu tố của
thượng tầng chính trị - pháp lý nói riêng. Sự tác động và ảnh hưởng của pháp luật thể
hiện ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng và từng loại quan
hệ cụ thể cần có sự điều chỉnh của pháp luật. Đối với xã hội, pháp luật là phương tiện
điều chỉnh các quan hệ xã hội, là một trong những yếu tố đảm bảo và bảo vệ sự ổn
định trật tự của xã hội. Một mặt, pháp luật ghi nhận và thể chế hóa quyền con người,
quyền công dân và đảm bảo về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện. Mặt
khác, pháp luật trở thành phương tiện để các thành viên trong xã hội có điều kiện bảo
vệ lợi ích hợp pháp của mình.
Quyền con người và quyền của NCTN được pháp luật xác lập, ghi nhận và
bảo vệ bằng các biện pháp khác nhau. Đảm bảo quyền của NCTN đã được pháp luật
ghi nhận, tức là đã mang tính quyền lực, nó thể hiện ý chí của nhà nước và được Nhà
nước đảm bảo thực hiện. Nó trở thành khuôn mẫu, được xác định cụ thể, không
chung chung, không trừu tượng, có giá trị bắt buộc mọi người tôn trọng, phục tùng.
Trong hệ thống công cụ đảm bảo quyền của NCTN thì pháp luật là công cụ không
thể thiếu, nó là cơ sở, là điều kiện bắt buộc để thực hiện các hoạt động đảm bảo
quyền của NCTN trên mọi lĩnh vực của đời sống.
Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, phòng ngừa NCTN phạm tội là một việc
làm không chỉ có ở Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới cũng đặc biệt quan
tâm, nghiên cứu và thực hiện. Chính vì vậy, ngoài những quy định chung về quyền con
người, quyền công dân, pháp luật còn có những quy định riêng dành cho NCTN.
Trong những năm qua Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật nói chung, cũng như pháp luật, chính sách liên quan đến việc đảm bảo quyền cho
NCTN. Việt Nam đã cụ thể hoá pháp luật quốc tế và vận dụng phù hợp vào điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của quốc gia. Đây là cơ sở pháp lý để đảm bảo thực hiện tốt các
quyền của NCTN. Tuy vậy, với sự phát triển nhanh chóng và đa dạng của các quan hệ


15
xã hội trong xã hội, các quy định pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN cần liên tục
được rà soát, đánh giá và sửa đổi, thay thế cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam cũng
như pháp luật quốc tế. Và, vấn đề quan trọng không phải là liệt kê bao nhiều quyền mà
cần có cơ chế thực thi như thế nào để đảm bảo quyền của NCTN được thực hiện
trên thực tế…
Từ những phân tích trên đây ta có khái niệm: Pháp luật về đảm bảo quyền của
người chưa thành niên là tổng thể các quy định do Nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận để xác định các quyền, lợi ích hợp pháp mà chủ thể này được hưởng và hệ
thống các phương thức bảo vệ, hiện thực hóa nội dung, giá trị của các quyền trên
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN phải hội tụ đầy đủ các yếu tố đảm bảo
quyền con người, quyền công dân: Về hệ thống pháp luật đảm bảo quyền của NCTN;
về hệ thống các cơ quan tiến hành các hoạt động và tổ chức nhằm đảm bảo quyền
của NCTN trên thực tế; về cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan có trách
nhiệm; về cơ chế giám sát, quy định chế độ trách nhiệm pháp lý trong xử lý vi phạm
pháp luật xâm hại đến quyền của NCTN.
Đặc điểm pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên
Thứ nhất, pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN bao gồm các quy định của
pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền của công dân và các quy định trực
tiếp về đảm bảo quyền của NCTN.
Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động
qua lại lẫn nhau một cách biện chứng. Pháp luật ghi nhận, xác lập, củng cố, hoàn thiện
quyền con người. Quyền con người được pháp luật xác lập là thiêng liêng, không thể
xâm hại một cách tùy tiện và được đảm bảo bằng nhiều biện pháp khác nhau. Quyền
con người được pháp luật xác lập mang tính tối cao. Hiến pháp 2013 đã có một
chương riêng (Chương II) quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân, trong đó Điều 14 đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã
hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật”.
Đảm bảo quyền của NCTN cũng được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực
thi. Vấn đề này cũng đã được năm bản Hiến pháp qua từng giai đoạn ghi nhận và
được cụ thể hóa ở nhiều văn bản luật của hệ thống pháp luật Việt Nam. Đặc biệt,
nhiều văn bản luật và dưới luật khác cũng quy định cụ thể về các biện pháp thi hành,
các quy trình, quy chuẩn đảm bảo quyền của NCTN; quy định về thành phần và hoạt


16
động đảm bảo quyền của NCTN; cơ chế phối hợp liên ngành, giám sát nhằm tạo ra
một hệ thống quản lý và điều phối hiệu quả. Những quy phạm như vậy, đã hình
thành nên một hệ thống các quy phạm quy định trực tiếp đến quyền của NCTN và
đảm bảo quyền của NCTN.
Thứ hai, pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN là tổng hợp các quy phạm
pháp luật trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa.
Pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận,
nguồn chủ yếu trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung là dạng văn bản quy
phạm pháp luật, trong đó có hai loại, một là: do Nhà nước ban hành của các cơ quan
lập pháp, lập quy theo thẩm quyền; hai là các điều ước quốc tế mà Việt Nam thừa
nhận. Pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN có thể nằm trong văn bản luật riêng
hoặc nằm trong nhiều văn bản luật với mức độ, nội dung điều chỉnh khác nhau.
Xét về cấu trúc, pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN có phạm vi rất rộng,
liên quan đến nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau. Mỗi
một ngành luật có những đặc thù riêng về đảm bảo quyền của NCTN. Nếu xét ở góc
độ lĩnh vực quan hệ xã hội thì pháp luật về NCTN liên quan đến quan hệ hôn nhân
gia đình, quan hệ lao động, quan hệ hình sự, quan hệ hành chính... Còn nếu xét ở góc
độ ngành luật thì hầu hết các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam đều điều
chỉnh các quan hệ xã hội về NCTN.
Pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN ngày càng mang tính toàn diện, cụ thể
phù hợp với các nhóm đối tượng NCTN. Trong nhóm đối tượng NCTN có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn. Các đối tượng NCTN đặc biệt ngày càng được cụ thể hóa và có
những cơ chế riêng để bảo vệ, chăm sóc, giáo dục. Nhà nước có nhiều chính sách để
giúp đỡ, tạo điều kiện cho các em hòa nhập hơn với cộng đồng. Như vậy, ngoài
những quy định về quyền của NCTN nói chung còn có các quy định riêng về các
quyền đặc thù của từng nhóm đối tượng NCTN có hoàn cảnh đặc biệt. Chính vì vậy,
việc đảm bảo quyền của NCTN không chỉ căn cứ vào những quy phạm pháp luật
riêng quy định về NCTN, mà còn liên quan đến nhiều quy phạm pháp luật thuộc các
lĩnh vực khác nhau.
Thứ ba, pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN có sự ảnh hưởng to lớn của
các yếu tố phong tục, tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa.
Điều này được thể hiện trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của NCTN
đối với các thành viên gia đình và ngược lại. Pháp luật bao giờ cũng dành một sự lưu
ý đặc biệt đến mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán trong việc giải quyết các quan
hệ hôn nhân - gia đình. Như trong việc đặt tên, họ cho đứa trẻ, trong việc giải quyết
các quan hệ tài sản, thừa kế, quan hệ nhân thân…


17
Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức thể hiện ở tất các lĩnh vực điều chỉnh
của pháp luật. Nhưng ở các lĩnh vực pháp luật về NCTN, nhất là trong quan hệ gia
đình, mối quan hệ này được thể hiện sâu sắc và bao quát hơn, bởi ở đó có yếu tố tình
cảm là sợi dây gắn kết các thành viên gia đình. Các quyền, bổn phận - nghĩa vụ của
NCTN và các thành viên trong gia đình trước hết là những quyền và bổn phận đạo
đức. Pháp luật đã thể chế hóa và qua đó mà củng cố các quyền và bổn phận đạo đức
đó. Các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã thể hiện tương đối toàn
diện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của cha mẹ và các con đối với nhau nhằm giữ gìn
và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam.
