Tải bản đầy đủ

Giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn thẩm phán tại học viện tòa án

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ MAI ANH

ĐỀ TÀI
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN
THẨM PHÁN TẠI HỌC VIỆN TÒA ÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ MAI ANH

ĐỀ TÀI

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN
THẨM PHÁN TẠI HỌC VIỆN TÒA ÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60380101

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Long

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Lê Thị Mai Anh


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu
tới các thầy, cô giáo của trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô
trong Tổ bộ môn Lý luận nhà nước và pháp luật đã truyền đạt những kiến
thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường. Đặc
biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Lê Văn Long –
người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian
hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình. Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành,
kính chúc thầy sức khỏe và công tác tốt.


Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng
hộ, động viên tôi trong suốt quãng thời gian học tập tại Trường Đại học Luật
Hà Nội, để tôi có thể hoàn thiện luận văn thạc sĩ của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2017
Tác giả Luận văn

Lê Thị Mai Anh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .......................................................................... 3
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn ............................ 4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn ......................................... 5
5. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn ...................... 5
7. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 6
Chƣơng 1 .......................................................................................................... 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN
BỘ NGUỒN THẨM PHÁN ........................................................................... 7
1.1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán. ............ 7
1.2. Đặc điểm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán. ............ 19
1.3. Mục đích và yêu cầu của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm
phán. ............................................................................................................... 22
1.4. Nội dung, chƣơng trình giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm
phán. ............................................................................................................... 26
1.5. Hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán. .......... 28
1.6. Chủ thể và đối tƣợng của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm
phán ................................................................................................................ 30
1.7. Những yếu tố ảnh hƣởng đến giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn
Thẩm phán ..................................................................................................... 33
Chƣơng 2 ........................................................................................................ 36
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN
THẨM PHÁN TẠI HỌC VIỆN TÒA ÁN .................................................. 36
2.1. Khái lƣợc về Học viện Tòa án ............................................................... 36


2.2. Những kết quả đạt đƣợc trong giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn
Thẩm phán tại Học viện Tòa án .................................................................. 40
2.3. Những hạn chế, tồn tại đối với giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn
Thẩm phán và những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại .......................... 58
Chƣơng 3 ........................................................................................................ 67
PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN THẨM PHÁN TẠI HỌC
VIỆN TÒA ÁN .............................................................................................. 67
3.1. Phƣơng hƣớng nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho cán bộ
nguồn Thẩm phán ......................................................................................... 67
3.2. Giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn
Thẩm phán ..................................................................................................... 74
3.2. Một số kiến nghị ..................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 87


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lấy pháp luật làm căn cứ để điều
chỉnh hành vi của các cá nhân, các nhóm xã hội và các quan hệ xã hội nhằm
bảo đảm cho xã hội ổn định và phát triển. Cho nên cần phải xây dựng hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh, có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến
cơ sở, trình độ văn hóa pháp luật và ý thức pháp luật của mọi người dân phải
được nâng cao, ý thức thực thi pháp luật phải nghiêm minh. Do đó, việc giáo
dục pháp luật cho nhân dân là việc vô cùng quan trọng. Tăng cường công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp lý và cán bộ hành chính nhà nước, tạo thành
đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao và phẩm chất đạo đức trong sáng,
mẫu mực đóng vai trò và ý nghĩa giáo dục pháp luật rất lớn đối với toàn xã
hội.
Thực hiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được công nhận tại Điều 2 Hiến pháp
2013. Nhà nước được tổ chức, hoạt động và quản lý xã hội bằng Hiến pháp và
pháp luật, đề cao giáo dục pháp luật cho công dân, tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa là một trong những nội dung đặc trưng cơ bản để xây dựng của
Nhà nước pháp quyền. Để đảm bảo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh thì trước tiên cần phải có pháp luật và hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh với chất lượng cao, tiếp đó là phải có các phương
pháp tiến hành giáo dục pháp luật đúng đắn và hiệu quả. Để đạt được mục
đích giáo dục pháp luật mà trước hết là trang bị tri thức pháp luật cho công
dân cần phải sử dụng tổng hợp nhiều hình thức và phương pháp.
Các hình thức giáo dục pháp luật được áp dụng trong thực tế rất đa
dạng, phong phú và sáng tạo. Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử
của Tòa án là hình thức giáo dục đặc thù nhất, thông qua hoạt động xét xử
của Tòa án làm cho mọi người thấy rằng bất cứ hành vi vi phạm pháp luật


