Tải bản đầy đủ

Cầm giữ tài sản theo quy định của bộ luật dân sự việt nam năm 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VÕ THANH HIỀN

ĐỀ TÀI

CẦM GIỮ TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Trung Tập

Hà Nội- 2017



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.

Tác giả luận văn

Võ Thanh Hiền


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN ............... 8
1.1 Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ............................................. 8
1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự...................... 8
1.1.2 Một số nét khái quát về quá trình hình thành các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ trong quá trình phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam.............. 12
1.1.3 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ........ 17
1.1.4 Chức năng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ...... 21
1.2 Cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ...... 23
1.2.1 Khái niệm cầm giữ tài sản .................................................................... 23
1.2.2 Mục đích của cầm giữ tài sản ............................................................... 28
1.2.3 Đặc điểm của cầm giữ tài sản ............................................................... 29
1.3 Phân biệt biện pháp cầm giữ tài sản và biện pháp cầm cố tài sản theo quy
định của Bộ luật dân sự năm 2015 .................................................................... 31
CHƢƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN34
2.1 Đối tƣợng của cầm giữ tài sản .................................................................... 34
2.2 Phạm vi của cầm giữ tài sản ....................................................................... 37
2.2.1 Cầm giữ tài sản chỉ áp dụng trong hợp đồng song vụ .......................... 37
2.2.2 Cầm giữ tài sản chỉ áp dụng trong hợp đồng song vụ có đối tƣợng là tài
sản
.......................................................................................................... 38
2.3 Xác lập cầm giữ tài sản ............................................................................... 39
2.3.1 Thời điểm phát sinh cầm giữ tài sản..................................................... 39
2.3.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với ngƣời thứ ba ................... 41



2.4 Nghĩa vụ và quyền của bên cầm giữ ........................................................... 45
2.4.1 Nghĩa vụ của bên cầm giữ .................................................................... 45
2.4.2 Quyền của bên cầm giữ ........................................................................ 48
2.5 Thứ tự ƣu tiên thanh toán từ tài sản ............................................................ 51
2.6 Chấm dứt cầm giữ ....................................................................................... 54
2.7 Thời hạn cầm giữ tài sản và xử lý tài sản cầm giữ ..................................... 56
CHƢƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN .............................. 59
3.1 Đối tƣợng của cầm giữ tài sản .................................................................... 59
3.2 Mục đích của cầm giữ tài sản ..................................................................... 61
3.3 Thời điểm xác lập cầm giữ tài sản .............................................................. 63
3.4 Về phạm vi của cầm giữ tài sản .................................................................. 64
3.5 Thời hạn cầm giữ tài sản ............................................................................. 66
3.6 Về chấm dứt quyền cầm giữ tài sản ............................................................ 67
3.7 Cơ chế xử lý tài sản cầm giữ....................................................................... 69
3.8 Về thứ tự ƣu tiên thanh toán ....................................................................... 71
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 74


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bộ luật dân sự năm 2005 đƣợc Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14 tháng
6 năm 2005 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam
vaf phát huy thành tựu của Bộ luật dân sự năm 1995 cùng kinh nghiệm gần 20
năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế. Sau hơn 9 năm thi hành, Bộ luật dân sự đã có tác động tích
cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc cũng nhƣ đối với việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội đƣợc hình thành trên
cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm của chủ
thể trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại,
lao động…
Tuy nhiên, bƣớc sang giai đoạn phát triển mới của đất nƣớc, trƣớc yêu cầu
thể chế hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số 48 -NQ/TW
của Bộ Chính trị về chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hƣớng đến năm 2020, Nghị quyết số 49NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc Cải cách Tƣ pháp đến năm 2020 và
đặc biệt là yêu cầu về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con
ngƣời, quyền công dân, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp năm
2013 thì Bộ luật dân sự hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập.
Bộ luật dân sự năm 2015 đƣợc Quốc hội khóa XIII thông qua ngày
24/11/2015, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017 có nhiều nội dung đổi mới,
trong đó có nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Nhìn một cách tổng thể,
nội dung phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật dân sự năm 2015 đã
tiệm cận gần hơn với thông lệ quốc tế và cơ bản giải quyết đƣợc những vƣớng


