Tải bản đầy đủ

Cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KIỀU THỊ THU THẢO

ĐỀ TÀI
CƠ CHẾ PHÁP LÝ THÚC ĐẨY VÀ BẢO ĐẢM
QUYỀN TRẺ EM Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KIỀU THỊ THU THẢO

ĐỀ TÀI
CƠ CHẾ PHÁP LÝ THÚC ĐẨY VÀ BẢO ĐẢM
QUYỀN TRẺ EM Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Thái Vĩnh Thắng

Hà Nội - 2017


LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được Luận văn thạc sĩ, lời đầu tiên, em xin chân thành
cảm ơn tới:
Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học và Thư viện Trường Đại học Luật Hà
Nội đã tạo điều kiện giúp cho em trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Luật Hiến pháp và
Luật Hành chính nói chung và các thầy, cô giáo trong tổ bộ môn Luật Hiến pháp
nói riêng, những người đã giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập.
Đặc biệt, em xin cảm ơn GS.TS. Thái Vĩnh Thắng, người đã tận tình hướng
dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành Luận văn thạc sĩ.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày…..tháng….năm 2017
Học viên

Kiều Thị Thu Thảo


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,


đƣợc trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Kiều Thị Thu Thảo


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TRẺ EM, CƠ
CHẾ PHÁP LÝ THÚC ĐẨY VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM ............................6
1.1. Khái niệm quyền trẻ em........................................................................................6
1.2. Khái niệm cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ...........................11
1.3. Cơ chế pháp lý quốc tế thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ...............................16
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÁP LÝ THÚC ĐẨY VÀ BẢO ĐẢM
QUYỀN TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.........................................................25
2.1. Ƣu điểm của cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở Việt Nam
hiện nay .....................................................................................................................25
2.2. Hạn chế của cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở Việt Nam hiện
nay....... ......................................................................................................................52
2.3. Cam kết quốc tế và thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam ...........................60
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ THÚC ĐẨY VÀ BẢO ĐẢM
QUYỀN TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.........................................................67
3.1. Quan điểm hoàn thiện cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở Việt
Nam hiện nay ............................................................................................................67
3.2. Các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở
Việt Nam hiện nay ....................................................................................................71
KẾT LUẬN ...............................................................................................................81


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của nhân loại cũng nhƣ của mỗi quốc gia, dân tộc,
quyền con ngƣời luôn là vấn đề bức xúc và là mục tiêu phấn đấu của tất cả loài
ngƣời tiến bộ. Có thể nói, những thành tựu pháp lý quốc tế và pháp luật của các
quốc gia về quyền con ngƣời hiện nay là sản phẩm của cuộc đấu tranh hết sức lâu
dài, gian khổ của toàn thể nhân loại tiến bộ chống áp bức, bất công, xây dựng cuộc
sống tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho mỗi con ngƣời.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, đƣờng lối nhất quán của Đảng, Nhà nƣớc
Việt Nam đặt con ngƣời ở vị trí trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, trong
đó thúc đẩy và bảo vệ quyền con ngƣời là nhân tố quan trọng để phát triển bền
vững, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc...
Ngày 26/01/1990 Việt Nam đã ký công ƣớc về quyền trẻ em và phê chuẩn Công
ƣớc này ngày 20/02/1990. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia
thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ƣớc. Tháng 09/1990, Việt Nam đã tham gia
Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới vì trẻ em và tháng 03/1991 đã ký Tuyên bố thế giới vì
sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em. Việc phê chuẩn Công ƣớc về quyền trẻ
em 1989 đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam,
đồng thời cũng đặt ra những nghĩa vụ ràng buộc Việt Nam đối với việc thực thi
Công ƣớc.
Ở Việt Nam, việc đảm bảo và thực hiện quyền trẻ em còn nhiều bất cập, trẻ em
nhất là trẻ em ở khu vực nông thôn và miền núi vẫn đang chịu nhiều thiệt thòi trong
cuộc sống, chƣa đƣợc hƣởng đầy đủ các quyền của mình. Vì vậy, đặt vấn đề nghiên
cứu góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng nhƣ đảm bảo ngày một tốt
hơn quyền của trẻ em là việc làm hết sức cần thiết. Từ nhận thức trên tôi đã chọn đề
tài: “Cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở Việt Nam” làm đề tài luận
văn thạc sỹ luật học.


2

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ngày càng nhận đƣợc sự quan tâm
của Đảng, Nhà nƣớc và toàn dân. Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học,
tôi thấy có không ít các công trình nghiên cứu về vấn đề quyền trẻ em. Một số bài
viết trên tạp chí, sách nhƣ:
- Chu Mạnh Hùng, “Công ƣớc quyền trẻ em năm 1989 – cơ sở cho việc bảo vệ
quyền trẻ em”, Tạp chí luật học số 3 tháng 05,06 – 2003;
- Viện khoa học pháp lý – Bộ Tƣ Pháp, “Bảo vệ trẻ em trong pháp luật Việt
Nam” hoặc “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở
Việt Nam”;
- Trung tâm thông tin thƣ viện và nghiên cứu khoa học – Văn phòng Quốc hội
và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, “Quyền của phụ nữ và trẻ em trong các văn bản
pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam”.
Các công trình nghiên cứu trên đây cũng góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về
cơ chế thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em. Nhƣng vẫn còn nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ
khi Luật Trẻ em năm 2016 mới đƣợc ban hành và có hiệu lực từ 01/06/2017. Với đề
tài: “Cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay”, hy
vọng luận văn sẽ phản ánh đƣợc những nội dung mới nhằm đáp ứng đòi hỏi của
thực tiễn bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là cơ chế thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em
ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn đƣợc xác định tập trung nghiên cứu những vấn
đề cụ thể nhƣ sau:


