Tải bản đầy đủ

Pháp luật về trợ giúp pháp lý và thực tiễn thi hành tại tỉnh bắc kạn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯỜNG ĐỨC THẮNG

ĐỀ TÀI

PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102.
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đoàn Thị Tố Uyên

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn theo đúng quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và
trung thực của luận văn này.

Tác giả luận văn

Lường Đức Thắng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Trang
1

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ
1.1. Khái niệm và vai trò của trợ giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý

7

1.1.2. Vai trò của trợ giúp pháp lý

10

1.2. Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý và các điều kiện
bảo đảm
1.2.1. Khái niệm pháp luật về trợ giúp pháp lý

13

1.2.2. Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý

14

1.2.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về trợ giúp



16

pháp lý
1.3. Trợ giúp pháp lý của một số nước trên thế giới và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1. Về người được trợ giúp pháp lý

19

1.3.2. Về mô hình trợ giúp pháp lý

20

1.3.3. Về hình thức trợ giúp pháp lý

22

1.3.4. Về lĩnh vực trợ giúp pháp lý

23

1.3.5. Về nguồn kinh phí trợ giúp pháp lý

23

Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI
TỈNH BẮC KẠN
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý
2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển

26

2.1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý giai

28

đoạn 2007 - 2015
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý tại
tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2007- 2015
2.2.1. Khái quát đặc điểm của tỉnh Bắc Kạn có ảnh hưởng đến

57

thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý
2.2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý tại

60


tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2007- 2015
Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ; GIẢI PHÁP ĐẨY
MẠNH HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ
GIÚP PHÁP LÝ
3.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp

3.1.1. Về đối tượng được trợ giúp pháp lý

73

3.1.2. Về người thực hiện trợ giúp pháp lý

76

3.1.3. Về hệ thống tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

80

3.1.4. Về quy định về kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp

82


3.2. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động thực hiện pháp luật về
trợ giúp pháp lý
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

84

3.2.2. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác

84

trợ giúp pháp lý
3.2.3. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân lực; tăng cường kinh

85

phí, điều kiện vật chất cho công tác trợ giúp pháp lý
3.2.4. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trợ giúp

86

pháp lý
3.2.5. Tăng cường sự phối hợp trong công tác trợ giúp pháp lý
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

87


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm đã được ghi nhận
trong các văn kiện quốc tế có giá trị pháp lý đặc biệt quan trọng như: Tuyên
ngôn thế giới về quyền con người năm 19481; Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 19662. Theo đó, thì mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không
có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của quyền con người, Việt Nam
đã hiến định trong tất cả các bản Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 đã dành
Chương II quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân. Trong đó, Điều 16 của Hiến pháp năm 2013 quy định: "1. Mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.". Tuy nhiên, trên thực tế, không
phải mọi công dân, đặc biệt là những người yếu thế đều có điều kiện và khả
năng để thực hiện những quyền đó. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều
chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm giúp đỡ những người yếu thế thoát
khỏi cảnh nghèo đói và khó khăn, chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 734/TTg
về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng
chính sách. Ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 đã thông qua
Luật Trợ giúp pháp lý. Theo đó, người nghèo, người có công với cách mạng,
người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em không nơi nương tựa và người dân tộc
thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
được hưởng chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí. Qua gần 10 năm thi hành,
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đã phát huy tác dụng tích cực, góp phần bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhân dân, khẳng định quyết tâm của Đảng
1
2

Việt Nam đủ điều kiện tham gia Công ước sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc năm 1977.
Việt Nam đã gia nhập Công ước này ngày 24/9/1982.


2
và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo
đảm công bằng xã hội.
Tuy nhiên, trước sự thay đổi mạnh mẽ về điều kiện kinh tế - xã hội của
đất nước, yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, chủ trương tăng
cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế, Luật Trợ giúp
pháp lý năm 2006 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Quy định diện người
được trợ giúp pháp lý chưa bao quát, chưa bảo đảm tính hợp lý; quy định về
tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề của người thực hiện trợ giúp pháp lý còn
thấp, chưa thống nhất; chưa có quy định về cơ chế điều phối nguồn lực giữa
các địa phương; quy định về tổ chức bộ máy trợ giúp pháp lý chưa tinh gọn,...
Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Trợ
giúp pháp lý năm 2006 là yêu cầu cấp thiết.
Trong những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý tại tỉnh Bắc Kạn đã đạt
được những kết quả quan trọng, phát huy vai trò tích cực trong đời sống xã
hội. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác này vẫn gặp nhiều
khó khăn như mô hình tổ chức trợ giúp pháp lý chưa thực sự phù hợp, hiệu
quả; nhiều đối tượng vẫn chưa được tiếp cận với dịch vụ trợ giúp pháp lý,
chất lượng trợ giúp pháp lý chưa được nâng cao.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tác giả lựa chọn đề tài "Pháp luật về
trợ giúp pháp lý và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Kạn" để làm luận văn
thạc sĩ Luật học với mong muốn qua nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành
và thực tiễn thi hành pháp luật về trợ giúp pháp lý tại tỉnh Bắc Kạn, đưa ra
một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động thực hiện
pháp luật về trợ giúp pháp lý trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu liên
quan đến vấn đề quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý và thực tiễn thi hành
pháp luật về trợ giúp pháp lý như:
- Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ: Vũ Hồng Tuyến (2004), “Hoàn