2

mắc, khó khăn trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm. Có thể
nói, những tiếp cận mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ có sự ảnh hƣởng và tác động mang tính chất chi phối đến cơ chế
điều chỉnh pháp luật và nhận thức pháp luật trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm
và đăng ký biện pháp bảo đảm.
Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015, các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự đƣợc quy định tại Mục 3, Chƣơng XV, Phần thứ ba. Tại
Điều 292 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định 9 biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cƣợc;
ký quỹ; bảo lƣu quyền sở hữu; bảo lãnh; tín chấp; cầm giữ tài sản. Nhƣ vậy,
so với Bộ luật dân sự năm 2005 thì Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung hai
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mới, đó là: bảo lƣu quyền sở
hữu và cầm giữ tài sản.
Cầm giữ tài sản đƣợc quy định từ Điều 346 đến Điều 350 tại “Phần II.
Thực hiện hợp đồng” với ý nghĩa là biện pháp mà luật cho phép bên có quyền
sử dụng nhằm gây “sức sép” đối với bên có nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ
để bên này phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo thỏa thuận giữa các bên
trong hợp đồng song vụ.
Xuất phát từ bản chất của cầm giữ tài sản là chiếm giữ tài sản để bên có
nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, do đó, Bộ luật dân sự năm 2015 đã tiếp cận cầm
giữ tài sản với tƣ cách là một biện pháp bảo đảm đƣợc xác lập theo quy định
của pháp luật. Việc bổ sung cầm giữ tài sản vào Bộ luật dân sự 2015 là cần
thiết nhằm tạo hành lang pháp lý cho các bên tham gia vào giao dịch dân sự
có nhiều phƣơng án để lựa chọn biện pháp bảo đảm, bảo đảm đƣợc tính linh
hoạt cho quá trình ký kết, tham gia, thực hiện hợp đồng dân sự của các chủ
thể, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế đất nƣớc.


3

Để những quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong đó có
những quy định về cầm giữ tài sản thực sự phát huy hiệu lực trên thực tế thì
cần có những nghiên cứu khoa học nhằm làm sáng tỏ các quy định này. Việc
nghiên cứu các quy định về cầm giữ tài sản là công việc cấp thiết, không chỉ
dành cho các nhà khoa học mà còn là công việc của các cơ quan thi hành pháp
luật. Bởi những quy định này không tồn tại độc lập mà còn có mối liên hệ
chặt chẽ với các quy định khác trong tổng thể nội dung Bộ luật dân sự năm
2015.
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề " Cầm giữ tài sản theo quy
định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015” làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
iên quan đến các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, đã có rất
nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể nhƣ:
- Phạm Công Lạc (1996), “Bản chất các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự”, Luật học, (số chuyên đề về Bộ luật dân sự), tr 31-34.
- Phạm Công Lạc (1995), Cầm cố và thế chấp để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự, Luận văn thạc sĩ uật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
- Trần Đình Hảo (2005), “Về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự trong Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)”, Nhà nước và Pháp luật. (4),
tr. 16 – 21.
- Nông Thị Bích Diệp (2006), Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ uật học, Trƣờng
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;


4

- Vũ Thị Thu Hằng (2010), Một số vấn đề về thế chấp tài sản tại ngân
hàng thương mại, Luận văn thạc sĩ uật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội;
- Phan Thị Thu Phƣơng (2013), Thế chấp tài sản hình thành trong tương
lai, Luận văn thạc sĩ uật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Nguyễn Anh Tuấn (2013), Cầm cố tài sản- một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Luận văn thạc sĩ uật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Hợi (2014), “Một số vấn đề về cầm giữ tài sản trong Bộ
luật dân sự năm 2005”, Luật học, (11), tr. 38-45;
- Bùi Đức Giang (2014), “Cầm giữ tài sản có phải là biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự “, Nghiên cứu lập pháp, (22) , tr. 33 – 40;
- Vũ Thị Hồng Yến (2015), “Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự trong Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)”, Nhà nước và pháp luật, (7),
tr. 21-26.
- Nguyễn Minh Tuấn (Chủ biên, 2016), Bình luận khoa học của Bộ luật
dân sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 2015, NXB. Tƣ pháp.
- Đỗ Văn Đại (Chủ biên, 2016), Bình luận khoa học những điểm mới của
Bộ luật dân sự 2015, NXB. Hồng Đức, Hà Nội.
Mỗi nhà khoa học có mô cách khám phá, khai thác đề tài ở một góc
đô khác nhau. Tuy nhiên chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu một
cách đầy đủ, cụ thể về cầm giữ tài sản với phƣơng diện là một trong những
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Theo Bộ luật dân sự năm 2005, cầm giữ tài sản là một chế định pháp lý
vẫn còn nằm tách bạch so với các quy định về giao dịch bảo đảm. Cầm giữ tài
sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ mới dừng lại là quyền của


5

bên có nghĩa vụ bị vi phạm trong hợp đồng song vụ có đối tƣợng là tài sản.
Phải đến Bộ luật dân sự năm 2015, cầm giữ tài sản mới đƣợc công nhận là
một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Do đó, cầm giữ tài sản mới
đƣợc các tác giả nghiên cứu với vai trò là “quyền” của chủ thể có quyền khi
tham gia giao dịch dân sự.
Vì vậy, Tác giả mong muốn thông qua đề tài đã lựa chọn sẽ góp phần làm
rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về cầm giữ tài sản với vai trò là một biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu luận văn
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn đi vào nghiên cứu khái quát về một số vấn đề lý luận về bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và cầm giữ tài sản làm cơ sở cho việc xây
dựng các quy định pháp luật.
Ngoài ra luận văn còn tập trung vào việc nghiên cứu, phân tích đánh giá
các quy định của pháp luật hiện hành về cầm giữ tài sản. Trên cơ sở nghiên
cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành để đƣa ra các
kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự nói chung và cầm giữ tài sản nói riêng.
Đề tài phân tích các quy định về cầm giữ tài sản theo quy định pháp luật
Việt Nam, cụ thể là theo Bộ luật dân sự năm 2015.
Đề tài đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ tài sản để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự từ đó đƣa ra những kiến nghị đề xuất hoàn
thiện pháp luật.


