Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA (indol butyric acid) đến sự hình thành cây hom ngũ gia bì (schefflera octophylla (lour ) harms), tại trường đại học nông lâm thái nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ THANH HUYỀN
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH RA RỄ

INDOLEBUTYRIC ACID ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÂY HOM
NGŨ GIA BÌ (Schefflera octophylla (Lour.) Harms)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm Nghiệp


Khoa

: Lâm Nghiệp

Khoá học

: 2014-2018

THÁI NGUYÊN, 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ THANH HUYỀN
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH RA RỄ

INDOLEBUTYRIC ACID ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÂY HOM
NGŨ GIA BÌ (Schefflera octophylla (Lour.) Harms)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm Nghiệp

Khoa

: Lâm Nghiệp

Khoá học

: 2014-2018

Giảng viên hướng dẫn: TS. Lê Sỹ Hồng


Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

THÁI NGUYÊN, 2018


i

LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ
IBA (Indol butyric acid)

đến sự hình thành cây hom Ngũ gia bì (Schefflera

octophylla (Lour.) Harms), tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” là
công trình nghiên cứu của bản thân tôi, đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trongđề tài
này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên
cứu khoa học nào khác.
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD

TS.Lê Sỹ Hồng

Người viết cam đoan

Đỗ Thị Thanh Huyền

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là một khoảng thời có ý nghĩa rất quan trọng trong
quá trình học tập của mỗi sinh viên.
Mục tiêu của đợt thực tập này nhằm tạo điều kiện cho sinh viên có cơ
hội cọ sát với thực tế, gắn kết những lý thuyết đã học trên ghế giảng đường
với môi trường thực tiễn bên ngoài, đồng thời giúp sinh viên hệ thống hóa và
củng cố những kiến thức đã học.
Để đạt được mục tiêu trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa
Lâm nghiệp-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi đã tiến hành đợt
thực tập tốt nghiệp với nội dung: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích
thích ra rễ IBA (Indole butyric acid) đến sự hình thành cây hom Ngũ gia
bì (Schefflera octophylla (Lour.) Harms), tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên”.
Trong suốt quá trình thực tập, bằng niềm say mê, nhiệt tình cố gắng của
bản thân, cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa lâm nghiệp đặc
biệt là Thầy giáo TS.Lê Sỹ Hồng, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên,
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thiện bản khóa luận này.
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ long biết ơn chân thành và sâu sắc tới
tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian và trình độ chuyên
môn có hạn nên chắc chắn bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót
nhất định. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tài
của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,30 tháng 05 năm 2018
Sinh viên

Đỗ Thị Thanh Huyền


3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu nhiệt độ, độ của không khí trong thời
gian thực hiện thí nghiệm tại thành phố Thái Nguyên .....................22
Bảng 3.1: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA...............................29
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Ngũ gia bì của các công thức thí
nghiệm ở các định kì theo dõi ..........................................................31
Bảng 4.2. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến
khả năng ra rễ hom Ngũ gia bì ở cuối đợt thí nghiệm......................33
Bảng 4.3. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến
khả năng ra chồi của cây hom Ngũ gia bì ở cuối đợt thí
nghiệm ..............................................................................................39


4

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm giâm hom ảnh hưởng của nồng độ thuốc
.........24
Hình 3.2. Giâm hom .........................................................................................27
Hình 3.2: Thu thấp số liệu................................................................................28
Hình 4.1: Tỷ lệ (%) sống của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN .....................32
Hình 4.2a: Ảnh ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN ............................34
Hình 4.2b: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở
các CTTN .......................................................................................35
Hình 4.2c: Biểu đồ biểu diễn số rễ trên hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN ......36
Hình 4.2d: Biểu đồ biểu diễn chiều dài rễ trung bình trên hom cây Ngũ
gia bì ở các CTTN ..........................................................................37
Hình 4.2e: Biểu đồ biểu diễn chỉ số rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các
CTTN .............................................................................................38
Hình 4.3a: Ảnh ra chồi của cây hom Ngũ gia bì ở các CTTN.........................40
Hình 4.3b: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) ra chồi của hom cây Ngũ gia bì
ở các CTTN ....................................................................................41
Hình 4.3c: Biểu đồ biểu diễn số chồi trên hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN
..........42
Hình 4.3d: Biểu đồ biểu diễn chiều dài chồi trung bình trên hom cây
Ngũ gia bì ở các CTTN ..................................................................43
Hình 4.3e: Biểu đồ biểu diễn chỉ số chồi của cây hom Ngũ gia bì ở CTTN
..........44