3
thiện pháp luật về người thực hiện trợ giúp pháp lý ở Việt Nam”; Nguyễn
Huỳnh Huyện (2006), “Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và đối tượng chính sách ở Việt Nam”; Nguyễn Văn Tùng (2007),
“Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt
Nam hiện nay”; Tạ Thị Minh Lý (2008), “Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp
pháp lý ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới”; Trần Quốc Huy (2008), “Thực
hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách ở
tỉnh Thanh Hóa”; Nguyễn Thị Thanh Thủy (2008), “Thực hiện pháp luật về
trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách ở tỉnh Quảng
Ninh”; Nguyễn Thị Hồng Kiên (2012), “Hoàn thiện pháp luật về trợ giúp
pháp lý cho người nghèo và đói tượng chính sách ở Việt Nam hiện nay”; Kim
Hồng Thanh (2013), “Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và đói tượng chính sách trong tố tụng dân sự ở Vĩnh Phúc”...
- Các bài viết, nghiên cứu: đăng trên Thông tin Khoa học pháp lý, năm
2005: TS. Trần Huy Liệu “Một số vấn đề về trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và đối tượng chính sách”; Đặc san trợ giúp pháp lý số 10/2006: TS.
Đinh Trung Tụng, “Phương hướng xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý”; Tạ Thị
Minh Lý, “Khái niệm trợ giúp pháp lý một số vấn đề cần bàn thêm; đăng trên
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật- Số chuyên đề xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý
(sửa đổi) (2016): TS. Lê Thành Long: “Bối cảnh, mục đích, yêu cầu và những
định hướng lớn xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi)”; Ths Phan Thanh
Minh: “Người được trợ giúp pháp lý trong tổng thể các chính sách giảm
nghèo, an sinh xã hội, phát triển bền vững và đề xuất sửa đổi”; Shoko
Ishikawa, Đại diện UNWOMEN và Leika Aruga Chuyên gia UNWOMEN tại
Việt Nam: “Tạo nên sự khác biệt về bình đẳng giới thông qua cải cách trợ
giúp pháp lý”...
Nội dung các đề tài, công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu đề cập đến
các quan điểm, chủ trương lớn về sửa đổi quy định pháp luật hiện hành về trợ
giúp pháp lý, một số đề tài tập trung nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề


4
như khái niệm trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư, bình
đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý... Bên
cạnh đó, một số đề tài mang tính thực tiễn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật
về trợ giúp pháp lý đối với một nhóm trong số các nhóm người thuộc diện
được trợ giúp pháp lý như nạn nhân bị bạo lực trên cơ sở giới, người nghèo và
đối tượng chính sách, dân tộc thiểu số.
Luận văn "Pháp luật về trợ giúp pháp lý và thực tiễn thi hành tại tỉnh
Bắc Kạn" có nội dung, phạm vi nghiên cứu rộng, trong đó, tập trung nghiên
cứu làm rõ những vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý; kinh nghiệm về trợ giúp
pháp lý của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam;
thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về trợ giúp pháp lý; thực tiễn thi
hành pháp luật về trợ giúp pháp lý tại tỉnh Bắc Kạn; một số kiến nghị hoàn
thiện quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý và giải pháp đẩy mạnh hoạt động
thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong giai đoạn hiện nay. Các kiến
nghị đưa ra trong luận văn góp phần làm rõ các vấn đề, khía cạnh mang tính
chất tổng thể cả về người được trợ giúp pháp lý, đối tượng được trợ giúp pháp
lý, nội dung hoạt động trợ giúp pháp lý và các giải pháp thực hiện pháp luật
về trợ giúp pháp lý.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu luận văn là những quy định pháp luật về trợ giúp
pháp lý và thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý tại tỉnh Bắc Kạn. Trên cơ
sở kết quả nghiên cứu, vận dụng để đánh giá thực trạng, đề xuất một số kiến
nghị hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý và giải pháp đẩy mạnh hoạt
động thực hiện có hiệu quả pháp luật về trợ giúp pháp lý.
- Phạm vi nghiên cứu luận văn là: Những vấn đề lý luận về pháp luật và
thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý như khái niệm trợ giúp pháp lý, vai trò
của trợ giúp pháp lý, khái niệm pháp luật, thực hiện pháp luật về trợ giúp
pháp lý và các điều kiện bảo đảm, kinh nghiệm về trợ giúp pháp lý của một số