2
nào cũng đều bị xử lý theo pháp luật, mọi tranh chấp trong xã hội đều được
giải quyết công bằng, đúng pháp luật. Trong hoạt động tố tụng của Tòa án,
Thẩm phán giữ vị trí chủ đạo; chức năng, nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do
Thẩm phán thực hiện. Với tư cách là người được giao thực hiện chức năng
xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán
có vị trí quan trọng và vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một
trong những quyền lực nhà nước - quyền tư pháp. Với vị trí, vai trò đặc biệt
quan trọng như vậy, Thẩm phán đòi hòi cần người có đầy đủ về năng lực
chuyên môn, bản lĩnh chính trị vững vàng và phẩm chất, đạo đức nghề
nghiệp chí công vô tư. Để trở thành một Thẩm phán cần phải đạt đủ các tiêu
chuẩn theo quy định của pháp luật và điều quan trọng phải được giáo dục
pháp luật một cách đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu nhất.
Để tạo nguồn nhân lực cho các cơ quan tư pháp và cho các Tòa án nhân
dân, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư
pháp đã nhấn mạnh đến việc tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo
cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, hỗ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư
pháp, hỗ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp
luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm
chất, đạo đức trong sạch.
Trước yêu cầu của nhiệm vụ cải cách tư pháp, các quy định của Hiến
pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, đòi hỏi chất lượng đội ngũ
nhân lực của các Tòa án phải được nâng cao về mọi mặt, công tác đào tạo, bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, Thẩm phán và
các chức danh Tòa án là hết sức cấp thiết, có tính chất quyết định đến kết quả
và chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án. Tòa án nhân dân tối cao đã xác
định việc đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Tòa án là một trong
năm giải pháp đột phá quan trọng của hệ thống Tòa án nhân dân, nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động xét xử.
Học viện Tòa án ra đời nhằm đáp ứng mục tiêu trên. Học viện Tòa án có
nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ Tòa án; đào tạo nghiệp vụ xét


3
xử cho các chức danh tư pháp, nhằm tạo nguồn cán bộ, Thẩm phán có chất
lượng cao về cả chuyên môn và phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp và hội nhập quốc tế. Hoạt động giáo dục pháp luật tại Học viện Tòa
án thể hiện rõ nét và đặt thù với mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình
thức và phương pháp.
Mặc dù công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại
Học viện Tòa án thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên
do đặc thù Học viện mới thành lập, cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính còn
chưa hoàn thiện, gián tiếp tác động đến hoạt động giáo dục pháp luật cho học
viên còn một số hạn chế như: nội dung chương trình, giáo trình tài liệu phục
vụ giảng dạy và nghiên cứu, học tập, về đội ngũ giảng viên còn thiếu về số
lượng, khiêm tốn về chất lượng và cần nâng cao hơn nữa cả về trình độ và
phương pháp sư phạm; đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo cần được bổ sung thêm
nhân lực và kiện toàn bộ máy tổ chức…
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Giáo dục pháp luật cho cán bộ
nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án” là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn thiết thực đối với xã hội nói chung và ngành Tòa án nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục pháp luật được xem là một dạng giáo dục pháp luật có tầm
quan trọng đặt biệt để nâng cao nhận thức và ý thức của cán bộ và nhân dân,
nên đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này. Có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu như:
Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1994, mã số 92-98-223-ĐT, của Viện
Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới”;
Các tác giả Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (1995), “Bàn về
giáo dục pháp luật”;
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Thanh Mai (1996), “Giáo dục pháp
luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam”;


4
Luận án tiến sĩ của tác giả Đinh Xuân Thảo (1996), “Giáo dục pháp luật
trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không
chuyên luật) ở nước ta hiện nay”;
Bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Minh (1983), Tạp chí Cộng sản số 10,
tr34-38, “Giáo dục pháp luật cho nhân dân”;
v.v...
Ngoài ra còn có những Luận văn Thạc sĩ của các học viên tại các trường
đại học, Học viện lớn chuyên đào tạo Luật; các bài nghiên cứu về giáo dục
pháp luật trong các đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, các tạp chí….
Các công trình nghiên cứu nêu trên đều có những đóng góp quan trọng
cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều
phương diện và góc độ xã hội. Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng cho đến nay
chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ và có hệ
thống về giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán nói chung và giáo
dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án nói riêng. Vì
vậy, đây là đề tài nghiên cứu có tính chất chuyên biệt nghiên cứu về hoạt
động giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về đối tượng: Luận văn nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho cán bộ
nguồn Thẩm phán là những người đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện của
pháp luật, họ được đào tạo nghiệp vụ xét xử và trở thành nguồn cán bộ quy
hoạch chức danh Thẩm phán khi đáp ứng đủ yêu cầu. Đối tượng nguồn Thẩm
phán nghiên cứu chủ yếu là các Thư ký, Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân
các cấp, một số là sĩ quan quân đội thuộc nguồn bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án
quân sự. Một số ít trường hợp là các cán bộ làm công tác pháp luật và có
chuyển đổi vị trí công tác.
Phạm vi nghiên cứu: Học viên nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho cán
bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án. Thông qua công tác giáo dục, đào
tạo nghiệp vụ xét xử, đề tài sẽ phân tích và đánh giá thực trạng cũng như đề ra