Thứ tư, pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên liên quan đến
nhiều chính sách về bảo vệ người yếu thế, là đối tượng cần được sự quan tâm đặc biệt
Ở Việt Nam, mọi chính sách phát triển luôn lấy con người làm trung tâm bao
gồm: phát triển kinh tế vì con người; tăng trưởng kinh tế găn liền với bảo đảm phát
triển đồng bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và từng chính
sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao
dân trí, và cải thiện môi trường. Việc quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của
các nhóm xã hội yếu thế là một trong những ưu tiên hàng đầu nhằm phát triển mạng
lưới an sinh xã hội của Việt Nam. Chính bởi sự chưa hoàn thiện về thể chất và nhận
thức xã hội nên NCTN dễ trở thành nạn nhân của việc mua bán, bạo lực, xâm hại
tình dục, cũng như dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào các hoạt động phi pháp. NCTN luôn được
xem là đối tượng non nớt, dễ bị tổn thương, cần sự chăm sóc quan tâm được biệt của
xã hội.
1.1.3. Nội dung của pháp luật đảm bảo quyền của người chưa thành niên
Nói tới pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN là đương nhiên nói tới vai trò
bảo vệ của pháp luật đối với quyền của NCTN. Khi xem xét pháp luật là một công cụ
trong cơ chế bảo vệ, đảm bảo quyền của NCTN, nội dung pháp luật về lĩnh vực này
bao hàm hai nội dung chính sau: i) hệ thống quy định về nội dung quyền của NCTN
cần được bảo vệ, đảm bảo (quy định nội dung); ii) hệ thống các nguyên tắc, quy định
về các biện pháp, cách thức tổ chức, hoạt động để thực hiện các quyền của NCTN
trên thực tế, hay còn gọi là quy định thủ tục. Hai nội dung này có mối quan hệ mật
thiết với nhau, nếu không có cơ chế thực hiện (quy định và tổ chức thực hiện) thì mọi
quy định nội dung chỉ là pháp luật trên giấy.
Thứ nhất, là quy định về quyền của NCTN được bảo vệ, đảm bảo trong hệ
thống pháp luật Việt Nam.


18
Các quy định này tồn tại ở dạng những quy tắc, quy phạm quy định về quyền
của NCTN trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này được thể hiện ở nội dung
các quyền của NCTN. Xét từ phương diện quyền con người, tuy có tính chất đặc
biệt, song quyền của NCTN vẫn là một bộ phận hợp thành của quyền con người. Và
nói đến nội dung của pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN là nói đến các quy
phạm pháp luật cụ thể hướng đến mục tiêu xác lập, bảo vệ năng lực và tư cách pháp
lý của NCTN trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, các nhóm quyền và cũng chính
là các nhóm quyền của NCTN cần Nhà nước đảm bảo thực hiện, cụ thể là:
- Đảm bảo quyền về dân sự - chính trị như các quyền có họ tên, quốc tịch,
quyền tự do phát biểu ý kiến, đề đạt nguyện vọng, giao tiếp bạn bè, được bảo vệ
không bị ngược đãi, đối xử tàn ác…
- Đảm bảo quyền về kinh tế gồm các quyền được hưởng an toàn về xã hội, có
mức sống đầy đủ phát triển…
- Đảm bảo quyền về xã hội gồm các quyền được chăm sóc sức khỏe, được bảo
vệ khỏi sự bóc lột sức trong lao động, quyền được làm con nuôi…
- Đảm bảo quyền về văn hóa bao gồm quyền được học tập, quyền thông tin,
tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao…
- Đảm bảo trong hoạt động tư pháp: bảo vệ các em khi bị xâm phạm cũng như
xử lý tình trạng vi phạm pháp luật của NCTN.,.