6

4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu, phân tích, đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ
tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự từ đó đƣa ra những kiến nghị đề
xuất hoàn thiện pháp luật.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:


àm rõ đặc điểm của pháp luật về cầm giữ tài sản

 Phân tích đƣợc vai trò, ý nghĩa của cầm giữ tài sản trong sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nƣớc giai đoạn hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Đề tài sử dụng xen kẽ các phƣơng pháp nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn
đề liên quan đến biện pháp cầm giữ tài sản, cụ thể:
- Tại chƣơng 1, luận văn sử dụng chủ yếu phƣơng pháp hệ thống, quy
nạp, liệt kê để làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về cầm giữ tài sản.
- Tại chƣơng 2, luận văn sử dụng chủ yếu phƣơng pháp tổng hợp, phân
tích nhằm làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ
tài sản.
- Tại chƣơng 3, luận văn sử dụng chủ yếu phƣơng pháp diễn giải, so
sánh, quy nạp nhằm đƣa ra các kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ tài sản.


7

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt đƣợc của luận văn góp phần làm sáng tỏ phƣơng diện lý luận
trong khoa học pháp lý về vấn đề cầm giữ tài sản với vai trò là một trong các
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Luận văn chỉ ra những thay đổi phù hợp của những quy định về cầm giữ
tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2015. uân văn tập trung phân tích những
điểm mới về cầm giữ tài sản của Bộ luật dân sự hiện hành trên cơ sở so sánh
với quy định về cầm giữ theo Bộ luật dân sự năm 2005. Mặt khác, trên cơ sở
liên hệ với pháp luật về cầm giữ của một số nƣớc trên thế giới, luận văn phân
tích những hạn chế, bất cập của quy định hiện hành của Việt Nam để từ đó
đƣa ra phƣơng hƣớng hoàn thiện cho việc áp dụng những quy định về cầm
giữ tài sản làm cho những quy định về cầm giữ thực sự đi vào cuộc sống.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn đƣợc kết cấu bởi 3 chƣơng:
- Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về cầm giữ tài sản.
- Chƣơng 2. Pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ tài sản.
- Chƣơng 3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Pháp luật Việt Nam
hiện hành về cầm giữ tài sản.


8

CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN
1.1

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự trƣớc hết là dựa vào sự tự
giác của các bên tham gia. Nhƣng trong thực tế, không phải bất cứ ai khi tham
gia giao dịch dân sự đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các
nghĩa vụ của mình. Trong một quan hệ nghĩa vụ, ngƣời có quyền đƣợc chủ
động yêu cầu ngƣời có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ hoặc không
đƣợc thực hiện một công việc nhất định; và chỉ khi nào công việc đó đƣợc
thực hiện đúng thì ngƣời có quyền mới thực hiện đƣợc lợi ích của mình. Tuy
nhiên, về cách thức thì biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự và việc thực hiện
hay không thực hiện nhƣ thế nào lại phụ thuộc vào hành vi của ngƣời có
nghĩa vụ. Nói cách khác, quyền chủ động của ngƣời có quyền rơi vào thế bị
động bởi phải phụ thuộc vào hành vi của ngƣời khác.
Nhằm khắc phục tình trạng trên và tạo cho bên có quyền trong các quan
hệ nghĩa vụ có đƣợc thế chủ động đƣợc hƣởng quyền dân sự, pháp luật cho
phép các bên có thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp
đồng cũng nhƣ việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Thông qua các biện pháp
này, ngƣời có quyền có thể chủ động tiến hành các hành vi của mình để có thể
tác động trực tiếp đến tài sản của phía bên kia, nhằm thỏa mãn quyền lợi của
mình khi đến thời hạn mà phía bên kia không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ.
Trong pháp luật thực định Việt Nam, không có điều khoản nào đƣa ra
khái niệm các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Để bảo đảm cho
quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đƣợc thực hiện,