5
phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ
nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án.
Luận văn giới hạn nghiên cứu, lấy số liệu thực tế trong vòng 3 năm (từ
2014 đến 2017) từ khi Học viện Tòa án thành lập trên cơ sở Trường Cán bộ
Tòa án trước đây.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho cán bộ
nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án nhằm phân tích nội dung, chương trình
giáo dục pháp luật có chất lượng và chuyên sâu, đồng thời lựa chọn những hình
thức, phương pháp giáo dục phù hợp đối với đối tượng đặc biệt này.
Để đạt được mục đích đó, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu, phân tích cơ
sở lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán, nêu ra những
kết quả đạt được trong quá trình giáo dục pháp luật tại Học viện Tòa án. Đồng
thời, luận văn cũng chỉ ra những mặt hạn chế và tồn tại trong công tác giáo dục
từ đó đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp
luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thường
dùng như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử - cụ thể, thống
kê...nhằm giải quyết nhiệm vụ đặt ra của đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giáo
dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán; đánh giá thực trạng, nêu ra những
hạn chế để từ đó tìm ra phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục
pháp luật tại Học viện Tòa án. Đây cũng là vấn đề mang tính xã hội, giáo dục
pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán không chỉ cung cấp, trang bị kiến thức


6
pháp luật, phương pháp hành nghề, cách giải quyết vụ án và đưa ra phán quyết
đúng đắn tại phiên tòa mà còn hình thành cho họ ý thức đạo đức nghề nghiệp,
niềm tin nội tâm với khi giải quyết các tình huống pháp luật để xứng đáng trở
thành người đại diện cho cán cân công lý, bảo vệ công bằng, lẽ phải.
Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập, giảng dạy
về lý luận nhà nước và pháp luật tại các cơ sở đào tạo; đây cũng là nguồn tài
liệu chuyên ngành giúp hiểu sâu về chức danh tư pháp của Tòa án – đội ngũ
Thẩm phán.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn
Thầm phán
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
tại Học viện Tòa án
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp
luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án.


7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
CÁN BỘ NGUỒN THẨM PHÁN
1.1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán.
1.1.1. Khái niệm giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật ở nước ta có nhiều cách hiểu khác nhau. Để có một
cách nhìn nhận đúng đắn, khoa học về giáo dục pháp luật cần phải tiếp cận từ
khái niệm giáo dục trong khoa học sư phạm. Trong khoa học sư phạm giáo
dục được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của những điều kiện
khách quan như chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường sống...và của
những nhân tố chủ quan như tác động tự giác, có chủ đích và định hướng của
nhân tố con người lên việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định
của đối tượng giáo dục.
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân tố
chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu
tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để họ có đầy đủ
khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội.
Giáo dục pháp luật xét về mặt bản chất là quá trình hoàn thiện nhân tố xã
hội - pháp lí của con người, nâng cao khả năng sáng tạo của con người trước
đời sống thực tiễn. Giáo dục pháp luật là quá trình tác động của nhiều hình
thức, phương tiện vào ý thức của con người, đó không phải và không thể là sự
áp đặt ý chí chủ quan duy ý chí tới quá trình nhận thức khách quan của các
chủ thể.
Trước hết giáo dục pháp luật đó là một nhiệm vụ mang tính thường
xuyên, liên tục của nhà nước. Do đó, nhà nước cần thực hiện việc tổ chức,
quản lí, đánh giá kết quả lĩnh vực hoạt động này.
Giáo dục pháp luật phải đảm bảo tính kịp thời, sát thực và phù hợp cả về
phương diện nội dung, hình thức và đối tượng. Tuy nhiên, dưới góc độ tổng


8
quan cần gắn việc giáo dục pháp luật trong nhà trường, trong các thiết chế
chính trị xã hội với giáo dục ở ngoài cộng đồng xã hội và gia đình. Kết nối
việc phổ biến, giáo dục pháp luật với công tác giáo dục truyền thống lịch sử
và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. Đặc biệt, cần gắn giáo dục pháp
luật với quá trình thực thi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh của đất nước, của từng vùng, miền địa phương và an sinh xã
hội.
Từ những phân tích trên có thể xác định khái niệm giáo dục pháp luật
như sau: Giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, có
mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho
mỗi người trình độ pháp lí nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp
luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật.
1.1.2. Khái niệm cán bộ nguồn Thẩm phán
1.1.2.1. Khái niệm Thẩm phán và tiêu chuẩn, vị trí, vai trò, nhiệm vụ,
quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán.
 Khái niệm Thẩm phán
Theo khoản 1, Điều 1 - Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
ngày 04/10/2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những
việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án”.
Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề
nghị của Chánh án Toà án Nhân dân tối cao và là người thực hiện quyền xét
xử chính tại một phiên tòa, có thể là chủ tọa một mình hoặc là một thành phần
trong hội đồng xét xử gồm nhiều Thẩm phán. Thẩm phán là những người thay
mặt cho Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các phán quyết
nhằm giải quyết sự tranh chấp giữa các bên hoặc phán quyết việc áp dụng các
chế tài để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các vụ án thuộc thẩm
quyền, đảm bảo sự tôn trọng và thực thi pháp luật trong đời sống xã hội, đảm


