Tải bản đầy đủ

Pháp luật việt nam và tiêu chuẩn lao động quốc tế về lao động cưỡng bức thực tiễn thực hiện trong một số trại giam hiện nay và những vấn đề đặt ra

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------------------

THÁI THANH BÌNH

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG
QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC: THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TRONG MỘT SỐ TRẠI GIAM HIỆN NAY
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------------------

THÁI THANH BÌNH

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG
QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC: THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TRONG MỘT SỐ TRẠI GIAM HIỆN NAY
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Kinh tế
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Văn Bình

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Thái Thanh Bình


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC ......................... 7
1.1. Nguồn gốc lao động cưỡng bức ................................................................. 8
1.2. Khái niệm và đặc điểm của lao động cưỡng bức ..................................... 11


1.2.1. Khái niệm lao động cưỡng bức trong pháp luật quốc tế ....................... 11
1.2.2. Khái niệm lao động cưỡng bức trong pháp luật Việt Nam ................... 14
1.3. Dấu hiệu nhận diện và phân loại lao động cưỡng bức ............................. 18
1.3.1. Dấu hiệu nhận diện lao động cưỡng bức .............................................. 18
1.3.2. Phân loại lao động cưỡng bức ............................................................... 24
1.4. Những trường hợp ngoại lệ của lao động cưỡng bức .............................. 28
1.5. Mục đích, ý nghĩa và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc xóa
bỏ lao động cưỡng bức .................................................................................... 33
Chương 2.TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI PHẢI CHẤP HÀNH ÁN
PHẠT TÙ TẠI TRẠI GIAM........................................................................ 38
2.1. Tiêu chuẩn lao động quốc tế của người phải chấp hành án phạt tù tại trại
giam ................................................................................................................. 38
2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về lao động của người phải chấp hành
án phạt tù tại trại giam ..................................................................................... 43
2.2.1. Điều kiện về thủ tục thi hành án phạt tù và lao động cải tạo tại trại giam
......................................................................................................................... 44
2.2.2. Chế độ lao động của người phải chấp hành án phạt tù tại trại giam ......... 48
2.2.3. Chế độ theo dõi, giám sát lao động của người phải chấp hành án phạt tù
tại trại giam...................................................................................................... 54


2.2.4. Quy định về ngăn chặn việc chuyển nhượng lao động hoặc đặt phạm
nhân dưới quyền sử dụng của những tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân 55
Chương 3.THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG
CỦA NGƯỜI PHẢI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI TRẠI GIAM
HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
PHÒNG, CHỐNG LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC ........................................ 57
3.1. Tình hình phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam và những vấn đề
đặt ra ................................................................................................................ 57
3.2. Thực tiễn lao động của người phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam 62
3.2.1. Về chế độ lao động của người phải chấp hành hình phạt tù tại các trại
giam ................................................................................................................. 62
3.2.2. Thực tiễn giám sát, kiểm sát hoạt động lao động cải tạo của phạm nhân
tại trại giam...................................................................................................... 68
3.3. Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả điều
chỉnh của pháp luật về phòng chống lao động cưỡng bức đối với phạm nhân
......................................................................................................................... 71
3.3.1. Đối với Bộ Luật Lao động .................................................................... 71
3.3.2. Đối với Bộ Luật hình sự. ....................................................................... 72
3.3.3. Đối với Luật Thi hành án hình sự ......................................................... 75
3.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và phòng, chống
lao động cưỡng bức đối với phạm nhân .......................................................... 77
3.4.1. Nâng cao nguồn lực con người. ............................................................ 78
3.4.2. Giải pháp cải thiện, nâng cao điều kiện, cơ sở vật chất, môi trường sinh
hoạt và lao động của phạm nhân, bảo hộ lao động đối với phạm nhân .......... 78
3.4.3. Giải pháp về tổ chức, thực hiện ............................................................ 80
KẾT LUẬN .................................................................................................... 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC: DANH SÁCH CÁC TRẠI GIAM


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cưỡng bức lao động là hành vi xâm phạm quyền cơ bản của người lao
động. Xóa bỏ mọi hành vi cưỡng bức lao động là một trong những tiêu chí
quan trọng để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và đây cũng là một
trong những tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản được quốc tế thừa nhận.
Công ước số 29 của ILO được Hội nghị toàn thể ILO thông qua ngày
28/6/1930 và Công ước số 105 của ILO được Hội nghị toàn thể ILO thông
qua ngày 25/6/1957 được coi là hai văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản về lao
động cưỡng bức. Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập Công ước số 29 và đang
nghiên cứu để xem xét việc phê chuẩn Công ước số 105 của ILO. Trong nội
dung của Hiệp định TPP không đưa ra các tiêu chuẩn mới về lao động mà
những tiêu chuẩn được đề cập trong Hiệp định TPP chính là tiêu chuẩn lao
động được nêu tại Tuyên bố năm 1998 của ILO, trong đó có nội dung Xóa bỏ
lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105 của
ILO). Ngoài Hiệp định TPP thì Hiệp định thương mại Việt Nam – EU
(EVFTA) mà Việt Nam tham gia có các cam kết về lao động, các tiêu chuẩn,
các thỏa thuận đa phương về lao động được quy định tại Điều 3 Chương
Thương mại và phát triển bền vững. Cụ thể chúng ta cam kết đối với các
nguyên tắc và các quyền lao động cơ bản được đề cập đến trong Tuyên bố của
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1998 bao gồm: Tự do hiệp hội và công
nhận hiệu quả của quyền thương lượng tập thể; loại bỏ tất cả các hình thức lao
động cưỡng bức hoặc bắt buộc; bãi bỏ hiệu quả lao động trẻ em và xóa bỏ
phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. Những cam kết về vấn đề lao
động trong EVFTA sẽ góp phần thúc đẩy, khuyến khích và cải thiện điều
kiện làm việc, chất lượng nguồn lao động …Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam
cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới mới chỉ đặt ra những quy
định chung về việc nhận diện và xóa bỏ lao động cưỡng bức nên gây ra nhiều
khó khăn khi triển khai thực hiện các nội dung liên quan đến lao động cưỡng


