Tải bản đầy đủ

Pháp luật về thi hành án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ XUÂN QÚY

PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI


ĐỖ XUÂN QÚY

PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đoàn Trung Kiên

HÀ NỘI - NĂM 2017


LỜI CAM KẾT

Tôi cam kết rằng tôi đã viết luận văn này một cách độc lập và không sử
dụng các nguồn thông tin hay tài liệu tham khảo nào khác ngoài những tài
liệu và thông tin đã đƣợc liệt kê trong phần thƣ mục tham khảo của luận văn.
Bản luận văn này chƣa từng đƣợc xuất bản và vì vậy cũng chƣa đƣợc
nộp cho một Hội đồng nào khác cũng nhƣ chƣa chuyển cho một bên nào khác
có quan tâm đối với nội dung luận văn này.

Hà Nội, tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn

Đỗ Xuân Quý


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài...................................................... 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn ............................................................. 4
3.1. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 4
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu................................................................................. 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 4


5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 5
6. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 5
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG ............................................................................................................... 6
1.1. Khái niệm và đặc điểm của thi hành án tín dụng ngân hàng ..................... 6
1.1.1. Khái niệm thi hành án tín dụng ngân hàng ............................................. 6
1.1.2. Đặc điểm của thi hành án tín dụng ngân hàng ........................................ 7
1.2. Vai trò của thi hành án tín dụng ngân hàng ............................................. 10
1.2.1. Thi hành án tín dụng ngân hàng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các tổ chức tín dụng, ngân hàng ...................................................... 10
1.2.2. Thi hành án tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao chất lƣợng hoạt
động xét xử, giải quyết các tranh chấp về tín dụng ngân hàng ....................... 11
1.2.3. Thi hành án tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao ý thức pháp luật,
trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong xã hội ......................................... 11
1.3. Tiêu chí đánh giá hiệu quả THA tín dụng ngân hàng .............................. 12
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả THA tín dụng ngân hàng ................ 15
1.5. Lƣợc sử hình thành và phát triển của pháp luật về thi hành án tín dụng
ngân hàng ở Việt Nam .................................................................................... 18
1.5.1. Thời kỳ từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1989 ........................................ 18


1.5.2. Thời kỳ từ năm 1990 đến trƣớc khi có Pháp lệnh THADS năm 1993 . 22
1.5.3. Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh THADS năm 1993 đến trƣớc khi có
Pháp lệnh THADS năm 2004.......................................................................... 23
1.5.4. Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh THADS năm 2004 đến trƣớc khi có
Luật THADS năm 2008 .................................................................................. 26
1.5.5. Giai đoạn từ khi có Luật THADS năm 2008 đến nay........................... 29
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 34
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM ........................................................................ 36
2.1. Các quy định về tổ chức bộ máy của hệ thống thi hành án dân sự .......... 36
2.1.1. Về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự ................................................ 36
2.1.2. Về chức năng thi hành án dân sự .......................................................... 37
2.1.3. Về chấp hành viên ................................................................................. 38
2.2. Các quy định về thủ tục thi hành án tín dụng ngân hàng ......................... 40
2.2.1. Ra quyết định thi hành án ..................................................................... 40
2.2.2. Thông báo thi hành án ........................................................................... 41
2.2.3. Xác minh điều kiện thi hành án ............................................................ 41
2.2.4. Áp dụng biện pháp bảo đảm và cƣỡng chế THA .................................. 42
2.2.5. Xử lý tài sản bảo đảm, tài sản đã cƣỡng chế kê biên ............................ 43
2.3. Các quy định về biện pháp bảo đảm và cƣỡng chế thi hành án tín dụng
ngân hàng ........................................................................................................ 44
2.3.1. Các quy định về biện pháp bảo đảm THA tín dụng ngân hàng ............ 44
2.3.2. Các quy định về biện pháp cƣỡng chế THA tín dụng ngân hàng ......... 57
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 62
Chƣơng 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN .. 63
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ........ 63
3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thi hành án tín dụng ngân hàng ở Việt
Nam ............................................................................................................. 63
3.1.1. Những kết quả đạt được từ việc thực hiện pháp luật về thi hành án tín
dụng ngân hàng ở Việt Nam ......................................................................... 63


3.1.2. Những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện
pháp luật về thi hành án tín dụng ngân hàng ở Việt Nam và nguyên ngân của
những vấn đề này ......................................................................................... 66
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về thi hành tín dụng ngân hàng ở Việt Nam .................................. 80
3.2.1. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi hành tín dụng ngân hàng
ở Việt Nam ................................................................................................... 81
3.2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thi hành tín
dụng ngân hàng ở Việt Nam ......................................................................... 83
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ............................................................................. 93
KẾT LUẬN .................................................................................................. 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 96


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thi hành án là hoạt động đƣa các bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật của Tòa án nhân dân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra thi hành; bảo vệ
bình đẳng các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc, tổ chức, cá nhân;
góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả
của bộ máy nhà nƣớc và góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế- xã hội.
Hiệu quả hoạt động THA ảnh hƣởng trực tiếp đến công lý, sự công bằng trong
đời sống xã hội. Chính vì vậy, THADS ngày càng nhận đƣợc nhiều sự quan
tâm, chỉ đạo từ lãnh đạo Đảng và Nhà nƣớc, cũng nhƣ sự phối hợp, hỗ trợ từ
các ngành, các cơ quan, tổ chức từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Bởi vậy,
công tác này đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt đƣợc nhiều kết quả đáng
ghi nhận.
Tuy nhiên, những khó khăn, bất cập không vì đó mà dừng lại và có ảnh
hƣởng không nhỏ đến hiệu quả THA. Điển hình nhƣ trƣờng hợp THADS mà
ngƣời đƣợc THA là ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Đây là loại án có điều
kiện thi hành nhƣng tƣơng đối khó khăn và phức tạp. Do đó, chậm THA trong
trƣờng hợp này đang là vấn đề “nóng” đối với cơ quan quản lý THA và bên
đƣợc THA. Nguyên nhân không chỉ có khách quan, mà còn tồn tại nhiều
nguyên nhân chủ quan nhƣ ngân hàng và các tổ chức chƣa thực hiện đúng quy
định của Nhà nƣớc; năng lực và tinh thần tích cực của CHV còn hạn chế;
thiếu sự kiểm tra, đôn đốc sát sao của lãnh đạo chi cục THA... Vì vậy, sự cần
thiết phải có những giải pháp để THA đạt đƣợc kết quả khả quan hơn.
Thực trạng và nguyên nhân nêu trên đòi hỏi phải có những
phƣơng hƣớng, giải pháp để khắc phục tồn tại, khó khăn và nâng cao hiệu quả
THA tín dụng ngân hàng, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về thi hành án
dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng ở Việt Nam” có ý nghĩa cấp thiết
cả về mặt lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác


2
THADS nói chung, THA liên quan đến tín dụng ngân hàng nói riêng ở Việt
Nam hiện nay.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến THADS nói chung, THA tín dụng ngân hàng nói riêng
đã có nhiều công trình nghiên cứu đƣợc công bố ở các góc độ khác nhau. Có
thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:
- Thanh Hƣơng: “Bàn về biện pháp phong tỏa tài sản tài khoản trong
công tác THADS hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề
tháng 02/2013, 2013, tr.23-26; 32.
- Lê Thị Lệ Duyên: “Kỹ năng giải quyết việc THADS phức tạp”, Tạp
chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 02/2013, 2013, tr.04-11.
- Phan Đức Vũ: “Một số bất cập sau ba năm thực hiện Luật THADS”,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 01, 2013. tr.22-25.
- Nguyễn Thùy Trang: “Hoàn thiện các quy định pháp luật về trình tự, thủ
tục THADS”, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật số tháng 12(296)/2012, tr.28-32.
- Phan Tấn Pháp: “Bất cập trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ theo Luật
THADS”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 3/2011, 2011, tr.17-18.
- Đinh Duy Bằng: “Nhứng khó khăn trong xác minh THADS”, Tạp chí
Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 3/2011, 2011, tr.12-13.
- Nguyễn Quang Thái: “Đổi mới tổ chức và hoạt động THADS ở Việt Nam”
(Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003).
- Bộ Tƣ pháp: “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt
động THA ở Việt Nam trong giai đoạn mới” (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
nhà nƣớc, 2005).
- Nguyễn Đức Nghĩa: “Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn
đọng trong THADS ở Việt Nam hiện nay” (Luận văn thạc sỹ Luật học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005).
- Nguyễn Thanh Thủy: “Vấn đề đổi mới thủ tục THADS ở nước ta hiện
nay”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về THADS, 2006.


3
- Nguyễn Văn Lực và Đào Anh Dũng: “Thực trạng về án tồn đọng và
những giải pháp của THADS thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, số chuyên đề về THADS, 2008.
- Nguyễn Thùy Trang: “Hoàn thiện các quy định pháp luật về trình tự,
thủ tục THADS”, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số tháng 12(296), 2012.
- Bùi Thái Bình: “Bàn về tính dân chủ trong pháp luật về THADS”,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 03, 2012.
- Hƣơng Lan: “Những trăn trở từ thực tế THADS”, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số chuyên đề tháng 04, 2012.
- Lê Thị Tuyết Minh: “Một số giải pháp để giải quyết hiệu quả việc THADS
tồn đọng”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 06, 2012.
- Lê Anh Thọ: “Bàn về quyền yêu cầu THA và thời hiệu yêu cầu THA
của người phải THADS”, Tạp chí Kiểm sát số 14, 2012.
- Lê Thị Lệ Duyên: “Bàn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan THA với
các cơ quan hữu quan trong THADS”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng
10, 2012.
- Trần Thế Hùng: “Những bất cập sau 3 năm thực hiện luật THADS”,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 02, 2013.
- Phan Đức Vũ: “Một số bất cập sau ba năm thực hiện Luật THADS”,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 01, 2013.
- Nguyễn Mạnh Hùng: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát
việc THADS”, Tạp chí Kiểm sát, số tháng 01, 2013.
- Lê Dƣơng Hƣng: “Pháp luật THA kinh doanh thương mại từ thực tiễn
thực hiện tại địa bàn thành phố Hà Nội” (Luận văn thạc sỹ Luật kinh tế, Viện
Đại học mở Hà Nội, H. 2015).
- Trần Đại Sỹ: “THADS trong trường hợp người được THA là ngân hàng
và các tổ chức tín dụng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 01, H. 2015.
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động
THADS đƣợc công bố, đăng tải trên các báo, tạp chí….Nhìn chung, các công
trình đã công bố đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về THADS


4
nhƣng ít có công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp về THA tín dụng ngân
hàng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này sẽ nhận diện, đánh giá tƣơng đối toàn
diện về THA tín dụng ngân hàng với những đặc thù nhất định để từ đó đƣa ra
các giải pháp nâng cao hiệu quả THA tín dụng ngân hàng nói riêng cũng nhƣ
hiệu quả THADS nói chung ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
và thực trạng THADS nói chung, THA tín dụng ngân hàng nói riêng và đề
xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả THA tín dụng ngân hàng ở
Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về THA tín dụng ngân hàng nhƣ:
xây dựng khái niệm, làm rõ đặc điểm, vai trò của THA tín dụng ngân hàng;
các tiêu chí đánh giá hiệu quả THA tín dụng ngân hàng và các yếu tố ảnh
hƣởng đến hiệu quả THA tín dụng ngân hàng ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng THA tín dụng ngân hàng ở Việt Nam (trong đó
chú trọng những vấn đề tồn tại, vƣớng mắc và nguyên nhân).
- Xác định mục tiêu, yêu cầu và kiến nghị một số giải pháp nâng cao
hiệu quả THA tín dụng ngân hàng ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý luận về
THADS; thực trạng THA tín dụng ngân hàng ở Việt Nam để từ đó đề xuất
các giải pháp nâng cao hiệu quả THA tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong
thời gian tới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động THADS nói chung, THA tín dụng ngân hàng nói riêng có
thể đƣợc nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Trong khuôn khổ


