Tải bản đầy đủ

Chuyên nghành: Tài Nguyên Đất

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ


BÁO CÁO MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG

ĐỀ TÀI:
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC VÀ
KHÔNG KHÍ
SVTH Ngyễn Yến Nhi
MSSV: 1628501010072
:
Dương Quang Quốc
1628501010083
Trương Thị Cẩm Tiên
162850101089
Nguyến Thanh

1628501010107
Thương
1628501010079
Nguyễn Hoàng Phúc
LỚP :

D16QM02
GVHD: Ths Nguyễn Thị Xuân Hạnh
Bình Dương, tháng 12 năm 2018



CHƯƠNG 1: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG
1.1. Hiện trang ô nhiễm nguồn nước sông
Ngày nay, các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội của nước ta
đều gắn với các lưu vực sông lớn như hệ thống sông Hồng - Thái Bình,
hệ thống sông Đồng Nai, Mê Công… và các cửa sông ven biển, đã đóng
góp to lớn vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, cũng gây ra nhiều
tác động tiêu cực cho môi trường nói chung và môi trường nước nói
riêng tại các lưu vực sông. Chất lượng nước các sông đang diễn biến
phức tạp, nhiều nơi bị suy thoái, nhất là các khu vực nội thành, nội thị,
các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề. Nhiều
dòng sông trước kia là nơi giặt giũ tắm rữa, và nước sông được sử dụng
như nước sinh hoạt gia đình. Nay tình trạng hoàn toàn khác hẳn. Người
dân ở nhiều nơi không thể dùng những nguồn nước sông này nữa.
1.1.1.

Lưu vực sông Cầu

Đây là một lưu vực đã bị ô nhiễm hoàn toàn. Trong lưu vực này, ngoài
khu sản xuất công nghiệp lớn nhất Thái Nguyên, qua việc khai thác mỏ
và hòa hóa chất, còn có trên dưới 800 cơ sở sản xuất tiểu thủ công
nghiệp và quy mô công nghiệp nhỏ như các làng nghề tập trung. Lượng
chất thải lỏng thải hồi vào lưu vực sông Cầu ước tính khoảng 40 triệu
m3/năm. Thêm nữa, trong các phụ lưu của sông Cầu, hầu hết những
thông số phân tích đều vượt qua tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến hơn 50 lần
như nhu cầu oxy hóa học (COD), lượng oxy hòa tan (DO), tổng cặn lơ
lững (TSS), nitrite (NO2). Với những thông số ghi nhận tên đặc biệt là
DO, một thông số chỉ lượng oxy hòa tan rất thấp, nhiều khi dưới 1,0 đơn
vị, có nghĩa là trong lưu vực sông Cầu lượng tôm cá hầu như không còn


hiện diện nữa.


1.1.2.

Lưu vực sông Nhuệ

Ngoài nước thải công nghiệp, lưu vực này còn nhận thêm nguồn nước
thải sinh hoạt, tất cả đều đổ thẳng ra sông hồ. Riêng tại Hà Nội, có 400 xí
nghiệp và khoảng 11 ngàn cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp thải hồi
trung bình 20 triệu m3/năm. Hà Tây là nơi trọng điểm của làng nghề
chiếm 120 làng trên tổng số 286 làng nghề trong khu vực. Hai hạ lưu có
ô nhiễm trầm trọng nhất là sông Nhuệ và sông Tô Lịch với hàm lượng
DO hầu như triệt tiêu, nghĩa là không còn điều kiện để cho tôm cá sống
được, và vào mùa khô nhiều đoạn sông trên hai sông này chỉ là những
bãi bùn nằm trơ cùng trời đất.


1.1.3.

Lưu vực sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn

Hàng năm sông ngòi trong lưu vực này tiếp nhận khoảng 40 triệu
m3 nước thải công nghiệp, không kể một số lượng không nhỏ của trên 30
ngàn cơ sở sản xuất hóa chất rải rác trong thành phố Hồ Chí Minh. Nước
thải sinh hoạt ước tính khoảng 360 triệu m3. Lưu vực này hiện đang bị
khai thác quá tải, nước sông hoàn toàn bị ô nhiễm và hệ sinh thái của
vùng nầy bị tàn phá kinh khủng, và đây cũng là một yếu tố sống còn cho
sự phát triển cho cả nước, chiếm 30% tổng sản lượng quốc dân. Tình
trạng ô nhiễm trong những năm sắp đến sẽ trở nên câu chuyện hàng ngày
của lưu vực này.


1.1.4.