3

- Lý luận chung về quyền trẻ em, cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ
em ở Việt Nam.
- Thực trạng về cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở Việt Nam
hiện nay.
- Đề ra phƣơng hƣớng hoàn thiện cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ
em ở Việt Nam hiện nay.
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là bƣớc đầu xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn
cũng nhƣ đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo
đảm quyền trẻ em, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ chế này.
Để thực hiện mục tiêu đó, luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền trẻ em trên nền tảng quyền con
ngƣời. Khẳng định quyền trẻ em là quyền của một đối tƣợng đặc thù và phải có cơ
chế bảo vệ và từ đó xác lập cơ sở lý luận để làm rõ cơ chế pháp lý bảo vệ quyền trẻ
em.
- Luận văn tập trung làm rõ thực tiễn hoạt động của cơ chế pháp lý thúc đẩy và
bảo đảm quyền trẻ em ở Việt Nam từ đó tìm ra những hạn chế của cơ chế này.
- Trên cơ sở tìm ra nguyên nhân của những bất cập và hạn chế, luận văn đề xuất
các quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp về việc hoàn thiện pháp luật, các thiết
chế bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở của phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
về chiến lƣợc con ngƣời và mục tiêu vì trẻ em.


4

Những phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể đƣợc sử dụng trong luận văn là các
phƣơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, phƣơng
pháp lịch sử, tƣ duy lô-gíc để làm rõ cơ chế pháp lý bảo vệ quyền trẻ em ở Việt
Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Những giải pháp trình bày trong luận văn có thể tham khảo và áp dụng trong
việc hoàn thiện cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em trên thực tế.
Ngoài ra luận văn còn có thể đƣợc coi nhƣ một công trình chuyên khảo về bảo
vệ quyền trẻ em, có thể đƣợc sử dụng để tham khảo trong quá trình học tập, nghiên
cứu, giảng dạy về quyền trẻ em.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm có:
-

Phần mở đầu

-

Chƣơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền trẻ em và cơ chế pháp lý
thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em.

-

Chƣơng II: Thực trạng cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở
Việt Nam hiện nay.

-

Chƣơng III: Hoàn thiện cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở
Việt Nam.

8. Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu của Luận văn, đề tài xác định các câu hỏi
nghiên cứu của Luận văn là:
- Quyền trẻ em là gì?


5

- Cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em là gì và thế nào là cơ chế
pháp lý quốc tế thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em?
- Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định nhƣ thế nào về thúc đẩy và bảo đảm
quyền trẻ em? Những quy định đó có những ƣu điểm và hạn chế gì? Và hạn chế
thì cần khắc phục nhƣ thế nào ?
- Các thiết chế thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay nhƣ thế
nào ? Những thiết chế đó có những ƣu điểm và hạn chế gì? Và hạn chế thì cần
khắc phục nhƣ thế nào ?


6

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TRẺ EM,
CƠ CHẾ PHÁP LÝ THÚC ĐẨY VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM
1.1.

Khái niệm quyền trẻ em

1.1.1. Định nghĩa trẻ em
Từ lâu trẻ em đã đƣợc coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thƣơng
nhất và đƣợc các nhà nƣớc, các cộng đồng quan tâm bảo vệ [14, tr.328]. Trẻ em
đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣ: Xã hội học, Tâm lý học, Luật
học…
Dƣới góc độ xã hội học, trẻ em là một bộ phận của cơ cấu xã hội [16, tr.8].
Dựa vào tiêu chí đặc điểm nhân khẩu, kết cấu xã hội đƣợc chia thành nam và nữ,
ngƣời già ngƣời trẻ, ngƣời lớn trẻ em, trình độ dân trí cao hay thấp. Theo tiêu chí
này, kết cấu xã hội đƣợc phân chia căn cứ vào giới tính, trình độ văn hóa, mức độ
đóng góp cho xã hội.
Dƣới góc độ tâm lý học, xác định trẻ em căn cứ vào độ tuổi và yếu tố tâm lý
trong từng giai đoạn phát triển. Nhìn chung các nhà tâm lý học trẻ em trên thế giới
đều thống nhất cách phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em nhƣ sau [28,
tr.67]:
-

Giai đoạn từ 0-1,5 tuổi: Giai đoạn này trẻ em đƣợc đáp ứng nhanh chóng mọi
nhu cầu, cần đƣợc chăm sóc thông qua ngƣời mẹ. Trẻ em cảm nhận đƣợc và
dần dần có niềm tin vào thế giới xung quanh.

-

Giai đoạn từ 1,5-3 tuổi: Trẻ em bắt đầu đi và tự định hƣớng cho mình, hình
thành sự tự chủ, muốn tỏ ra độc lập.

-

Giai đoạn từ 3-6 tuổi: Trẻ em ở độ tuổi này hình thành năng lực làm chủ
những sự lựa chọn mới. Tình cảm hồn nhiên dễ yêu dễ giận, đồng thời với
khả năng thực hiện phẩm chất tự chủ là một phần của ý thức đứa trẻ về sự


7

hình thành cá tính của nó. Tƣơng ứng với giai đoạn này là sự lựa chọn giữa
chủ động sáng tạo và cảm giác có lỗi.
-

Giai đoạn từ 6-12 tuổi: Giai đoạn này trẻ em háo hức sẵn sàng học nhiều cái
mới và trẻ em đến trƣờng ở độ tuổi này. Vì vậy thái độ của ngƣời lớn, của
môi trƣờng giáo dục sẽ ảnh hƣởng tới sự phát triển của đứa trẻ.