5
luận văn thạc sỹ, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng THA tín dụng ngân
hàng ở Việt Nam trong phạm vi thẩm quyền THA của cơ quan THADS trên
cơ sở Luật THADS năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
THADS năm 2008 và không đề cập đến hoạt động THADS theo thẩm
quyền của Thừa phát lại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu truyền thống là phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: hệ
thống hóa, phân tích, tổng hợp, quy nạp, so sánh, thống kê, tổng kết thực tiễn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thi hành án tín dụng ngân hàng và
pháp luật về thi hành án tín dụng ngân hàng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thi hành án tín dụng ngân hàng
ở Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về thi hành án tín dụng ngân
hàng ở Việt Nam và một số giải pháp


6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG
1.1. Khái niệm và đặc điểm của thi hành án tín dụng ngân hàng
1.1.1. Khái niệm thi hành án tín dụng ngân hàng
Trong đời sống xã hội, các hoạt động kinh doanh, thƣơng mại nhằm
đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngƣời chủ yếu đƣợc thực
hiện thông qua các giao dịch dân sự, kinh tế trên cơ sở giao kết và thực hiện
hợp đồng. Khi thiết lập các giao dịch, hợp đồng, vấn đề các bên quan tâm là
thực hiện các cam kết, thỏa thuận, khả năng thực hiện nghĩa vụ - điều kiện
đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là đối với các quan hệ giao
dịch trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng ngân hàng, theo nghĩa chung nhất đó là quan hệ
giao dịch giữa bên cho vay và bên vay, theo đó bên cho vay giao hoặc cam
kết giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong
một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi (kèm theo đó thƣờng có cam kết về tài sản bảo lãnh, thế chấp).
Với cách nhận diện, tiếp cận nhƣ vậy và trên cơ sở thực thi Luật Các tổ
chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật liên quan cho thấy hoạt động tín
dụng ngân hàng liên quan chặt chẽ tới sự vận động và phát triển của nền kinh
tế, đặc biệt là hoạt động của các nhà sản xuất, kinh doanh. Trong các hoạt
động ngân hàng, cho vay là một trong những hoạt động tín dụng quan trọng
nhất, thể hiện mối quan hệ vay và trả nợ giữa một bên là các ngân hàng, các
tổ chức tín dụng và một bên là các cá nhân, tổ chức (nhà sản xuất kinh
doanh). Đồng thời, đây cũng là hoạt động linh hoạt và chủ yếu của nền kinh tế
thị trƣờng, đáp ứng nhu cầu huy động vốn phục vụ cho việc đầu tƣ, sản xuất
kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Nhƣ vậy, yêu cầu đặt ra là khi các giao dịch tín dụng ngân hàng đƣợc
thiết lập thì các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình; nếu các bên


7
không thực hiện đúng cam kết, phát sinh tranh chấp mà không tự thỏa thuận,
thống nhất đƣợc cách giải quyết thì tranh chấp về tín dụng ngân hàng sẽ
đƣợc giải quyết theo quy định pháp luật. Kết quả giải quyết các vụ việc
tranh chấp về tín dụng ngân hàng đƣợc thể hiện cụ thể là các bản án, quyết
định của cơ quan có thẩm quyền về kinh doanh thƣơng mại liên quan đến tín
dụng ngân hàng, tạo cơ sở để các bên nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ
thanh toán, trả nợ theo quy định pháp luật. Trên cơ sở bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật, nếu một bên đƣơng sự không thi hành nghiêm chỉnh
nghĩa vụ thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền thi
hành để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định pháp
luật. Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định cơ quan có thẩm quyền thi hành
bản án, quyết định của Tòa án gồm cơ quan THADS.
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu THA tín dụng ngân hàng là
hoạt động của cơ quan THADS có thẩm quyền đƣợc thực hiện theo trình tự,
thủ tục pháp luật quy định để buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ
trả nợ, bồi thƣờng thiệt hại cho tổ chức tín dụng ngân hàng theo bản án, quyết
định có hiệu lực thi hành.
1.1.2. Đặc điểm của thi hành án tín dụng ngân hàng
a) Đặc điểm chung:
Thi hành án tín dụng ngân hàng mang những đặc điểm chung của hoạt
động THADS, cụ thể nhƣ:
Thứ nhất, THA tín dụng ngân hàng là hoạt động của cơ quan THADS
có thẩm quyền. Ở nƣớc ta, hệ thống tổ chức THADS, trừ hệ thống tổ chức
THA trong quân đội, đƣợc tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất ở Trung
ƣơng có cơ quan quản lý THA là Tổng cục THADS trực thuộc Bộ Tƣ pháp, ở
cấp tỉnh có các cơ quan THA trực tiếp thực hiện nhiệm vụ THA là Cục
THADS trực thuộc Tổng cục THADS và ở cấp huyện là Chi cục THADS
thuộc Cục THADS.