5
nước trên thế giới; lịch sử hình thành và phát triển của quy định pháp luật về
trợ giúp pháp lý ở Việt Nam; thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp
lý; thực tiễn thi hành pháp luật về trợ giúp pháp lý tại tỉnh Bắc Kạn và một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý và giải pháp
đẩy mạnh hoạt động thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong giai đoạn
hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục tiêu và hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra,
luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội và luật
học như:
- Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu những quy định pháp luật về trợ giúp
pháp lý của Việt Nam để nắm rõ về sự hình thành và quy luật phát triển của
pháp luật về trợ giúp pháp lý cũng như vai trò của nó trong mỗi giai đoạn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn phân tích và tổng kết lại
những kết quả của các công trình nghiên cứu pháp luật về trợ giúp pháp lý và
đưa ra những nhận xét, đánh giá từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn
thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về trợ giúp pháp
lý nói riêng và việc thúc đẩy, bảo đảm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý
trên thực tế.
- Phương pháp so sánh: Luận văn so sánh những quy định của pháp luật
về trợ giúp pháp lý trong mỗi giai đoạn khác nhau và so sánh với một số quốc
gia trên thế giới.
- Phương pháp thống kê xã hội học: Luận văn sử dụng những kết quả
thống kê, thông tin tổng hợp, tổng kết các số liệu thực tiễn thi hành pháp luật
về trợ giúp pháp lý trong cả nước và tại tỉnh Bắc Kạn trong thời gian gần đây.
Nguồn tài liệu nghiên cứu để hoàn thành luận văn là các văn bản pháp
luật quốc gia liên quan đến công tác trợ giúp pháp lý, các báo cáo, nghiên
cứu, đánh giá của các cơ quan nhà nước, chuyên gia pháp luật. Bên cạnh đó,
luận văn còn được hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo một số bài


6
viết về vấn đề này trên các tạp chí, website.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn nhằm đóng góp vào việc làm rõ hơn những vấn đề lý luận cũng
như thực trạng quy định pháp luật và thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý.
Đồng thời, đưa ra một số đề xuất, giải pháp về hoàn thiện pháp luật về trợ giúp
pháp lý và một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả pháp luật về trợ giúp
pháp lý nói chung và nhất là tại tỉnh Bắc Kạn nói riêng để bảo đảm phù hợp với
yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận
về trợ giúp pháp lý, từ đó có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, học tập về trợ giúp pháp lý.
Luận văn cũng có thể sử dụng phục vụ cho công tác lập pháp nói chung và
hoạt động trợ giúp pháp lý trên thực tế; giúp cán bộ, công chức, viên chức và
nhân dân tỉnh Bắc Kạn nói riêng nâng cao nhận thức về trợ giúp pháp lý.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo có
liên quan, nội dung của luận văn gồm:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý và thực
tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Kạn
Chương 3. Một số kiến nghị; giải pháp đẩy mạnh thực hiện pháp luật về
trợ giúp pháp lý


7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1.1. Khái niệm và vai trò của trợ giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một hoạt động phúc lợi xã hội đã có lịch sử
hơn 500 năm nay và được bắt nguồn từ nước Anh từ thế kỷ XV. Đến năm
1861 ở nước Pháp và năm 1870 ở nước Mỹ, chế độ biện hộ miễn phí cho
người nghèo đã được hình thành. Cùng với xu hướng phát triển chung của
nhiều quốc gia châu Âu, tư duy về quyền được TGPL trở thành trào lưu
chung, TGPL gắn với khái niệm “luật cho người nghèo”. Tuy nhiên, ở mỗi
một quốc gia khác nhau, quan niệm về TGPL cũng có sự khác nhau, điều này
phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước. Tại
nước Anh, cái nôi của TGPL quan niệm: “TGPL là sự trợ giúp trong việc sử
dụng bất kỳ biện pháp nào mà một người có thể sử dụng, gồm cả các biện
pháp đối với thủ tục tố tụng liên quan đến áp dụng pháp luật”. Pháp luật
Singapore lại quy định: “TGPL là việc đại diện cho khách hàng của Tòa án
nhằm giúp đỡ những người không có khả năng chi trả các dịch vụ TGPL”3.
Dự thảo Luật mẫu về TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự do Cơ quan
phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) chủ trì soạn
thảo quy định: "TGPL là việc thực hiện tư vấn pháp luật, hỗ trợ và đại diện
pháp lý do nhà nước trả tiền theo những điều kiện và trình tự, thủ tục quy
định trong luật này cho người bị tạm giữ, bị bắt hoặc bị kết án tù; người bị
tình nghi, người bị buộc tội hoặc vi phạm luật hình sự; nạn nhân và nhân
chứng trong quá trình tư pháp hình sự..." (khoản 7, Điều 4)4.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, ở Việt Nam, dưới góc độ khoa học, thuật ngữ
“TGPL” là một cụm từ ghép “trợ giúp” và “pháp lý”: "trợ giúp” được hiểu là
“sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó
3

Cục Trợ giúp pháp lý (2013), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, tập 1, Nxb Hồng Đức, Hà Nội,
tr. 9-tr. 10
4
Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2016), Số chuyên đề Xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), Nxb Tư
pháp, Hà Nội, tr. 184.


8
khăn, đang cần đến”. Thuật ngữ "pháp lý” được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp
luật, nói một cách khái quát: pháp lý là lý luận, luận điểm cơ bản đối với pháp
luật của một chế độ.5
Như vậy, trợ giúp pháp lý là việc nhà nước giúp đỡ, hỗ trợ về mặt pháp
lý cho người nghèo và đối tượng chính sách nhằm mục đích giúp họ có kiến
thức pháp luật để tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy
định và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ.
Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ trợ giúp pháp lý được chính thức sử dụng
trong Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ
về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách
(Quyết định số 734/QĐ-TTg) và sau này là Luật Trợ giúp pháp lý ngày
29/6/2006 (Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006).
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đã đưa ra quy định về TGPL như sau:
TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được
TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý
thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến,
giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội,
phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.6
Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua
ngày 20 tháng 6 năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 (Luật Trợ giúp
pháp lý năm 2017) quy định ngắn gọn hơn về khái niệm TGPL:
"TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được
trợ giúp pháp lý trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật này,
góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận
công lý và bình đẳng trước pháp luật."7.
Với những lý giải và cách tiếp cận như trên, TGPL mang những thuộc
5

Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội.
Điều 3, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006.
7
Điều 2, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
6


9
tính cơ bản sau:
Một là, khả năng được thụ hưởng một dịch vụ pháp lý từ người khác mà
không phải mất chi phí của dịch vụ mà mình được thụ hưởng.
Hai là, các chủ thể thực hiện việc cung ứng các dịch vụ pháp lý miễn phí
cho người thuộc diện được TGPL nhằm mục đích giúp họ có kiến thức pháp
luật để tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định,
nhưng cũng có thể là cách thức sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp cho họ.
Ba là, TGPL nhằm giúp đỡ về mặt pháp lý cho người nghèo và đối
tượng chính sách. Bởi những đối tượng trên được xếp trong dạng là những đối
tượng bị thiệt thòi trong xã hội, cần nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ,
nhất là giúp đỡ trong việc tiếp cận và sử dụng pháp luật.
Bốn là, TGPL thể hiện trách nhiệm của nhà nước cũng như xã hội đối
với các thành viên của cộng đồng.
Năm là, TGPL mang bản chất nhân đạo xã hội sâu sắc. Thuộc tính này
của TGPL thể hiện ở việc giúp đỡ người nghèo và đối tượng chính sách thông
qua hoạt động tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng; đồng
thời, còn cho phép các tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL giúp
đỡ người nghèo và đối tượng chính sách để hoà giải, thực hiện những công
việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo
quy định của pháp luật.
Từ những cách tiếp cận khoa học và pháp lý trên đây, khái niệm TGPL
được hiểu như sau:
TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL
dưới các hình thức: tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng
và các hình thức TGPL khác do trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL, tư
vấn viên pháp luật thực hiện nhằm giúp người được TGPL bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp


10

hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công
lý, công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
1.1.2. Vai trò của trợ giúp pháp lý
TGPL có nhiều vai trò quan trọng góp phần đưa chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của nhà nước đi vào cuộc sống, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của người dân và bảo đảm công bằng xã hội, cụ thể:
1.1.2.1. Trợ giúp pháp lý góp phần đưa các chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của nhà nước được triển khai trên thực tế
Quá trình thực hiện pháp luật về TGPL chính là hiện thực hoá các quy
định pháp luật về TGPL trên thực tế. Pháp luật về TGPL là sự cụ thể hoá các
chủ trương, chính sách của Đảng, nên quá trình thực hiện pháp luật về TGPL
cho người dân cũng là quá trình triển khai các chủ trương của Đảng và pháp
luật của nhà nước đi vào thực tế cuộc sống.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định:
Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây
dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,
từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.8
Đồng thời:
Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả
của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ
giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những
người gặp rủi ro trong cuộc sống.9
Như vậy, TGPL là một trong những hoạt động quan trọng để triển khai
thực hiện có hiệu quả chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước, góp phần
8

Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia
- Sự thật, Hà Nội, tr. 178.
9
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), tlđd, chú thích 8, tr. 137.


11
thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với các đối tượng thuộc diện được
TGPL; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp
của cơ quan, tổ chức và cá nhân, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội.
1.1.2.2. Trợ giúp pháp lý góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người dân và bảo đảm công bằng xã hội
Người nghèo và các đối tượng chính sách hiện nay thuộc nhóm đối
tượng dễ bị tổn thương và được xếp vào nhóm yếu thế trong xã hội. Bởi lẽ,
với điều kiện về thu nhập và các điều kiện sống mặt bằng thấp, cơ hội được
tiếp cận pháp luật và những dịch vụ pháp lý còn rất hạn chế; điều kiện kinh tế
của một bộ phận người dân là hộ nghèo và cận nghèo ít hoặc không có điều
kiện tiếp cận với pháp luật. Thông qua hoạt động TGPL nhằm thực hiện chính
sách nhân đạo, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là đặc biệt quan tâm đến
những người có hoàn cảnh khó khăn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
họ, giúp họ có cơ hội bình đẳng với mọi người trong việc tiếp cận với pháp
luật và được thụ hưởng các dịch vụ pháp lý, bảo đảm công bằng xã hội. Có
thể khẳng định TGPL là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các chương
trình quốc gia xóa đói, giảm nghèo, góp phần thực hiện thành công các chủ
trương chính sách xóa đói giảm nghèo của của Đảng và Nhà nước ta.10
Thực tế trong những năm qua, hoạt động TGPL đã góp phần quan trọng
trong công tác xoá đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, hướng dẫn cho người
dân được tiếp cận, sử dụng các dịch vụ pháp lý miễn phí, kịp thời bảo vệ họ
khỏi bị thiệt hại bởi những hành vi trái pháp luật gây ra. TGPL cho người dân
không những giúp cho các đối tượng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà
còn tạo điều kiện để công lý và công bằng xã hội được thực thi, bảo đảm
quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, mà trước hết là quyền bào
chữa và nhờ người khác bào chữa cho mình thông qua tổ chức TGPL.
1.1.2.3. Trợ giúp pháp lý góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân
Hoạt động TGPL, cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân là
10

Cục Trợ giúp pháp lý (2013), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, tập 1, Nxb Hồng Đức, Hà
Nội, tr. 62- tr.63.