Việc ghi nhận quyền của NCTN nhằm đảm bảo cho các em không chỉ là đối
tượng tiếp thu thụ động với người lớn mà trở thành chủ thể có quyền, có khả năng tạo
dựng cuộc sống phù hợp đảm bảo lợi ích được phát triển một cách toàn diện. Việc quy
định quyền của NCTN còn là cơ sở để các nhà làm luật xây dựng các biện pháp đảm bảo
việc NCTN được hưởng đúng các quyền đó. Pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN
bao gồm các quy định về quyền được đảm bảo thực hiện trên các lĩnh vực tạo cho các
em được hưởng các quyền cơ bản, có cơ hội để phát triển toàn diện…
Thứ hai là hệ thống các nguyên tắc, quy định về các biện pháp, cách thức tổ
chức, hoạt động để thực hiện đảm bảo quyền của NCTN trên thực tế.
Các nguyên tắc cơ bản trong đảm bảo quyền của NCTN:
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử: Tất cả NCTN đều có quyền giống nhau,
quyền và nghĩa vụ được nêu trong các văn bản luật quốc tế và pháp luật quốc gia liên
quan đến NCTN đều áp dụng bình đẳng, không phân biệt đối xử.
- Đảm bảo quyền của NCTN là trách nhiệm của mọi công dân, gia đình, Nhà
nước và toàn xã hội: Mọi công dân, gia đình và toàn xã hội phải tạo điều kiện tốt


19
nhất để bảo vệ, chăm sóc, giáo dục NCTN, NCTN là công dân đặc biệt, bản thân
chưa tự thực hiện được một số quyền để bảo vệ mình và phần lớn phụ thuộc vào cha
mẹ, người lớn tuổi.
- Nguyên tắc dành lợi ích tốt nhất cho NCTN: Nguyên tắc này được ghi nhận rất
rõ tại Điều 3 CRC: “Trong tất cả những hành động liên quan đến trẻ em… thì lợi ích
tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu”8.
- Những NCTN có hoàn cảnh đặc biệt đều được giúp đỡ để hòa nhập với gia đình,
cộng đồng.
Với mục tiêu thiết lập một môi trường pháp lý tốt nhất cho công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục NCTN, nhằm đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho thế hệ tương lai,
cần xác định trách nhiệm của các chủ thể đảm bảo cũng như xác định các phương
thức đảm bảo. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên
quan đến NCTN thì lợi ích phải được quan tâm hàng đầu. Nhà nước cũng khuyến
khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ở trong nước và nước
ngoài góp phần đảm bảo quyền của NCTN. Nhà nước có chính sách đầu tư, thực
hiện xã hội hóa, mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển sự nghiệp bảo vệ quyền lợi,
lợi ích hợp pháp của NCTN; tiếp tục xây dựng mạng lưới công tác xã hội, cộng tác
viên, tình nguyện viên chuyên trách công tác bảo vệ lợi của NCTN khi gặp những
vấn đề khó khăn trong cuộc sống; tăng cường huy động và sử dụng nguồn lực để
chăm sóc sức khỏe, bảo vệ, xây dựng môi trường sống an toàn và lành mạnh cho
NCTN ngày càng được đảm bảo.