9
bảo bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào cũng bị xử lý nghiêm minh, kịp thời
không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội.
 Tiêu chuẩn đối với chức danh Thẩm phán
Theo quy định của pháp luật, Thẩm phán là những người được tuyển
dụng, bổ nhiệm làm việc trong hệ thống cơ quan Tòa án. Tiêu chuẩn đối với
chức danh Thẩm phán được quy định tại Điều 67 Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân năm 2014 như sau: “Là công dân Việt Nam, trung thành với tổ quốc và
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức
tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dung cảm và kiên quyết bảo
vệ công lý, liêm khiết và trung thực; Có trình độ cử nhân luật trở lên; Đã được
đào tạo nghiệp vụ xét xử; Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật; Có
sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao”.
 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hệ thống cơ quan tư pháp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2010 thì
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước…Do vậy, Thẩm phán trước hết phải là
công chức Nhà nước.
Thẩm phán ngoài việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định trong
Luật Cán bộ, công chức thì Thẩm phán còn phải thực hiện các quyền và nghĩa
vụ trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định. Theo quy định của Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các
cấp có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.
Do vậy, Thẩm phán là chức danh pháp lý không thể thiếu được trong tổ chức
và hoạt động của Tòa án, Thẩm phán là người có vị trí chủ đạo. Chức năng,
nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do Thẩm phán thực hiện.
Trong hoạt động tố tụng của Tòa án, Thẩm phán giữ vị trí chủ đạo; chức
năng, nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do Thẩm phán thực hiện. Với tư cách là


10
người được giao thực hiện chức năng xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc
thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán có vị trí quan trọng và vai trò không thể
thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực nhà nước - quyền tư
pháp. Hơn nữa, Thẩm phán còn có vị trí, vai trò đặc biệt nếu xét từ chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm của họ trong cơ cấu tổ chức cán bộ của
Tòa án, trong hoạt động tố tụng khi so sánh Thẩm phán với những người tiến
hành tố tụng khác, trong cơ chế bổ nhiệm, giao nhiệm vụ và khi so sánh
Thẩm phán với các chức danh công chức khác trong các cơ quan nhà nước.
Trong số các chức danh cán bộ, công chức nhà nước thì Thẩm phán được
xem là chức danh công chức đặc biệt, như các vấn đề về nghĩa vụ và quyền
hạn, về những việc họ không được làm và các vấn đề về tổ chức cán bộ, chế
độ chính sách đối với Thẩm phán không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Cán
bộ, công chức mà còn phải tuân theo các quy định của Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân, về điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục thi tuyển chọn Thẩm phán và bổ
nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán.
Đặc biệt là việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán, điều này khẳng định một
trong những thành tựu đã đạt được trong cải cách tư pháp đó là thay thế cơ
chế Hội đồng nhân dân bầu Thẩm phán bằng chế định bổ nhiệm Thẩm phán,
điều này có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện một cách thống nhất tiêu
chuẩn hóa Thẩm phán trên phạm vi toàn quốc, tạo sự chuyển biến mang tính
tích cực cả về số lượng và chất lượng đội ngũ Thẩm phán, đồng thời là sự
công nhận và thể hiện quan điểm của Nhà nước và nhân dân về vị trí, vai trò
quan trọng của Thẩm phán trong việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Thẩm phán là công chức được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật với
chức năng thực hiện nhiệm vụ xét xử các loại vụ án và giải quyết các việc
khác thuộc thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán Tòa án có vị trí trung tâm
trong cơ cấu cán bộ của cơ quan Tòa án và trong số những người tiến hành tố
tụng; có vai trò quyết định không thể thay thế đối với việc thực hiện quyền