2

bức. Điều 2 của Công ước số 29 quy định “các công việc hoặc dịch vụ mà
một người buộc phải làm do một quyết định của Tòa án, với điều kiện là công
việc hoặc dịch vụ đó phải tiến hành dưới sự giám sát và kiểm tra của những
nhà chức trách công cộng, và người đó không bị chuyển nhượng hoặc bị đặt
dưới quyền sử dụng của những tư nhân, công ty hoặc hiệp tư nhân” không bị
coi là lao động cưỡng bức.
Theo số liệu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trên thế giới hiện nay
có khoảng 20,9 triệu người là nạn nhân của lao động cưỡng bức, trong đó lao
động cưỡng bức do nhà nước áp đặt chiếm khoảng 10 % (2.200.000 người)1.
Lao động là các phạm nhân trong các trại giam là một phần trong số các hình
thức lao động do nhà nước áp đặt. Đây được coi là một trong 11 lĩnh vực nhạy
cảm dễ nảy sinh lao động cưỡng bức2.
Thực trạng hiện nay pháp luật lao động với tư cách là luật chuyên ngành
đóng vai trò chủ yếu điều chỉnh các quan hệ lao động và bảo vệ người lao
động khỏi lao động cưỡng bức. Song hiện các quy định của pháp luật về
phòng, chống lao động cưỡng bức còn nhiều bất cập, chưa có sự nhận diện
minh bạch và rõ ràng về các dạng hành vi cưỡng bức lao động. Lao động của
người bị kết án đang phải chấp hành hình phạt tù tại các trại giam không được
coi là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật lao động do đó quy định về các trường
hợp được phép áp đặt lao động theo Điều 23 của Công ước số 29 không được
đề cập, điều chỉnh bởi Bộ luật lao động. Các quy định này được quy định
trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự và các
văn bản dưới luật khác. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đã đàm phán và ký
1

Những hình thức hiện hành về lao động cưỡng bức và buôn bán người – Marja Paavilainen, Cố vấn kỹ thuật
cấp cao, ILO Dự án tăng cường hành động chuống lao động cưỡng bức ở Châu Á Thái Bình Dương (Tài liệu
Hội thảo Lấy ý kiến xây dựng bộ chỉ số về tội phạm mua bán người vì mục đích cưỡng bức lao động do Tòa án
nhân dân tối cao thực hiện năm 2013).
2
11 lĩnh vực nhạy cảm dễ nảy sinh lao động cưỡng bức gồm: Lao động di trú, lao động là nạn nhân của tệ nạn
buôn bán người, lao động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, lao động là trẻ em, lao động trong lĩnh vực phòng,
chống mại dâm, lao động là người phải chấp hành hình phạt từ trong các trại giam, lao động trong các trường
giáo dưỡng, lao động trong các cơ sở giáo dục bắt buộc, lao động trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc và lao
động trong quân đội


3

kết Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) và đã tham gia Hiệp
định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA), các tiêu chuẩn lao động cơ bản
ngày càng được xiết chặt thì việc xóa bỏ hoàn toàn lao động cưỡng bức trong
mọi lĩnh vực ngày càng trở nên cấp thiết. Người phải chấp hành hình phạt tù
có thời hạn (phạm nhân) trong các trại giam là một đối tượng cần được bảo
vệ, nhận thức của xã hội, cũng như chính bản thân phạm nhân, cán bộ quản lý
phạm nhân về việc bảo vệ phạm nhân khỏi lao động cưỡng bức còn hạn chế.
Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam và tiêu chuẩn lao động
quốc tế về lao động cưỡng bức: Thực tiễn thực hiện trong một số trại giam
hiện nay và những vấn đề đặt ra” làm luận văn thạc sỹ luật học, qua đó đưa
ra định hướng và giải pháp ngăn chặn việc cưỡng bức lao động đối với phạm
nhân và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với lao động là phạm
nhân trong các trại giam.
2. Tình hình nghiên cứu.
Trong khoa học pháp lý vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và
bảo vệ quyền của phạm nhân nói riêng, đặc biệt rong lĩnh vực lao động,
phòng chống lao động đều đã được nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu đặc
biệt quan tâm. Có nhiều bài viết, công trình nổi bật nghiên cứu từ các góc độ
khác nhau, mức độ khác nhau đến hai lĩnh vực trên, có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu như sau: Thực hiện pháp luật về quyền con người của phạm
nhân trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức
Phúc, Học viện cảnh sát nhân dân, năm 2012; Một số vấn đề chủ yếu về pháp
luật thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người,
Luận văn Thạc sĩ luật học, của Hứa Thị Thơ, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội,
năm 2012; Pháp luật về phòng chống lao động cưỡng bức nhìn từ góc độ phát
triển toàn diện, Luận án tiến sỹ của Phạm Thị Nhật Tài, Học viện Khoa học
Xã Hội – Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam…


4

Bên cạnh đó, quá trình tìm kiếm và thu thập tài liệu để tiến hành đề tài,
tác giả nhận thấy: dưới góc độ khoa học có nhiều nghiên cứu khoa học về lao
động cưỡng bức, về đảm bảo quyền con người của phạm nhân … nhưng
dường như chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về phòng, chống lao động
cưỡng bức đối với phạm nhân trong các trại giam; dưới góc các báo cáo, các
văn bản hành chính, các số liệu thống kê của Bộ công an về lao động của
phạm nhân trong quá trình thi hành án phạt tù tại các trại giam thì các thông
tin về vấn đề này thường là những thông tin mật, không được công bố rộng
rãi, rất khó để tiếp cận.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến làm sáng tỏ phần nào những vấn đề lý luận về lao động
cưỡng bức dưới góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật lao động Việt Nam,
thông qua việc tìm hiểu các tiêu chuẩn lao động quốc tế, các quy định của
pháp luật lao động Việt Nam về lao động cưỡng bức, đặc biệt đề tài đi sâu vào
tìm hiểu là các tiêu chuẩn về lao động của người bị kết án phạt tù đang chấp
hành hình phạt tại các trại giam (phạm nhân), so sánh các quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành với các tiêu chuẩn lao động quốc tế đối với lao động
là phạm nhân trong các trại giam, từ đó tìm kiếm, đưa ra một số giải pháp
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật, xóa bỏ những nguy cơ
xảy ra lao động cưỡng bức đối với lao động của người phải chấp hành hình
phạt tù trong các trại giam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ cần phải giải quyết:
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về lao động cưỡng bức;
- Phân tích những trường hợp ngoại lệ của lao động cưỡng bức theo
Công ước 29 của ILO;