5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTTN:

Công thức thí nghiệm

CT:

Côngthức

Tb:

Trung bình

Cd:

Chiều dài

IBA:

Indole burytic acid


6

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................. v
MỤC LỤC ........................................................................................................ vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu............................................................................... 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................... 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài.................................................................................... 2
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ................................ 2
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất ....................................................... 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu .................................................. 4
2.1.1. Cơ sở tế bào học................................................................................ 4
2.1.2. Cơ sở di truyền học ........................................................................... 5
2.1.3. Sự hình thành rễ bất định .................................................................. 6
2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom ........................ 8
2.2. Những nghiên cứu trên Thế giới ........................................................... 15
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam ............................................................. 16
2.4. Đặc điểm chung của Ngũ gia bì ............................................................ 17
2.5. Tổng quan khu vực nghiên cứu............................................................. 21
2.5.1. Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu .................. 21
2.5.2. Đặc điểm khí hậu, thời tiết.............................................................. 22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU. 23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 23
3.2. Địa điểm vài thời gian nghiên cứu........................................................ 23
3.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................. 23


vii

3.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 24
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm ....................................................... 24
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu.......................................................... 25
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................. 28
PHẦN 4 KẾT QỦA VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ..................................... 31
4.1. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến tỷ lệ sống của
hom cây Ngũ gia bì ...................................................................................... 31
4.2. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến khả năng ra rễ
của hom Ngũ gia bì ...................................................................................... 33
4.2.1. Tỷ lệ ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm .... 35
4.2.2. Số rễ trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm
35
4.2.3. Chiều dài rễ trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức
thí nghiệm ................................................................................................. 36
4.2.4. Chỉ số ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm .. 37
4.3. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến khả năng ra
chồi của hom Ngũ gia bì .............................................................................. 39
4.3.1. Tỷ lệ ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 41
4.3.2. Số chồi trung bình trên hom Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm
...... 41
4.3.3. Chiều dài chồi trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức
thí nghiệm ................................................................................................. 42
4.3.4. Chỉ số ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm
..... 43
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................... 45
5.1. Kết luận ................................................................................................. 45
5.2. Tồn tại ................................................................................................... 45
5.3. Kiến nghị ............................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 47


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt nam có số lượng các loài thực vật vô cùng đa dạng và phong phú,
trong đó có rất nhiều loài quý hiếm, có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh những cây
lấy gỗ, nước ta còn có một số những cây mà tác dụng của chúng có thể làm
dược phẩm, hương liệu hay làm cảnh, ...
Cây Ngũ gia bì/cây Đáng (Schefflera Octophylla (Lour.) Harms), thuộc
họ Ngũ Gia Bì (Araliaceae), Bộ Hoa Tán (Apiales). Loài đặc hữu của Đông
Dương, mọc hoang, thường mọc ở ven rừng, chân núi, sườn đồi, đất hoang từ
100-1500m, vùng núi từ Lạng Sơn đến Lâm Đồng (Đà Lạt).
Ngũ gia bì là loài cây có những tác dụng chữa bệnh ít người biết. Thu
hái vỏ thân, vỏ rễ và rễ nhỏ vào mùa xuân, mùa thu, cạo sạch lớp vỏ bẩn bên
ngoài, đồ qua, thái miếng, ủ cho thơm rồi phơi trong râm tới khô. Lá thu hái
quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô làm thuốc. Ngũ gia bì có vị đắng,
chát, hơi thơm, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, làm ra mồ hôi, kháng viêm,
tiêu sưng và làm tan máu ứ. Dịch chiết vỏ cây có tác dụng tăng lực, kích thích
thần kinh rõ rệt, chống lạnh, hạ đường huyết. Người ta xem Chân chim như vị
thuốc có tác dụng kích thích tiêu hoá, ăn ngon cơm, ngủ ngon, làm thuốc bổ.
Ngoài ra cây còn được trồng làm cây cảnh, cây trồng trong nhà đuổi muỗi,...
Xuất phát từ giá trị của cây Ngũ gia bì nên được nhiều người dân trồng,
để đáp ứng được nguồn giống, có rất nhiều cách tạo giống bằng nhiều phương
pháp khác nhau như nuôi cấy mô tế bào trong môi trường nhân tạo, nhân
giống sinh dưỡng… Trong đó nhân giống bằng hom là một trong những công
cụ hiệu quả nhất.