8
Thứ hai, THA tín dụng ngân hàng để thu hồi các khoản nợ, bồi thƣờng
cho các tổ chức tín dụng ngân hàng đƣợc thực hiện theo trình tự, thủ tục đƣợc
quy định tại Luật THADS, bao gồm các trình tự, thủ tục nhƣ sau:
- Tiếp nhận đơn yêu cầu THA
- Ra quyết định THA.
- Thông báo THA.
- Xác minh điều kiện THA.
- Áp dụng biện pháp bảo đảm và cƣỡng chế THA.
- Xử lý tài sản bảo đảm, tài sản đã cƣỡng chế kê biên.
b) Đặc điểm riêng:
Ngoài đặc điểm chung nêu trên, từ góc độ thực tiễn, có thể nhận diện
một số đặc điểm đặc thù của THA tín dụng ngân hàng sau đây:
Thứ nhất, THA tín dụng ngân hàng liên quan đến việc áp dụng pháp
luật ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
THA tín dụng ngân hàng liên quan đến việc thu hồi các khoản nợ, bồi
thƣờng cho tổ chức tín dụng theo các bản án, quyết định về dân sự, kinh
doanh thƣơng mại, hình sự... trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội, đặc
biệt là sự đa dạng, phong phú về chủ thể là ngƣời phải THA (cá nhân, doanh
nghiệp, cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội) và tài sản đảm bảo
THA (tàu bay, tàu biển, ô tô, quyền sử dụng đất, nhà ở, dây chuyền sản xuất,
nhà xƣởng, cổ phiếu, vốn góp...). Do đó, để đảm bảo hiệu quả THA, CHV-là
ngƣời đƣợc thủ trƣởng cơ quan THA giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức THA,
Cơ quan THADS phải áp dụng các quy phạm pháp luật ở nhiều lĩnh vực
khác nhau nhƣ: Bộ luật dân sự; Luật THADS; Luật đất đai; Luật doanh
nghiệp; Luật các tổ chức tín dụng; Luật đầu tƣ; Luật nhà ở; Luật chứng
khoán; Luật phá sản, Luật hàng hải; Luật hàng không dân dụng Việt Nam;
Luật ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam; Bộ luật lao động ....
Từ việc THA tín dụng ngân hàng chịu sự điều chỉnh của pháp luật
trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nên yêu cầu đặt ra là CHV phải
thận trọng trong việc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng cũng nhƣ đề


9
cao tính trách nhiệm, độc lập trong quá trình THA. Hơn nữa, hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội chƣa
thực sự đồng bộ, thống nhất nên việc THA tín dụng ngân hàng thƣờng mất
nhiều thời gian, chí phí tuân thủ pháp luật, nhất là việc xác minh điều kiện
THA, xử lý tài sản đảm bảo THA.
Thứ hai, THA tín dụng ngân hàng đề cao quyền tự định đoạt và thỏa
thuận của các đƣơng sự.
Do THA tín dụng ngân hàng không chỉ liên quan đến ngƣời phải THA,
ngƣời đƣợc THA mà còn là mối quan hệ giữa tổ chức tín dụng, ngân hàng và
khách hàng nên nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình THA là tôn trọng
quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đƣơng sự, ngƣời có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan. Ngay từ khi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, ngƣời đƣợc
THA có quyền quyết định về việc yêu cầu THA; thời điểm yêu cầu THA
trong thời hiệu pháp luật quy định; các đƣơng sự có quyền thỏa thuận về thời
gian, biện pháp THA, cách thức xử lý tài sản; hoãn THA; lựa chọn tổ chức
thẩm định giá, bán đấu giá tài sản; về miễn, giảm nghĩa vụ THA...Trên cơ sở
các thỏa thuận, quyền tự định đoạt của các đƣơng sự, trong quá trình THA,
CHV, cơ quan THADS có thể lựa chọn biện pháp thích hợp để việc THA
nhanh chóng, hiệu quả (lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp
cƣỡng chế THA; lựa chọn phƣơng thức bán đấu giá tài sản....).
Tuy nhiên, do đặc thù của THA tín dụng ngân hàng liên quan đến việc
THA có giá trị lớn; khả năng thực hiện nghĩa vụ của ngƣời phải THA thấp do
việc sử dụng các khoản vay trƣớc đó không hiệu quả; quá trình THA liên quan
nhiều đến đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của ngƣời phải THA, nhất
là doanh nghiệp, vì vậy trong quá trình THA tín dụng ngân hàng, nguyên tắc
tôn trọng quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đƣơng sự càng phải đƣợc đề
cao hơn và có thể coi là đặc điểm quan trọng của THA tín dụng ngân hàng.
Thực tiễn cũng cho thấy rằng các việc THA tín dụng ngân hàng đều liên quan
đến việc xử lý tài sản đảm bảo theo các hợp đồng tín dụng trƣớc đó, do vậy
hiệu quả THA tín dụng ngân hàng phụ thuộc nhiều vào quyền định đoạt và sự


10
thỏa thuận của tổ chức tín dụng ngân hàng là ngƣời đƣợc THA với ngƣời phải
THA trong những điều kiện cụ thể, nhất là trƣờng hợp ngƣời phải THA là các
doanh nghiệp (Tổ chức tín dụng ngân hàng có thể thỏa thuận với ngƣời phải
THA về việc hoãn THA trong thời hạn nhất định; thỏa thuận về việc khai thác
tài sản kê biên; thỏa thuận về tiến độ thanh toán nợ; mua bán nợ...).
Thứ ba, điều kiện THA và việc xử lý tài sản của ngƣời phải THA gặp
nhiều khó khăn, tốn kém thời gian và chi phí tuân thủ pháp luật.
Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành liên quan đến tín dụng ngân
hàng là hệ quả của việc các bên không thực hiện đúng cam kết theo các hợp
đồng tín dụng trƣớc đó và phát sinh tranh chấp, chủ yếu là khi bên vay không
thực hiện đúng cam kết thanh toán nợ. Mặc dù hầu hết các vụ việc ngƣời phải
THA đều có tài sản thế chấp, bảo lãnh nhƣng đến giai đoạn THA thì việc xử
lý tài sản của ngƣời phải THA cũng gặp nhiều khó khăn, thậm chí có trƣờng
hợp ngƣời phải THA đã phá sản. Theo quy trình THA, để có cơ sở tổ chức
THA tín dụng ngân hàng, CHV phải xác minh điều kiện THA, tuy nhiên vì
đối tƣợng là ngƣời phải THA rất đa dạng, phong phú nên việc xác minh gặp
nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian, nhất là xác minh điều kiện THA của
ngƣời phải THA là doanh nghiệp (CHV phải xác minh vốn, tài sản của doanh
nghiệp; cam kết và trách nhiệm góp vốn của các thành viên; khả năng trách
nhiệm THA theo loại hình doanh nghiệp...) và xử lý tài sản đảm bảo THA.
1.2. Vai trò của thi hành án tín dụng ngân hàng
1.2.1. Thi hành án tín dụng ngân hàng góp phần bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng, ngân hàng
Thực tiễn cho thấy rằng, thông qua THA tín dụng ngân hàng, các phán
quyết, quyết định liên quan đến việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng ngân
hàng đƣợc thực thi, đảm bảo công lý trong đời sống xã hội. Do đó, kết quả
THA tín dụng ngân hàng có thể coi là thƣớc đo mức độ bảo đảm, bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc, các tổ chức, cá nhân liên quan, đặc
biệt là của các tổ chức tín dụng ngân hàng. Điều này cũng có nghĩa là hiệu
quả THA tín dụng ngân hàng đƣợc thể hiện qua kết quả về giá trị thu hồi nợ