-

Giai đoạn từ 13-18 tuổi: Đây là giai đoạn chƣa thành niên, ý thức về mình
bƣớc đầu hình thành. Tôi là ai? Mình sẽ là ngƣời nhƣ thế nào? Giai đoạn này
trẻ em cố gắng khẳng định mình nhƣ một ngƣời độc lập, sẵn sàng hành động
nhƣ ngƣời lớn.
Việc phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em là căn cứ vào sự phát triển

của thể chất, trí tuệ và tâm lý để từ đó cha mẹ, nhà trƣờng và xã hội có thể hiểu rõ
hơn về trẻ em và có các biện pháp giáo dục phù hợp. Vì vậy theo các nhà tâm lý học
giai đoạn kết thúc của trẻ em là tuổi 18. Bởi vì độ tuổi này đã có sự phát triển đầy
đủ của thể chất, trí tuệ, tâm hồn và đã làm chủ đƣợc suy nghĩ đƣa ra đƣợc những
hành vi xử sự phù hợp với xã hội, đạo đức và pháp luật.
Về phƣơng diện pháp lý, câu hỏi “Trẻ em là gì?” đã đƣợc đặt ra, tuy nhiên
đây là câu hỏi với cách tiếp cận không nhân văn, bởi đơn giản trẻ em cũng là một
con ngƣời. Vì vậy câu hỏi sẽ là “Trẻ em là ai?” theo truyền thống trẻ em đƣợc định
nghĩa nhƣ là một sự so sánh phủ định: trẻ em là những ngƣời chƣa trƣởng thành
[13, tr.33]. Đó là một định nghĩa hàm chứa các yếu tố tôn giáo, văn hóa, thể chất và
niềm tin, định nghĩa ấy đặt ra hai vấn đề: lúc bắt đầu và khi kết thúc giai đoạn trẻ
em để trở thành ngƣời trƣởng thành.
Về thời điểm bắt đầu của trẻ em, chúng ta thấy trong lời nói đầu của Tuyên
ngôn về quyền trẻ em năm 1959 có quy định: “Trẻ em do còn non nớt về thể chất và
trí tuệ, cần phải đƣợc bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt
pháp lý trƣớc cũng nhƣ sau khi ra đời”. Quy định này đã xác định lúc bắt đầu của
trẻ em khi còn là bào thai trong bụng mẹ và đƣợc bảo vệ về mặt pháp lý, tuy nhiên,


8

Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 chỉ là một tuyên bố mang tính chất khuyến
nghị và theo pháp luật quốc tế, tuyên ngôn không có giá trị ràng buộc với các quốc
gia. Vì vậy pháp luật của các quốc gia không bị ràng buộc bởi quy định của Tuyên
ngôn về quyền trẻ em năm 1959.
Theo Công ƣớc về quyền trẻ em năm 1989, trẻ em chính thức có quyền và
đƣợc bảo vệ từ thời điểm sinh ra với quyền đƣợc đăng ký khai sinh. Quyền khai
sinh là quyền đầu tiên để khẳng định mỗi trẻ em là một cá nhân riêng biệt. Nhƣ vậy,
thời điểm bắt đầu của trẻ em xét về phƣơng diện pháp lý đƣợc xác định theo Công
ƣớc về quyền trẻ em năm 1989 cũng giống nhƣ quy định của hầu hết pháp luật các
quốc gia trên thế giới. Sau khi sinh ra, trẻ em đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng và đƣợc
pháp luật bảo vệ và trong từng giai đoạn phát triển có những thuật ngữ tƣơng ứng
đƣợc sử dụng với trẻ em: Trẻ sơ sinh đƣợc hiểu là những đứa trẻ ở giai đoạn đầu
tiên sau khi sinh ra và còn non nớt về mọi phƣơng diện; Nhi đồng là trẻ em ở giai
đoạn từ 4 đến 10 tuổi; Thiếu niên là trẻ em ở giai đoạn từ 10 đến 14 tuổi [22,
tr.1571].
Về thời điểm kết thúc giai đoạn trẻ em, vấn đề này pháp luật của các quốc
gia quy định cũng rất khác nhau. Đa số các quốc gia trên thế giới quy định đủ 18
tuổi là kết thúc giai đoạn trẻ em, có một số quốc gia lại định nghĩa trẻ em là những
ngƣời dƣới 20 tuổi nhƣ Thụy Sỹ. Ở Việt Nam, theo quy định của Điều 1 Luật Trẻ
em năm 2016 thì trẻ em đƣợc định nghĩa là ngƣời dƣới 16 tuổi. Độ tuổi đƣợc coi là
trẻ em trong pháp luật Việt Nam thấp hơn so với quy định trong Điều 1 Công ƣớc
về quyền trẻ em năm 1989. Tuy nhiên, điều này không bị coi là trái với Công ƣớc vì
Điều 1 Công ƣớc này có quy định: “trẻ em là những ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ khi
pháp luật quốc gia quy định khác”. Nhƣ vậy, đây là quy định mở, trong đó mức trần
tuổi 18 đƣợc coi là mức tiêu chuẩn nhƣng không phải cố định, bắt buộc với mọi
quốc gia [14, tr.333].
Luật Trẻ em năm 2016 vẫn giữ độ tuổi của trẻ em là dƣới 16 nhƣ quy định
của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhƣng đã không còn giới hạn trẻ em