12
một phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng
cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của người
dân, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng,
chính sách và pháp luật của nhà nước. Thực hiện tốt công tác TGPL sẽ không
chỉ bảo đảm sự công bằng trong xã hội, mà còn góp phần quan trọng trong
việc nâng cao nhận thức pháp luật trong xã hội, cộng đồng, qua đó, ngăn ngừa
có hiệu quả tội phạm và vi phạm pháp luật.
Thông qua các đợt TGPL lưu động, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề
pháp luật, cấp phát tài liệu tìm hiểu pháp luật với các nội dung pháp luật có
liên quan mật thiết đến đời sống nhân dân, sẽ tạo sự chuyển biến tích cực
trong nhận thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của người dân.
Thông qua sinh hoạt câu lạc bộ TGPL, những vướng mắc về pháp luật, tranh
chấp phát sinh tại cơ sở được các thành viên trong câu lạc bộ TGPL đưa ra
thảo luận, tìm cách tháo gỡ theo đúng quy định pháp luật, đồng thời, vận động
nhân dân chấp hành nghiêm những quy định của pháp luật. Thông qua việc
thực hiện các vụ việc TGPL cụ thể, người dân không chỉ được tư vấn, hướng
dẫn, giải thích những quy định của pháp luật liên quan đến nội dung của vụ
việc mà còn được hướng dẫn, giải thích các quy định của pháp luật với phạm
vi rộng hơn giúp cho họ có nhận thức một cách tổng thể về vụ việc và có định
hướng đúng cho hành vi của mình. Trong quá trình tham gia tố tụng giải
quyết một vụ án, người thực hiện TGPL giúp đỡ người được TGPL tìm hiểu
kiến thức pháp luật liên quan đến giải quyết vụ án; động viên và khích lệ họ
tuân thủ pháp luật, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội.
Hoạt động TGPL có vai trò củng cố, bảo vệ và phát triển các giá trị đạo
đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đối với các địa phương ở miền núi,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua hoạt động TGPL, góp phần hạn
chế những hủ tục lạc hậu, thay thế vào đó các quan hệ pháp luật lành mạnh,
góp phần xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
1.1.2.4. Trợ giúp pháp lý góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân


13
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định:
Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng
ở nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh11.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình thực hiện
đường lối đổi mới, với sự tác động của những mặt trái của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động TGPL là một trong những
biện pháp pháp lý hữu hiệu để đảm bảo thực hiện các chính sách an sinh xã
hội quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, nhằm quan tâm thích đáng đến các
tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở
vùng cao, vùng sâu, vùng xa, tạo cho họ cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận
các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục
khẳng định:
Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã
hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã
hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa,
khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn
định và phát triển xã hội bền vững. Thực hiện các giải pháp, chính
sách và quản lý để khắc phục từng bước sự mất cân đối về phát
triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, bảo đảm sự hài hòa cả trong
phát triển, hưởng thụ; bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư,
ngành nghề hợp lý.12
1.2. Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý và các điều kiện bảo đảm
1.2.1. Khái niệm pháp luật về trợ giúp pháp lý
11

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia
- Sự thật, Hà Nội, tr. 244.
12
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), tlđd, chú thích 8, tr. 135.


14

1.2.1.1. Khái niệm pháp luật
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, pháp luật là hệ thống các quy phạm
(quy tắc hành vi hay quy tắc xử sự) có tính chất bắt buộc chung và được thực
hiện lâu dài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, do nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước và được nhà nước bảo đảm thực hiện
bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ máy
nhà nước.13
Theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng thì "Pháp luật là toàn bộ các quy
phạm do Nhà nước ban hành để bảo vệ, củng cố và phát triển xã hội theo
định hướng xã hội chủ nghĩa"14
Bên cạnh đó, cũng có định nghĩa về pháp luật bao quát và ngắn gọn hơn:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm
thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều
chỉnh các quan hệ xã hội.15
1.2.1.2. Khái niệm pháp luật về TGPL
Từ khái niệm về pháp luật nói chung, có thể đưa ra khái niệm pháp luật
về TGPL như sau: Pháp luật về TGPL là hệ thống các quy phạm (quy tắc
hành vi hay quy tắc xử sự) có tính chất bắt buộc chung và được thực hiện lâu
dài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực TGPL, do nhà nước
ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước và được nhà nước bảo đảm
thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng
bộ máy nhà nước.
1.2.2. Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý
"Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các
quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những
hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.”16
13

Học viện hành chính (2010), Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước, phần I, Nxb Khoa học và
Kỹ thuật, tr. 82- tr.83.
14
Nguyễn Mạnh Hùng (2004), Thuật ngữ pháp lý, tập II (L-Y), Nxb Chính trị quốc gia, tr.105.
15
Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, tr. 66.
16
Đại học Luật Hà Nội (2010), tlđd, Chú thích 15, tr. 468.