9

Bộ luật dân sự năm 2015 đã ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự tại
Mục 7 chƣơng 17 phần nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự (từ Điều 309 đến
Điều 350). Điều 292 Bộ luật dân sự 2015 quy định các biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cƣợc, ký
quỹ, bảo lƣu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản.
Khi nghiên cứu về khái niệm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, hiện có
một vài quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự là một biện pháp dân sự có “tính dự phòng” nhằm thúc
đẩy việc thực hiện đúng nghĩa vụ theo cam kết hoặc theo quy định của pháp
luật. Bên cạnh đó, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự còn có tính
bắt buộc đối với tất cả các bên trong giao dịch và đƣợc bảo đảm bằng sức
mạnh cƣỡng chế của nhà nƣớc. Do đó “dù xuất phát từ cơ sở nào thì các biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng luôn mang tính chất bắt buộc
như một chế tài”1. Quan điểm khác lại cho rằng, biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự là loại trách nhiệm dân sự đặc biệt trong đó các bên có thể
thỏa thuận phạm vi trách nhiệm, mức độ trách nhiệm và cả các biện pháp thực
hiện, áp dụng; có thể tự mình thực hiện, áp dụng trách nhiệm đó2.
Nhƣ vậy, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đƣợc hiểu theo 2 phƣơng diện:
Về mặt khách quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là sự quy định
của pháp luật, cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự hoặc các quan hệ
dân sự khác áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo đảm cho
một nghĩa vụ chính đƣợc thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyền,
nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó.

1

Đinh Văn Thanh (2000),“Những quy định chung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự Việt
Nam”, Thông tin khoa học pháp lý, Số 2, tr. 90-95.
2
Phạm Công Lạc (1995), Cầm cố và thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, Luận văn thạc sĩ uật
học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.


10

Về mặt chủ quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận
giữa các bên nhằm đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để
bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục
những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ gây ra.
Phạm vi chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật
dân sự năm 2015 bao trùm cả các biện pháp bảo đảm đối vật (cầm cố, thế
chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản) và
biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh, tín chấp). Chế định cũng điều chỉnh
cả các biện pháp bảo đảm đƣợc xác lập trên cơ sở thỏa thuận và biện pháp bảo
đảm phát sinh do luật định.
Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm đối nhân phát sinh theo thỏa thuận
là xác lập một vật quyền của bên nhận bảo đảm trên tài sản bảo đảm thông
qua hợp đồng, vì vậy quyền của bên nhận bảo đảm bằng tài sản mang tính
chất phức hợp: vừa có tính chất vật quyền, vừa có tính chất trái quyền.
Tính chất vật quyền đƣợc thể hiện ở hai điểm. Thứ nhất, khi xảy ra sự
kiện vi phạm của bên có nghĩa vụ đƣợc quy định trong hợp đồng bảo đảm,
bên nhận bảo đảm đƣợc thực thi quyền trực tiếp trên tài sản bảo đảm (quyền
xử lý tài sản bảo đảm) mà không phụ thuộc vào ý chí của bên bảo đảm
(không cần sự đồng ý, hợp tác của bên bảo đảm). Vật quyền bảo đảm cho
phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản ngay cả khi tài sản đó
đang thuộc sự chiếm hữu của chủ thể khác. Nhƣ vậy, giống nhƣ các vật quyền
khác, vật quyền bảo đảm cho phép ngƣời có quyền đối vật đƣợc phép thực
hiện quyền của mình trên vật bất kể vật đang nằm trong tay ai. Thứ hai, tuy
quyền của bên nhận bảo đảm đƣợc xác lập trên cơ sở hợp đồng bảo đảm,
nhƣng nó không chỉ có hiệu lực giữa hai bên trong hợp đồng, mà còn có hiệu
lực đối kháng với bên thứ ba không tham gia vào giao dịch bảo đảm khi thỏa


11

mãn các điều kiện nhất định. Điều này có nghĩa, khi vật quyền bảo đảm đã
đƣợc công khai với bên thứ ba (thông qua cơ chế đăng ký hoặc chiếm giữ tài
sản) thì quyền ƣu tiên chính thức đƣợc xác lập lên tài sản, mà không phụ
thuộc vào ý chí của chủ thể nhận bảo đảm sau. Nhƣ vậy, khi vật quyền đã
đƣợc xác lập hợp pháp thì tất cả các chủ thể, dù với tƣ cách nào cũng phải tôn
trọng quyền năng của ngƣời có vật quyền đã đƣợc xác lập hợp pháp, phù hợp
với các điều kiện do pháp luật quy định.
Trong khi đó, bản chất của biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh, tín
chấp) là có thêm một bên thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa
vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ. Trong trƣờng hợp này, mức độ bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ đƣợc xem xét theo nhiều phƣơng diện nhƣ về tƣ cách, độ tin cậy và
khả năng của bên thứ ba này. Bên nhận bảo đảm không xác lập một vật quyền
nào trên tài sản cụ thể của bên bảo đảm, do đó không đặt ra vấn đề xử lý tài
sản của bên bảo lãnh hay thứ tự ƣu tiên giữa bên nhận bảo lãnh với bên nhận
bảo đảm bằng tài sản.
Nhƣ vậy, có thể hiều, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là sự thỏa thuận
của các bên trong việc lựa chọn và áp dụng một hoặc một số biện pháp nhất
định nhằm bảo đảm quan hệ nghĩa vụ mà họ đang tham gia. Còn biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là các phƣơng thức dự phòng, do các bên
chủ thể thỏa thuận lựa chọn hoặc phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định
để bảo đảm lợi ích của bên có quyền bằng cách cho phép bên có quyền đƣợc
xử lý những tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ để khấu trừ giá trị nghĩa
vụ trong trƣờng hợp nghĩa vụ đó bị vi phạm.
Các biện pháp này góp phần bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ đã thỏa
thuận trong hợp đồng đƣợc thực hiện, nói cách khác bảo đảm cho các quan hệ
hợp đồng đƣợc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và đúng thỏa