2

Phương pháp giâm hom (cutting propagation): Là phương pháp dùng
một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là
cây hom, cây hom có đặc tính di truyền được giữ nguyên từ cây mẹ. Nhân
giống bằng hom là phương pháp nhân giống nhanh và có hệ số nhân giống
cao nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn
quả.
Nhân giống bằng phương pháp giâm hom phụ thuộc nhiều yếu tố như:
các yếu nội tại( xuất xứ, tuổi cây mẹ lấy cành, vị trí lấy cành, tuổi cành, độ dài
hom), các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, chất kích thích ra
rễ….), trong đó các chất kích thích ra rễ cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
ra rễ của hom.
Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA (Indole butyric acid ) đến sự
hình thành cây hom Ngũ gia bì (Schefflera octophylla (Lour.) Harms), tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần tạo giống cây con của cây Ngũ gia bì cung cấp cho
trồng rừng, cho nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sống.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ chất kích thích ra rễ IBA phù hợp cho khả năng
ra rễ, ra chồi của cây Ngũ gia bì.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở
trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan.
- Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học
biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được những
kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai.


3

- Qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp sinh viên nắm vững những kiến
thức kinh nghiệm trong chọn hom giâm, xử lý hom… đồng thời biết được quá
trình sinh trưởng của cây hom từ lúc cắm hom cho đến lúc cây hom ra rễ.
Trong quá trình nghiên cứu còn được bổ xung thêm kiến thức qua một số tài
liệu, sách báo thông tin trên mạng. Từ đó áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực
tế sản xuất, và tạo cho sinh viên tác phong làm việc sau khi ra trường.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Sự thành công của đề tài này có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn sản xuất
vì tìm ra được nồng độ thuốc và loại thuốc phù hợp trong phương pháp nhân
giống bằng hom với loài cây Ngũ gia bì. Đồng thời xây dựng được quy trình
tạm thời giâm hom cây Ngũ gia bì. Từ đó có thể phổ biến kỹ thuật này áp
dụng tạo ra lượng lớn cây con với chất lượng tốt nhất.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Sinh sản bằng hạt tạo được cây khỏe mạnh nhưng lâu có quả và khó giữ
được đặc tính di truyền tốt của cây mẹ. Giâm hom là phương pháp nhân giống
cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng. Cơ sở khoa học của phương pháp là sau
khi tiến hành giâm hom, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào
như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễ
được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài.
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản hữu tính (bằng
hạt) và sinh sản sinh dưỡng (bằng giâm hom, chiết ghép, nuôi cấy mô…).
Để duy trì được đặc tính tốt của cây giống người ta thường dùng các
phương thức nhân giống sinh dưỡng. nhân giống sinh dưỡng là phương pháp
dựa trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm. Đây là phương thức phân bào về cơ
bản không có sự tái tổ hợp của chất liệu di truyền cho nên các cây mới dược
tạo ra (thực chất là một phần cây mẹ) vẫn giữ được đặc tính vốn có của cây
mẹ lấy vật liệu giống.
Nhân giống bằng hom (cutting propagation): Là phương pháp dung một
phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây
hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ. Nhân giống bằng hom là
phương pháp có hệ số nhân giống cao nên được dùng phổ biến trong nhân
giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả.
2.1.1. Cơ sở tế bào học
Theo viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào,
đều có tính độc lập về mặt sinh lí rất cao. Chúng có khả năng khôi phục lại các
cơ quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh.
Trong cơ