11
cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng, vì vậy, trong quá trình THA, nếu các cơ
quan THADS thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì
mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng, ngân
hàng sẽ đạt đƣợc và góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, củng cố niềm tin
của nhân dân đối với công lý, tính nghiêm minh của pháp luật; góp phần giảm
nợ xấu, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
1.2.2. Thi hành án tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao chất lượng
hoạt động xét xử, giải quyết các tranh chấp về tín dụng ngân hàng
Kết quả xét xử, giải quyết tranh chấp của Tòa án và cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền là các bản án, quyết định, trong đó xác định cụ thể quyền, nghĩa
vụ của các đƣơng sự. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn mà các đƣơng sự, đặc
biệt là ngƣời đƣợc THA quan tâm là hiệu lực, hiệu quả thực thi các phán
quyết, quyết định đó trong đời sống xã hội thông qua hoạt động của cơ quan
THADS. Điều này cũng có nghĩa là thông qua các trình tự, thủ tục THA thì
các bản án, quyết định mới có hiệu lực thực tế, đồng thời tính thực tế, khả thi
của các bàn án, quyết định cũng là cơ sở kiểm chứng chất lƣợng hoạt động xét
xử, giải quyết tranh chấp để từ đó Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có
thể nhận diện những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của mình để nâng cao
chất lƣợng xét xử, giải quyết tranh chấp.
Đối với hoạt động THA tín dụng ngân hàng, hiệu lực, hiệu quả THA
phụ thuộc vào khả năng, kết quả xử lý tài sản của ngƣời phải THA, đặc biệt là
các tài sản đảm bảo; tính khả thi và kết quả xử lý tài sản đảm bảo trong quá
trình THA tín dụng ngân hàng là một yếu tố quan trọng khẳng định chất
lƣợng xét xử, giải quyết tranh chấp liên quan đến tín dụng ngân hàng, bởi vì
thực tế cho thấy còn có những bản án, quyết định chƣa chính xác, khách quan,
gây bức xúc cho đƣơng sự và khó khăn cho cơ quan THA.
1.2.3. Thi hành án tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao ý thức
pháp luật, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong xã hội
THA tín dụng ngân hàng liên quan đến nghĩa vụ trả nợ cho các tổ chức
tín dụng ngân hàng theo các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, do đó,


12
việc tổ chức THA đòi hỏi không chỉ ở tính chủ động, trách nhiệm của cơ quan
THADS mà còn cần có sự tích cực, phối hợp có hiệu quả của các cơ quan, tổ
chức liên quan, sự ủng hộ của xã hội. Thông qua quá trình THA, các cá nhân,
tổ chức trong xã hội sẽ nhận thức rõ hơn ý thức, trách nhiệm của mình đối với
việc nghiêm chỉnh chấp hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật,
đảm bảo giá trị công lý trong đời sống xã hội, nhất là khi cơ quan THADS tổ
chức cƣỡng chế đối với những cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, chây ỳ, cản
trở, chống đối việc THA.
Bên cạnh đó, quá trình THA tín dụng ngân hàng còn có ý nghĩa quan
trọng trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm, sự thận trọng của các cá nhân,
tổ chức và các ngân hàng trƣớc khi tham gia các giao dịch, hợp đồng tín dụng
(điều kiện tài sản, sự thận trọng khi thẩm định cho vay, tính khả thi của việc
thực hiện nghĩa vụ...) nhằm giảm thiểu các rủi ro, tranh chấp phát sinh khi
thực hiện các giao dịch, hợp đồng tín dụng cũng nhƣ những khó khăn trong
việc thu hồi nợ.
1.3. Tiêu chí đánh giá hiệu quả THA tín dụng ngân hàng
Trong công tác THADS, nhìn nhận hiệu quả trên cơ sở so sánh kết quả
và mục đích, có thể quan niệm tiêu chí đánh giá hiệu quả THADS là những
tính chất, dấu hiệu để xác định mức độ đạt đƣợc mục đích THADS, hay nói
cách khác đó là những căn cứ đánh giá kết quả, tác động của hoạt động
THADS trong một hoặc nhiều việc THA cụ thể ở từng thời điểm nhất định.
Hiệu quả THADS có thể đƣợc đánh giá theo các tiêu chí khác nhau tùy
thuộc vào cách tiếp cận. Về nguyên tắc, đánh giá hiệu quả THADS cần căn cứ
vào sự so sánh, mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc tối đa so với chi phí đạt
đƣợc kết quả THA ở mức tối thiểu. Tuy nhiên, với tính chất đặc thù của
THADS, việc đánh giá chính xác, toàn diện hiệu quả THADS là một việc rất
khó khăn, phức tạp và tùy vào các tiêu chí đƣợc xác định ban đầu. Thực tiễn
cho thấy hiệu quả THADS không chỉ đánh giá thuần tuý về mặt số học, về
mặt định lƣợng mà còn phải đánh giá cả về mặt định tính, bởi vì với mục đích
đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo trật tự pháp luật tại một