5

- Nghiên cứu về các tiêu chuẩn lao động quốc tế liên quan đến lao động
của phạm nhân tại trại giam;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật trong các văn bản pháp luật liên
quan đến vấn đề lao động của người phải chấp hành hình phạt tù trong các trại
giam; đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật
Việt Nam hiện hành về những vấn đề này;
- Tìm hiểu thực tiễn thực hiện các quy định về lao động của người phải
chấp hành án phạt tù tại trại giam.
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật liên quan việc lao động của những người phải
chấp hành hình phạt tù trong các trại giam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu gồm những vấn đề lý luận cơ
bản về pháp luật điều chỉnh đối với lao động cưỡng bức; pháp luật Việt Nam và
các tiêu chuẩn quốc tế về lao động của người phải chấp hành hình phạt tại các
trại tạm giam; thực tiễn thi hành pháp luật về lao động của người chấp hành án
phạt tù tại trại giam, từ đó tìm kiếm giải pháp và đưa ra một số kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả phòng, chống lao động cưỡng bức trong lĩnh vực này để phù
hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam và yêu cầu hội nhập.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề về lao động cưỡng bức có một phạm vi nghiên cứu rất rộng.
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu các tiêu
chuẩn lao động quốc tế và các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về lao
động cưỡng bức; những hành vi không bị coi là lao động cưỡng bức, điều
kiện. Đặc biệt tác giả tập trung vào tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt
Nam, các tiêu chuẩn lao động quốc tế được áp dụng đối với việc lao động của


6

những người phải chấp hành hình phạt tù trong các trại giam (một trong những
đối tượng nhạy cảm, dễ nảy sinh lao động cưỡng bức) nhằm phân tích, đánh giá
các quy định hiện hành và đề ra những giải pháp hoàn thiện,nâng cao hiệu quả
thực thi của pháp luật điều chỉnh những nội dung pháp lý về lao động cưỡng
bức; ngăn chặn, xóa bỏ những nguy cơ xảy ra lao động cưỡng bức đối với việc
lao động của người phải chấp hành hình phạt tù trong các trại giam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác – Lênin
như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê, liệt kê…đồng thời cũng dựa trên cơ sở
các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách kinh tế - xã hội,
bảo vệ và phát triển con người. Trong đó, chương 1 chủ yếu sử dụng phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê; chương 2 dùng phương pháp
phân tích, kết hợp lý luận và thực tiễn; và chương 3 dùng phương pháp thống
kê, phân tích, tổng hợp.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về lao động cưỡng bức.
Chương 2: Tiêu chuẩn lao động quốc tế và pháp luật Việt Nam về lao
động của người phải chấp hành án phạt tù tại trại giam.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động của người phải
chấp hành hình phạt tù tại trại giam và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả
phòng, chống lao động cưỡng bức.


7

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC
Quan hệ lao động có tính chất là một quá trình hợp tác và tương tác
giữa người lao động và người sử dụng lao động. Người lao động bằng sức lao
động của mình để thực hiện các công việc đã có thỏa thuận với người sử dụng
lao động; người sử dụng lao động khai thác sức lao động của người lao động.
Quan hệ lao động là loại quan hệ pháp luật song phương, đề cao tính bình
đẳng, công bằng trong việc thiết lập các thỏa thuận nên các bên không chỉ
phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn có trách nhiệm tạo điều
kiện cho phía bên kia thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của họ, trên cơ sở
hài hòa lợi ích. Bên cạnh đó, quan hệ lao động luôn có tính “động”, thay đổi
theo tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng giai đoạn.
Tuy nhiên, hiện nay trong lĩnh vực lao động, việc làm, một bộ phận
không nhỏ người lao động phải đối mặt với tình trạng cưỡng bức lao động xâm phạm quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc. Theo thống kê
của Tổ chức lao động quốc tế, hiện toàn thế giới có khoảng 20,9 triệu người
là nạn nhân của lao động cưỡng bức, bất kể giới tính, quốc tịch, màu da. Cứ
1000 người trên thế giới thì có 03 người chịu lao động cưỡng bức trong một
thời điểm bất kỳ trong giai đoạn 10 năm (từ 2002 – 2011)3. Xóa bỏ mọi hành
vi cưỡng bức lao động là một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng
một xã hội văn minh, tiến bộ, đồng thời cũng là một trong những tiêu chuẩn
lao động quốc tế cơ bản được cộng đồng thế giới thừa nhận. Việc xóa bỏ lao
động cưỡng bức, chống lại “một loại tệ nạn xã hội không có chỗ trong thế giới
hiện đại” là nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên Công ước số 29 về Lao
động cưỡng bức và Công ước số 105 về Xóa bỏ lao động cưỡng bức, trong đó
có Việt Nam.
3

ILO (2014), Profít and poverty: The economics of forced labour, Geveva, Switzerland


8

1.1. Nguồn gốc lao động cưỡng bức
Lao động cưỡng bức có nguồn gốc từ xã hội chiếm hữu nô lệ, khi
những người nô lệ bị xã hội và pháp luật đặt trong tình trạng “vô quyền”, coi
là những công cụ lao động biết nói, một loại tài sản mà giai cấp chủ nô sở hữu
và tự do mua bán, trao đổi. Nô lệ bị ép buộc làm việc tại các đồn điền, công
xưởng, thậm trí bị đánh đập, giết chết nếu không thực hiện các công việc do
giới chủ nô yêu cầu. Ở một số hình thái nhà nước phong kiến và tư bản, xuất
hiện một bộ phận không nhỏ người ở các nước thuộc địa bị phụ thuộc hoàn
toàn vào người khác, không có tự do hay bất cứ quyền nào đối với bản thân,
họ bị bóc lột sức lao động hết sức dã man để đem lại lợi ích cho chính quốc.
Phạm vi xuất hiện nô lệ ở khắp các ngành nghề, từ khai thác hầm mỏ đến
những nghề nghiệp đô thị như thợ thủ công, người bán hàng rong, người giúp
việc nhà…Với các hành vi bóc lột lao động tương tự như giai đoạn chiếm hữu
nô lệ nên tình trạng lao động cưỡng bức thời kỳ này được các học giả nghiên
cứu gọi bằng thuật ngữ “nô lệ thời hiện đại” – lao động cưỡng bức.
Cùng với tiến trình phát triển xã hội và sự hoàn thiện hệ thống pháp
luật quốc tế, pháp luật quốc gia về quyền con người, cùng với ý thức của cộng
đồng rằng: “mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng nhân phẩm và các
quyền”4, trong đó có các quyền trong lĩnh vực lao động. Mọi hành vi chiếm
hữu, buôn bán và sử dụng lao động ngoài sự tự nguyện của họ đều bị pháp
luật quốc tế và pháp luật quốc gia cấm. Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý do
khác nhau mà không phải lúc nào sự tự do và các quyền cơ bản ấy cũng được
đảm bảo bằng công cụ pháp lý. Ngay cả ở thời điểm hiện nay, trong xu thế
dân chủ và công bằng, tình trạng lao động cưỡng bức vẫn tồn tại, thậm trí có
xu hướng gia tăng. Theo số liệu báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO),
tính đến năm 2013, trên thế giới có ít nhất 12,3 triệu lao động cưỡng bức,
trong đó khu vực Châu Á và Thái Bình Dương là 9,49 triệu lao động cưỡng
bức (chiếm hơn 77%)5. Một số người sử dụng lao động vì mục đích tối đa hóa
4