5

thể thực vật, nước và các chất khoáng hoà tan được vận chuyển từ rễ lên lá
theo mạch gỗ, còn các sản phẩm hữu cơ sản xuất ở lá được chuyển xuống gốc
(rễ, củ,
…) theo mạch rây. Khi ta cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, các
sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở các tế bào vỏ của phần bị cắt. Các chất hữu cơ
này cùng với chất điều hoà sinh trưởng Auxin nội sinh (được tổng hợp ở ngọn
cây chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành
mô sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mô sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều kiện
thuận lợi. Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng.
- Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ.
- Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoài
Năm 1902 Nhà sinh lý thực vật người đức Haberladt, đã tiến hành nuôi
cấy mô tế bào thực vật dể chứng minh tế bào là toàn năng. Tế bào có tính toàn
năng thể hiện như sau: Bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quan
như rễ, thân, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng khác
trong cơ thể, đều có khả năng sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh.
2.1.2. Cơ sở di truyền học
Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần
phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan.
Đặc trưng của hình thức phân bào trên là số lượng NST của tế bào khởi
đầu và tế bào mới được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên
nhiễm hay nguyên phân. Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào
mà kết quả từ một tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng
như cấu trúc và thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu. Nhờ có
quá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho
các tế bào con.


6

Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên theo
chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST phân
chia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như nhau
và giống tế bào ban đầu.
Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể tăng lên, sau đó
nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát triển cá thể mà tạo
thành một cây con hoàn chỉnh. Đây là một quá trình đảm bảo cho cây con duy
trì tính trạng của cây mẹ.
Hom của các loài cây thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành
non của cây (bao gồm cả chồi vượt). Các loại cành giâm thường gặp là cành
non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ. Tùy thuộc vào
các yếu tố như đặc tính loài cây, điều kiện thời tiết lúc giâm hom… mà chọn
cành có khả năng ra rễ cao nhất.
2.1.3. Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định
của một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để tạo thành cơ thể
mới.
Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này của các cơ quan
sinh dưỡng như cành, thân lá... Rễ bất định có thể được hình thành ngay trên
cây nguyên vẹn (cây đa, cây si...), nhưng khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ là điều
kiện kích thích sự hình thành rễ và người ta vận dụng để nhân bản vô tính.
Rễ bất định của hầu hết thực vật được hình thành sau khi cắt cành khỏi
cây mẹ, nhưng cũng có một số loài rễ bất định được hình thành từ trước dưới
dạng các mầm rễ ở trong phần vỏ và chúng nằm yên đến khi cắt cành thì ngay
lập tức đâm ra khỏi vỏ. Với các đối tượng như vậy thì cành giâm, cành chiết ra
rễ một cách dễ dàng. Nhưng đa số trường hợp rễ bất định được hình thành
trong quá trình con người có tác động đến nó nhằm mục đích nhân giống.
Có hai loại rễ bất định gồm: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh.


7

- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng
chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ.
- Rễ mới sinh: Là rễ được hình thành sau khi cắt hom và giâm hom.
Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị phá hủy, bị tổn thương và các tế bào dẫn
chuyền đã chết của mô gỗ được mở ra, dẫn đến dòng nhựa được dẫn từ phần
lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành nên mô sẹo,
đây là cơ sở hình thành rễ bất định.
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành
lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt.
- Giai đoạn 2: Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia
và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo.
- Giai đoạn 3: Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu
hình thành rễ.
Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau. Thông
thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin
rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự xuất hiện của rễ hom. Nhưng ở nhiều loài
cây, sự xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ. Mức độ hóa
gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom. Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ
chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém. Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổ
biến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt cho cho đúng chiều [11].
Rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát sát vào lõi trong
tâm của mô mạch, ăn sâu vào trong thân cành tới gần ống mạch, sát bên
ngoài. Thời gian hình thành rễ của các loại hom giâm ở các loài cây khác
nhau biến động rất lớn từ vài ngày với các loài dễ hình thành tới vài tháng đối
với các loài khó ra rễ.