9

là công dân Việt Nam. Điều này đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Công ƣớc về
quyền trẻ em, các điều ƣớc quốc tế và quy định về quyền con ngƣời, quyền công
dân trong Hiến pháp năm 2013. Hơn nữa, quy định này vừa bảo đảm quyền của trẻ
em là công dân Việt Nam và ghi nhận các quyền trẻ em đồng thời là quyền con
ngƣời mà không phân biệt quốc tịch đối với trẻ em là ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại
Việt Nam, trẻ em không quốc tịch cƣ trú tại Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra “Trẻ em là ai?” dƣới góc độ pháp lý đã đƣợc trả lời, đó là
những ngƣời chƣa trƣởng thành có thời điểm bắt đầu là khi sinh ra và giai đoạn kết
thúc nhƣ theo Điều 1 của Công ƣớc về quyền trẻ em. Chúng ta có thể thấy, dƣới góc
độ tâm lý và pháp lý có điểm khác biệt ở chỗ: dƣới góc độ pháp lý thì việc tiếp cận
trẻ em với tƣ cách là chủ thể có địa vị pháp lý. Trẻ em là những ngƣời có quyền và
là đối tƣợng bảo vệ của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Pháp luật quốc gia giới hạn tuổi và xác lập địa vị pháp lý của trẻ em là dựa
trên điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của từng quốc gia. Vì vậy, giới
hạn tuổi và địa vị pháp lý của trẻ em ở các quốc gia khác nhau cũng sẽ khác nhau.
1.1.2. Định nghĩa quyền trẻ em
Quyền trẻ em đã đƣợc các quốc gia và cộng đồng quốc tế công nhận thông
qua các văn kiện pháp lý quốc tế. Tuy nhiên việc định nghĩa quyền trẻ em lại không
đơn giản bởi nó đƣợc tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
Dƣới góc độ tình thƣơng, trẻ em đƣợc coi nhƣ những chủ thể phải đƣợc
hƣởng tình thƣơng của xã hội, biểu hiện ở những hành động nhân ái, kêu gọi ý thức
trách nhiệm và bảo vệ trẻ em khỏi đói nghèo, bệnh tật. Những hành động này có tác
động mạnh đến lòng trắc ẩn của mọi ngƣời, nhƣng nó chỉ có tác dụng tức thời. Nói
cách khác những hành động ấy thƣờng mang tính giai đoạn không liên tục. Nhƣ
vậy, theo cách tiếp cận này trẻ em là chủ thể đƣợc hƣởng sự ƣu ái của xã hội nhƣng
mang tính chất thụ động và phụ thuộc hoàn toàn vào ngƣời lớn, vào xã hội và trẻ em
là chủ thể tiếp nhận. Mặt khác, theo cách này thì những nguyên nhân ảnh hƣởng tới


10

cuộc sống của trẻ em và những giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ
em không đƣợc đề cập đến. Cách tiếp cận này mang tính đạo đức hơn là tính pháp
lý.
Dƣới khía cạnh nhân đạo, trẻ em đƣợc coi là đối tƣợng cần phải bảo vệ, đặc
biệt khi trẻ em rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm. Quan niệm này khác với quan niệm
tình thƣơng là ở tính chất của vấn đề mà nó giải quyết đó là trƣờng hợp khẩn cấp.
Tuy nhiên điểm giống nhau là cách thức giải quyết vấn đề. Trong cả hai quan niệm,
các hành động chỉ nhằm chấm dứt tức thời những nỗi đau khổ và nguy cơ mà trẻ em
phải chịu.
Theo tôi, cách tiếp cận này chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ trẻ em khỏi
tình trạng nguy hiểm. Vì vậy nó không phản ánh đƣợc đầy đủ đối tƣợng đƣợc
hƣởng quyền là tất cả trẻ em. Hơn nữa, điểm hạn chế của quan niệm này là ở chỗ:
họ không tìm nguyên nhân gây ra nguy hiểm của trẻ em và việc ngăn chặn phòng
ngừa. Do đó, quyền trẻ em dƣới hai khía cạnh tình thƣơng và nhân đạo mặc dù rất
cần thiết trong cuộc sống của trẻ em nhƣng mới chỉ dừng lại ở sự chia sẻ của ngƣời
lớn đối với trẻ em.
Quan niệm phát triển cho rằng trẻ em phải có các điều kiện thích hợp để phát
triển và trƣởng thành, trở thành những công dân có ích, có năng lực nhƣ ngƣời lớn.
So với các quan niệm trên, nét khác biệt và cũng là điểm tích cực của quan niệm
phát triển là ở chỗ: cần phải có, phải tạo điều kiện, môi trƣờng cho sự phát triển của
trẻ em.
Xuất phát từ bản chất và nội dung, quyền trẻ em đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Quyền trẻ em là tất cả những gì cần có để trẻ em đƣợc sống và phát triển một cách
lành mạnh và an toàn.
Định nghĩa này, theo tôi đã bao quát đƣợc các khía cạnh liên quan đến quyền
trẻ em, cụ thể là:


11

Thứ nhất, trẻ em là nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng và đƣợc tất cả mọi ngƣời,
cộng đồng xã hội và pháp luật bảo vệ. Vì vậy những nguy cơ có thể ảnh hƣởng tới
trẻ em và giải pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em sẽ đƣợc xem xét, đề cập nhằm
mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ em.
Thứ hai, trẻ em đƣợc gia đình, xã hội chăm sóc, nuôi dƣỡng và tạo điều kiện
để phát triển. Đặc biệt dƣới góc độ pháp lý thì việc tiếp cận với trẻ em phải dựa trên
cơ sở quyền của trẻ em.
Thứ ba, để bảo đảm quyền trẻ em và trẻ em đƣợc sống, phát triển một cách
an toàn, lành mạnh luôn cần có một cơ chế pháp lý trên phƣơng diện quốc tế cũng
nhƣ ở mỗi quốc gia. Bởi vì quyền trẻ em là một giá trị phổ biến đƣợc cộng đồng
quốc tế thừa nhận nhƣng thực hiện và bảo đảm quyền trẻ em lại diễn ra ở các quốc
gia. Vì vậy cơ chế pháp lý bảo vệ quyền trẻ ở từng quốc gia cũng luôn phải phù hợp
với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia.
1.2.