Lưu vực sông Tiền Giang và Hậu Giang

Phát triển kinh tế nơi đây đặt trọng tâm là nông nghiệp và chăn nuôi thủy
sản. Vì đây không phải là một trọng điểm công nghiệp cho nên những
vấn nạn môi trường không giống như tình trạng của 3 lưu vực vừa kể
trên. Nhưng việc khai thác nông nghiệp và thủy sản đã trở thành một vấn
đề cần phải lưu tâm trong hiện tại. Việc ô nhiễm hóa chất do dư lượng
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là kết quả của việc khai thác tối đa
nguồn đất cho nông nghiệp. Ðã có nhiều chỉ dấu cho thấy các hóa chất
độc hại như DDT, Nitrate, hóa chất BVTV thuộc nhóm organophosphate,
nguyên nhân của những mầm bệnh ung thư đã hiện diện trong nước.
Việc khai thác chăn nuôi thủy sản trên sông, ngoài việc làm cản trở dòng
chảy của sông, việc di chuyển trên sông sẽ khó khăn thêm, mà còn là
một vấn nạn môi trường không thể tránh khỏi.


1.2. Quy định chung về bảo vệ môi trường nước sông
1. Bảo vệ môi trường nước sông là một trong những nội dung cơ bản của
quy hoạch kế hoạch khai thác sử dụng nước sông
2. Nguồn thải vào lưu vực sông phải được quản lý phù hợp với sức chịu
tải của sông.
Theo Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT. việc đánh giá khả năng tiếp
nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ phải đảm bảo các
nguyên tắc tính hệ thống theo lưu vực sông và nguồn nước. Đối với
nguồn nước là sông, suối, kênh, rạch (sông), khi thực hiện đánh giá khả
năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải phải được phân thành từng đoạn
sông để đánh giá.Việc phân đoạn sông, xác định mục đích sử dụng nước,
lựa chọn lưu lượng dòng chảy, lựa chọn thông số chất lượng nước mặt,
thông số ô nhiễm của các nguồn nước thải để đánh giá khả năng tiếp
nhận nước thải, sức chịu tải đối với từng đoạn sông phải bảo đảm tính hệ
thống theo từng sông, hệ thống sông. Việc đánh giá khả năng tiếp nhận
nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ phải được thực hiện đối
với từng thông số ô nhiễm. Việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải,
sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ phải dựa trên đặc điểm mục đích
sử dụng, khả năng tự làm sạch của nguồn nước, quy mô và tính chất của
các nguồn nước thải hiện tại và theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội.


Các nguồn nước phải đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải
của nguồn nước gồm có: Các sông thuộc danh mục lưu vực sông liên
tỉnh, nội tỉnh, danh mục nguồn nước liên quốc gia, liên tỉnh, nội tỉnh đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; Các hồ thuộc danh mục
nguồn nước liên tỉnh, nội tỉnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành.Các nguồn nước không thuộc trường hợp quy định trên, cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải
xem xét, quyết định việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu
tải trên cơ sở mức độ quan trọng của nguồn nước đối với phát triển kinh
tế - xã hội, yêu cầu về bảo vệ tài nguyên nước, môi trường, bảo tồn đa
dạng sinh học, bảo tồn giá trị văn hóa có liên quan đến nguồn nước.
Việc phân đoạn sông để đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu
tải của sông được thực hiện trên cơ sở các căn cứ: Vị trí nhập lưu, phân
lưu trên sông; Chức năng nguồn nước, mục đích sử dụng nước của sông;
vị trí các công trình khai thác, sử dụng nước, xả nước thải; vị trí công
trình hồ chứa, công trình điều tiết nước trên sông;Chiều dài xâm nhập
mặn lớn nhất ứng với độ mặn 4,0‰ đối với các đoạn sông bị ảnh hưởng
của thủy triều; Yêu cầu về bảo tồn, phát triển hệ sinh thái thủy sinh, giá
trị lịch sử, văn hóa, du lịch, tín ngưỡng có liên quan đến nguồn nước;
Đối với các sông liên quốc gia, liên tỉnh, ngoài việc căn cứ quy định nêu
trên, còn phải căn cứ vào đường biên giới quốc gia, địa giới hành chính
cấp tỉnh.
Cơ quan quản lý môi trường nước tập trung thực hiện quản lý chặt chẽ
và kiểm soát nước thải vào lưu vực sông, đặc biệt là ở thượng lưu và hạ
lưu; tăng cường xúc tiến đầu tư và đa dạng hóa nguồn đầu tư để thực
hiện các nhiệm vụ, dự án liên quan đến cải thiện nguồn nước tại lưu vực
sông; xây dựng kiểm kê và cơ sở dữ liệu nguồn thải. Hệ thống quản lý
nước sông dựa trên tải lượng ô nhiễm và hạn ngạch xả thải đối với cải
thiện quy định mới hiện hành và hỗ trợ: cung cấp cơ sở cho việc xây
dựng các biện pháp phòng chống ô nhiễm nước sông và cải thiện môi
trường sông.
3. Chất lượng nước sông, trầm tích phải được theo dõi, đánh giá.
Việc theo dõi, đánh giá chất lượng nước sông cần phải diễn ra thường
xuyên để đảm báo các thông số theo QCVN 08:2015/BTNMT quy chuẩn


kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt và QCVN 43:2012/BTNMT
quy chuẩn quốc gia về chất lượng trầm tích.
4. Bảo vệ môi trường lưu vực sông phải gắn liền với bảo tồn đa dạng
sinh học, khai thác và sử dụng nguồn nước sông
5. Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tổ chức, hộ gia đình và cá
nhân có trách nhiệm giảm thiểu và xử lý chất thải trước khi xả thải vào
lưu vực sông theo quy định của pháp luật.
Theo NĐ 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu: Điều 4.
Nguyên tắc chung về quản lý chất thải
1. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tăng cường áp dụng các biện pháp
về tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; sử dụng tài nguyên, năng lượng
tái tạo và sản phẩm, nguyên liệu, năng lượng sạch thân thiện với môi
trường; sản xuất sạch hơn; kiểm toán môi trường đối với chất thải và
các biện pháp khác để phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải.
2. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phân loại chất thải tại nguồn nhằm
mục đích tăng cường tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và thu hồi
năng lượng.
3. Việc đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải phải tuân thủ theo quy định
pháp luật về xây dựng và pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan.
4. Nước thải phải được thu gom, xử lý, tái sử dụng hoặc chuyển giao cho
đơn vị có chức năng-phù hợp để tái sử dụng hoặc xử lý đạt quy chuẩn kỹ
thuật môi trường trước khi thải ra môi trường.
5. Khí thải phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường tại cơ sở
phát sinh trước khi thải ra môi trường.
6. Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển,
tái sử dụng, tái chế, xử lý chất thải và thu hồi năng lượng từ chất thải.
7. Tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải có trách nhiệm nộp phí, giá dịch
vụ cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải theo quy định của
pháp luật.
8. Khuyến khích áp dụng các công nghệ xử lý chất thải thân thiện với
môi trường. Việc sử dụng chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải phải
tuân theo quy định của pháp luật.


1.3. Nội dung kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước lưu vực
sông
1. Thống kê, đánh giá, giảm thiểu và xử lý chất thải đổ vào lưu vực sông.
2. Định kỳ quan trắc và đánh giá chất lượng nước sông và trầm tích.
Tần suất quan trắc môi trường nước mặt được quy định tối thiểu 6
lần/năm, 2 tháng/lần theo TT 24/2017/BTNMT quy định về kỹ thuật
quan trắc môi trường.
3. Điều tra, đánh giá sức chịu tải của sông; công bố các đoạn sông, dòng
sông không còn khả năng tiếp nhận chất thải; xác định hạn ngạch xả
nước thải vào sông.
Điều tra, đánh giá sức chịu tải của sông được quy định tại Điều 14. Yêu
cầu về kết quả đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của
nguồn nước sông, hồ:
1. Kết quả đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải tại mỗi
đoạn sông phải được luận chứng, thuyết minh rõ về việc phân đoạn
sông, xác định mục đích sử dụng nước, xác định lưu lượng dòng chảy,
các thông số đánh giá, hệ số an toàn và việc lựa chọn phương pháp
đánh giá quy định tại Thông tư này; kết quả đánh giá phải thể hiện rõ
đoạn sông còn khả năng tiếp nhận hoặc không còn khả năng tiếp nhận
đối với từng thông số ô nhiễm.
2. Kết quả đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của sông
phải tổng hợp, thể hiện trên sơ đồ hệ thống sông; lập thành danh mục
các đoạn sông đã được đánh giá, trong đó, mỗi đoạn sông được đánh
giá phải thể hiện các nội dung chủ yếu sau:
a) Tên của đoạn sông, tên của sông, tên lưu vực sông;
b) Chiều dài đoạn sông, địa giới hành chính nơi đoạn sông đánh giá;
c) Kết quả đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của đoạn
sông đối với từng thông số đánh giá.


3. Kết quả đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của hồ
phải được luận chứng, thuyết minh rõ về việc xác định mục đích sử dụng
nước của hồ, xác định dung tích hồ, các thông số đánh giá, hệ số an
toàn và việc lựa chọn phương pháp đánh giá quy định tại Thông tư này;
kết quả đánh giá phải thể hiện rõ hồ còn khả năng tiếp nhận hoặc không
còn khả năng tiếp nhận đối với từng thông số ô nhiễm.
Hạn ngạch xả nước thải là giới hạn tải lượng của từng chất gây ô nhiễm
hoặc thông số trong nước thải do cơ quan quản lý nhà nước ban hành đối
với từng nguồn tiếp nhận nước thải nhằm đảm bảo việc xả nước thải
không vượt quá sức chịu tải của môi trường nước. (NĐ 38/2015/NĐ-CP)
Điều 41. Sức chịu tải của môi trường nước và hạn ngạch xả nước thải
1. Sức chịu tải của môi trường nước phải được đánh giá theo từng thông
số ô nhiễm, làm căn cứ để kiểm soát tải lượng của thông số ô nhiễm đó
trong tất cả các nguồn xả nước thải trên lưu vực, dựa theo các tác động
tiêu cực ở mức cao nhất.
2. Sức chịu tải được xem xét đánh giá dựa trên đặc điểm mục đích sử
dụng và khả năng tự làm sạch của môi trường tiếp nhận; quy mô và tính
chất của các nguồn xả nước thải hiện tại và theo quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội.
3. Hạn ngạch xả nước thải được xác định và phân bổ dựa trên sức chịu
tải của môi trường nước tương ứng với giai đoạn của quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội.
4. Sức chịu tải của môi trường nước và hạn ngạch xả nước thải là một
trong những căn cứ phục vụ lập hoặc điều chỉnh quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; xem
xét chấp thuận chủ trương đầu tư, chứng nhận đầu tư cho các dự án.
4. Xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường dòng sông, đoạn sông bị ô
nhiễm.
Một số giải pháp được đề xuất như: xây dựng hệ thống thông tin, mạng
lưới giám sát và mô hình ngân hàng dữ liệu chất lượng nước; Tạo môi
trường thể chế bền vững đối với các hoạt động xả thải vào nguồn nước
và bảo vệ tài nguyên nước; Thực hiện các biện pháp tuyên truyền, giáo
dục và xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường


nước… Rà soát, nghiên cứu, đánh giá vướng mắc, bất cập từ thực tiễn,
đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục hoàn thiện chính sách,
pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung, môi trường nước lưu vực
sông nói riêng bảo đảm hiệu quả, khả thi; nghiên cứu, kiến nghị tháo gỡ
vướng mắc về cơ chế tài chính để tổ chức thực hiện thành công các
chương trình, dự án, nhiệm vụ trực tiếp liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ
môi trường lưu vực sông; kiện toàn tổ chức và hoạt động của các Ủy ban
bảo vệ môi trường lưu vực sông và các Ban chỉ đạo tại địa phương, tăng
cường công tác phối hợp giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh; quản
lý môi trường tại các khu vực giáp ranh. Tiếp tục đầu tư mạng lưới quan
trắc môi trường trên địa bàn, đặc biệt là các trạm quan trắc môi trường
nước tự động, kết hợp với các trạm quan trắc do Trung ương đầu tư, tăng
cường năng lực, cơ sở vật chất cho công tác quan trắc, phân tích, giám
sát môi trường; tiếp tục thực hiện việc rà soát, lập danh sách, công bố và
lên kế hoạch xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô
nhiễm môi trường mới phát sinh.
5. Quan trắc và đánh giá chất lượng môi trường nước, trầm tích sông
xuyên biên giới và chia sẻ thông tin trên cơ sở luật pháp và thông
lệ quốc tế.
6. Xây dựng và tổ chức thực hiện đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông.
7. Công khai thông tin về môi trường nước và trầm tích của lưu vực sông
cho các tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng nước sông.
1.4. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông nội tỉnh
1. Công khai thông tin các nguồn thải vào lưu vực sông.
2. Chỉ đạo, tổ chức các hoạt động phòng ngừa và kiểm soát các nguồn
thải vào lưu vực sông.
3. Tổ chức đánh giá sức chịu tải của sông; ban hành hạn ngạch xả nước
thải vào sông; công bố thông tin về những đoạn sông không còn khả
năng tiếp nhận chất thải.
4. Tổ chức đánh giá thiệt hại do ô nhiễm và xử lý ô nhiễm môi trường
lưu vực sông.


5. Chỉ đạo xây dựng và triển khai thực hiện đề án bảo vệ môi trường lưu
vực sông.
1.5. Trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với bảo vệ
môi trường nước lưu vực sông
1. Đánh giá chất lượng môi trường nước, trầm tích các lưu vực sông liên
tỉnh và xuyên biên giới.
2. Điều tra, đánh giá sức chịu tải, xác định hạn ngạch xả nước thải phù
hợp với mục tiêu sử dụng nước và công bố thông tin.
3. Ban hành, hướng dẫn thực hiện quy chuẩn kỹ thuật môi trường nước
và trầm tích lưu vực sông.
4. Ban hành, hướng dẫn việc đánh giá sức chịu tải của lưu vực sông, hạn
ngạch xả nước thải vào sông liên tỉnh, khắc phục ô nhiễm và cải thiện
môi trường các dòng sông, đoạn sông bị ô nhiễm.
5. Tổ chức và chỉ đạo hoạt động bảo vệ môi trường lưu vực sông liên
tỉnh.
6. Tổ chức đánh giá các nguồn thải gây ô nhiễm, mức độ thiệt hại và tổ
chức xử lý ô nhiễm lưu vực sông liên tỉnh.
7. Tổng hợp thông tin về chất lượng môi trường nước, trầm tích các lưu
vực sông, hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
8. Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án bảo vệ môi
trường lưu vực sông liên tỉnh.