8

2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễ
cao. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ
thuộc bởi ba yếu tố chính là: Khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn
và vị trí của hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ. Cơ bản
thuộc 2 nhóm nhân tố gồm nhóm nhân tố ngoại sinh và nhóm nhân tố nội sinh.
- Nhóm nhân tố nội sinh: gồm đặc điểm của di truyền của từng xuất xứ,
từng cá thể cây, tuổi cành, pha phát triển của cành và các chất điều hòa sinh
trưởng.
- Nhóm nhân tố ngoại sinh: các loại hóa chất kích thích ra rễ và các
nhân tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…)
* Nhóm nhân tố nội sinh
- Đặc điểm di truyền của loài: Các nghiên cứu cho thấy không phải tất
cả các loài đều có khả năng ra rễ như nhau. Nanda (1970) đã dựa theo khả
năng ra rễ để chia các loài cây thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm dễ ra rễ gồm 29 loài. Các loài này không cần sử lý bằng chất
kích thích ra rễ mà vẫn ra rễ với tỉ lệ rất cao, gồm các loài thuộc các chi Ficus
sp.
+ Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài. Loại này hầu như không ra rễ hoặc là
phải sử dụng chất kích thích ra rễ nhưng tỉ lệ ra rễ rất thấp thuộc các chi
Manlus sp,Prunus sp,… thuộc họ Rosaceae và một số chi khác.
+ Nhóm có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài. Tuy vậy sự phân
chia này chỉ có ý nghĩa tương đối.
Vì thế theo khả năng giâm hom thì chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành là nhiều loài cây thuộc họ
Dâu tằm (Moraceae): dâu tằm, đa, sung... Một số loài thuộc họ Liễu, một số
loài nông nghiệp như sắn, mía, khoai lang…Đối với loài cây này thì khi giâm
hom không cần xử lý bằng thuốc chúng vẫn ra rễ bình thường.


9

+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom bị hạn
chế bởi các mức độ khác nhau: Tuổi cây mẹ, chất kích thích, yếu tố ngoại
cảnh…
- Đặc điểm di truyền và xuất xứ, từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và cá thể khác nhau cũng có khả
năng ra rễ khác nhau. Ngay cả những loài cây có cùng xuất xứ, cùng dòng,
nhưng các cá thể khác nhau cũng cho tỉ lệ ra rễ khác nhau
- Vị trí lấy cành và tuổi cành
Hom lấy từ các phần khác nhau thì sẽ có tỷ lệ ra rễ khác nhau. Thông
thường thì hom lấy từ các cành dưới dễ ra rễ hơn ở cành trên, cành cấp 1 dễ ra
rễ hơn cành cấp 2, 3…
- Cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy trong tán cây. Cho nên ở một số
loài cây người ta xử lý sao cho cây ra chồi vượt để lấy hom giâm. Tuy nhiên
khả năng ra rễ của cành chồi vượt cũng phụ thuộc vào vị trí lấy hom.
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ. Thông thường thì cành
nửa hóa gỗ có tỷ lệ ra rễ lớn nhất, cành hóa gỗ thường cho tỷ lệ kém hơn.
Như vậy cành non và cành nửa hóa gỗ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất.
- Tuổi cây mẹ lấy cành hom và thời gian lấy hom
Khả năng ra rễ do tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc vào tuổi
cây mẹ lấy cành. Hom lấy từ cây chưa sinh sản bằng hạt dễ nhân giống bằng
hom hơn cây đã sinh sản bằng hạt. Hom lấy từ cây tuổi còn non dễ ra rễ hơn
cây tuổi già. Cây còn non không những ra rễ tốt hơn mà còn ra rễ nhanh hơn.
- Sự tồn tại của lá trên hom: Lá là cơ quan hấp thụ ánh sáng trong quang
phổ tạo ra chất cần thiết cho cây. Vì thế khi chuẩn bị hom giâm phải có 1 - 2 lá
và phải cắt bớt một phần phiến lá chỉ để lại 1/3 - 1/2 diện tích lá là tốt nhất.
- Kích thước hom
Đường kính và chiều dài hom ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm.
Tùy từng loài cây kích thước hom có thể khác nhau.