Khái niệm cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em

1.2.1. Định nghĩa cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em
Quyền trẻ em là quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thƣơng và luôn cần đƣợc
bảo vệ. Hơn nữa bản thân trẻ em chƣa có đủ khả năng để thực hiện tất cả các quyền
của mình, do đó quá trình thực hiện quyền trẻ em phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố
nhƣ quy định của pháp luật, cơ chế đảm bảo thực hiện cũng nhƣ mức độ quan tâm
của xã hội. Vì vậy để cho quyền trẻ em trở thành hiện thực phải có cơ chế pháp lý
bảo vệ quyền trẻ em.
Thuật ngữ “Cơ chế” thƣờng đƣợc gắn với những thuật ngữ khác nhau tạo
nên những khái niệm chuyên môn của các lĩnh vực khoa học khác nhau. Chẳng hạn,
kinh tế học có “cơ chế kinh tế”, chính trị học có “cơ chế thực hiện quyền lực” … Về
nội dung, thuật ngữ cơ chế đƣợc giải thích với những cách hiểu khác nhau. Trong
tiếng Anh, thuật ngữ này đƣợc giải thích với hai nghĩa: “Cơ chế - mechanism là hệ
thống các bộ phận hoạt động cùng nhau trong một cỗ máy” và “Cơ chế là một quá


12

trình tự nhiên hoặc thiết lập nhờ đó một hoạt động nào đó đƣợc tiến hành hoặc đƣợc
thực hiện” [25, tr.1148]. Trong tiếng Việt, cơ chế đƣợc hiểu là “cách thức theo đó
một quá trình đƣợc thực hiện” [31, tr.207].
Nhƣ vậy, cơ chế luôn đƣợc giải thích gắn liền với hoạt động của một hệ
thống. Do đó, thuật ngữ cơ chế bao gồm hai nội dung đó là: Cấu trúc của một chỉnh
thể gồm nhiều bộ phận khác nhau hợp thành có mối liên hệ mật thiết với nhau và
phƣơng thức hoạt động của chỉnh thể đó nhằm đạt đƣợc một kết quả nhất định.
Trong khoa học pháp lý quốc tế, khi xem xét về mối quan hệ giữa pháp luật
quốc tế và pháp luật quốc gia, thì quan điểm chung đều thống nhất rằng: pháp luật
quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật độc lập và giữa chúng có
mối quan hệ biện chứng với nhau [27, tr.27]. Theo đó pháp luật quốc tế đƣợc các
chủ thể, các quốc gia thực hiện trên phạm vi lãnh thổ của mình, trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua pháp luật quốc gia.
Trong khoa học lý luận về nhà nƣớc và pháp luật, tồn tại khái niệm “Cơ chế
điều chỉnh pháp luật”. Nhƣ chúng ta đã biết, pháp luật quốc gia do chính quốc gia
xây dựng nên nhằm điều chỉnh các quan hệ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Mặt
khác, nhà nƣớc vừa là chủ thể pháp luật quốc gia vừa là chủ thể ban hành luật. Cho
nên điều chỉnh pháp luật nhằm sử dụng pháp luật để tác động lên các quan hệ xã hội
một cách hiệu quả thông qua hai phƣơng pháp: mệnh lệnh – phục tùng và phối hợp
bình đẳng. Nhƣ vậy, thông qua hoạt động ban hành luật, nhà nƣớc không chỉ khởi
động cho cơ chế điều chỉnh pháp luật vận hành mà còn định hƣớng cho các chủ thể
tham gia quan hệ xã hội thực hiện pháp luật.
Đối với pháp luật quốc tế, nét đặc trƣng nổi bật là đối tƣợng điều chỉnh của
hệ thống pháp luật này. Xét về hình thức, đó là quan hệ của các chủ thể pháp luật
quốc tế, xét về nội dung, quan hệ quốc tế đƣợc pháp luật quốc tế điều chỉnh là
những quan hệ dựa trên sự bình đẳng của các chủ thể pháp luật quốc tế. Xét về nội
dung, quan hệ quốc tế đƣợc pháp luật quốc tế điều chỉnh là những quan hệ dựa trên
sự bình đẳng của các chủ thể “phối hợp bình đẳng là thừa nhận sự bình đẳng giữa


13

các bên chủ thể tham gia quan hệ xã hội phối hợp thỏa thuận với nhau về quyền và
nghĩa vụ pháp lý của mình trên cơ sở pháp luật” [15, tr.34]. Chính vì vậy, trong
pháp luật quốc tế thuật ngữ “Cơ chế” đƣợc sử dụng với các trƣờng hợp khác nhau.
“Cơ chế xây dựng pháp luật quốc tế” nội dung của nó đề cập đến quá trình xây
dựng pháp luật quốc tế thông qua sự thỏa thuận. Sở dĩ nhƣ vậy là vì tất cả các chủ
thể pháp luật quốc tế đều bình đẳng với nhau và đều có quyền tham gia xây dựng
luật quốc tế, hơn nữa trong hệ thống pháp luật quốc tế không có cơ quan lập pháp
quốc tế [18, tr.3].
“Cơ chế thực hiện” [11, tr.21] theo nguyên tắc Pacta Sunt Servanda thì việc
thực hiện pháp luật quốc tế là nghĩa vụ của các quốc gia, cho nên cơ chế thực hiện
pháp luật quốc tế hiểu theo nghĩa đó là các phƣơng thức thực hiện pháp luật quốc tế
ở từng quốc gia [17, tr.35-41].
“Cơ chế cƣỡng chế” trong pháp luật quốc tế là việc áp dụng các biện pháp
cƣỡng chế khi một chủ thể của pháp luật quốc tế có hành vi vi phạm pháp luật quốc
tế thông qua hình thức cƣỡng chế riêng lẻ và cƣỡng chế tập thể [27, tr.7].
Ngoài các khái niệm trên, trong pháp luật quốc tế đặc biệt là pháp luật quốc
tế về quyền trẻ em, chúng ta thấy tồn tại nhiều khái niệm nhƣ: cơ chế quốc tế, cơ
chế quốc gia, cơ chế giám sát…
Cơ chế quốc tế đƣợc hiểu là các quy định của pháp luật quốc tế, thiết chế
quốc tế đƣợc thành lập nhằm mục đích trợ giúp và giám sát việc thực hiện pháp luật
quốc tế nói chung, điều ƣớc quốc tế nói riêng [28, tr.30]. Trong lĩnh vực quyền trẻ
em cơ chế quốc tế đƣợc phân chia thành: cơ chế Hiến chƣơng, cơ chế Điều ƣớc và
cơ chế ngoài Điều ƣớc [11, tr.19]. Cơ chế quốc gia là cách thức quốc gia thực hiện
nghĩa vụ quốc tế liên quan đến quyền trẻ em.
Cơ chế giám sát đƣợc thành lập theo từng điều ƣớc quốc tế và giám sát quá
trình thực hiện điều ƣớc quốc tế của các quốc gia [19, tr.19].