Điều 1 Tuyên bố chung về quyền con người của Liên Hiệp Quốc 1948
ILO (2013), Đấu tranh chống LĐCB – Sổ tay dành cho Người sử dụng Lao động & Doanh nghiệp, quyển 1,
trang 15.
5


9

lợi nhuận đã không ngần ngại sử dụng lao động cưỡng bức, tình trạng này
không chỉ diễn ra ở các nước nghèo, kém phát triển mà tồn tại ở hầu hết các
nước, trong đó có cả các quốc gia phát triển.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới
tình trạng lao động cưỡng bức, trong đó phải kể đến các nguyên nhân trực
tiếp, phổ biến và bao trùm hiện nay gồm:
Đói nghèo và khoảng cách giàu – nghèo quá lớn cũng là nguồn gốc và
nguyên nhân sâu xa của lao động cưỡng bức. Ở các nước, “nghèo” có những
định nghĩa khác nhau. Một số nước cho rằng người nghèo là những ai thuộc
nhóm thấp nhất hoặc phần ba thấp nhất trong bảng phân bố thu nhập. Tại các
nước khác, nghèo là những ai tiêu thụ dưới mức nhất định được coi là tối
thiểu6. Tuy nhiên, tựu chung lại, “nghèo” được định nghĩa là sự bần cùng hóa
về mặt phúc lợi và nghèo về thu nhập luôn có mối liên hệ với với “nghèo về
con người”7. Về nguyên tắc, bất kỳ người nào cũng có thể trở thành nạn nhân
của cưỡng bức lao động. Tuy nhiên, những người có trình độ thấp, hiểu biết
pháp luật hạn chế, có ít lựa chọn trong mưu sinh thuộc về nhóm dân tộc, tôn
giáo thiểu số, bị khuyết tật hoặc vì lý do khác khiến họ bị cô lập khỏi cộng
đồng dân cư, thường là những đối tượng có nguy cơ bị cưỡng bức lao động
cao. Để duy trì sự tồn tại của mình, người lao động dễ dàng rơi vào tình trạng
bị lạm dụng sức lao động, chấp nhận sự áp đặt công việc và điều kiện làm
việc tồi tệ từ phía người sử dụng lao động trở thành nạn nhân của lao động
cưỡng bức. Đôi khi người ta tranh luận rằng nghèo đói là nguồn gốc cơ bản
của tình trạng lao động cưỡng bức và giải pháp duy nhất để đẩy lùi vấn nạn
này là xóa bỏ toàn diện tình trạng đói nghèo. Tuy nhiên, ngược lại, nghèo đói
cũng có thể là hậu quả trực tiếp của lao động cưỡng bức. Theo Báo cáo của
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) năm 2007, “nạn nhân của lao động cưỡng
bức thuộc số 522 triệu người nghèo ở Nam Á”8.

6

Ủy ban về Phát triển và Tăng trưởng, Chiến lược tăng trưởng bền vững và phát triển hòa nhập, “Báo cáo về
tăng trưởng”, tr.142.
7
“Nghèo về con người” được hiểu là người có sức khỏe kém, trình độ thấp do không có điều kiện để đầu tư
chất lượng cuộc sống.
8
Tổ chức lao động quốc tế (2007), Một liên minh toàn cầu chống lao động cưỡng bức, Ganeva, tr.35.


10

Lao động cưỡng bức ngày nay cũng có thể bắt nguồn từ nạn buôn người.
Tội phạm buôn người hiện nay không chỉ tập trung vào nạn nhân là phụ nữ vì
mục đích bóc lột tình dục mà còn hướng sự quan tâm đến các đối tượng khác
nhằm mục đích cưỡng bức lao động. Cùng với sự phát triển của những chuẩn
mực quốc tế mới đối với vấn nạn buôn người, năm 2010, những nhà lập pháp
quốc tế đã có những tranh luận về sử dụng thuật ngữ nào phù hợp: “buôn
người”, “buôn người nhằm mục đích cưỡng bức lao động” hay chỉ đơn giản là
“lao động cưỡng bức”. Những nhà lập pháp quốc tế cho rằng, chỉ cần loại bỏ
được “lao động cưỡng bức” thì đương nhiên loại bỏ được “tội phạm buôn
người” vì buôn bán người nhằm mục đích bóc lột sức lao động của nạn nhân
chính là một trong những hình thức lao động cưỡng bức phổ biến ngày nay,
gắn với xu hướng di cư của người lao động và quá trình toàn cầu hóa.
Trong một vài trường hợp, tình trạng lao động cưỡng bức ngày nay có
thể do hậu quả của những mô hình phân biệt đối xử kéo dài đối với những dân
tộc thiểu số và các giai cấp thấp trong xã hội thời kỳ trước như những người
dân bản địa, bộ lạc ở Mỹ Latinh, sự phân chia đẳng cấp và các bộ tộc ở Ấn
Độ hay sự phân biệt đối xử về dân tộc, tôn giáo giữa các bộ lạc bản xứ như ở
miền Tây và trong cộng đồng phi hồi giáo ở Nepan; người phụ thuộc tầng lớp
thấp ở Nam Á, đặc biệt là phụ nữ.
Tóm lại, lao động cưỡng bức là vấn đề có tính lịch sử, có nguồn gốc từ
xã hội chiếm hữu nô lệ. Hiện nay, lao động cưỡng bức là vấn nạn mang tính
toàn cầu, tác động đến mọi vùng, quốc gia và mọi khu vực kinh tế. Đối tượng
của lao động cưỡng bức có thể là bất kỳ ai từ người lớn, trẻ nhỏ, không phân
biệt quốc tịch dù là công dân của quốc gia nào. Do vậy, việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật quốc tế và pháp luật trong chính mỗi quốc gia về lao động,
phòng, chống lao động cưỡng bức và nâng cao cơ chế thực thi các quy định
của pháp luật sẽ góp phần không nhỏ trong việc xóa bỏ tình trạng lao động
cưỡng bức, bảo vệ người lao động, hướng tới bảo đảm quyền con người của
mỗi công dân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và trên thế giới.