10

* Nhóm nhân tố ngoại sinh: Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra
rễ của hom giâm: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, nhân tố ảnh
hưởng đến quá trình giâm hom: Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm,
giá thể giâm hom.
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây
mẹ lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của cây
non.
Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễ
của hom giâm.
- Thời vụ giâm hom
Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh
hưởng tới sự ra rễ của hom giâm. Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời
vụ lấy cành và thời vụ giâm hom. Một số loài có thể giâm hom quanh năm
song cũng có những cây có mùa vụ rõ rệt. Theo Frison (1967) và Nesterow
(1967) thì mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ nhiều nhất ở nhiều loài cây,
trong khi đó có một số loài khác thì lại có tỷ lệ ra rễ cao hơn ở mùa xuân.
Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiện
thời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè,
sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông. Vì vậy thời gian giâm
hom tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu. Thời vụ giâm hom có ý nghĩa
quyết định đến sự thành công hay thất bại của nhân giống bằng hom cành.
Đối với loài cây nghiên cứu là cây gỗ cứng và rụng lá thì nên lấy cành
lúc cây bắt đầu vào thời ngủ nghỉ, còn đối với loài cây gỗ mềm nửa cứng
không rụng lá thì nên lấy hom vào mùa sinh trưởng để có kết quả giâm hom
tốt nhất và cho hiệu quả cao nhất.
- Ánh sáng
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sống của cây vì đó là
nhân tố cần thiết cho quá trình quang hợp và trong quá trình ra rễ của hom


11

giâm và nhất là ánh sáng tán xạ. Ánh sáng có ảnh hưởng đến quá trình quang
hợp tạo nên các chất đồng hóa tham gia vào vận chuyển trong mạch libe và
ánh sáng có tác dụng kích thích dòng vận chuyển các chất hữu cơ ra khỏi
lá, ở ngoài sáng tốc độ vận chuyển các chất đồng hóa trong libe nhanh hơn
trong tối. Nhưng trong hom giâm không có lá thì quá trình quang hợp không
diễn ra do đó không thể có hoạt động ra rễ, trừ một số loại cây đặc biệt có thể
ra rễ trong bóng tối. Hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện tối
hoàn toàn. Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh và nhiệt độ cao
làm cho quá trình ra rễ giảm. Vì vậy trong quá trình giâm hom phải che bóng
thích hợp cho từng loài cây khác nhau với độ tàn che khác nhau.Trên thực tế
ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm thường mang tính chất
tổng hợp: Ánh sáng
- nhiệt - ẩm mà không phải là từng nhân tố riêng
lẻ.
Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau.
Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hom.
- Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, hô hấp và quá trình vận
chuyển chất. Vì thế nhiệt độ không khí là một yếu tố quyết định đến tốc độ
phát triển và hình thành nên rễ của hom. Các loài cây nhiệt đới thường có yêu
cầu cao hơn các loài cây ôn đới. Đối với cây nhiệt đới:
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 7°C cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốt
nhất là 25 - 30°C và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10-0°C
cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 - 40°C và nhiệt độ tối cao 45 - 55°C
cây sẽ bị phá hủy.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chất
trong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các sợi protein, cản trở tốc độ


12

dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bào
kèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển; nhiệt độ quá cao làm
cho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh đẫn đến mất nước gây ra héo;
nhiệt độ tối ưu 25 - 30°C.
Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm. Ở nhiệt
độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, ở nhiệt độ quá cao
tăng cường hô hấp và hom bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm.
Nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là từ 28 - 33°C và
nhiệt độ giá thể thích hợp là 25 - 30°C. Nhiệt độ trên 35°C làm tăng tỷ lệ héo
của cành giâm hom. Nhiệt độ không khí trong nhà trong nhà giâm hom nên cao
hơn nhiệt độ giá thể là 2 - 3°C.
Cũng như nhân tố ánh sáng, để có khả năng ra rễ cao cần có đầy đủ các
điều kiện thích hợp như sau:
- Độ ẩm
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố không thể thiếu là thành
phần hết sức quan trọng trong quá trình giâm hom. Các hoạt động quang hợp,
hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa các chất cần đến nước. Thiếu nước thì
hom bị héo, thừa nước thì hoạt động của men thủy phân tăng lên, quá trình
quang hợp bị ngừng trệ. Vì vậy khi gặp thời tiết bất lợi như độ ẩm quá cao
hoặc quá thấp thì cần phải có biện pháp bổ xung hợp lý. Khi giâm hom mỗi
loài cây đều cần một độ ẩm thích hợp, ví dụ như đối với cây lá rộng thì yêu cầu
độ ẩm cao hơn cây lá kim, hom có diện tích lá lớn thì yêu cầu độ ẩm cũng cao
hơn. Khi làm mất độ ẩm của hom 15% thì hom không có khả năng ra rễ.
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm thay đổi theo loài, theo mức độ hóa gỗ
của hom. Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, giúp làm
tăng độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá. Vào
từng thời điểm mà mức độ phun khác nhau: Trong mùa nóng thời gian phun
sương và thời gian ngắt quãng có thể ngắn hơn trong mùa lạnh.