14

Nhƣ vậy, thông thƣờng thuật ngữ cơ chế đƣợc sử dụng trong pháp luật quốc
tế liên quan đến các khía cạnh khách nhau trong xây dựng, thực hiện và cƣỡng chế
của pháp luật quốc tế hoặc chỉ nghiêng về tổ chức, cơ cấu, chức năng của các thiết
chế. Điều này làm giảm giá trị, vai trò của pháp luật quốc tế trong lý luận cũng nhƣ
trong thực tiễn. Mặt khác, quyền con ngƣời nói chung, quyền trẻ em nói riêng là vấn
đề rộng lớn liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do vậy cần phải
có một cơ chế pháp lý có thể bao quát đƣợc tất cả các yếu tố liên quan đến việc bảo
vệ quyền trẻ em.
Với ý nghĩa đó, cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em là hệ thống
các nguyên tắc, quy phạm (pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia), các thiết chế
(quốc tế, quốc gia) và mối quan hệ giữa chúng nhằm thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ
em.
Định nghĩa trên bao quát đƣợc các khía cạnh khác nhau của pháp luật quốc tế
trong việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền trẻ em. Đồng thời chỉ ra cơ cấu của
cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em bao gồm: cơ chế pháp lý quốc tế
và cơ chế pháp lý quốc gia. Cơ chế pháp lý quốc tế là hệ thống các văn kiện quốc tế
xác lập quyền trẻ em cũng nhƣ nghĩa vụ của các quốc gia; các thiết chế quốc tế
nhằm mục đích giám sát và trợ giúp cho quá trình thực hiện quyền trẻ em ở các
quốc gia. Cơ chế pháp lý quốc gia bao gồm hệ thống pháp luật quốc gia liên quan
đến quyền trẻ em; các thiết chế quốc gia nhằm thực hiện quyền trẻ em.
Công nhận và bảo vệ quyền trẻ em là mục tiêu của cộng đồng quốc tế thông
qua cơ chế quốc tế, nhƣng bảo đảm và thực hiện quyền trẻ em đến mức độ nào lại
phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng nhƣ cơ chế của mỗi quốc gia. Vì vậy
thông qua định nghĩa trên chúng ta thấy đƣợc mối quan hệ giữa các quốc gia và
cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em ở mỗi quốc gia nói
riêng và trên quy mô thế giới nói chung.
1.2.2. Vai trò của cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em


15

Ngày nay, quyền con ngƣời nói chung, quyền trẻ em nói riêng đã đƣợc cộng
đồng quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên việc đảm bảo thực hiện trực tiếp quyền trẻ em
lại diễn ra ở từng quốc gia. Điều đó có nghĩa điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội,
phong tục tập quán của các quốc gia có ảnh hƣởng quyết định tới tiến độ thực hiện
quyền trẻ em. Vì vậy sự ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia nhƣ là sự
bảo đảm tốt hơn cho quyền trẻ em. Đây chính là vai trò của cơ chế pháp lý thúc đẩy
và bảo đảm quyền trẻ em.
Hình thành đƣợc cơ chế pháp lý có nghĩa là hình thành đƣợc các nguyên tắc,
quy phạm pháp luật quốc tế bảo vệ quyền trẻ em, tạo ra đƣợc công cụ điều chỉnh
quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này. Đồng thời nó là cơ sở cho tổ chức và hoạt động
của các thiết chế quốc tế nhằm thúc đẩy quyền trẻ em.
Xét trên phƣơng diện quốc tế, cơ chế pháp lý là điều kiện thiết yếu để quốc
gia thực hiện sự hội nhập quốc tế ở các cấp độ khác nhau. Nó trở thành cầu nối cho
sự hiểu biết giữa các dân tộc trong xu hƣớng toàn cầu hóa. Nó làm xích lại gần
khoảng cách của sự khác biệt và bất bình đẳng giữa các dân tộc bằng các tiêu chí và
chuẩn mực quốc tế về quyền trẻ em mà các quốc gia đã thỏa thuận trong nội dung
của các quy phạm pháp luật quốc tế. Thông qua đó các quyền lợi riêng biệt của các
quốc gia sẽ có đƣợc một sự điều hòa thích hợp trong tƣơng quan với lợi ích của
cộng đồng quốc tế.
Xét trên phƣơng diện quốc gia, cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền
trẻ em là hoạt động pháp lý cơ bản thuộc lĩnh vực thực thi chủ quyền quốc gia. Vì
vậy, cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em nói chung và cơ chế quốc gia
nói riêng trƣớc hết là trên cơ sở và vì lợi ích quốc gia, dân tộc.
Thông qua cơ chế pháp lý thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em mỗi quốc gia
vừa có cơ sở, vừa có điều kiện để phát triển và hoàn thiện hệ thống các quy định của
pháp luật quốc gia. Những nghĩa vụ thuộc hoạt động lập pháp của quốc gia sẽ tạo ra
khung pháp luật ổn định và phù hợp cho việc thực hiện quyền trẻ em. Đồng thời,


16

trên cơ sở đó một hệ thống thiết chế bảo vệ quyền trẻ em đƣợc hình thành nhằm
từng bƣớc bảo đảm cho quyền trẻ em trên thực tế ngày một tốt hơn.
Tóm lại, quyền trẻ em trong một chừng mực nhất định gắn chặt với quyền lợi
riêng và thiết thực của từng quốc gia. Cho nên đảm bảo quyền trẻ em không chỉ
ràng buộc quốc gia vào các nghĩa vụ pháp lý quốc tế mà còn xuất phát từ chính sự
sống còn và nhu cầu phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, cơ chế pháp lý thúc đẩy và
bảo đảm quyền trẻ em không chỉ nhằm bảo đảm cho quyền của trẻ em đƣợc thực
hiện mà còn là chiếc cầu nối giữa quốc gia với cộng đồng quốc tế nhằm tiến tới xây
dựng một thế giới vì hòa bình và phát triển.
1.3.