13
địa bàn cụ thể thì chi phí thực tế bỏ ra có thể lớn hơn giá trị thu đƣợc, thậm
chí hiệu quả THA lúc đó không chỉ dừng ở thời điểm kết thúc việc THA mà
còn thể hiện ở hiệu ứng, ảnh hƣởng tích cực sau này về mặt xã hội (ý thức
pháp luật của cá nhân, tổ chức đƣợc nâng cao; sự thay đổi tích cực trong nhận
thức và hành vi của các tổ chức, cá nhân đối với công tác THA hay đối với
một việc THA cụ thể); mức độ giảm thiểu chi phí nguồn lực con ngƣời, thời
gian cho quá trình tổ chức THA...
Từ những phân tích nêu trên, có thể đƣa ra một số tiêu chí cơ bản đánh
giá hiệu quả THA tín dụng ngân hàng nhƣ sau:
- Tiêu chí 1: Mức độ đạt được mục đích, yêu cầu THA
Mục đích của THA tín dụng ngân hàng là đảm bảo thi hành trên thực tế
các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích hợp
pháp của các tổ chức tín dụng ngân hàng.
Khi bản án, quyết định có hiệu lực đƣợc đƣa ra thi hành thì các đƣơng
sự, những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đặc biệt là ngƣời đƣợc
THA đều mong muốn bản án, quyết định đƣợc thi hành nghiêm chỉnh để thu
hồi đƣợc tiền, tài sản. Tuy nhiên, điều kiện THA của ngƣời phải THA và khả
năng thực hiện nghĩa vụ lại có ý nghĩa quyết định đến kết quả THA. Bởi, nếu
ngƣời phải THA chƣa có điều kiện THA thì cho dù cơ quan THADS có tác
động, thuyết phục thì vụ việc vẫn thuộc diện chƣa có điều kiện thi hành, hoặc
trƣờng hợp tuy có điều kiện thi hành nhƣng do ngƣời phải THA chống đối
hay có những yếu tố tác động, ảnh hƣởng tiêu cực khác làm cho việc xử lý tài
sản gặp nhiều khó khăn thì mục đích THA cũng khó đạt đƣợc.
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả THA tín dụng ngân hàng cần phải tính
đến số lƣợng các việc có điều kiện thi hành và tính khả thi của việc xử lý tài
sản để THA.
- Tiêu chí 2: Sự tiến triển khi thực hiện trình tự, thủ tục THA
Khi việc THA đƣợc xác định có điều kiện thi hành, CHV, cơ quan
THADS phải tiến hành áp dụng pháp luật theo các trình tự, thủ tục pháp luật
quy định nhằm thu đƣợc tiền, tài sản cho ngƣời đƣợc THA là các tổ chức tín


14
dụng. Vì vậy, hiệu quả thi hành tín dụng ngân hàng cần dựa trên sự tiến triển,
kết quả thực hiện các trình tự, thủ tục THA. Kết quả và sự tiến triển của hoạt
động THA đƣợc thể hiện qua việc ngƣời phải THA hợp tác hay cản trở, trốn
tránh việc THA; sự thay đổi tích cực trong nhận thức, hành vi, sự ủng hộ,
phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; sự công bằng, bình đẳng
giữa các bên; tính khả thi của việc kê biên, xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh để
thi hành nghĩa vụ; tính chính xác của việc áp dụng pháp luật của CHV trong
quá trình THA (vì nếu áp dụng pháp luật không đúng thì sẽ dẫn đến khiếu nại,
tố cáo làm cho quá trình THA bị gián đoạn hoặc bị hủy)...
Do đó, để đáp ứng tiêu chí này, CHV phải nắm vững quy định pháp
luật, thƣờng xuyên cập nhật thông tin, điều kiện của ngƣời phải THA cũng
nhƣ những mong muốn của các bên liên quan ở từng thời điểm nhất định để
có thể lựa chọn biện pháp, cách thức áp dụng pháp luật phù hợp với thực tế
diễn biến của quá trình THA (ví dụ nhƣ: sự thỏa thuận của đƣơng sự về việc
nhận tài sản để THA; thỏa thuận về việc giảm một phần nghĩa vụ THA)...
- Tiêu chí 3: Giá trị thực tế thu được trong quá trình THA
Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả THA tín
dụng ngân hàng là phải căn cứ vào những kết quả thực tế do tác động của hoạt
động THA mang lại. Quá trình THA, cơ quan THADS phải giành các nguồn
lực nhất định (nguồn lực con ngƣời; trang thiết bị, phƣơng tiện làm việc; chi
phí cho việc xác minh, thẩm định tài sản; thù lao cho các cơ quan, đơn vị phối
hợp cƣỡng chế), do đó khi kết thúc một giai đoạn hay một việc THA hoặc xử
lý xong tài sản đảm bảo...thì phải xác định đƣợc các kết quả đạt đƣợc về giá
trị định lƣợng qua quá trình THA đó: giá trị tiền, tài sản thu đƣợc sau khi trừ
các chi phí thực tế và các chi phí pháp luật quy định (phí THA; chi phí thẩm
định giá...). Với tiêu chí này, hiệu quả THA đƣợc thể hiện ở kết quả THA về
giá trị, qua đó có thể xác định chính xác tỷ lệ (%) về giá trị mà ngƣời phải
THA đã thi hành đƣợc cho ngƣời đƣợc THA. Hay nói cách khác tiêu chí này
là cơ sở đánh giá hiệu quả THA tín dụng ngân hàng thông qua mức độ, kết