11
lực nhà nước - quyền tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng tư pháp nói
riêng1.
 Trách nhiệm của Thẩm phán
Quy định tại điều 76 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, cụ thể:
- Trung thành với Tổ quốc, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp

luật.
- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với

nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
- Độc lập, vô tư, khách quan, bảo vệ công lý trong xét xử; chấp hành quy

tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán, giữ gìn uy tín của Tòa án.
- Giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định của pháp luật.
- Học tập, nghiên cứu để nâng cao kiến thức, trình độ chính trị và chuyên

môn nghiệp vụ Tòa án.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền

hạn và các quyết định của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của luật. Thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ
xét xử có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách
nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của luật.
 Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức của người Thẩm phán
Phẩm chất, bản lĩnh chính trị là yêu cầu quan trọng, cơ bản nhất đối với
đội ngũ Thẩm phán của Tòa án nhân dân. Đó là sự trung thành và bản lĩnh
chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa
mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; nhiệt tình cách mạng, gương mẫu, tận
tuỵ, có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công việc, hết lòng, hết sức vì
sự nghiệp của nhân dân, tận tâm, tận trí phục vụ nhân dân.

1

Học viện Tòa án (2016), Chương trình đào tạo Nghiệp vụ xét xử (Tập bài giảng cho Khóa 3), Nxb CAND,
Hà Nội, tr. 83-84.


12
Đạo đức của người Thẩm phán gồm hai mặt cơ bản: đạo đức cá nhân và
đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức cá nhân, trước hết thể hiện ở ý thức, niềm tin
vào định hướng xã hội chủ nghĩa; quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ngoài ra, phẩm chất đạo
đức cá nhân còn được thể hiện ở tinh thần và ý thức, biết tôn trọng, giữ gìn kỷ
luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không
tham ô lãng phí, có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái,
vị tha, ứng xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bạn bè và trong xã hội, có
tinh thần hướng thiện, hiếu học. Đạo đức nghề nghiệp, đó là ý thức và trách
nhiệm pháp lý đối với nghề nghiệp mà họ theo đuổi. Đạo đức nghề nghiệp
của người Thẩm phán thể hiện trước hết ở tinh thần trách nhiệm cao và đề cao
kỷ luật trong thi hành công vụ. Đó là ý thức luôn cố gắng hoàn thành nhiệm
vụ, công vụ được giao, kể cả khi gặp những điều kiện khó khăn, phức tạp.
Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi người Thẩm phán phải tiết kiệm không chỉ cho
bản thân mình mà cao hơn, quan trọng hơn là tiết kiệm thời gian, tiền của của
nhân dân, tiết kiệm công sản, công quỹ, tiết kiệm tài nguyên của đất nước,
nhờ đó chống được bệnh lãng phí thường xảy ra trong các cơ quan nhà nước.
Đạo đức nghề nghiệp còn được thể hiện ở sự ngay thẳng, công bằng, tận tâm,
thực thi công vụ theo pháp luật và kỷ cương phép nước, công tư phân minh.
Người thẩm phán phải luôn luôn đề cao đạo đức công chức, đạo đức nghề
nghiệp, bởi thiên chức của thẩm phán chính là cầm cân, nảy mực, xét xử đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật và đúng lương tâm.
 Từ việc trình bày và phân tích về tiêu chuẩn, vị trí, vai trò, nhiệm vụ,
quyền hạn, trách nhiệm, yêu cầu về phẩm chất chính trị và đạo đức của
Thẩm phán có thể thấy rằng Thẩm phán là người có vị trí quan trọng và vai
trò không thể thay thế trong việc thực hiện chức năng xét xử và giải quyết
các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án. Các quy định của pháp luật đặt ra
cũng thể hiện tầm quan trọng về vấn đề giáo dục pháp luật đối với đội ngũ
Thẩm phán. Một trong các tiêu chuẩn để trở thành Thẩm phán là “đã được
đào tạo nghiệp vụ xét xử” đây là biểu hiện hình thức giáo dục pháp luật. Quy