12

thuận đặt ra. Đây chính là một trong những cơ sở để xây dựng một xã hội ổn
định và phát triển về mọi mặt.
1.1.2

Một số nét khái quát về quá trình hình thành các biện pháp

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quá trình phát triển của pháp luật dân
sự Việt Nam
Để tồn tại và phát triển, thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của
mình, các chủ thể quan hệ pháp luật đều chủ động tích cực tham gia vào các
quan hệ pháp luật dân sự nhƣng cũng có trƣờng hợp chủ thể nghĩa vụ không
tự giác thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình trƣớc chủ thể quyền. Điều
này dẫn đến tình trạng quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền không
đƣợc bảo đảm, thậm chí còn ảnh hƣởng cả đến lợi ích của Nhà nƣớc, của
cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ khác. Bên cạnh đó, việc
không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ còn là nhân tố kìm hãm sự
phát triển giao lƣu dân sự nói riêng cũng nhƣ kìm hãm sự phát triển của xã
hội nói chung.
Để khắc phục những hạn chế này, pháp luật về các biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ là một trong những chế định luật đƣợc hình thành khá sớm
trong hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới. Luật cổ a Mã đã biết đến
các biện pháp thế chấp, cầm cố, bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ3.
1.1.2.1 Thời kỳ trƣớc năm 1945
Ở Việt Nam, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã đƣợc hình
thành từ thời kỳ phong kiến. Pháp luật dân sự Việt Nam thời kỳ phong kiến
đã có những quy định về vấn đề này nhƣng còn rải rác, chƣa tập trung Bộ luật
Hồng Đức thế kỷ XV và Bộ luật Gia Long thế kỷ XIX. Hạn chế trên của Bộ
luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long đã đƣợc cải thiện trong Bộ Dân luật Bắc
3

Phạm Công Lạc (1995), Cầm cố và thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.


13

kỳ và Trung Kỳ. Tại dây, mỗi biện pháp đều có điều khoản riêng cũng nhƣ cơ
sở hình thành các biện pháp này.
Đến thời kỳ Pháp thuộc, dƣới ảnh hƣởng của pháp luật dân sự Pháp, Bộ
Dân luật Bắc kỳ và Trung Kỳ quy định về bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối
vật; bảo dảm bất động sản và bảo đảm động sản; bảo đảm đúng với bản chất
và bảo đảm dựa trên quyền sở hữu tài sản.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quy định trong hai Bộ Dân luật
trên bao gồm: bảo lãnh, điển mại, cầm cố bất động sản, cầm cố động sản và
thế chấp4.
1.1.2.2 Thời kỳ từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến Bộ luật dân
sự năm 1995
Cách mạng tháng 8 thành công, ngày 02/9/1945 nƣớc Việt Nam dân chủ
cộng hào ra đời. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 09/SL
cho phép tạm sử dụng một sô điều lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam cho đến
khi những Bộ luật duy nhất cho toàn quốc đƣợc ban hành: “….nếu những luật
lệ ấy không trái vưới nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân
chủ cộng hòa”. Với tinh thần đó, Bộ luật dân sự Nam Kỳ gián yếu 1883, Bộ
dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936 đƣợc tiếp tục thi hành
đến năm 1959 thì bị hủy bỏ. Do đó, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
theo quy định của các Bộ luật trên cũng đƣợc áp dụng cho đến năm 1959.
Từ năm 1960 đến năm 1989, nền kinh tế nƣớc ta đƣợc tổ chức theo cơ chế
tập trung, quan liêu, bao cấp và đƣợc điều hành theo mệnh lệnh hành chính.
Các quan hệ dân sự, kinh tế trong giai đoạn này đƣợc điều chỉnh bởi các hệ
thống văn bản pháp luật mang ảnh hƣởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch háo tập
trung bao cấp cao độ. Phƣơng pháp quản lý hành chính đã làm biến dạng các
4

Nguyễn Anh Tuấn (2013), Cầm cố tài sản- một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội


14

quan hệ dân sự với những đặc trƣng vốn có của nó là sự bình đẳng và quyền
tự định đoạt giữa các chủ thể tham gia quan hệ dân sự. Vì thế, các quan hệ
dân sự không có môi trƣờng pháp lý để phát triển, việc áp dụng các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng không cần thiết phải đặt ra.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu sự đổi mới toàn
diện đƣờng lối phát triển kinh tế ở nƣớc ta: “ Phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhƣ vậy, chế định pháp lý về các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đã bắt đầu đƣợc chú trọng từ những năm
1989-1990, góp phần ổn định lành mạnh hóa các quan hệ dân sự, kinh tế - xã
hội của đất nƣớc.
Trong lĩnh vực ngân hàng, vấn đề bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụngngân hàng đƣợc quy định lần đầu tiên trong quy chế về thế chấp tài sản để vay
vốn ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 156/NH-QĐ ngày
18/11/1989 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam. Văn bản này ghi
nhận các hình thức bảo đảm đó là cầm cố, thế chấp và bảo lãnh.
Các biện pháp cầm cố, thế chấp cũng đƣợc nhắc đến tại Bộ luật dân sự
năm 1995, Điều 113 Luật hàng hải Việt Nam năm 1990, Luật hàng không dân
dụng năm 1991.
Pháp lệnh hợp đồng dân sự ngày 29/04/1991 đã dự liệu 4 hình thức bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đó là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và đặt cọc.
1.1.2.3

Thời kỳ từ Bộ luật dân sự năm 1995 đến Bộ luật dân sự năm 2015

Bƣớc sang nền kinh tế thị trƣờng, các quan hệ dân sự ngày càng trở nên
đa dạng và phức tạp, việc điều chỉnh đã trở nên một nhu cầu cấp thiết. Sự ra
đời của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 là một bƣớc
tiến quan trọng trong việc khẳng định và cụ thể hóa hai bản Hiến pháp năm


15

1992, năm 2005 về các quyền cơ bản của con ngƣời trong lĩnh vực dân sự, tạo
lập hành lang pháp lý cho các giao lƣu dân sự, tạo chuẩn mực pháp lý cho
cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia các giao dịch, góp phần làm lành
mạnh quan hệ xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể.
Trong pháp luật dân sự, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là
một trong những chế định quan trọng, đƣợc thể hiện dƣới các hình thức bảo
đảm bằng tài sản, phi tài sản và luôn gắn với hợp đồng song vụ. Nhằm mục
đích bảo đảm và khắc phục rủi ro, vi phạm, bội ƣớc và tranh chấp, không bảo
đảm đƣợc quyền lợi của ngƣời có quyền khi ngƣời vi phạm nghĩa vụ không
có khả năng tài sản để thực hiện nghĩa vụ, giao dịch bảo đảm đã đƣợc quy
định trong mục: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mục 5, phần thứ ba
trong Bộ luật dân sự năm 2005.
Nội dung của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chính là
bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho
việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình đối với bên kia theo hợp đồng. Nếu
đến hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ thì tài sản đƣợc bảo đảm sẽ đƣợc xử lý theo thỏa thuận trong
hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự.
Với những nỗ lực nhất định, pháp luật Việt Nam về bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự đƣợc từng bƣớc xây dựng, hoàn thiện thông qua các văn bản
hƣớng dẫn nhƣ: Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ
về các giao dịch có bảo đảm; Nghị định 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của
Chính phủ về đăng ký giao dịch có bảo đảm; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP
của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày
22/2/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006.


16

Bộ luật dân sự 2005 đã quy định 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh, đặt cọc, ký cƣợc, ký
quỹ và tín chấp. Trên cơ sở đó, các bên có thể lựa chọn các biện pháp bảo
đảm khác nhau tùy thuộc vào từng loại quan hệ hợp đồng cụ thể.
Tuy nhiên, với yêu cầu sửa đổi bổ sung nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh
của Bộ luật dân sự sang toàn bộ các quan hệ tài sản- tiền tệ và quan hệ phi tài
sản trong các lĩnh vực kinh tế- thƣơng mại thì những qui định pháp luật về các
biện pháp bảo đảm trong Bộ luật dân sự hiện hành sẽ không thể điều chỉnh
đƣợc toàn bộ các nhóm quan hệ này. Tự bản thân các quy định pháp luật về
các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự đã bộc lộ
những khiếm khuyết và bất cập nhất định.
Bộ luật dân sự năm 2015 đƣợc Quốc hội khóa XIII thông qua ngày
24/11/2015, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017 có nhiều nội dung đổi mới,
trong đó có phần nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Nhìn một cách
tổng thể, nội dung phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật dân sự năm
2015 đã tiệm cận tốt hơn với thông lệ quốc tế và cơ bản giải quyết đƣợc những
vƣớng mắc, khó khăn trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm.
So với Bộ luật dân sự 2005 thì Bộ luật dân sự 2015 đã bổ sung hai biện
pháp là bảo lƣu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản. Có thể nói, hai biện pháp
bảo đảm này lần đầu tiên đƣợc quy định một cách minh thị trong Bộ luật dân
sự năm 2015. Tuy nhiên, quy định này chỉ đƣợc đánh giá là kịp thời, hợp lý
và đáp ứng đƣợc yêu cầu cả về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn bởi thực tế nội
dung của hai biện pháp bảo đảm này đã đƣợc nhắc đến trong Bộ luật dân sự
2005 và đƣợc quy định rải rác trƣớc đó ở nhiều văn bản pháp luật khác nhƣ
Bộ luật hàng hải, Luật thƣơng mại.
Cầm giữ tài sản không đƣợc ghi nhận ở Điều 318 Bộ luật dân sự năm
2005 quy định các biện pháp bảo đảm, mà xuất hiện tại phần thực hiện hợp