15
Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp
lý xác định có các hình thức thực hiện pháp luật sau: Tuân thủ pháp luật, thi
hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Vận dụng lý luận về thực hiện pháp luật vào một lĩnh vực cụ thể là
TGPL, có thể đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật về TGPL như sau: Thực
hiện pháp luật về TGPL là tổng thể các hoạt động có mục đích của các chủ
thể pháp luật nhằm làm cho các quy phạm pháp luật về TGPL đi vào thực tiễn
cuộc sống, trở thành những hành động thực tế của các chủ thể tham gia vào
quá trình thực hiện pháp luật về TGPL, với mục đích giúp cho người được
TGPL có điều kiện được tiếp cận với pháp luật; bảo vệ được quyền và lợi ích
hợp pháp cho họ, bảo đảm công bằng xã hội, góp phần phòng ngừa và hạn
chế những vi phạm pháp luật.
Để việc thực hiện pháp luật về TGPL đảm bảo hiệu quả, cần chú trọng
triển khai thực hiện các biện pháp mang tính tổng thể và toàn diện, cụ thể:
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
TGPL. Để nâng cao hiểu biết pháp luật về TGPL cho các đối tượng, trước hết
cần phải đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về
TGPL bằng nhiều hình thức khác nhau. Thông qua đó, tác động tích cực đến
các đối tượng nhằm cung cấp, trang bị kiến thức pháp luật về TGPL, hình
thành tình cảm, thái độ tích cực đối với pháp luật, tạo lập thói quen tuân thủ,
chấp hành và sử dụng pháp luật nói chung và pháp luật về TGPL nói riêng.
Thứ hai, tăng cường theo dõi và đôn đốc việc thực hiện pháp luật về
TGPL. Để thực hiện tốt biện pháp này, cần phát huy vai trò của cơ quan
chuyên trách thực hiện chức năng theo dõi và đôn đốc việc thực hiện pháp
luật về TGPL như kiểm tra tổ chức và hoạt động của các tổ chức thực hiện
TGPL, người thực hiện TGPL; theo dõi, hướng dẫn hoạt động TGPL của các
tổ chức chính trị - xã hội, kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng vụ
việc TGPL đối với tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL…
Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật về TGPL. Các


16
cơ quan quản lý nhà nước về TGPL như Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh,
Sở Tư pháp… cần tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về
TGPL theo định kỳ hoặc đột xuất để đảm bảo các quy định pháp luật về
TGPL được thực hiện đầy đủ, thống nhất. Các cơ quan có chức năng giám sát
như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội thường xuyên tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật về
TGPL, đảm bảo các tổ chức thực hiện TGPL và các cơ quan khác có liên
quan phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật về TGPL.
Thứ tư, tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện pháp luật về TGPL bằng
việc ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết thi hành luật như các nghị
định, thông tư liên tịch, thông tư về công tác TGPL và các văn bản mang tính
chất điều chỉnh nội bộ như quy tắc nghề nghiệp, quy chế cộng tác viên
TGPL... Qua thực tiễn đã chứng minh, một trong những điều kiện tiên quyết
đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ, hiệu quả là phải
thường xuyên xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng những đòi
hỏi ngày càng cao của thực tiễn đời sống xã hội.
1.2.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý
1.2.3.1. Các điều kiện bảo đảm về mặt pháp lý
Thứ nhất, về chất lượng của pháp luật TGPL, đây là yếu tố bảo đảm đầu
tiên của thực hiện pháp luật về TGPL, bởi lẽ pháp luật không có chất lượng
không chỉ khó khăn cho việc đưa pháp luật trở thành hiện thực mà còn có thể
gây thiệt hại nhiều mặt cho đối tượng được TGPL, từ đó gây mất lòng tin của
người dân vào pháp luật của nhà nước. Muốn thi hành tốt pháp luật, điều quan
trọng nhất là phải có được hệ thống pháp luật có chất lượng, nếu không sẽ rất
khó khăn trong tổ chức thực hiện.
Để bảo đảm thực hiện pháp luật về TGPL thì hệ thống pháp luật nói
chung và pháp luật về TGPL phải đầy đủ, phù hợp điều kiện thực tế, đồng bộ,
khả thi… Đặc biệt, ngôn ngữ và kỹ thuật soạn thảo văn bản pháp luật về
TGPL phải dễ hiểu, dễ thực hiện, phù hợp với trình độ của các đối tượng,


17
thuận lợi cho người được TGPL tiếp cận và sử dụng. Nội dung của pháp luật
về TGPL cho người dân phải rõ ràng, công khai, minh bạch để các chủ thể dễ
dàng tiếp cận, nắm bắt và tự giác thực hiện trên thực tế.
Thứ hai, về nhận thức và hiểu biết pháp luật của xã hội. Đây là điều kiện
bảo đảm quan trọng trong thực hiện pháp luật về TGPL. Nhận thức pháp luật
bao gồm hiểu biết kiến thức cơ bản về pháp luật; những yêu cầu mang tính
mệnh lệnh, cấm đoán hoặc khuyến khích được làm và không được làm của
pháp luật. Việc hình thành kiến thức cơ bản về pháp luật giúp cho các chủ thể
đạt được trình độ hiểu biết nhất định, hình thành tình cảm, lòng tin đối với
pháp luật, tự giác điều chỉnh hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội;
giúp họ hiểu rõ bản chất ưu việt của pháp luật và bản chất tốt đẹp của chế độ;
thấy được pháp luật là công cụ có hiệu lực sắc bén trực tiếp bảo vệ quyền lợi
của họ khỏi sự xâm hại của hành vi vi phạm. Như vậy, đây vừa là điều kiện
đảm bảo về mặt chủ quan để thực hiện pháp luật về TGPL, vừa là mục tiêu
phải đạt được trong thực hiện pháp luật về TGPL.
1.2.3.2. Các điều kiện bảo đảm về mặt tổ chức
Các thiết chế thực hiện pháp luật về TGPL như các trung tâm TGPL,
mạng lưới tổ chức TGPL và cộng tác viên TGPL là yếu tố đảm bảo về
phương diện tổ chức để đưa pháp luật về TGPL đi vào cuộc sống, trở thành
hiện thực trên thực tế và mang lại hiệu quả nhất.
Thông qua hoạt động của các tổ chức TGPL, giúp người được TGPL
nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công
lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm
pháp luật; nâng cao trách nhiệm, minh bạch hóa hoạt động và trách nhiệm của
nhà nước. Qua đó, củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân
dân, giúp người được TGPL tiếp cận, khai thác và sử dụng pháp luật; hỗ trợ
họ thực hiện quyền, nghĩa vụ và tham gia vào đời sống xã hội...
1.2.3.3. Các điều kiện bảo đảm về con người và các điều kiện vật chất