11

1.2. Khái niệm và đặc điểm của lao động cưỡng bức
1.2.1. Khái niệm lao động cưỡng bức trong pháp luật quốc tế
Tác giả cuốn sách “International Labour Law”, Nicola Valticos cho rằng
lao động cưỡng bức được đề cập lần đầu tiên vào đầu thế kỉ 19 ở Hội nghị
Vienna, nhưng chỉ bắt đầu được quan tâm một cách có hệ thống từ sau chiến
tranh thế giới thứ nhất với quy định đầu tiên trong Công ước về nô lệ 1926 của
Hội quốc liên9. Cũng trong thời gian này, lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện
một cơ quan quốc tế chuyên trách về vấn đề lao động cưỡng bức và bắt buộc Ủy ban chuyên gia do Cơ quan điều hành của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)
chỉ định, có nhiệm vụ nghiên cứu tình hình thực tiễn vấn đề lao động cưỡng
bức trên bình diện quốc tế và đặc biệt tập trung vào những quốc gia đang bị lệ
thuộc vào nước ngoài hoặc đang bị đô hộ bởi một quốc gia khác.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, lao động cưỡng bức được quan tâm với
góc nhìn mang tính chính trị. Trong thời gian này, Liên Hiệp Quốc đã thành lập
một Ủy ban đặc biệt về lao động cưỡng bức, bên cạnh Ủy ban chuyên gia của
ILO. Nhiệm vụ chính của Ủy ban đặc biệt là điều tra những cáo buộc liên quan
đến hình thức lao động cưỡng bức theo yêu cầu của các quốc gia thành viên.
Khái niệm “lao động cưỡng bức” được định nghĩa lần đầu tiên tại khoản
1 Điều 2 Công ước số 29 (năm 1930): Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc là
“mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe dọa
của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện thực hiện”.
Theo Công ước này, lao động cưỡng bức được xác định ở tất cả các
công việc hoặc dịch vụ khi thỏa mãn các yếu tố:
(1): Về chủ thể: Do bất kỳ cá nhân nào thực hiện công việc hoặc dịch vụ,
không phân biệt giới tính, độ tuổi, tôn giáo, trình độ chuyên môn, tay nghề…;
(2): Về ý chí của chủ thể thực hiện: người thực hiện công việc hoặc dịch
vụ không có sự tự nguyện, bị ép buộc phải làm công việc hoặc dịch vụ đó;

9

Tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc


12

(3) Về hậu quả: người thực hiện công việc hoặc dịch vụ bị đe dọa và
phải chịu một hình phạt (tác động đến bản thân nạn nhân bị lao động cưỡng
bức hoặc thân nhân người đó) nếu không thực hiện công việc hoặc dịch vụ
được yêu cầu.
Tuy nhiên, định nghĩa tại Công ước không có sự phân biệt giữa “lao
động cưỡng bức” và “lao động bắt buộc” trong khi đây là hai khái niệm
không hoàn toàn trùng lắp với nhau. Lao động cưỡng bức thường được dùng
trong hoàn cảnh lao động bị cưỡng chế bởi tổ chức hoặc cá nhân gắn với các
hành vi luôn bị cấm, trong khi lao động bắt buộc thường được dùng chỉ các
công việc hoặc dịch vụ một người phải thực hiện có tính tập quán, phục vụ
mục đích công cộng và gắn với các trường hợp áp đặt lao động được phép
thực hiện. Song, để khắc phục những khó khăn trong việc tìm kiếm, xây dựng
một định nghĩa chung, khái quát được bản chất của các hình thức lao động
cưỡng bức khác nhau và có khả năng áp dụng tại các quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới thì việc xây dựng đồng nghĩa lao động cưỡng bức và lao
động bắt buộc là điều hợp lý. Trách nhiệm đặt ra với mỗi quốc gia và vùng
lãnh thổ là thành viên Công ước cần nội luật hóa, cần phân biệt và quy định
một cách rõ ràng các hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc.
Ủy ban chuyên gia của ILO tiếp tục diễn giải khái niệm “lao động cưỡng
bức hoặc bắt buộc” bao gồm cả nạn buôn người để bóc lột lao động hoặc tình
dục theo định nghĩa của Nghị định thư Palermo về ngăn chặn, cấm và trừng
phạt mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 của Liên Hiệp
Quốc. Điều 3 Nghị định thư Palermo định nghĩa về tội phạm buôn người như
sau: “Buôn bán người có nghĩa là tuyển chọn, vận chuyển, chuyển giao, chứa
chấp hay nhận người bằng cách đe dọa hoặc sử dụng bạo lực hay các hình
thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hay vị thế dẫn đến
tổn thương hoặc bằng việc cho hoặc nhận tiền hay những lợi ích vật chất khác
để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác vì mục đích
bóc lột”. Nghị định thư cũng diễn giải khái niệm “bóc lột” bao gồm ở mức tối