15
quả thực hiện nghĩa vụ mang tính định lƣợng về giá trị của ngƣời phải THA
theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành.
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả THA tín dụng ngân hàng
Hiệu quả THADS nói chung, hiệu quả THA tín dụng ngân hàng nói
riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nhất định. Từ thực
tiễn THA tín dụng ngân hàng, có thể nhận diện một số yếu tố cơ bản sau đây
ảnh hƣởng đến hiệu quả THA tín dụng ngân hàng:
Thứ nhất, hệ thống quy phạm pháp luật
Hệ thống quy phạm pháp luật là cơ sở cho hoạt động thi hành nhƣng
cũng là yếu tố ảnh hƣởng, chi phối mang tính quyết định đối với hiệu quả
THADS nói chung, THA tín dụng ngân hàng nói riêng. Hệ thống quy phạm
pháp luật là cơ sở cho CHV, cơ quan THADS tổ chức THA đƣợc quy định
trong Luật THADS, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính
phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS và
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan...Vì vậy, để hoạt động THA có
hiệu lực, hiệu quả thì các quy định pháp luật phải thống nhất, đồng bộ, minh
bạch và khả thi. Điều này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải không
ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật, kịp thời bãi bỏ các quy định không
khả thi và bổ sung các quy định mới phù hợp với tình hình, yêu cầu công tác
THA (Ví dụ nhƣ cần sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành về đăng ký tài sản,
đăng ký giao dịch bảo đảm, xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự trong
THADS thực sự có tính khả thi và đảm bảo tính nghiêm minh của hoạt động
THA).
Thứ hai, năng lực tổ chức THA của CHV
Theo quy định của Luật THADS, CHV là ngƣời có thẩm quyền tổ chức
THA với nhiệm vụ, quyền hạn là: Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc đƣợc
phân công; ra các quyết định về THA theo thẩm quyền; Thi hành đúng nội
dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự,
thủ tục THA, bảo đảm lợi ích của nhà nƣớc, quyền, lợi ích hợp pháp của


16
đƣơng sự, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh
chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp CHV...
Các nhiệm vụ, quyền hạn nhƣ vậy đã khẳng định vai trò trung tâm của
CHV trong việc đảm bảo tính khả thi, hiệu quả thi hành các bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật, hay nói cách khác là hiệu quả THA phụ thuộc chủ
yếu vào năng lực tổ chức THA của CHV (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,
phẩm chất chính trị, đạo đức, khả năng áp dụng chính xác pháp luật trong
thực thi nhiệm vụ...).
Thực tế thời gian qua cho thấy rằng số việc các cơ quan THADS phải
tổ chức thi hành ngày càng tăng, nhất là có nhiều việc tín dụng ngân hàng có
giá trị phải thi hành rất lớn, phức tạp, do đó để đảm bảo hiệu quả THA tín
dụng ngân hàng thì đội ngũ CHV cần đƣợc đào tạo, tập huấn thƣờng xuyên để
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh, trách nhiệm và phải đƣợc
bố trí, phân công tổ chức THA phù hợp với các ngạch CHV (sơ cấp, trung cấp
và cao cấp). Ngoài ra, để đảm bảo năng lực tổ chức THA của CHV thì việc
lựa chọn, bổ nhiệm CHV cần đảm bảo đúng các điều kiện theo quy định để
quá trình tổ chức THA tín dụng ngân hàng thực sự là quá trình thực thi công
lý, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, trong đó thƣớc đo quan
trọng nhất là giá trị tiền, tài sản thu hồi cho các tổ chức tín dụng, góp phần
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của CHV, cơ quan
THADS
Quá trình tổ chức THA là quá trình CHV phải đối mặt với nhiều khó
khăn, áp lực nhƣ: yêu cầu tuân thủ pháp luật, sự cản trở, chống đối của
ngƣời phải THA; sự tác động, chi phối của các cơ quan, tổ chức liên
quan...Do đó, để CHV thực sự độc lập, tuân thủ pháp luật trong quá trình
THA cũng nhƣ đảm bảo hiệu quả THA thì các điều kiện đảm bảo cho hoạt
động của CHV cũng có ý nghĩa quan trọng. Trong thời gian qua, CHV các
cơ quan THADS đã đƣợc trang bị tƣơng đối đầy đủ cơ sở vật chất, trang


17
thiết bị, phƣơng tiện làm việc (ô tô, xe máy, công cụ hỗ trợ, trang phục ....)
và chế độ đãi ngộ nhất định để đảm bảo thực thi nhiệm vụ.
Tuy nhiên, do THA tín dụng ngân hàng liên quan đến các việc THA có
giá trị lớn, tính chất phức tạp, khó khăn ngày càng nhiều, việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của CHV phụ thuộc quá nhiều vào sự phối hợp, hỗ trợ
của các cơ quan, tổ chức liên quan, vì vậy để đảm bảo hiệu quả THA tín dụng
ngân hàng thì các cơ quan THADS quan tâm hơn nữa đến các điều kiện đảm
bảo cho hoạt động của CHV, đặc biệt là về kinh phí phục vụ cho việc xử lý tài
sản; tăng thẩm quyền cho CHV; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp của các
cơ quan, tổ chức liên quan.
Thứ tư, ý thức chấp hành pháp luật của đương sự và cơ quan, tổ chức,
cá nhân liên quan
Yêu cầu chấp hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật là nguyên tắc có tính hiến định, do đó, hiệu quả THA phụ thuộc
nhiều vào ý thức chấp hành pháp luật của các đƣơng sự, cơ quan, tổ chức, cá
nhân liên quan. Thực tiễn cho thấy rằng các bản án, quyết định đƣợc đƣa ra
thi hành là kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong một thời
gian nhất định, theo đó các đƣơng sự liên quan đã phải tốn nhiều thời gian,
chi phí cho quá trình tố tụng, do đó đến giai đoạn THA nếu các đƣơng sự
nhận thức đầy đủ đƣợc trách nhiệm, nghĩa vụ THA và tự nguyện, tích cực
phối hợp thi hành thì sẽ tạo thuận lợi, đảm bảo hiệu quả THA.
Tuy nhiên, quá trình THADS, đặc biệt là THA tín dụng ngân hàng
liên quan, ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền tài sản và giá trị phải thi hành lớn
nên tâm lý, thái độ của đƣơng sự đối với việc THA thƣờng có tính đối ngƣợc
nhau. Các tổ chức tín dụng, ngân hàng là ngƣời đƣợc THA mong muốn
nhanh chóng thu hồi đƣợc nợ, trong khi ngƣời phải THA mặc dù có điều
kiện THA nhƣng thƣờng có tâm lý trì hoãn, cản trở, tìm mọi cách kéo dài
quá trình THA. Do đó, để nâng cao hiệu quả THA tín dụng ngân hàng thì
CHV không chỉ làm tốt công tác xác minh, áp dụng các biện pháp THA phù
hợp, đúng pháp luật mà còn chú ý làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến


18
pháp luật để đƣơng sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có ý thức, trách
nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, giảm thiểu sự cản trở, can thiệp
trái pháp luật cũng nhƣ khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức THA.
1.5. Lƣợc sử hình thành và phát triển của pháp luật về thi hành án
tín dụng ngân hàng ở Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về THA tín dụng ngân
hàng cũng chính là quá trình hình thành và phát triển của pháp luật THADS ở
nƣớc ta, có thể đƣợc khái quát qua các thời kỳ sau:
1.5.1. Thời kỳ từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1989
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trƣớc khi có Pháp
lệnh THADS năm 1989, là giai đoạn mà tổ chức hoạt động THADS chƣa
đƣợc dựa trên một văn bản pháp luật chính thức có hiệu lực pháp lý cao do cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành, thậm chí có thời kỳ chỉ căn cứ vào
Điều lệ tạm thời về công tác Chấp hành án ban hành kèm theo Công văn số
827/CV ngày 23/10/1979 của TANDTC. Công tác THADS đặt dƣới sự chỉ
đạo trực tiếp của Toà án. Tuy nhiên, về vấn đề quản lý Nhà nƣớc, hình thức tổ
chức và pháp luật THADS có thể đƣợc chia thành các giai đoạn 1945 -1949,
1950 - 1980, 1981 - 1989.
Giai đoạn 1945 đến 1949: Trƣớc cách mạng tháng Tám, ở nƣớc ta đã
tồn tại chế định Thừa phát lại. Căn cứ Luật tố tụng dân sự ban hành theo Nghị
định ngày 16/3/1910 của Toàn quyền Đông Dƣơng. Thừa phát lại là công lại
do Bộ trƣởng Bộ Tƣ pháp bổ nhiệm và quản lý, hành nghề trên cơ sở quy
định của pháp luật, đƣợc hƣởng thù lao của khách hàng theo biểu giá quy định
và không có quyền từ chối thi hành nhiệm vụ khi đƣợc yêu cầu. Trong quá
trình thực thi nhiệm vụ, Thừa phát lại chịu sự chỉ đạo trực tiếp của những
công chức có trách nhiệm của Tòa án nhƣ: Chƣởng lý, biện lý, thẩm phán, lục
sự... Tổ chức Thừa phát lại chủ yếu tồn tại, hoạt động ở các thành phố lớn,
còn ở các vùng nông thôn việc THA do chính quyền cơ sở đảm nhiệm.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời, hệ thống cơ quan Tƣ pháp mới đƣợc thiết lập trong cả nƣớc.


19
Trên cơ sở Sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc cho
giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban
hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn quốc, nếu những đạo luật ấy
“không trái với các nguyên tắc độc lập của Nhà nƣớc Việt Nam và chính thể
dân chủ cộng hoà”. Chế định thừa phát lại tiếp tục đƣợc duy trì. Tại Nghị định
số 37 ngày 01/12/1945 về tổ chức Bộ Tƣ pháp, phòng giám đốc Hộ vụ đƣợc
thành lập, trong đó có Ban công lại thực hiện nhiệm vụ quản lý tổ chức Thừa
phát lại.
Sắc lệnh số 13 ngày 20/11/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt
Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán đã đặt
cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức THADS Việt Nam. Sắc lệnh quy định Ban
Tƣ pháp xã có quyền “thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên” bao
gồm các bản án, quyết định của Tòa án. Tại Điều 3 của Sắc lệnh số 130 ngày
19/7/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định:
“Trong các xã, thị xã hoặc khu phố, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thƣ ký đều chịu
trách nhiệm thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các Tòa án. Bản án
ấy sẽ tuỳ từng việc, chỉ định một nhân viên để giao cho việc thi hành lệnh,
mệnh lệnh hoặc án” ở những nơi nào đã có Thừa phát lại riêng, thì đƣơng sự
có quyền nhờ thừa phát lại riêng thi hành mệnh lệnh”.
Nhƣ vậy, tổ chức THADS đã đƣợc hình thành ngay trong những năm
đầu sau cách mạng tháng Tám thành công và tồn tại dƣới hai hình thức là:
Thừa phát lại và Ban Tƣ pháp xã. Tuy tồn tại hai lực lƣợng THA, nhƣng việc
THA dù do Thừa phát lại hay Ban Tƣ pháp xã tiến hành đều thể hiện quyền
lực Nhà nƣớc và đƣợc bảo đảm bằng sức mạnh cƣỡng chế của Nhà nƣớc.
Về trình tự THA, Thông tƣ số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ trƣởng
Bộ Tƣ pháp về việc THA Hình và Hộ đã quy định cụ thể những nguyên tắc
chấp hành, thể thức chấp hành, cách thức thi hành các bản án và quyết định
của Tòa án.
Giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1980: Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về “cải cách bộ máy tƣ pháp và luật tố tụng“


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×