17

đồng dân sự, cụ thể tại Điều 416 Bộ luật dân sự năm 2005. Đến Bộ luật dân
sự năm 2015, cầm giữ đƣợc ghi nhận là một trong những biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ, theo đó, “cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây
gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp
đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”
Nội dung bảo lƣu quyền sở hữu cũng đã đƣợc nhắc đến trong Bộ luật dân
sự năm 2005 tại Điều 461 về Mua trả chậm, trả dần, theo đó “bên bán được
bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ
tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Vậy, việc bổ sung hai biên pháp bảo đảm này nhằm tạo hành lang pháp lý
cho các bên tham gia vào giao dịch dân sự có nhiều phƣơng án để lựa chọn
biện pháp bảo đảm. Sự đổi mới này cũng nhằm đảm bảo đƣợc tính linh hoạt
cho quá trình ký kết, tham gia, thực hiện hợp đồng dân sự của các chủ thể,
góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế đất nƣớc.
Có thể nói, những tiếp cận mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ có sự ảnh hƣởng và tác động mang tính chất chi phối đến
cơ chế điều chỉnh pháp luật và nhận thức pháp luật trong lĩnh vực giao dịch
bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm.
1.1.3 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Do bị chi phối bởi mục đích và tính chất bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên
các biện pháp bảo đảm có những điểm đặc thù so với các giao dịch dân sự
thông thƣờng:
Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ
chính nhƣng mang tính độc lập tƣơng đối


18

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không tồn tại độc lập
mà luôn phụ thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ nào đó. Các biện pháp bảo
đảm đƣợc hình thành với mục đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong một hợp
đồng đƣợc xác định. Sự phụ thuộc thể hiện qua việc khi có quan hệ nghĩa vụ
chính thì các bên mới cùng nhau thiết lập một biện pháp bảo đảm.
Với tính chất là nghĩa vụ phụ nên nghĩa vụ trong giao dịch bảo dảm
thƣờng chỉ thực hiện khi có điều kiện nhất định. Đó là khi nghĩa vụ trong hợp
đồng chính bị vi phạm (ngoại trừ đặt cọc nhằm mục đích giao kết hợp đồng).
Nghĩa vụ trong hợp đồng chính bị vi phạm có thể là nghĩa vụ đó không đƣợc
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhƣng chỉ khi đến hạn mà nghĩa vụ
trong hợp đồng chính chƣa đƣợc thực hiện thì nghĩa vụ trong giao dịch bảo
đảm mới phát huy hiệu lực. Nói cách khác, chỉ khi nào các chủ thể xác định
đƣợc nghĩa vụ cần phải bảo đảm là gì, phải đƣợc bảo đảm nhƣ thế nào thì các
biện pháp bảo đảm mới đƣợc hình thành.
Mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính nhƣng biện pháp bảo đảm
mang tính độc lập tƣơng đối. Theo nguyên tắc chung, nếu hợp đồng chính vô
hiệu thì hợp đồng phụ cũng vô hiệu theo. Tuy nhiên đối với các biện pháp bảo
đảm thì lại có những loại riêng. Xuất phát từ mối quan hệ về hiệu lực giữa
hợp đồng chính và hợp đồng phụ đƣợc quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều
407, Bộ luật dân sự năm 2015 thì sẽ phát sinh những hệ quả pháp lý sau:
 Hiệu lực của các biện pháp bảo đảm phụ thuộc vào hợp đồng có nghĩa
vụ đƣợc bảo đảm vô hiệu nhƣng các bên chủ thể chƣa thực hiện hợp đồng đó
thì các biện pháp bảo đảm cũng mặc nhiên vô hiệu theo5. Tuy nhiên, nếu hợp
đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm đã đƣợc các bên thực hiện toàn bộ hay một
phần hợp đồng rồi, sau đó mới bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì các biện pháp
bảo đảm vẫn có hiệu lực. Bởi hậu quả pháp lý của hợp đồng bị tuyên bố vô
5