CHƯƠNG 2: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC KHÁC
2.1. Bảo vệ môi trường nước ao, hồ, kênh, mương, rạch:


Nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch phải được điều tra, đánh giá trữ
lượng, chất lượng và bảo vệ để điều hòa nguồn nước (Được quy định tại
Điều 56 Luật bảo vệ môi trường 2014)
- Nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch phải được điều tra, đánh giá trữ
lượng, chất lượng và bảo vệ để điều hòa nguồn nước.
- Hồ, ao, kênh, mương, rạch trong đô thị, khu dân cư phải được quy
hoạch để cải tạo, bảo vệ.
- Tổ chức, cá nhân không được lấn chiếm, xây dựng trái phép công trình,
nhà ở trên mặt nước hoặc trên bờ tiếp giáp mặt nước hồ, ao, kênh,
mương, rạch; hạn chế tối đa việc san lấp hồ, ao trong đô thị, khu dân cư.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức điều tra, đánh giá trữ
lượng, chất lượng và lập kế hoạch bảo vệ, điều hòa chế độ nước của hồ,
ao, kênh, mương, rạch; lập và thực hiện kế hoạch cải tạo hoặc di dời các
khu, cụm nhà ở, công trình trên hồ, ao, kênh, mương, rạch gây ô nhiễm
môi trường, tắc nghẽn dòng chảy, suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước và
làm mất mỹ quan đô thị.
Trên đây là quy định về bảo vệ môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh,
mương, rạch. Để hiểu rõ hơn bạn nên tham khảo thêm tại Luật bảo vệ
môi trường 2014.
Theo nghị định 43/2015 NĐ-CP về QUY ĐỊNH LẬP, QUẢN LÝ
HÀNH LANG BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC


Điều 9. Phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông, suối,
kênh, rạch
1. Đối với hành lang bảo vệ sông, suối, kênh, rạch có chức năng quy
định tại Điểm a Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này, phạm vi của hành
lang bảo vệ nguồn nước quy định như sau:
 a) Không nhỏ hơn 10 m tính từ mép bờ đối với đoạn sông, suối,
kênh, rạch chảy qua các đô thị, khu dân cư tập trung hoặc được quy
hoạch xây dựng đô thị, khu dân cư tập trung;
 b) Không nhỏ hơn 05 m tính từ mép bờ đối với đoạn sông, suối,
kênh, rạch không chảy qua các đô thị, khu dân cư tập trung;
 c) Trường hợp đoạn sông, suối, kênh, rạch bị sạt, lở hoặc có nguy
cơ bị sạt, lở, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) căn cứ vào
diễn biến lòng dẫn, tình trạng sạt, lở để quyết định phạm vi hành
lang bảo vệ nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân,
hạn chế các nguyên nhân gây sạt, lở bờ, bảo vệ sự ổn định của bờ;
 d) Trường hợp đoạn sông, suối, kênh, rạch đã được kè bờ chống
sạt, lở, lấn chiếm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định
phạm vi của hành lang bảo vệ nguồn nước nhỏ hơn phạm vi tối
thiểu được quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này.
2. Đối với hành lang bảo vệ sông, suối, kênh, rạch có chức năng quy
định tại Điểm b Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này, phạm vi hành
lang bảo vệ nguồn nước quy định như sau:
 a) Không nhỏ hơn 20 m tính từ mép bờ đối với đoạn sông, suối,
kênh, rạch chảy qua các đô thị, khu dân cư tập trung hoặc được quy
hoạch xây dựng đô thị, khu dân cư tập trung;
 b) Không nhỏ hơn 15 m tính từ mép bờ đối với đoạn sông, suối,
kênh, rạch không chảy qua các đô thị, khu dân cư tập trung.
3. Đối với hành lang bảo vệ sông, suối, kênh, rạch có chức năng quy
định tại Điểm c Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này, phạm vi hành lang
bảo vệ nguồn nước không nhỏ hơn 30 m tính từ mép bờ hoặc bao gồm
toàn bộ vùng đất ngập nước ven sông, suối, kênh, rạch.


4. Đối với hành lang bảo vệ sông, suối, kênh, rạch có chức năng quy
định tại Điểm d Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quyết định phạm vi cụ thể của hành lang bảo vệ nguồn nước.
5. Trường hợp hành lang bảo vệ nguồn nước có từ hai chức năng trở lên
thì phạm vi tối thiểu của hành lang được xác định theo chức năng có
phạm vi tối thiểu rộng nhất.
6. Trường hợp hành lang bảo vệ nguồn nước quy định tại các Khoản 1,
Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều này nhưng ở các đoạn sông, suối,
kênh, rạch có công trình đê điều, các tuyến đường sắt, đường bộ hoặc các
công trình kết cấu hạ tầng khác ở ven nguồn nước thì phạm vi tối đa của
hành lang bảo vệ nguồn nước không vượt quá chỉ giới hành lang bảo vệ
đê về phía sông hoặc hành lang an toàn của các công trình đó về phía bờ.
7. Trường hợp kênh, rạch thuộc hệ thống công trình thủy lợi thì thực hiện
lập và quản lý hành lang bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ
công trình thủy lợi.
8. Trường hợp sông, suối, kênh, rạch nằm trong khu vực bảo tồn thiên
nhiên hoặc nằm trong phạm vi bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa thì thực
hiện theo quy định của pháp luật về bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ di tích
lịch sử, văn hóa.
Hồ, ao, kênh, mương, rạch trong đô thị, khu dân cư phải được quy
hoạch để cải tạo, bảovệ
Tổ chức, cá nhân không được lấn chiếm, xây dựng trái phép công trình,
nhà ở trên mặt nước hoặc trên bờ tiếp giáp mặt nước hồ, ao, kênh,
mương, rạch; hạn chế tối đa việc san lấphồ, ao trong đô thị, khu dân cư
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức điều tra, đánh giá trữ
lượng, chất lượng và lập kế hoạch bảo vệ, điều hòa chế độ nước của hồ,
ao, kênh, mương, rạch; lập và thực hiện kế hoạch cải tạo hoặc di dời các
khu, cụm nhà ở, công trình trên hồ, ao, kênh, mương, rạch gây ô nhiễm
môi trường, tắc nghẽn dòng chảy, suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước và
làm mất mỹ quan đô thị.
2.2. Bảo vệ môi trường hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi,
thủy điện