18
Về con người, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác pháp
luật, chính sách xã hội, người hoạt động trong tổ chức kinh tế, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức từ thiện... phải là người có tâm huyết, nhiệt tình, có kiến
thức và mong muốn giúp đỡ người được TGPL, tạo điều kiện cho người được
TGPL có cơ hội bình đẳng trong xã hội. Đội ngũ này là nhân tố bảo đảm quan
trọng để thực hiện pháp luật về TGPL, với nhiệm vụ được giao là tổ chức
thực hiện pháp luật về TGPL, là cầu nối đưa pháp luật vào cuộc sống, hỗ trợ
người dân tiếp cận và biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
Việc chú trọng xây dựng tiêu chuẩn, cách thức phân loại, đánh giá cán bộ,
công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức thực hiện pháp luật gắn với sự
gương mẫu, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, chấp hành pháp luật đối với người
được TGPL từ phía đảng viên và tổ chức đảng cũng như công tác tổ chức cán
bộ trong thực hiện pháp luật về TGPL là điều kiện bảo đảm định hướng chính
trị của Đảng đối với pháp luật và công tác mở rộng quyền tiếp cận pháp luật
của người dân, bảo đảm trật tự xã hội, quyền con người và công bằng xã hội.
Về điều kiện vật chất, là điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ
thuật và kinh phí cho việc thực hiện pháp luật về TGPL để phát huy đầy đủ
vai trò và trách nhiệm của nhà nước. Các yếu tố này bao gồm việc đầu tư cơ
sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật, tổ chức đào tạo và công việc tạo ra
thu nhập ổn định cho người thực hiện pháp luật về TGPL yên tâm làm việc.
Với cán bộ TGPL có năng lực, tâm huyết với nghề, cần có sự quan tâm thỏa
đáng để họ tận tâm, tận lực thực hiện hoạt động TGPL, không thể để một
người “yếu thế” trong xã hội đi TGPL cho người yếu thế khác được.
1.2.3.4. Các điều kiện bảo đảm về biện pháp thực hiện và cách thức kiểm
tra, giám sát việc thực hiện
Đối với các điều kiện bảo đảm về biện pháp thực hiện, đó chính là sự chỉ
đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, khen thưởng, kỷ
luật của cơ quan có thẩm quyền trong thực hiện pháp luật về TGPL. Các biện


19
pháp này nhằm bảo đảm tuân thủ nghiêm chỉnh kỷ cương, kỷ luật công vụ, kỷ
luật hành chính để cho quá trình chỉ đạo, điều hành được thông suốt, liên tục;
kịp thời áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hành chính để xử lý hành vi vi
phạm pháp luật.
Đối với các điều kiện bảo đảm về kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp
luật về TGPL, đó là bằng cơ chế kiểm tra của Đảng; giám sát, phản biện của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, cơ quan báo chí truyền thông và
các thiết chế cộng đồng; giám sát, phản biện của người dân và chủ thể khác
đối với công tác xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật,
giám sát, kiểm tra của cơ quan dân cử. Đây là yếu tố đảm bảo để nâng cao
trách nhiệm của các chủ thể được giao nhiệm vụ thực hiện pháp luật về TGPL
để cho pháp luật về TGPL được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất với tất
cả mọi chủ thể.
1.3. Trợ giúp pháp lý của một số nước trên thế giới và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam
Hầu hết các nước đều xác định TGPL là trách nhiệm của nhà nước đối
với người nghèo và những người yếu thế trong xã hội không có khả năng tiếp
cận dịch vụ có thu phí của luật sư. Thông qua việc ban hành pháp luật về
TGPL, nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý để đảm bảo thực hiện trách nhiệm đối
với xã hội, đặc biệt là nhóm người yếu thế17. Luật Trợ giúp pháp lý của hầu
hết các nước quy định về các nguyên tắc, người được TGPL, người thực hiện
TGPL, tổ chức TGPL, trình tự, thủ tục TGPL do nhà nước cấp kinh phí...
Đồng thời, các nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân cung
cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân, đặc biệt là người nghèo và người
yếu thế trong xã hội. Do điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống pháp luật
khác nhau nên Luật Trợ giúp pháp lý của mỗi nước có quy định khác nhau.
1.3.1. Về người được trợ giúp pháp lý

17

Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2016), tlđd, chú thích 4, tr. 186.