13
định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán cũng nêu rõ “Thẩm phán
phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống
lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên
truyền, phổ biến pháp luật” như vậy để thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn
mỗi Thẩm phán đã phải hiểu được tầm quan trọng nội dung, mục đích,
phương pháp của giáo dục pháp luật để vận dụng trong công việc, trở thành
một chủ thể giáo dục pháp luật toàn diện đối với nhân dân. Đặt ra trách
nhiệm của Thẩm phán “Học tập, nghiên cứu để nâng cao kiến thức, trình độ
chính trị và chuyên môn nghiệp vụ Tòa án” cũng như “Chịu trách nhiệm
trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và các quyết định của
mình” là yêu cầu bắt buộc để trở thành Thẩm phán cần trang bị tri thức pháp
luật ở trình độ cao cả về chuyên môn và nghiệp vụ, đồng thời phải ý thức
đúng đắn về đặc thù nghề nghiệp, xây dựng thói quen xử xự theo chuẩn mực
pháp luật. Đây là những phương diện biểu hiện rõ nét của vấn đề giáo dục
pháp luật.
Thẩm phán là những người có trách nhiệm độc lập khi xét xử và chỉ tuân
theo pháp luật (Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013, Điều 9 Luật tổ chức Tòa
án nhân dân 2014). Thẩm phán được phân công là chủ tọa phiên tòa có nghĩa
vụ duy trì, điều khiển phiên tòa theo đúng các nguyên tắc và quy định của luật
tố tụng, tham gia trực tiếp vào việc điều tra, xét hỏi công khai tại Tòa, là
người duy nhất có quyền kháng nghị và công bố bản án, quyết định – những
kết luận cuối cùng kết thúc toàn bộ quá trình xét xử tại tòa. Tác động giáo dục
pháp luật của Thẩm phán còn được phát huy thông qua việc thực hiện nghĩa
vụ hòa giải theo luật định trong các án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế,
lao động…Nghĩa là Thẩm phán cùng Hội đồng xét xử chủ động giải thích
pháp luật, làm rõ phạm vi quyền và trách nhiệm của các đương sự cũng như
những cách thức thân thiện có thể dùng để giải quyết các mâu thuẫn tranh
chấp dân sự, lao động, kinh tế giữa họ nhằm giúp họ thông cảm lẫn nhau
nhiều hơn, “tự định vị lại” vị trí của mình trong quan hệ với bên kia trên cơ sở
hiểu biết pháp luật, từ đó tự điều chỉnh, thương lượng để cùng nhau giải quyết


14
vụ việc trước khi Tòa phải ra bản án. Đó chính là biểu hiện cụ thể của hiệu
quả giáo dục pháp luật tại phiên tòa. Các đương sự từ chỗ thụ động chờ phán
quyết của Tòa án sau khi được trang bị những hiểu biết cần thiết để định
hướng hành động đã tích cực, chủ động tìm lấy phương thức phù hợp bảo vệ
quyền, lợi ích của mình trong khuôn khổ pháp luật, hơn thế nữa còn khôi
phục được những mối quan hệ tình cảm, quan hệ làm ăn đã bị sứt mẻ do tranh
chấp, góp phần ổn định trật tự pháp luật, tăng cường đoàn kết trong xã hội.
Tác động giáo dục pháp luật có ý nghĩa quyết định của Thẩm phán là ở tính
nghiêm minh, đúng đắn, toàn diện của các phán quyết mà họ đưa ra dựa trên
những căn cứ vững chắc và được trình bày rõ ràng, khúc chiết. Tất cả nỗ lực
của các chủ thể khác đều được đánh giá, cân nhắc kĩ càng và thể hiện phần
hợp lí, đúng đắn trong bản án. Tòa bộ ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm, bản
lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức chân thực của người Thẩm phán cũng
được thể hiện trong bản án và qua đó mà tác động lên ý thức pháp luật của
những chủ thể khác cũng như của các đối tượng giáo dục pháp luật tại phiên
tòa.
1.1.2.2. Cán bộ nguồn Thẩm phán
Theo từ điển tiếng Việt thì từ “Nguồn” có nghĩa là nơi bắt đầu, nơi phát
sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp2.
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công
vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các giải thích khác nhau
về các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”.
Để xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì Luật Cán bộ, công
chức năm 2008 quy định tại Khoản 1 Điều 4 “Cán bộ là công dân Việt Nam,
được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã

2

Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội, tr. 692.


15
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước”.
Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa
và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà
nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo từ điển
Tiếng Việt, “Cán bộ” là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong
cơ quan nhà nước (cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị) hoặc
là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt
với người thường, không có chức vụ3. Như vậy, thuật ngữ “cán bộ” chỉ chung
cho những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất
định. Trong quân sự, cán bộ được dùng như từ đồng nghĩa với sĩ quan. Thuật
ngữ cán bộ cũng thường được những tù nhân trong trại giam gọi những người
quản lý trại giam, cai tù, cai ngục ở Việt Nam. Cán bộ cũng là danh xưng
thường được những người dân chỉ về những người có quyền hành (cán bộ
lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán bộ quản lý, cán bộ nguồn...), hay đang thụ lý
giải quyết một vụ việc cho người dân (cán bộ thuộc dịch vụ công cộng).
Trong ngành Tòa án thuật ngữ “cán bộ” chỉ chung cho những người làm
việc tại Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm thực thi pháp luật hoặc
những cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý hoạt động tư pháp. Cơ sở hình thành từ
tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, sau Cách mạng Tháng Tám, Bác dù
bận trăm công nghìn việc do phải lãnh đạo toàn quốc tiến hành cuộc kháng
chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, nhưng Người luôn chăm lo, quan tâm
đến mọi hoạt động của Tòa án. Tháng 2/1948, Hội nghị tư pháp toàn quốc
được triệu tập, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không đến dự Hội nghị được.
Bác đã gửi một bức thư đến Hội nghị, ân cần căn dặn: “Tư pháp là một cơ
quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải tinh thành đoàn kết, hợp
tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó

3

Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội, tr.109.