13

Để duy trì độ ẩm của giá thể thích hợp cho hom ra rễ cần lựa chon vật
liệu làm giá thể có khả năng thông thoáng tốt, thoát nước song phải giữ được
độ ẩm thích hợp.
- Giá thể và môi trường giâm hom
Giá thể cũng góp phần quan trọng vào thành công của giâm hom, giá
thể không phải là nơi cung cấp chất dinh dưỡng mà phần dinh dưỡng đó từ
ngay trong chính bản thân cành được giâm hom vì thế nó chỉ cần đáp ứng yêu
cầu về nhiệt đô, độ ẩm, ánh sáng thích hợp rất nhiều giá thể được sử dụng
trong giâm hom hiện nay tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, điều kiện, thời
vụ, khí hậu và loài cây mà thành phần giá thể có thể là khác nhau. Các giá thể
thường được dùng hiện nay là cát tinh, mùn cưa, xơ dừa, bầu đất hay đất vườn.
Khi giâm hom chỉ tạo ra rễ sau đó mới cho cây vào bầu thì giá thể thường là
mùn cưa để mục, cát tinh, xơ dừa băm nhỏ hoặc đất vườn ươm trộn lẫn với
nhau.
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước, không bị nhiễm nấm bệnh.
Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã xử lí chất kích thích ra
rễ.Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất trong vườn ươm. Một giá thể
cắm hom tốt là thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà
không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bị
nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ Ph thích hợp.
- Các chất điều hòa sinh trưởng
Các chất điều hòa sinh trưởng chia theo hoạt tính sinh lý gồm hai nhóm
tác dụng là nhóm kích thích sinh trưởng và nhóm kìm hãm sinh trưởng. Một
số chất kích thích sinh trưởng như Auxin, Giberellin và Xytokinin. Trong các
chất điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là chất quan trọng nhất trong
quá trình ra rễ của cây hom.


14

Rhizocalin bản chất là axit được coi là chất đặc biệt cần thiết trong quá
trình hình thành rễ nhiều loài cây.
Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng: Nhóm Auxin gồm NAA (a.
Naphthalene acetic acid), IAA (Indol-3acetic acid), IBA (Indol butyric acid),
IPA (Indol-3yl-Acetonitrile) và một số chất khác; nhóm Cytokinin gồm Zeatin,
Kinetin; nhóm Giberellin gồm: GA3 (Giberellic acid), GA8 (Giberellin - Lije
Substances) và nhiều chất giống Giberellin khác; nhóm chất có khả năng kìm
hãm sinh trưởng hoặc thúc đẩy quá trình già hóa như ABA (Abscisic scid),
Ethophone (2-chloroethyl), Phosphonic acid, các phenol, retedant…
- Loại thuốc: Các chất kích thích điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc
biệt quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm. Một số loại chất
kích thích sinh trưởng như: Auxin, Giberellin, Cytokinin…
Auxin: Có hai loại Auxin là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp. Auxin
tự nhiên là IAA (acid ß - indol axetic) và Auxin tổng hợp là các chất có bản
chất hóa học khác nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IAA (acid ß indol axetic). Các Auxin tổng hợp như: a-NAA (acid a - Naphtylaxetic),
2,4D (acid
2.4 Dichlorophenoxyaxetic), 2.4.5T (Acid 2,4,5 Trichlorophenoxyaxetic), IBA
(acid ß-indolbutyric), 2M4C (Acid 2metyl-4 Chlorophenoxyaxetic)… Trong sự
hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan dinh dưỡng.
Auxin là hoocmon hình thành rễ.
- Nồng độ: Cùng một loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng
khác nhau đến khả năng ra rễ của hom giâm. Tùy từng loài cây mà hom của
chúng thích ứng với một loại chất cũng như nồng độ thích hợp nhất định. Nếu
nồng độ chất kích thích thấp sẽ không có tác dụng phân hóa tế bào để hình
thành rễ, nếu nồng độ quá cao sẽ ức chế quá trình hình thành rễ làm cho hom
thối không ra nữa. Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến
nhiệt độ không khí và mức độ hóa gỗ của hom. Trong quá trình giâm hom khi
điều kiện