Theo thông tư 05/2018 TT-BNNPTNT Chương I: Vận hàng tưói, cấp
nước quy định như sau:
1. Trường hợp nguồn nước đảm bảo yêu cầu dùng nước
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng cần lấy qua công trình đầu mối và các công trình phân
phối nước.
2. Trường hợp nguồn nước không đảm bảo yêu cầu dùng nước
- Mức độ đảm bảo cấp nước theo thứ tự ưu tiên đối với các đối
tượng dùng nước;
- Các giải pháp: Bổ sung nguồn nước, phân phối nước hợp lý tiết
kiệm, điều chỉnh yêu cầu dùng nước...;
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng cần lấy qua công trình đầu mối và các công trình phân
phối nước.


3. Trường hợp khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn,
ô nhiễm nguồn nước, thau chua, rửa mặn hệ thống
- Mức độ đảm bảo cấp nước theo thứ tự ưu tiên đối với các đối
tượng dùng nước;
- Các giải pháp: Bổ sung nguồn nước, phân phối nước hợp lý tiết
kiệm, điều chỉnh yêu cầu dùng nước...;
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng cần lấy qua công trình đầu mối và các công trình phân
phối nước.
4. Trường hợp đặc biệt
Dự báo có tin bão gần, áp thấp nhiệt đới hoặc mưa lớn ảnh hưởng
đến hệ thống; Lũ sông cao (từ báo động 3 trở lên); công trình chính gặp
sự cố.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng cần lấy qua công trình đầu mối và các công trình phân
phối nước.
Theo thông tư 05/2018 TT-BNNPTNT Chương II: Vận hàng tiêu,
thoát nước quy định như sau:
I. Vận hành tiêu thoát nước
Vận hành hệ thống tiêu sau mỗi đợt tưới hoặc có những vùng cục
bộ cần tiêu để ngăn mặn, đẩy mặn, rửa mặn, rửa phèn, giữ ngọt, cải thiện
chất lượng nước, cụ thể:
1. Hệ thống không ảnh hưởng thủy triều
a) Trường hợp 1: Năng lực của hệ thống đảm bảo yêu cầu tiêu
nước.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;


- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối ứng với mưa thiết
kế (tính theo lượng mưa 1, 3, 5 ngày lớn nhất).
b) Trường hợp 2: Năng lực của hệ thống không đảm bảo yêu cầu
tiêu nước (lượng mưa thực tế lớn hơn lượng mưa thiết kế).
- Thứ tự và mức độ ưu tiên đảm bảo tiêu nước đối với các đối
tượng cần tiêu nước;
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối ứng với mưa thiết
kế (tính theo lượng mưa 1, 3, 5.. ngày lớn nhất);
- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu nước, thay đổi diện tích
vùng tiêu hoặc hướng tiêu, điều chỉnh yêu cầu tiêu nước (lưu lượng và
thời gian tiêu nước)... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự ưu tiên
của đối tượng.
2. Hệ thống ảnh hưởng thủy triều
a) Trường hợp 1: Mưa nhỏ hơn mưa thiết kế, gặp kỳ triều cường.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;
b) Trường hợp 2: Mưa nhỏ hơn mưa thiết kế, gặp kỳ triều kém.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối.
c) Trường hợp 3: Mưa lớn hơn mưa thiết kế, gặp kỳ triều cường, lũ
sông thấp.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;


- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu, hỗ trợ tiêu bằng máy bơm,
thay đổi vùng tiêu, hướng tiêu... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự
ưu tiên của đối tượng.
d) Trường hợp 4: Mưa lớn hơn mưa thiết kế, gặp kỳ triều kém, lũ
sông thấp.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;
- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu, hỗ trợ tiêu bằng máy bơm,
thay đổi vùng tiêu, hướng tiêu... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự
ưu tiên của đối tượng.
đ) Trường hợp 5: Mưa nhỏ hơn mưa thiết kế, gặp kỳ triều cường, lũ
sông cao.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;
- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu, hỗ trợ tiêu bằng máy bơm,
thay đổi vùng tiêu, hướng tiêu... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự
ưu tiên của đối tượng.
e) Trường hợp 6: Mưa nhỏ hơn mưa thiết kế, gặp kỳ triều kém, lũ
sông cao.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;
- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu, hỗ trợ tiêu bằng máy bơm,
thay đổi vùng tiêu, hướng tiêu... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự
ưu tiên của đối tượng.
g) Trường hợp 7: Mưa lớn hơn mưa thiết kế, gặp kỳ triều cường, lũ
sông cao.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;


- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;
- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu, hỗ trợ tiêu bằng máy bơm,
thay đổi vùng tiêu, hướng tiêu... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự
ưu tiên của đối tượng.
h) Trường hợp 8: Mưa lớn hơn mưa thiết kế, gặp kỳ triều kém, lũ
sông cao.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;
- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu, hỗ trợ tiêu bằng máy bơm,
thay đổi vùng tiêu, hướng tiêu... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự
ưu tiên của đối tượng.
II. Vận hành thoát lũ, ngăn lũ, ngăn triều cường
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;
- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu, hỗ trợ tiêu bằng máy bơm,
thay đổi vùng tiêu, hướng tiêu... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự
ưu tiên của đối tượng.
III. Vận hành tiêu nước đệm
Dự báo có bão gần, áp thấp nhiệt đới hoặc các hình thái thời tiết
gây mưa lớn trong hệ thống.
- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối.
IV. Vận hành trong trường hợp đặc biệt:
Quy định vận hành công trình khi có nguy cơ xảy ra sự cố hoặc xảy
ra sự cố.


- Trình tự, thời gian vận hành các công trình;
- Mực nước tại các công trình điều tiết;
- Lưu lượng nước tiêu tại các trạm bơm đầu mối;
- Các giải pháp: Bổ sung năng lực tiêu, hỗ trợ tiêu bằng máy bơm, thay
đổi vùng tiêu, hướng tiêu... tùy theo mức độ nghiêm trọng và thứ tự ưu
tiên của đối tượng; đề xuất phương án xử lý nguy cơ xảy ra sự cố hoặc
khắc phục khẩn cấp sự cố để đảm bảo an toàn.
2.3. Bảo vệ môi trường nước dưới đất

Chỉ được sử dụng các loại hóa chất trong danh mục cho phép của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trong thăm dò, khai thác nước dưới đất.
Có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước dưới đất qua giếng khoan
thăm dò, khai thác nước dưới đất. Cơ sở khai thác nước dưới đất có trách
nhiệm phục hồi môi trường khu vực thăm dò, khai thác. Các lỗ khoan
thăm dò, lỗ khoan khai thác không còn sử dụng phải được trám lấp theo
đúng quy trình kỹ thuật.


Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có sử dụng hóa chất độc hại, chất
phóng xạ phải có biện pháp bảo đảm không để rò rỉ, phát tán hóa chất
độc hại và chất thải phóng xạ vào nguồn nước dưới đất.
Kho chứa hóa chất, cơ sở xửlý, khu chôn lấp chất thải nguy hại phải
được xây dựng bảo đảm an toàn kỹ thuật, có biện pháp ngăn cách hóa
chất độc hại ngấm vào nguồn nước dưới đất theo quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm nước dưới đất phải có trách nhiệm xử lý ô
nhiễm nước dưới đất.
(Thông tư 75/2017 TT-BTNMT)
Điều 4. Yêu cầu chung về bảo vệ nước dưới đất trong thiết kế,
thi công lỗ khoan, giếng khoan
Tổ chức, cá nhân thiết kế, thi công lỗ khoan, giếng khoan (sau đây
gọi chung là giếng khoan) trong hoạt động thăm dò, khai thác nước dưới
đất, khoan khảo sát địa chất công trình, thăm dò địa chất, thăm dò, khai
thác khoáng sản, xử lý nền móng công trình, tháo khô mỏ và các hoạt
động khoan, đào khác có liên quan đến nước dưới đất phải thực hiện các
yêu cầu về bảo vệ nước dưới đất sau:
1. Thực hiện các quy định tại Thông tư số 59/2015/TTBTNMT ngày 14 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định kỹ thuật khoan điều tra, đánh giá và thăm dò nước
dưới đất.
2. Chèn cách ly bằng đất sét tự nhiên hoặc vật liệu có tính chất
thấm nước tương đương đất sét xung quanh thành giếng khoan và ống
chống tạm thời. Trong phạm vi bán kính tối thiểu 01m xung quanh
miệng giếng khoan phải gia cố, tôn cao bằng đất sét tự nhiên hoặc các
vật liệu chống thấm khác để ngăn ngừa nước bẩn từ trên mặt đất chảy
trực tiếp vào giếng khoan hoặc thấm qua thành, vách giếng khoan vào
tầng chứa nước.
3. Không dùng nước thải, nước bẩn, nước có chứa dầu mỡ, hóa
chất độc hại làm dung dịch khoan hoặc pha trộn dung dịch khoan để đưa
vào giếng khoan; không để rò rỉ nhiên liệu, dầu mỡ ra môi trường xung
quanh khu vực giếng khoan.