16
có thể vì quyền lợi nhỏ mà hại đến quyền lợi to và chung, cho cả tư pháp và
hành chính.
Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các
bạn cần phải nêu cao cái gương “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”
cho nhân dân noi theo”.4
Từ năm 2008 cho tới nay, ngành Tòa án nhân dân luôn nhắc tới lời dạy
của Bác “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” trong các văn bản và trong
các phong trào thi đua yêu nước, xem đó là một tiêu chuẩn đạo đức cho mỗi
cán bộ Tòa án noi theo để rèn luyện trong công tác. Theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh "mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào
công việc thực tế. Phải chữa bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận
suông".5 Vì vậy, để lao động đạt hiệu quả cao đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải
có tinh thần học tập không ngừng. Từ đó đặt ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ
Tòa án phải tự mình trau dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình
độ lý luận chính trị, nghiên cứu các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước và của hệ thống Tòa án. Tại Hội nghị cán
bộ ngành tư pháp năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Trong công tác
xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không
thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án. Phải “Gần dân, hiểu
dân, giúp dân, học dân”. Giúp dân, học dân để giúp mình thêm liêm khiết,
thêm công bằng. Thêm nữa là phải luôn luôn cố gắng học tập lý luận, học tập
đường lối, chính sách của Chính phủ. Theo Bác, người cán bộ Tòa án cũng là
con người nên không thể tránh được những thiếu sót. Muốn làm tốt công tác
xử án thì ngoài phải liêm khiết, trong sạch thì người cán bộ Tòa án phải hiểu
được tâm tư, nguyện vọng, khúc mắc của người dân, qua đó sẽ giúp dân, cảm
hóa dân và học ở dân những đức tính tốt đẹp, những kinh nghiệm nhằm giúp
cho công tác xét xử tốt hơn. Do đó, để trở thành Thẩm phán thì những cán bộ
nguồn Thẩm phán trước hết phải trang bị cho mình đầy đủ trình độ pháp luật
4
5

Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch(1958), t.1, Nxb Sự thật , tr.235.
Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.234-235.


17
và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Ngoài việc tự trau dồi, nghiên cứu, những
cán bộ nguồn Thẩm phán cũng cần được giáo dục pháp luật để hoàn thiện hơn
và chuyên sâu hơn về kiến thức, kỹ năng và định hướng nghề nghiệp khi trở
thành Thẩm phán có thể tự tin và thực hiện tốt trọng trách được giao.
Từ phân tích về thuật ngữ “cán bộ” và “nguồn” nêu trên có thể đưa ra
khái niệm Cán bộ nguồn Thẩm phán là những người có đủ tiêu chuẩn và điều
kiện theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã được đào tạo nghiệp vụ
xét xử và trở thành đội ngũ dự bị Thẩm phán trong tương lai. Tuy nhiên để trở
thành Thẩm phán họ phải trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán và sau đó
được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp theo quy
định của pháp luật.
Ở Việt Nam, sinh viên tốt nghiệp các trường, cơ sở đào tạo Luật chính
quy được nhận bằng cử nhân luật và có cơ hội được tuyển dụng vào các cơ
quan tư pháp làm việc. Sau một thời gian công tác pháp luật, họ có thể được
xét, cử tham gia khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử, sau đó để trở thành Thẩm
phán họ phải trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán trước khi được bổ
nhiệm. Như vậy, đối tượng đào tạo ở Việt Nam mở rộng hơn một số quốc gia
khác, chủ yếu là những cán bộ công tác trong hệ thống Tòa án và còn mở
rộng đến các đối tượng là cán bộ công tác pháp luật ở các cơ quan khác trong
bộ máy nhà nước.
Cán bộ nguồn Thẩm phán hầu hết là công chức của hệ thống cơ quan
Tòa án nhân các cấp có trình độ cử nhân luật trở lên, có thâm niên công tác
pháp luật và có năng lực xét xử như Thư ký, Thẩm tra viên, Chuyên
viên….
Ngoài ra, người làm công tác pháp luật của các cơ quan, tổ chức
ngoài hệ thống Tòa án cũng có thể là nguồn được bổ nhiệm Thẩm phán khi
đáp ứng đủ các yêu cầu theo quy định của Luật chức Tòa án nhân dân năm
2014 và Luật Cán bộ, công chức năm 2008 như Cán bộ lãnh đạo, Cán bộ