15

nhiệt độ quá cao cần phải xử lý với nồng độ thấp hơn và ngược lại khi nhiệt độ
môi trường thấp thì cần xử lý lâu hơn. Nếu hom quá non (chưa hóa gỗ) phải
xử lý với nồng độ thấp và hom hơi già (hom gần hóa gỗ hoàn toàn) phải xử lý
với nồng độ cao hơn.
- Thời gian xử lý thuốc: cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ nhưng
thời gian xử lý khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau. Khi thực hiện thí nghiệm
cần chú ý là giữa thời gian xử lý, nồng độ, nhiệt độ không khí có mối liên quan
nhất định. Với thuốc kích thích sử dụng với nồng độ cao thì thời gian xử lý
ngắn và thuốc kích thích sử dụng với nồng độ thấp thì thời gian xử lý dài hơn.
Vì vậy để giâm hom thành công thì cần phải thực hiện đầy đủ và đồng
bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến cấy hom giâm,
tạo điều kiện thích hợp nhất cho hom giâm.
- Phương pháp xử lý hom: thông thường hom được xử lý bằng cách
ngâm hom trong dung dịch chất kích thích ra rễ. Chất kích thích ra rễ là hỗn
hợp chất tan thì phần gốc của hom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc,
sao cho thuốc bấm vào gốc hom.
Vì vậy để giâm hom thành công thì cần phải thực hiện đầy đủ và đồng
bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến cấy hom giâm,
tạo điều kiện thích hợp nhất cho hom giâm.
2.2. Những nghiên cứu trên Thế giới
Trong lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử
dụng trên 100 năm nay. Từ những năm 1840, Marrier de Boisdyver (người
Pháp) đã ghép 10.000 cây Thông Đen. Năm 1883, Velinski A.H công bố
công trình ghiên cứu nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thường
xanh bằng hom. Ở Pháp năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầu
chương trình nhân giống Bạch đàn. Năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng
cây hom đến năm 1986 có khoảng 24.000 ha rừng trồng bằng hom, các
rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35 m 3/ha/năm [15].


16

Hiện nay ở một số nước, do kết hợp được công tác chọn giống, kĩ thuật
tạo cây con bằng mô - hom và kĩ thuật thâm canh trong trồng rừng đầu dòng
vô tính mà đã đưa được năng suất từ 5 m3/ha/năm lên 15 m3/ha/năm trên đất
xấu. Năng suất trồng rừng bạch đàn 30 m3/ha/năm ở Zimbabuê, 30 m3/ha/năm
ở Công gô, ở Brazin 50 m3/ha/năm đặc biệt có nơi năng suất đạt từ 75 – 100
m3/năm/ha [7].
Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean – Canada ( gọi tắt là
ACFTSC), trong những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất hom được tiến
hành ở các nước Đông Nam á.
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean – Canada[14] đã có
những nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với hệ
thống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi
nhánh vườn ươm trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các lại cây
họ dầu, với 1ha vườn giống cây Sao đen 5 tuổi có thế sản xuất được
200.000 cây hom, đủ trồng cho 455 đến 500 ha rừng.
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu
từ những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên
cứu Lâm nghiệp Malaysia, ở trường đại học Tổng hợp Pertanian, trung tâm
nghiên cứu lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã có những báo cáo các công trình
có giá trị về nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu. Tuy nhiên tỉ lệ ra rễ của
cây họ dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi phương tiện nhân giống như: các
biện pháp vệ sinh tốt, che bóng hiệu quả hơn, phun sương mù, kĩ thuật trẻ
hóa cây mẹ… thì tỉ rễ được cải thiện( vd: Hopea odorta có tỉ lệ ra rễ là
86%, Shorea Leprosula 71%...)[13].
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang được đưa
vào sử dụng ngày một nhiều và đóng vai trò không thể thiếu được trong công


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×