Cơ chế pháp lý quốc tế thúc đẩy và bảo đảm quyền trẻ em

1.3.1. Hệ thống các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em
1.3.1.1. Giai đoạn trước năm 1989
Năm 1924, bản Tuyên ngôn về quyền trẻ em đƣợc Hội Quốc Liên thông qua.
Tuyên ngôn gồm 7 điểm đề cập đến quyền trẻ em trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Đây là thời điểm quyền trẻ em đƣợc thừa nhận chính thức trong pháp luật quốc tế.
Năm 1948 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua tuyên ngôn thế giới về
quyền con ngƣời. Đây là văn kiện quốc tế đầu tiên về các quyền và tự do của con
ngƣời trong đó có trẻ em. Mặc dù không phải là văn kiện quốc tế dành riêng cho trẻ
em, nhƣng một số điều khoản của tuyên ngôn đã đề cập trực tiếp đến một số nhu
cầu riêng biệt của trẻ em. Điều 25 khoản 3 quy định: “Ngƣời mẹ và trẻ em đƣợc bảo
đảm chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Tất cả trẻ em dù sinh ra trong hay ngoài giá thú,
đều đƣợc hƣởng sự bảo trợ xã hội nhƣ nhau.”
Năm 1959, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bản Tuyên ngôn về
quyền trẻ em gồm 10 điểm. Tuyên ngôn này đã phát triển, làm phong phú thêm nội
dung của Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền trẻ em năm 1924.


17

Hai bản tuyên ngôn năm 1924 và năm 1959 đƣợc coi là cơ sở để xây dựng
các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em sau này. Tuy nhiên cả hai bản tuyên ngôn đều
không phải văn kiện ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia, do đó ảnh
hƣởng trên thực tế của chúng còn rất hạn chế. Vấn đề quyền trẻ em còn tiếp tục
đƣợc đề cập trong nhiều văn kiện quốc tế quốc tế về quyền con ngƣời.
Ngày 16/12/1966, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua hai công ƣớc:
Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ƣớc quốc tế về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong đó có một số điều khoản đề cập đến quyền
trẻ em.
Trong thời gian này, Liên Hợp Quốc cũng thông qua một số văn kiện quốc tế
nhƣ Tuyên ngôn về việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong các trƣờng hợp khẩn cấp
hoặc xung đột vũ trang năm 1974, công ƣớc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt
đối xử với phụ nữ năm 1979. Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp
dụng pháp luật với ngƣời chƣa thành niên năm 1985.
Nhƣ vậy giai đoạn năm 1959 đến đầu những năm 80, Liên Hợp Quốc và các
tổ chức quốc tế liên chính phủ đã thông qua hàng loạt các văn kiện quốc tế quyền
con ngƣời, trong đó có quyền trẻ em. Tuy nhiên các văn kiện này hoặc không có
tính ràng buộc về mặt pháp lý hoặc chƣa chú trọng đầy đủ đến những nhu cầu và
quyền đặc thù của trẻ em. Đặc biệt là vẫn thiếu một cơ chế thích hợp cho việc bảo
đảm quyền trẻ em.
1.3.1.2. Công ước về quyền trẻ em năm 1989
Năm 1979, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã quyết định là Năm quốc tế thiếu
nhi và chấp nhận kiến nghị của Ba Lan về việc soạn thảo một công ƣớc quốc tế
riêng về quyền trẻ em nhằm bảo vệ và thúc đẩy một cách có hiệu quả cuộc sống của
trẻ em trên thế giới. Một nhóm công tác bao gồm đại diện của 43 nƣớc thành viên
Ủy ban quyền con ngƣời đứng đầu là luật sƣ ngƣời Ba Lan Adam Lopatka và đại
diện của nhiều cơ quan, tổ chức chuyên môn khác của Liên Hợp Quốc đƣợc chỉ


18

định soạn thảo công ƣớc. Việc soạn thảo công ƣớc cũng có sự tham gia tích cực của
khoảng 50 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Sau 10 năm làm việc với nhiều lần
chỉnh sửa, lấy ý kiến đóng góp của các chính phủ, các tổ chức quốc tế, dự thảo
Công ƣớc về quyền trẻ em đã hoàn thành và đƣợc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
thông qua ngày 20/11/1989. Ngày 2/09/1990 Công ƣớc có hiệu lực. Hiện nay Công
ƣớc này có 192 thành viên (Hoa Kỳ và Xômali chƣa phê chuẩn) [33,tr3]. Việt Nam
là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công
ƣớc về quyền trẻ em. Đây là Công ƣớc có số lƣợng quốc gia thành viên lớn nhất
trong hệ thống các điều ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời của Liên Hợp Quốc. Gần
100% trẻ em trên thế giới thuộc những quốc gia thành viên của Công ƣớc.
Trong hệ thống điều ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời, Công ƣớc về quyền trẻ
em là văn kiện pháp lý đề cập riêng đến quyền con ngƣời của trẻ em. Công ƣớc đƣa
ra tập hợp các quyền trẻ em và các bảo đảm cho việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em một
cách có hiệu quả. Công ƣớc không chỉ đề cập đến quyền trẻ em nói chung mà còn
đề cập đến những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: trẻ em khuyết tật,
trẻ em trong xung đột vũ trang [21,tr.V].
Là một Công ƣớc quốc tế, Công ƣớc về quyền trẻ em ràng buộc nghĩa vụ của
các quốc gia đã phê chuẩn hoặc gia nhập trong việc thực hiện các quyền trẻ em.
Không những thế, nó còn xác lập một cơ chế pháp lý quốc tế để theo dõi, giám sát
quá trình thực hiện quyền trẻ em ở các quốc gia. Chính vì vậy, có thể khẳng định
rằng Công ƣớc là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ
em.
Công ƣớc về quyền trẻ em tiếp cận quyền trẻ em từ những đặc thù trong sự
phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em. Không những vậy, Công ƣớc còn đề
cao vai trò của gia đình với ý nghĩa là môi trƣờng quan trọng nhất cho sự sống còn,
phát triển và hạnh phúc của trẻ em. Công ƣớc đề cập đến tác động của truyền thống
văn hóa đối với cuộc sống, sự phát triển của trẻ em, đồng thời nhấn mạnh vai trò
của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.