18
quản lý, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Sỹ quan quân đội tại ngũ, Chấp hành
viên, Luật sư…
 Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
Xuất phát từ định nghĩa giáo dục pháp luật nói chung đã đề cập ở trên,
cùng với phân tích tính đặc thù về đối tượng giáo dục pháp luật là cán bộ
nguồn Thẩm phán thì có thể hiểu giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm
phán là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích tới nhận thức
của cán bộ nguồn Thẩm phán nhằm trang bị cho họ những tri trức, hiểu biết
pháp luật nói chung, về các vấn đề pháp luật chuyên ngành, kỹ năng xét xử
liên quan đến hoạt động nghiệp vụ nói riêng để từ đó hình thành cho họ có ý
thức đúng đắn về nghề nghiệp, nâng cao tri thức pháp luật, rèn luyện bản lĩnh
chính trị và có phẩm chất, đạo đức tốt để trở thành Thẩm phán theo quy định
của pháp luật.
Giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán thông qua chương
trình đào tạo nghiệp vụ xét xử là đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo
đội ngũ tạo nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán, làm nhiệm vụ xét xử, giải
quyết các loại án. Đó là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, phương
pháp, kỹ năng nghề nghiệp cho người được đào tạo. Theo đó, đối tượng
đào tạo nghiệp vụ xét xử hầu hết là công chức của hệ thống cơ quan Tòa án
nhân dân các cấp đã tốt nghiệp cử nhân luật, có thâm niên công tác pháp
luật từ 5 năm trở lên và có khả năng xét xử, được cơ quan chủ quản giới
thiệu và vụ Tổ chức – cán bộ phê duyệt danh sách. Ngoài ra, người làm
công tác pháp luật của các cơ quan, tổ chức ngoài hệ thống Tòa án cũng có
thể tham gia lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử để có thể tham gia kỳ thi tuyển
chọn Thẩm phán quốc gia, có thể được bổ nhiệm Thẩm phán. Từ các tiêu
chuẩn nêu trên của đối tượng đào tạo Thẩm phán, cho thấy đối tượng đào
tạo Thẩm phán hiện nay không chỉ bó hẹp là những công chức đang đảm
nhận nhiệm vụ như thư kí, thẩm tra viên, chuyên viên…trong các bộ phận
của hệ thống Tòa án nhân dân các cấp, mà còn cả những cán bộ, công chức
ngoài hệ thống như: kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, luật sư...


19
1.2. Đặc điểm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán.
Giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán cũng là một bộ phận
cấu thành giáo dục pháp luật nói chung, nghĩa là cũng tuân theo các quy định
chung của quá trình giáo dục pháp luật, phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung,
hình thức, phương pháp, chủ thể, khách thể...Bên cạnh đó, giáo dục pháp luật
cho cán bộ nguồn Thẩm phán cũng có những đặc điểm riêng xuất phát từ
những nét đặc thù về vị trí công tác, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
họ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những
đặc điểm chính của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán gồm:
Thứ nhất, giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán đòi hỏi tính
chuyên môn, chuyên nghiệp cao cả về phương diện chủ thể giáo dục và nội
dung giáo dục pháp luật. Bởi vì cán bộ nguồn Thẩm phán là những người đã
có trình độ từ cử nhân luật trở lên, có thâm niên công tác pháp luật...như vậy
bản thân mỗi người đã được trang bị tri thức pháp luật và có thẩm quyền áp
dụng pháp luật. Tuy nhiên để trở thành Thẩm phán - người thực hiện chức
năng xét xử và có vị trí chủ đạo trong tổ chức và hoạt động của Tòa án thì họ
cần phải đáp ứng các yêu cầu cao hơn về kiến thức, hiểu biết pháp luật, trình
độ chuyên môn và các kỹ năng nghiệp vụ cần thiết. Do đó, giáo dục pháp luật
cho cán bộ nguồn Thẩm phán đòi hỏi nội dung giáo dục pháp luật có tính hệ
thống, tính chuyên ngành và tính chuyên nghiệp cao mới có thể đảm bảo chất
lượng giáo dục pháp luật cho đối tượng này.
Nội dung giáo dục pháp luật cần gắn với đặc trưng cơ bản của nghề như
tính chuyên nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn xét xử và nhu cầu phát triển của xã
hội; phải xuất phát từ yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập,
hợp tác quốc tế trong hoạt động tư pháp. Yêu cầu nội dung giáo dục pháp luật
cho cán bộ nguồn Thẩm phán không chỉ trang bị và cập nhật đầy đủ những
kiến thức mới về pháp lý, chính trị, kinh tế, xã hội mà cần đặc biệt chú trọng
rèn luyện kỹ năng nghề, tăng cường thực hành tác nghiệp, nâng cao nhận thức
và trau dồi đạo đức nghề nghiệp, truyền thống cho đối tượng trong quá trình
giáo dục.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×