20
Có thể khái quát các nhóm đối tượng cơ bản sau thuộc diện được TGPL
theo Luật Trợ giúp pháp lý của các nước:
Thứ nhất, những người nghèo, không có hoặc không đủ khả năng tài
chính để chi trả cho các dịch vụ pháp lý. Đây là đối tượng phổ biến ở tất cả
các nước, thậm chí là đối tượng duy nhất được TGPL theo pháp luật của một
số nước như Indonesia, Hà Lan, Nam Phi, Cămpuchia, Nhật Bản, bang
Victoria (Úc). Đối với người nghèo, phải chứng minh không có thu nhập hay
tài sản hay điều kiện kinh tế dưới mức quy định như Úc, Ailen, Nepal, Phần
Lan, Hà Lan, Indonesia.
Thứ hai, đối tượng được TGPL là những người yếu thế không có khả
năng tự bảo vệ cần được sự trợ giúp về pháp luật như: người có nhược điểm
về thể chất hoặc tâm thần, người khuyết tật như Ấn Độ, Trung Quốc, Litva,
Myanma, người chưa thành niên như Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Nam
Phi, Lào, Thái Lan, nạn nhân bạo lực gia đình như Tây Ban Nha, người già
như Myanma, Croatia.18
1.3.2. Về mô hình trợ giúp pháp lý
Nhìn chung, có ba mô hình chủ yếu, đó là mô hình TGPL do nhà nước
thực hiện hoàn toàn, mô hình TGPL do luật sư và tổ chức xã hội thực hiện
hoàn toàn và mô hình hỗn hợp (TGPL do nhà nước thành lập, tổ chức thực
hiện và thu hút luật sư, các tổ chức xã hội tham gia). Tuy nhiên, xu hướng phổ
biến hiện nay là hệ thống TGPL theo mô hình hỗn hợp19.
Thứ nhất, mô hình TGPL do nhà nước thực hiện hoàn toàn. Đây là mô
hình được một số ít các nước áp dụng như Philippines, Argentina. Theo đó,
nhà nước có hệ thống cơ quan chuyên thực hiện TGPL mà không huy động
các lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động này. Tổ chức TGPL của nhà
nước gồm Văn phòng Luật sư công (PAO), văn phòng khu vực, văn phòng
cấp quận và văn phòng cấp dưới trực thuộc PAO (Philippines).

18
19

Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2016), tlđd, chú thích 4, tr. 187.
Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2016), tlđd, chú thích 4, tr. 188.


21
Hệ thống TGPL nhà nước là Văn phòng Luật sư công liên bang thuộc Bộ
Xã hội. Văn phòng bao gồm: Văn phòng luật sư công Trung ương, văn phòng
luật sư công tại thành phố tự trị, các văn phòng luật sư cấp tỉnh và các phòng
luật sư tranh tụng trực tại Tòa án trực tiếp thực hiện TGPL trong lĩnh vực hình
sự, dân sự, hành chính (Argentina).
Thứ hai, về mô hình TGPL do luật sư tư và các tổ chức xã hội trực tiếp
thực hiện (mô hình luật sư thực hiện). Theo mô hình này, không có hệ thống
các cơ quan thực hiện TGPL của nhà nước. Cơ quan nhà nước chỉ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về TGPL, xây dựng kế hoạch, chính sách, xem
xét điều kiện TGPL, giao vụ việc cho luật sư và tổ chức xã hội thực hiện,
nghiệm thu vụ việc và thanh toán thù lao cho người thực hiện TGPL. Có một
số ít nước áp dụng mô hình này như Indonesia, Hungary.
Tại Hungary, hệ thống TGPL được phân chia theo lĩnh vực dân sự và
hình sự. Trong lĩnh vực dân sự, cơ quan TGPL thuộc Bộ Hành chính công và
tư pháp có chức năng tham mưu cho Bộ trong việc thực hiện các chính sách
TGPL, tổng hợp dữ liệu và quản lý ngân sách TGPL. Đặc biệt là Cơ quan
TGPL trực tiếp kiểm tra các đơn xin TGPL của người dân và quyết định việc
thụ lý vụ việc, bên cạnh đó, xem xét điều kiện của các tổ chức, cá nhân đăng
ký thực hiện TGPL để quyết định chấp thuận và cấp giấy chứng nhận thực
hiện TGPL cho các tổ chức cá nhân và luật sư.
Tại Indonesia, Cục phát triển lập pháp quốc gia thuộc Bộ Pháp luật và
nhân quyền có nhiệm vụ xây dựng chính sách và các hướng dẫn về tiêu chuẩn
và cơ chế TGPL, báo cáo các hoạt động TGPL gửi Quốc hội. Cục không trực
tiếp tham gia thực hiện TGPL mà lựa chọn các tổ chức thực hiện TGPL, theo
dõi, giám sát hoạt động và chi trả kinh phí thực hiện TGPL cho các tổ chức
này. Các tổ chức thực hiện TGPL là các tổ chức phi Chính phủ.
Thứ ba, về mô hình hỗn hợp, theo mô hình này, các nước thành lập hệ
thống TGPL của nhà nước ký hợp đồng với các tổ chức xã hội hoặc luật sư
tham gia thực hiện TGPL và trả thù lao cho luật sư, tổ chức xã hội. Hiện nay,


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×