19

Quyền trẻ em đƣợc làm rõ trong Công ƣớc và lấp đi những lĩnh vực còn
trống trong các văn kiện quốc tế trƣớc đó về quyền trẻ em. Đó chính là các yếu tố
cơ bản làm cho Công ƣớc trở thành công cụ pháp lý quốc tế quan trọng và hiệu quả
nhất trong việc bảo vệ các quyền của trẻ em.
Công ƣớc về quyền trẻ em quy định hệ thống các quyền trẻ em trong các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội. Theo cách phân loại truyền thống thì quyền trẻ
em cũng bao gồm các quyền: dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy
nhiên, khác với các công ƣớc về quyền con ngƣời, xuất phát từ đặc thù của trẻ em,
Công ƣớc hƣớng vào các lĩnh vực: Bảo đảm sự sống còn của trẻ em, bảo vệ trẻ em
và sự tham gia của trẻ em. Chính vì vậy khi phân nhóm quyền của trẻ em, các nhà
nghiên cứu cũng có những cách nhìn nhận khác nhau. Theo tác giả Carolyn
Hamilton, quyền trẻ em đƣợc phân chia thành ba nhóm: quyền sống còn, quyền
đƣợc bảo vệ và quyền tham gia [11, tr.20]. Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc cho rằng
Công ƣớc quyền trẻ em bao trùm các lĩnh vực rộng lớn và tổ chức này chia quyền
trẻ em thành bốn nhóm: Quyền sống còn, quyền đƣợc bảo vệ, quyền phát triển,
quyền tham gia… Ở Việt Nam, quan điểm của các học giả cũng giống cách phân
chia của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc [28,tr.112].
Theo tôi sở dĩ quyền trẻ em không phân chia theo cách truyền thống khi
phân chia quyền con ngƣời là vì trẻ em cũng là con ngƣời và quyền con ngƣời đã
đƣợc quy định. Cho nên Công ƣớc chỉ tập chung quy định các quyền đặc thù cần
thiết nhất cho trẻ em. Mặt khác, cuộc sống của trẻ em là một quá trình liên tục chứ
không phải là các sự kiện tách rời. Sự phân chia chỉ mang tính chất tƣơng đối và
không chính thức nhƣng nó có ý nghĩa trong việc nghiên cứu, vận dụng đặc biệt là
hoạt động truyền thông về quyền trẻ em.
Trong lĩnh vực quyền con ngƣời nói chung, các quyền dân sự, chính trị phải
đƣợc thực hiện ngay; các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa thực hiện dần dần từng
bƣớc tƣơng ứng với sự phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội. Trên phƣơng diện
pháp luật quốc tế, quyền trẻ em hoàn toàn không phải là vô hạn mà phụ thuộc vào


20

hai yếu tố: Bảo đảm lợi ích công cộng và cân bằng với trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của các quốc gia. Chính vì vậy, Công ƣớc đòi hỏi các
quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm thực hiện, đồng thời Công
ƣớc cũng xác định giới hạn và cách thức thực hiện. Đối với quyền sống còn phải
thực hiện ngay lập tức; các quyền tôn giáo tĩn ngƣỡng cho pháp hạn chế nếu cần
thiết; các quyền phát triển, chăm sóc y tế, học tập khuyến khích đảm bảo tới mức tối
đa.
Công ƣớc về quyền trẻ em đánh dấu bƣớc ngoặt lớn trong việc ghi nhận và
bảo đảm các quyền trẻ em. Để hỗ trợ cho Công ƣớc, từ năm 1989 đến nay, Liên
Hợp Quốc tiếp tục thông qua nhiều văn kiện quốc tế khác về vấn đề này, trong đó
có hai Nghị định thƣ bổ sung Công ƣớc đều đƣợc thông qua năm 2000, bao gồm:
Nghị định thƣ không bắt buộc về sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang
và Nghị định thƣ không bắt buộc về buôn bán, bóc lột mại dâm trẻ em và văn hóa
khiêu dâm trẻ em.
Tóm lại, Công ƣớc về quyền trẻ em trở thành hiện thực không phải là vấn đề
đơn giản và dễ dàng mà là quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ. Trên thực tế tình
trạng vi phạm quyền trẻ em còn phổ biến ở nhiều nơi và không phải tất cả mọi trẻ
em đều đã đƣợc hƣởng đầy đủ quyền của mình nhƣng nội dung Công ƣớc vẫn là
chuẩn mực quốc tế cho hành động của các quốc gia và là công cụ pháp lý quốc tế
quan trọng nhất cho việc thúc đẩy và bảo vệ quyền trẻ em [20,tr12].
1.3.2. Các thiết chế bảo vệ quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc
1.3.2.1. Cơ chế dựa trên Hiến chương
Mỗi cơ quan của Liên Hợp Quốc đều có trách nhiệm nhất định trong việc thúc
đẩy và bảo đảm quyền trẻ em. Dƣới đây là khái quát vai trò của các cơ quan này
trong vấn đề quyền trẻ em.
 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×