Điều 15, Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm


19

hiệu là các bên phải hoàn trả cho nhau tất cả những gì đã nhận, bên có lỗi phải
chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại.
 Nếu hợp đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm bị hủy bỏ hay đơn phƣơng
chấm dứt thực hiện thì các biện pháp bảo đảm cho hợp đồng đó vẫn có giá trị,
hiệu lực thi hành để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả.
 Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ
đƣợc bảo đảm, trừ trƣờng hợp các bên thỏa thuận biện pháp bảo đẩm là một
phần không thể tách rời của hợp đồng chính.
Thứ hai: các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm
của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
Khi đặt ra biện pháp bảo đảm, các bên hƣớng tới mục đích nâng cao trách
nhiệm thực hiện nghĩa vụ của ngƣời có nghĩa vụ. Ngoài ra, trong nhiều trƣờng
hợp, các bên còn hƣớng tới mục đích nâng cao trách nhiệm trong giao kết hợp
đồng của cả hai bên.
Thứ ba, đối tƣợng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất
Nghĩa vụ cần đƣợc bảo đảm mang tính chất tài sản nên đối tƣợng của các
biện pháp bảo đảm cũng phải mang tính tài sản. Khi thiết lập quan hệ nghĩa
vụ, không thể đƣa quyền nhân thân làm đối tƣợng của các biện pháp bảo đảm.
Quan hệ nghĩa vụ là loại quan hệ phức tạp, quyền lợi của các bên rất dễ bị
xâm phạm. Do đó, đối tƣợng của các biện pháp bảo đảm phải là lợi ích vật
chất thì mới có thể xác định đƣợc tính ngang giá, qua đó thực hiện việc bù
đắp tổn thất, khắc phục thiệt hại. Lợi ích vật chất là đối tƣợng của các biện
pháp bảo đảm thƣờng là một tài sản. Ngoài ra, còn có thể là một công việc
phải làm, nếu nó mang lại lợi ích cho bên có quyền. Các đối tƣợng này phải
có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối với một đối tƣợng của nghĩa vụ
dân sự nói chung.


20

Thứ tƣ, phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không vƣợt quá
phạm vi nghĩa vụ đã đƣợc xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ
chính
Về nguyên tắc chung, phạm vi bảo đảm không vƣợt quá phạm vi nghĩa vụ
đã đƣợc xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ đƣợc bảo đảm mà
tƣơng ứng với nghĩa vụ chính. Khoản 1, Điều 293 Bộ luật dân sự năm 2015
quy định: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa
thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp
luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm
toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại”. Nhƣ vậy,
phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ khi các bên không thỏa thuận và pháp
luật không quy định khác nhƣng cũng có thể chỉ là một phần nghĩa vụ. Đây là
những quy định mang tính chất dự phòng, nếu các bên có “thỏa thuận” thì áp
dụng những thỏa thuận đó6.
Pháp luật đã cho các bên quyền đƣợc “thỏa thuận” về phạm vi bảo đảm.
Điều này đƣợc khẳng định lại tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015 về các
trƣờng hợp xử lý tài sản bảo đảm. Khoản 3 Điều này quy định về trường hợp
khác do các bên thỏa thuận. Việc thỏa thuận của các bên về phạm vi bảo đảm
có thể là một phần hoặc toàn bộ nhƣng cũng có thể vƣợt quá giới hạn nghĩa
vụ đƣợc bảo đảm.
Thứ năm, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ đƣợc áp dụng khi có sự vi
phạm nghĩa vụ
Trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự, bên có nghĩa vụ phải tự giác thực
hiện nghĩa vụ của họ đối với bên có quyền. Nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa
vụ đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình thì biện pháp bảo đảm nghĩa
6

Phạm Công Lạc (1996), “Bản chất các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”, Luật học, (số
chuyên đề về Bộ luật dân sự), tr 31-34.


21

vụ đó cũng đƣợc coi là chấm dứt. Chức năng dự phòng của các biện pháp bảo
đảm cho thấy các biện pháp bảo đảm chỉ đƣợc áp dụng khi nghĩa vụ chính
không đƣợc thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhằm qua đó bảo đảm
quyền lợi cho bên có quyền.
Nhƣ vậy, các biện pháp bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển
quan hệ của chủ thể mang quyền từ từ tính chất đối nhân (phụ thuộc vào việc
thực hiện nghĩa vụ của bên đối tác) sang quan hệ có tính chất đối vật (chỉ cần
tác động trực tiếp vào tài sản bảo đảm để bảo vệ lợi ích của mình). Thông
qua việc áp dụng các biện pháp bảo đảm bên có quyền sẽ không bị động mà
trở thành chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
trong các giao dịch dân sự, thƣơng mại đã ký kết.
Xem xét các quy định chung về các biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự
trong tổng thể những quy định về nghĩa vụ dân sự, chúng ta có thể thấy đƣợc
bản chất pháp lý của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là một
loại chế tài trong nghĩa vụ dân sự.
Chế tài này do các bên thỏa thuận đặt ra dƣới sự bảo trợ của pháp luật.
Các bên có thể tự áp dụng nhƣ đã thỏa thuận khi có sự vi phạm nghĩa vụ hoặc
nếu không có sự thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nƣớc có thảm
quyền áp dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền7
1.1.4 Chức năng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Mỗi biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có những đặc rƣng
riêng, đo đó chúng mang những chức năng khác nhau. Tuy nhiên, các biện
pháp này lại có những chức năng chung:
 Chức năng thúc đẩy bên có nghĩa vụ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của họ:

7

Giáo trình Luật dân sự Việt Nam- Tập II, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, NXB. Công an nhân dân, 2014, tr.
63.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×