13

thiểu việc bóc lột tình dục, lao động cưỡng bức, nô lệ và các hành vi nô lệ, trừ
trường hợp buôn người để lấy nội tạng là không thuộc phạm vi điều chỉnh của
Công ước số 29 của ILO.
Tại khoản 2 Điều 2 Công ước số 29 đưa ra một số ngoại lệ về “lao động
cưỡng bức hoặc bắt buộc”. Cụ thể, thuật ngữ “lao động cưỡng bức hoặc bắt
buộc” không bao gồm:
- Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm theo các đạo luật về nghĩa
vụ quân sự bắt buộc và trong những công việc có tính chất quân sự thuần túy;
- Mọi công việc hoặc dịch vụ thuộc những nghĩa vụ công dân bình
thường của các công dân trong một nước tự quản hoàn toàn;
- Mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do một
quyết định của Tòa án, với điều kiện công việc hoặc dịch vụ đó phải được tiến
hành dưới sự giám sát và kiểm tra của những cơ quan công quyền, và người
đó không bị chuyển nhượng hoặc bị đặt dưới quyền sử dụng của những tư
nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân;
- Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm trong những trường hợp
khẩn cấp, nghĩa là trong những trường hợp có chiến tranh, xảy ra tai họa hoặc
có nguy cơ xảy ra tai họa như cháy, lụt, đói, động đất, dịch bệnh dữ dội của
người và gia súc, sự xâm hại của thú vật, côn trùng hoặc ký sinh trùng, và nói
chung là mọi tình thế gây nguy hiểm cho đời sống hoặc cho sự bình yên của
toàn thể hoặc một phần dân cư;
- Những công việc của thôn xã vì lợi ích trực tiếp của tập thể và do
những thành viên của tập thể đó thực hiện, và vì vậy có thể coi như là những
nghĩa vụ công dân bình thường của các thành viên tập thể, với điều kiện
những thành viên trong tập thể đó hoặc những người đại diện trực tiếp của họ
có quyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của những công việc ấy.
Năm 1957, Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức đã bổ sung
những ngoại lệ vào định nghĩa về “lao động cưỡng bức” tại Công ước số 29.
Theo đó, “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” không bao gồm “biện pháp


14

cưỡng chế hay giáo dục chính trị, hoặc một sự trừng phạt đối với những ai
đang có hoặc đang phát biểu chính kiến; biện pháp huy động và sử dụng nhân
công vào mục đích phát triển kinh tế; biện pháp xử lý vi phạm kỷ luật lao
động; sự trừng phạt đối với việc đã tham gia đình công; biện pháp phân biệt
đối xử về chủng tộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo”.
1.2.2. Khái niệm lao động cưỡng bức trong pháp luật Việt Nam
Trên cơ sở khái niệm lao động cưỡng bức tại Công ước số 29 của ILO,
trong phạm vi mỗi quốc gia lại có nhiều cách hiểu khác nhau về lao động
cưỡng bức. Dưới cách tiếp cận phù hợp với thực tiễn, tập quán và điều kiện
kinh tế xã hội mà mỗi quốc gia xây dựng cho mình một hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật về lao động và phòng, chống lao động cưỡng bức.
Trong lịch sử lập pháp Việt Nam qua mỗi thời kỳ, lao động cưỡng bức
cũng có những cách hiểu khác nhau.
Thuật ngữ “cưỡng bức lao động” được đề cập lần đầu tiên trong Bộ luật
lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007), tuy nhiên,
Bộ luật lao động năm 1994 lại không xây dựng khái niệm lao động cưỡng
bức. Khoản 2 Điều 5 Bộ luật lao động năm 1994 quy định các hành vi bị cấm,
trong đó: “Cấm ngược đãi người lao động; cấm cưỡng bức người lao động
dưới bất kỳ hình thức nào”. Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP
ngày 05/9/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Bộ luật lao động đã hướng dẫn chi tiết quy định của Bộ luật lao động
như sau: “Bị ngược đãi, cưỡng bức lao động là trường hợp người lao động bị
đánh đập, nhục mạ hoặc bị ép buộc làm những công việc không phù hợp với
giới tính, ảnh hưởng tới sức khỏe, nhân phẩm, danh dự…”.
Như vậy, so với Công ước số 29 của ILO, cách hiểu về lao động cưỡng
bức theo hướng dẫn tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP là chưa phù hợp, thu
hẹp nội hàm định nghĩa lao động cưỡng bức:


15

- Về phạm vi: Khái niệm “lao động cưỡng bức” theo Công ước số 29
không bó hẹp dưới dạng các hành vi cụ thể là “đánh đập, nhục mạ hoặc ép
buộc” mà nó bao gồm cả đe dọa, các hành vi bạo lực, hạn chế thân thể, tước
đoạt quyền tự do và các đặc quyền khác của người bị cưỡng bức lao động.
- Về đối tượng bị đe dọa buộc phải làm những công việc, dịch vụ mà họ
không tự nguyện theo Công ước số 29 bao gồm người lao động và có thể đối với
cả thân nhân của họ.
- Về lĩnh vực sử dụng lao động cưỡng bức theo khái niệm mà Công ước
số 29 đưa ra không chỉ là những việc hợp pháp theo hợp đồng lao động mà có
thể là những công việc bất hợp pháp, không có tính chất quan hệ lao động.
Khi xây dựng Bộ luật lao động năm 2012, nhà làm luật đã đưa ra khái
niệm cưỡng bức lao động tại khoản 10 Điều 3: “Cưỡng bức lao động là việc
dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người
khác lao động trái ý muốn của họ”. Về cơ bản, khái niệm cưỡng bức lao động
theo khoản 10 Điều 3 Bộ luật dân sự 2012 đã có điểm tương đồng với Công
ước số 29 của ILO. Song vẫn tồn tại một số điểm khác biệt sau:
- Khái niệm “cưỡng bức lao động” theo quy định của Bộ luật lao động
nhấn mạnh yếu tố không tự nguyện ở đây chủ yếu thông qua hành vi dùng vũ
lực, đe dọa dùng vũ lực; “các thủ đoạn khác” không được giải thích cụ thể nên
nội hàm của khái niệm chưa được làm rõ. Điều này vô hình chung làm thu hẹp
cách hiểu về các dạng hành vi cưỡng bức lao động so với Công ước số 29;
- Thuật ngữ “lao động” theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Bộ luật lao
động năm 2012 chưa rõ ràng, dễ dẫn tới cách hiểu “lao động” ở đây chỉ bao
hàm những quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật lao động không
bị pháp luật cấm; chưa đồng nhất với Công ước số 29 khi quy định phạm vi
lao động cưỡng bức có thể nảy sinh ở những việc làm hợp pháp theo hợp
đồng lao động và có thể là công việc bất hợp pháp, không liên quan đến quan
hệ lao động.