4. Bảo đảm ổn định của môi trường đất xung quanh khu vực giếng
khoan trong quá trình khoan và khi thực hiện các công việc nghiên cứu,
thí nghiệm trong giếng khoan hoặc trong quá trình sử dụng giếng khoan.
5. Đối với giếng khoan có thời gian dự kiến hoạt động từ hai (02)
năm trở lên thì phải thực hiện việc chống ống và trám cách ly, bảo đảm
ngăn nước từ trên mặt đất xâm nhập vào các tầng chứa nước hoặc nước
của các tầng chứa nước có chất lượng khác nhau lưu thông qua thành
giếng khoan.
6. Trường hợp khi thi công hoặc trong quá trình sử dụng giếng
khoan mà gây sự cố sụt, lún đất và các sự cố bất thường khác thì phải
dừng ngay việc thi công, sử dụng, kịp thời xử lý, khắc phục sự cố, bồi
thường thiệt hại (nếu có); thông báo kịp thời tới Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã) và Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây
gọi tắt là Sở Tài nguyên và Môi trường) nơi xảy ra sự cố.
7. Đối với các giếng khoan không sử dụng hoặc bị hỏng trong quá
trình thi công, sử dụng thì phải xử lý, trám lấp theo quy định của pháp
luật về tài nguyên nước.
Điều 7. Yêu cầu bảo vệ nước dưới đất khi thực hiện thí nghiệm
trong giếng khoan
Tổ chức, cá nhân thi công, sử dụng giếng khoan khi thực hiện thí
nghiệm trong giếng khoan phải bảo đảm các yêu cầu sau:
1. Phương pháp, cách thức thí nghiệm trong giếng khoan được thể
hiện đầy đủ trong các đề án, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, hồ sơ kỹ
thuật thi công công trình. Trong quá trình thực hiện thí nghiệm chịu sự
kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
2. Trường hợp trong quá trình thí nghiệm xảy ra sự cố sụt, lún đất,
rạn nứt nhà cửa, công trình xây dựng xung quanh hoặc sự cố bất thường
khác thì phải dừng ngay, kịp thời xử lý, khắc phục, bồi thường thiệt hại
(nếu có); thông báo kịp thời tới Ủy ban nhân dân cấp xã và Sở Tài
nguyên và Môi trường nơi xảy ra sự cố.
3. Hóa chất, chất phóng xạ sử dụng trong quá trình thí nghiệm phải
thuộc danh mục hóa chất, chất phóng xạ được phép sử dụng theo quy


định của pháp luật, bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường và nguồn
nước.
4. Có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn không để nước thải, nước
có chứa chất độc hại vào trong giếng khoan.
5. Trường hợp thí nghiệm bơm hút nước, ngoài việc thực hiện các
quy định tại Khoản 1, 2, 3 và Khoản 4 Điều này còn phải thực hiện các
yêu cầu sau:
a) Nước bơm lên phải thu gom, dẫn cách xa miệng giếng khoan ít
nhất 10m, bảo đảm không gây ngập úng và ảnh hưởng tới môi trường
xung quanh;
b) Không gây hạ thấp mực nước quá mức và ảnh hưởng nghiêm
trọng đến việc khai thác của các công trình khai thác nước dưới đất lân
cận;
c) Trường hợp nước bơm lên có dấu hiệu bất thường hoặc làm chết
động vật, thực vật trong khu vực thì phải dừng ngay việc bơm nước, kịp
thời xử lý, khắc phục, bồi thường thiệt hại (nếu có); thông báo kịp thời
tới Ủy ban nhân dân cấp xã và Sở Tài nguyên và Môi trường nơi xảy ra
sự cố.
Điều 8. Bảo vệ nước dưới đất trong quá trình khai thác
1. Chủ công trình khai thác nước dưới đất có trách nhiệm giữ gìn
vệ sinh xung quanh giếng khai thác và thực hiện các biện pháp phòng,
chống, ngăn ngừa ô nhiễm nước dưới đất qua giếng khoan khai thác.
2. Chủ công trình khai thác nước dưới đất phục vụ mục đích cấp
nước sinh hoạt phải xây dựng vùng bảo hộ vệ sinh của công trình theo
quy định của pháp luật về tài nguyên nước.
3. Chủ công trình khai thác thuộc trường hợp phải có giấy phép
khai thác, sử dụng nước dưới đất tổ chức lắp đặt thiết bị, bố trí nhân lực
thực hiện việc quan trắc lưu lượng, mực nước, chất lượng nước tại các
giếng khai thác, giếng quan trắc của công trình bảo đảm thông số, hình
thức và chế độ quan trắc để cung cấp, cập nhật số liệu vào hệ thống giám
sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước của cơ quan quản lý nhà nước
theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×