Cơ chế tổ chức thực thi các quy định pháp luật về quyền của NCTN, đó là cơ
chế phối hợp đồng bộ giữa tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà
trường, gia đình. Nhà nước cần có một cơ chế giám sát quyền của NCTN, đó là sự
kết nối giữa hoạch định chính sách, lập pháp và thực thi; đánh giá tình hình quyền
của NCTN, phân tích những yếu tố ảnh hưởng lên quyền của NCTN và đưa ra những
khuyến nghị để cải thiện tình hình. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế phát hiện, xử lý
các vi phạm quyền của NCTN, hoạt động kiểm tra, phát hiện và xử lý đúng, nghiêm
minh, kịp thời các vi phạm pháp luật về quyền của NCTN là những biện pháp quan
trọng, góp phần phòng, chống, hạn chế các vi phạm pháp luật đồng thời củng cố và
tăng cường lòng tin của cá nhân, công dân, gia đình và xã hội vào Nhà nước và pháp
luật, góp phần giữ vững trật tự kỷ cương của đất nước. Bên cạnh đó, cần quy định về
sự cam kết, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, điều này có ảnh hưởng tích cực đến
việc đảm bảo thực hiện quyền của NCTN một cách đầy đủ hơn.
8

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, tldd chú thích 2, tr. 163.


20
1.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về đảm bảo quyền
của ngƣời chƣa thành niên
Quyền của NCTN là một bộ phận quan trọng của quyền con người, đảm bảo
quyền của NCTN là cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ của nhân dân trên toàn thế giới,
trong đó có Việt Nam. Việc thừa nhận các quyền của NCTN trong các văn bản pháp
luật quốc tế và quốc gia là cơ sở pháp lý, là điều kiện quan trọng để giúp NCTN được
phát triển một cách toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. Trên thực tế, các quan hệ xã hội luôn
luôn vận động, đòi hỏi các quy phạm pháp luật cũng phải có sự điều chỉnh để phù hợp
với sự vận động đó. Do vậy, hoàn thiện pháp luật là một trong những công việc thường
xuyên của bất cứ quốc gia nào. Thực tiễn hoạt động nâng cao quyền con người nói
chung, quyền của NCTN nói riêng ngày càng đa dạng, phức tạp và nhạy cảm nên pháp
luật về đảm bảo quyền của NCTN cũng cần phải có sự thay đổi để kịp thời điều chỉnh
các quan hệ phát sinh đáp ứng đòi hỏi yêu cầu thực tiễn đặt ra. Việc nghiên cứu để
hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN là nhu cầu tất yếu, đòi hỏi cũng
phải đảm bảo được những tiêu chuẩn và yêu cầu nhất định.
Có thể hiểu, hoàn thiện pháp luật là làm cho pháp luật về một lĩnh vực nào đó
tốt hơn, hoàn chỉnh hơn để đáp ứng yêu cầu của xã hội. Với cách hiểu đó, để hoàn
thiện pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN, trước hết các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cần phải nhìn nhận đúng vị trí, vai trò của pháp luật về lĩnh vực này
trong hệ thống pháp luật nói chung. Sự ra đời của pháp luật về đảm bảo quyền của
NCTN nhằm đáp ứng về đảm bảo quyền của NCTN của các văn kiện pháp lý về lĩnh
vực này; đồng thời đáp ứng đòi hỏi và yêu cầu của thực tiễn các hoạt động đảm bảo
quyền của NCTN cũng như công tác quản lý về NCTN.
Như vậy, có thể hiểu: Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN là
quá trình làm cho các quy định của pháp luật về thực thi, nâng cao quyền của NCTN,
đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn và đạt trình độ kỹ thuật pháp
lý cao, phù hợp các điều ước quốc tế về quyền của NCTN mà Việt Nam là thành viên.
Từ khái niệm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN, để đánh giá
đánh giá được mức độ hoàn thiện của pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN là tốt
hay chưa tốt, đạt hay chưa đạt ta phải dựa trên các tiêu chí, những dấu hiệu, chuẩn
mực đặt ra. Để có cơ sở đánh giá, xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về đảm
bảo quyền của NCTN cần phải dựa vào những tiêu chí xác định về mặt lý thuyết để
từ đó đối chiếu với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của từng giai đoạn cụ thể, xem xét
một cách khách quan để rút ra những kết luận, làm rõ những ưu điểm, vướng mắc,
bất cập của pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×