16

Tuy nhiên, thuật ngữ “lao động cưỡng bức” và “cưỡng bức lao động”
không hoàn toàn giống nhau. “Cưỡng bức lao động” theo Bộ luật lao động
2012 được xác định là một việc, một hành động của con người, còn “lao động
cưỡng bức” được xác định là một tình trạng, sự việc mà ở đó một người phải
làm việc dưới sự ép buộc của người khác.
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về lao động cưỡng
bức như sau: “Lao động cưỡng bức là tình trạng một người không tự nguyện
phải thực hiện công việc hoặc dịch vụ do sự cưỡng ép trái pháp luật dưới bất
kỳ hình thức nào, có sự đe dọa về hậu quả có thể xảy ra đối với bản thân hoặc
thân nhân người lao động”.
Trên cơ sở phân tích các phạm vi và cách tiếp cận khác nhau về lao động
cưỡng bức cho thấy, lao động cưỡng bức có những đặc điểm cơ bản sau:
a. Lao động cưỡng bức là tình trạng một người bị người khác ép buộc
thực hiện công việc hoặc dịch vụ.
Hai yếu tố không thể thiếu, tạo nên sự cốt lõi thuộc về bản chất của lao
động cưỡng bức là yếu tố “ép buộc” trái pháp luật thực hiện công việc hoặc
dịch vụ và yếu tố “không tự nguyện” của người lao động. Hai yếu tố này tồn tại
gắn kết với nhau tạo thành dấu hiệu không thể thiếu của lao động cưỡng bức.
Bởi vì, yếu tố ép buộc trái pháp luật một người phải thực hiện công việc hoặc
dịch vụ luôn hàm chứa yếu tố không tự nguyện của người lao động10. Sự tự
nguyện ban đầu trong việc thiết lập quan hệ lao động cũng có thể dẫn tới lao
động cưỡng bức nếu sự tự nguyện đó có được từ sự lừa dối và khi người lao
động nhận thấy bị lừa dối nhưng họ không được tự do chấm dứt quan hệ lao
động, rút lại những thỏa thuận do bị lệ thuộc vào người sử dụng lao động. Yếu
tố “ép buộc” trong lao động cưỡng bức phải xuất phát từ người khác (là cá
nhân, tổ chức cụ thể), nếu một người buộc phải thực hiện công việc do hoàn
cảnh kinh tế, xã hội tại địa phương khó khăn hoặc do điều kiện bản thân của
người đó trình độ chuyên môn thấp, họ không thể làm công việc nào khác thì
10

Phan Thị Thanh Huyền (2015), Luận án tiến sĩ luật học “Điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam đối với
lao động cưỡng bức”, tr.24.


17

chưa thể xác định họ rơi vào tình trạng lao động cưỡng bức. Trường hợp, người
sử dụng lao động lợi dụng tình trạng khó khăn của người lao động để áp đặt
thời gian làm việc quá lớn cho người lao động hoặc giữ tiền, giấy tờ tùy thân
của họ thì có khả năng làm phát sinh lao động cưỡng bức.
b. Mối quan hệ bất bình đẳng giữa người thực hiện công việc và người
hưởng lợi công việc mà không lệ thuộc vào công việc là hợp pháp hay không
hợp pháp.
Trong mối quan hệ lao động cưỡng bức, người lao động luôn phải gánh
chịu những thiệt hại về vật chất, tinh thần, quyền hoặc các đặc quyền khác,
ngược lại bên ép buộc lao động luôn hưởng lợi ích từ sự ép buộc đó. Song khi
xem xét về lao động cưỡng bức cần đặt quan hệ lao động đó trong mối tương
quan với việc đảm bảo quyền con người và an toàn xã hội. Nếu như việc áp
đặt lao động xuất phát từ mục đích bảo đảm sự tồn tại và an toàn của cộng
đồng, một bộ phận dân cư hay chính sự an toàn của người lao động thay vì chỉ
là lợi ích của bên áp đặt lao động không được coi là lao động cưỡng bức.
Sự bất bình đẳng trong lao động cưỡng bức thể hiện qua các dấu hiệu:
- Trong quá trình thực hiện công việc, dịch vụ, người bị cưỡng bức lao
động luôn chịu sự theo dõi, giám sát chặt chẽ của người khác. Theo Từ điển
Tiếng Việt, “theo dõi” là chú ý, theo sát từng hoạt động, từng diễn biến để biết
rõ hoặc có sự ứng phó, xử lý kịp thời; “giám sát” là theo dõi và kiểm tra xem
có thực hiện đúng những điều quy định không? Người lao động bị ép buộc phải
thực hiện công việc, dịch vụ chịu sự theo dõi, giám sát chặt chẽ của người sử
dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động giao trách nhiệm giám
sát, theo dõi. Tuy nhiên cũng cần phân biệt với quyền quản lý lao động của
người sử dụng lao động được quy định trong pháp luật lao động từng quốc gia.
Quản lý lao động là tổng hợp nhiều biện pháp, cách thức tổ chức, điều hành các
hoạt động lao động mà người sử dụng lao động thực hiện nhằm khai thác sức
lao động của người lao động một cách hợp lý, hiệu quả, đem lại những lợi ích
vật chất từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Như vậy, quản lý lao động trong


18

đơn vị sử dụng lao động hoàn toàn khác biệt với việc theo dõi, giám sát chặt
chẽ người bị cưỡng bức lao động. Quản lý lao động là nhu cầu tất yếu khách
quan của nền sản xuất, bởi vì để đạt được mục đích cuối cùng của quá trình sản
xuất, nhất thiết phải có chủ thể đứng ra chỉ đạo các hoạt động chung của người
lao động và hướng những hoạt động đó theo kế hoạch nhằm đạt được những
mục tiêu đã đặt ra.
- Người bị ép buộc thực hiện công việc luôn trong tình trạng bị đe dọa
về những hậu quả bất lợi có thể xảy ra đối với bản thân hoặc thân nhân của họ
khi họ không thực hiện công việc theo yêu cầu. Hậu quả bất lợi có thể xảy ra
đối với bản thân hoặc nhân thân của người bị cưỡng bức rất đa dạng với
những mức độ nghiêm trọng khác nhau. Có thể chỉ từ việc mất đi một số
quyền, lợi ích như: cơ hội thăng tiến, khả năng tiếp cận công việc mới, cơ hội
tham gia vào các chương trình giáo dục…cho những hậu quả bất lợi nghiêm
trọng hơn, ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân
phẩm của người bị cưỡng bức lao động hoặc nhân thân của họ như: bị bạo lực
về thân thể, bị giữ tiền lương, bạo lực về tình dục; bị buộc sống và làm việc
trong các điều kiện không đảm bảo về vệ sinh lao động, an toàn lao động; bị
giữ giấy tờ tùy thân, không thanh toán tiền lương. “Thân nhân người lao
động” được hiểu là người thân, người nhà của người lao động, có thể trong
các quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, tình cảm…với người bị
cưỡng bức lao động. Chính sự đe dọa về những hậu quả bất lợi có thể xảy ra
đối với những chủ thể này buộc người bị cưỡng bức phải thực hiện công việc,
dịch vụ không tự nguyện.
1.3. Dấu hiệu nhận diện và phân loại lao động cưỡng bức
1.3.1. Dấu hiệu nhận diện lao động cưỡng bức
Trong những năm gần đây, trước những diễn biến phức tạp của tình
trạng lao động cưỡng bức, ILO với tư cách là một tổ chức quốc tế có nhiệm
vụ tạo các cơ hội việc làm bền vững và hiệu quả trong điều kiện bảo đảm
quyền con người cơ bản cho các cá nhân lao động đã xây dựng Bộ chỉ số của


19

tổ chức lao động quốc tế về lao động cưỡng bức11. Những chỉ số này được
xây dựng trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tế của Chương trình Hành
động đặc biệt của ILO Phòng chống lao động cưỡng bức (SAP-FL) và cụ thể
hóa khái niệm “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” tại Công ước số 29 của
ILO. Những chỉ số này nhằm giúp những người thực thi pháp luật tại các
quốc gia thành viên của ILO (các cơ quan tư pháp hình sự, thanh tra lao động,
cán bộ công đoàn, các tổ chức phi chính phủ, người lao động, người sử dụng
lao động…và bất cứ ai) xác định tình trạng lao động cưỡng bức và những biện
pháp hỗ trợ đối với nạn nhân lao động cưỡng bức khi cần thiết.
Các chỉ số về lao động cưỡng bức do ILO đưa ra là những dấu hiệu
nhận diện chỉ có trong lao động cưỡng bức. Trong một tình huống cụ thể nào
đó, có thể chỉ cần một chỉ số đã giúp chúng ta nhận diện tình trạng lao động
cưỡng bức. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác, có thể phải kết hợp một
số chỉ số khác mới có thể nhận ra tình trạng lao động cưỡng bức. Bộ 11 chỉ số
là những yếu tố chính có thể của một vụ việc về lao động cưỡng bức và đây là
cơ sở để đánh giá, xác định liệu một cá nhân, người lao động nào đó có phải
là nạn nhân của lao động cưỡng bức hay không, gồm:
- Lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động: Bất kỳ người nào
đều có thể trở thành nạn nhân của lao động cưỡng bức. Tuy nhiên, nhóm người
lao động yếu thế như: người lao động làm việc tại các doanh nghiệp không
chính quy, hoạt động trái phép; lao động di cư quốc tế, đặc biệt là lao động di
cư qua con đường không chính thống; người lao động thuộc nhóm dân tộc hoặc
tôn giáo thiểu số; người lao động có trình độ thấp; người lao động bị khuyết
tật…là những người dễ trở thành nạn nhân của lao động cưỡng bức bởi khi lâm
vào tình trạng khó khăn, có ít sự lựa chọn trong việc mưu sinh, người sử dụng
lao động thường lợi dụng tình trạng này của người lao động để ép buộc, áp đặt
người lao động làm các công việc, dịch vụ không theo ý chí của họ. Lao động
11

ILO (2014), Các chỉ số của Tổ chức lao động quốc tế về lao động cưỡng bức


20

cưỡng bức cũng phát sinh từ trường hợp người lao động bị lệ thuộc nhiều mặt
vào người sử dụng lao động, không chỉ lệ thuộc về công việc mà có thể lệ
thuộc về nơi ăn, ở và công ăn việc làm của người thân.
- Lừa gạt: Lừa gạt là hành vi không thực hiện những gì đã hứa, bằng lời
nói hoặc trên giấy tờ với người lao động. Nạn nhân của lao động cưỡng bức
thường được tuyển chọn với những lời hứa về việc làm và thu nhập. Nhưng
khi họ bắt đầu công việc, điều kiện làm việc như lời hứa ban đầu không được
thực hiện và người lao động phải làm việc dưới những hoàn cảnh tồi tệ mà
không có khả năng thoát khỏi. Trong những trường hợp này, người lao động
không có sự tự do và đầy đủ thông tin khi đồng ý thực hiện công việc. Nếu họ
biết được thực tế điều kiện sống và làm việc, họ sẽ không nhận lời thực hiện
công việc đó. Lừa gạt trong tuyển chọn lao động có thể bao gồm những lời
hứa về điều kiện làm việc, mức lương bổng, loại hình công việc, điều kiện
sinh hoạt và làm việc, tư cách di cư hợp pháp, địa điểm nơi làm việc hoặc
người sử dụng lao động.
- Hạn chế đi lại: Người bị cưỡng bức lao động bị giám sát tại nơi ở, nơi
làm việc phòng trường hợp họ bỏ trốn. Nếu người lao động không có sự tự do
đi đến và rời khỏi nơi làm việc, phải chịu những hạn chế các quyền về tự do
cư trú, tự do di chuyển, việc làm là dấu hiệu của lao động cưỡng bức. Người
lao động bị cưỡng bức có thể bị kiểm soát khi đi lại tại nơi làm việc, thông
qua hệ thống camera giám sát hoặc nhân viên bảo vệ hoặc tại bên ngoài nơi
làm việc bởi các thám tử hoặc chủ sử dụng lao động thường xuyên đi cùng họ
mỗi khi họ rời khỏi nơi làm việc.
- Bị cô lập: Những nạn nhân của lao động cưỡng bức thường bị cô lập ở
những nơi xa xôi hẻo lánh, không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Người
lao động có thể không biết họ đang ở đâu, nơi làm việc có thể cách xa khu
dân cư và không có sẵn bất kỳ phương tiện giao thông nào. Tuy nhiên, cũng
có thể người lao động rơi vào tình trạng bị cô lập ngay tại khu đông dân cư


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×