Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống các loại lan hài mạng đỏ tía (paphiopedilum micranthum), bầu rượu (calanthe rubens), hoàng thảo thái bình (dendrobium pulchellum), tại vườn lan hồ núi cốc

ĐẠI HỌC THÁ I NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

HOÀNG VĂN HIẾU
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÁC LOÀI LAN RỪNG:
HÀI MẠNG ĐỎ TÍA (PAPHIOPEDILUM MICRANTHUM), BẦU RƯỢU
(CALANTHE RUBENS), HOÀNG THẢO THÁI BÌNH (DENDROBIUM
PULCHELLUM) TẠI VƯỜN LAN HỒ NÚI CỐC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm nghiệp

Khoa


: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2014 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁ I NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

HOÀNG VĂN HIẾU
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÁC LOÀI LAN RỪNG:
HÀI MẠNG ĐỎ TÍA (PAPHIOPEDILUM MICRANTHUM), BẦU RƯỢU
(CALANTHE RUBENS), HOÀNG THẢO THÁI BÌNH (DENDROBIUM
PULCHELLUM) TẠI VƯỜN LAN HỒ NÚI CỐC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm nghiệp

Lớp

: K46-LN

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học


: 2014 – 2018

Giảng viên hướng dẫn

: ThS. Nguyễn Văn Mạn

Thái Nguyên, năm 2018


i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Đa dạng sinh học : DDSH
Hồ Núi Cốc

: HNC

Trung bình

: TB


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu kỹ
thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng: Hài
Mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu (Calanthe rubens),
Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum) tại vườn lan hồ Núi Cốc”
là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác .
Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề
tài của mình.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học
(Ký, họ và tên)

Người cam đoan
(Ký, họ và tên)

Hoàng Văn Hiếu

XÁC NHẬN CỦA GV PHẢN BIỆN
Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)


3

LỜI CẢM ƠN
Thực tập nghề nghiệp là nội dung rất quan trọng đốii với mỗi sinh viên
trước lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp sinh viên kiểm tra, hệ thống lại
những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất.
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm
Nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên tôi tiến hành thực tập tốt
nghiệp với đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống các loại lan Hài Mạng
đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu (Calanthe rubens), Hoàng
thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum), tại vườn lan Hồ Núi Cốc”
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫn
chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn Ths. Nguyễn Văn Mạn đã giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình làm đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Lâm
Nghiệp, gia đình, bạn bè đặc biệt là thầy giáo Ths. Nguyễn Văn Mạn đã giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt
bản khóa luận, nhưng do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế. Vì vậy
bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy tôi rất mong được
sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô và toàn thể các bạn để khóa luận
tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018


4

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. ii
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ vi
DANH MỤC HÌNH ........................................................................................ vii
Phần 1. MỞ ĐẦU.............................................................................................. 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
..................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................2
1.3. Ý nghĩa đề tài...................................................................................................2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học .........................................................................................2
1.3.2Ý nghĩa trong thực tiễn
..................................................................................2
Phần 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên
cứu..........................................................4
2.3. Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới
..................................................6
2.4 Tình hình nghiên cứu thực vật ở Việt Nam
....................................................8
2.5. Tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
................................21
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu.................................................................23
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................23
3.2 Nội dung nghiên cứu
......................................................................................23


5

3.3 Phương pháp nghiên cứu
...............................................................................23
3.3.1 Kỹ thuật trồng..............................................................................................23
3.3.2. Theo dõi sinh trưởng
..................................................................................25


3.3.3 Kỹ thuật chăm sóc
.......................................................................................26
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ........................................... 31
4.1 Kĩ thuật trồng 3 loài lan Hài mạng đỏ tía, Bầu rượu, Hoàng thảo
thái bình................................................................................................................31
4.1.1. Kĩ thuật trồng lan Hài mạng đỏ
tía............................................................31
4.1.2. Kĩ thuật trồng lan Bầu rượu
.......................................................................31
4.1.3. Kĩ thuật trồng lan Hoàng thảo thái bình
...................................................31
4.2 Kỹ thuật chăm sóc và khả năng sinh trưởng của ba loài lan hài mạng đỏ
tía, bầu rượu, hoàng thảo thái bình
......................................................................32
4.2.1. Kỹ thuật chăm sóc và khả năng sinh trưởng của thân ba loài lan hài
mạng đỏ tía, bầu rượu, hoàng thảo thái bình
......................................................32
4.2.3. Đề xuất các biện pháp kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu
bệnh thích hợp cho ba loài lan Hài mạng đỏ tía, Bầu rượu và Hoàng thảo
thái
bình.................................................................................................................41
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ................................................................ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 46


DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Kết quả tính toán khả năng sinh trưởng của thân ba loài lan Hài
mạng đỏ tía, bầu rượu, hoàng thảo thái bình................................................... 33
Bảng 4.2: Tổng hợp sinh trưởng lá của ba loài lan Hài mạng đỏ tía, bầu
rượu, hoàng thảo thái bình qua các lần đo lần đo ........................................... 37
Bảng 4.3: Tổng hợp diễn biến quá trình ra hoa loài lan.................................. 39
Bảng 4.4: Tổng hợp tình trạng sâu, bệnh hại lan Bầu rượu ............................ 40
Bảng 4.5: Tổng hợp tình trạng sâu, bệnh hại lan Bầu rượu ............................ 40
Bảng 4.6: Tổng hợp tình trạng sâu, bệnh hại lan Hoàng thảo thái bình ......... 40


vii

DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Diễn biến lượng sinh trưởng thân lan Hài mạng đỏ tía qua các
lần đo ................................................................................................... . 34
Hình 4.2: Diễn biến lượng sinh trưởng thân lan Bầu rượu qua các lần đo .........
35
Hình 4.3: Diễn biến lượng sinh trưởng thân lan Hoàng thảo thái bình qua
các lần đo......................................................................................................... 36
Hình 4.4.Biểu đồ sinh trưởng lá của lan Hài mạng đỏ tía............................... 37
Hình 4.5.Biểu đồ sinh trưởng lá của lan Bầu rượu ......................................... 38
Hình 4.6.Biểu đồ sinh trưởng lá của lan Hoàng thảo thái bình ...................... 38


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề bảo tồn sự ĐDSH là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
trong giai đoạn phát triển hiện nay trên phạm vi toàn thế giới, nó không chỉ có
ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của xã
hội loài người trên hành tinh. ĐDSH đã cung cấp trực tiếp và gián tiếp cho
con người những sản phẩm cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội đồng
thời đó cũng là nhân tố quan trọng để duy trì các quá trình sinh thái cơ bản
như: Quang hợp của thực vật, mối quan hệ giữa các loài sinh vật, bảo vệ
nguồn nước, điều hòa khí hậu, bảo vệ và tăng độ phì của đất, bảo tồn nguồn
gen quý và các loài động thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt
chủng, rừng cung cấp gỗ, củi, thức ăn, thuốc chữa bệnh, giúp điều hòa nước ở
các con sông và ngăn chặn sự xói mòn đất tạo nên môi trường sống ổn định
và bảo vệ cho các loài sinh vật.
Cũng giống như một số quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam hoa phong
lan có sự đa dạng về hình dáng, màu sắc cũng như chủng loại. Các nhà khoa
học dựa trên đặc điểm của các loài lan mà phân chia chúng thành hai nhóm
lớn là phong lan và địa lan. Phong lan là loài hoa sống được nhờ vào các thân
cây ẩm ướt ở trên núi cao hoặc trong rừng, còn địa lan là loài hoa sống nhờ
đất ẩm ướt ở bờ suối, sườn núi, dưới mặt đất hay ở tán rừng. Để tìm hiểu một
số loài thực vật đó tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp nghiệp “Nghiên
cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại các loại lan:
Hài Mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu (Calanthe
rubens), Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum) làm cơ sở cho
việc bảo tồn loài thực vật quý hiếm tại vườn lan Hồ Núi Cốc”. Kết quả
nghiên cứu đề tài sẽ góp phần cung cấp thông tin cơ bản về đặc điểm phân bố,


sinh thái, sinh học của một số loài làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển
nguồn gen thực vật quý hiếm ở nước ta.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được kĩ thuật gây trồng các loài lan:
Hài Mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu ( Calanthe rubens),
Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum)
Xác định được khả năng sinh trưởng của các cây:
Hài Mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu ( Calanthe rubens),
Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum)
Đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại cho 3 loài lan nghiên cứu
1.3. Ý nghĩa đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi làm quen được
với công việc nghiên cứu khoa học, bên cạnh đó còn củng cố được lượng kiến
thức chuyên môn đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng những lý thuyết đã học
trong nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành. Nắm được các
phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã được
học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học.
Qua quá trình học tập nghiên cứu đề tài làm cho sinh viên tích lũy
thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong việc gieo ươm cây
giống. Đây sẽ là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu, học
tập và làm việc sau này.
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho việc xây dựng các biện
pháp bảo tồn và phát triển các loài lan trong khu bảo tồn một cách
hợp lý.


Giúp cho nhân dân và cán bộ Kiểm lâm nhận thức được tầm quan
trọng của việc bảo tồn và những vai trò mà loài cây lan mang lại
cho cuộc sống .
Việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học loài cây lan tại khu vực nghiên cứu
sẽ tạo tiền đề cho việc gây trồng tại khu vực.
Thông qua kết quả nghiên cứu thấy được sự đa dạng của các loài và
sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua, từ đó đánh giá
được tác động của con người đến tài nguyên rừng.
Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giữ gìn,
bảo tồn và phát triển loài lan quý này góp phần vào phát triển
nền kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh cũng như toàn bộ khu vực miền
núi phía bắc.


Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
 Cơ sở sinh học:
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần
phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.Việc hiểu rõ về đặc tính sinh học
của loài giúp chúng ta có nhưng biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn
tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động vật quý hiếm, từ đó
giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật


Cơ sở trồng, chăm sóc, bảo vệ lan rừng chăm sóc lan rừng:

Một trong những đặc điểm sinh học đặc trưng của lan là có khả năng
chống chịu cao, ưa ẩm và bóng râm, nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảm
năng xuất và phẩm chất. Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp
chiếu vào, đặc biệt "kỵ" với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào). Chú ý phun
tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây và giá thể theo kinh
nghiệm "2 ướt - 1 khô" trong ngày, đó là vào các thời điểm trước bình minh
và sau hoàng hôn. Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ và dự trữ.
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ
Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công
tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học được
sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước
về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường
sinh thái. Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa
tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể
(population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức


độ phân tích quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution
fragmentation).
Hài mạng đỏ tía đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh
mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IA) của Nghị
định số 32/2006/NĐ – CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai
thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Bảo vệ chung trong các Khu bảo tồn
thiên nhiên Bát Đại Sơn, Phong Quang và Na Hang. Đồng thời nhân rộng
việc gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.
Tài liệu dẫn: “Sách đỏ Việt Nam năm 2007 – phần thực vật – trang 466”.[4]
Đối với bất kỳ công tác bảo tồn một loài thực vật nào đó thì việc đi tìm
hiểu kỹ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất. Ở tại
vườn lan Hồ Núi Cốc tôi đi tìm hiểu tình hình phân bố một số loài lan, thống
kê số lượng, tình hình sinh trưởng và đặc điểm sinh thái học của chúng tại địa
bàn nghiên cứu. Đây là cơ sở thứ hai để tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Nhưng do giới hạn của đề tài và năng lực của bản thân còn hạn chế nên tôi
chưa thể phân tích đánh giá một cách cụ thể mà chỉ tiến hành “tìm hiểu” và
đánh giá khái quát để đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát triển loài.
2.2 Tổng quan về các loàn lan
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về các yếu tố địa lý, khí hậu cũng
như nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng, rất thích hợp với việc trồng phong lan. Tại
những cánh rừng Việt Nam cũng tập trung rất nhiều loài phong lan quí hiếm.
Việt nam là quê hương của khoảng 91 chi, 463 loài lan và khoảng 1000
giống nguyên thủy. Những cây lan này phân bố tại vùng rừng, núi các tỉnh
Thái Nguyên, Cao bằng, Lào Cai, Huế, Hải Vân, Quy nhơn, Kontum, Pleiku,
Đắc Lắc, Đà lạt, Nam Cát Tiên....(Nguyễn Thị Yến, 2015) [6]
Tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1983 - 1984 bắt đầu có các cơ quan
đóng tại thành phố tổ chức thử nghiệm nuôi trồng trên quy mô lớn để xuất


khẩu. Các vườn lan đáng kể là vườn lan của T78, vườn lan của Cục Quản lư
giáo dục Bộ tham mưu, vườn lan của ngành hàng không dân dụng. Về lan
giống từ năm 1976, Trung tâm Sinh học thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức
nuôi cấy mô phong lan và tạo ra hàng loạt cây con phong lan bằng phương
pháp cấy mô. Năm 1987, Ủy ban khoa học thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
nghiên cứu đề tài và kinh tế kỹ thuật khoa học lan xuất khẩuvà thành phố
cũng đã quyết định thành lập Công ty phong lan xuất khẩu trực thuộc Sở Lâm
nghiệp. Từ năm 1987 - 1988, Hội khoa học Lâm nghiệp và trường Đại học
Tổng hợp lần lượt mở lớp nuôi trồng hoa lan xuất khẩu, phong trào nuôi cấy
lan. Sau đó hội hoa lan, cây cảnh thành phố ra đời, thường xuyên mở những
buổi hội thảo về hoa lan, về cây cảnh.
Năm 1991, Phân viện Sinh học Đà Lạt tổ chức thu thập các loại lan
rừng của Lâm Đồng bao gồm Hoàng Thảo (Dendrobium), Cattleya, Địa lan
(Cymbidium). Các loài này đã được đưa về trồng để theo dõi các đặc tính sinh
học (thời vụ ra hoa, hình thái, màu sắc và hương thơm) và xây dựng bộ sưu
tập lan nhằm bảo tồn nguồn gen, làm nguồn vật liệu cho công tác tuyển chọn,
lai tạo những giống lan quý phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
Năm 2002, Trần Tuấn Anh, 1 người chơi hoa có tiếng ở đất hà Thành,
không chỉ sở hữu vườn lan với hơn 300 loài, anh còn tìm được 1 loài lan mới
lạ tại miền núi Tây Bắc - Việt Nam, có tên khoa học là Dendrobium tuananhii
được thế giới công nhận và tên anh đã được đặt cho loài hoa quí hiếm này.
Phan Thục Huân (2005) [10]
2.3. Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới
Hoa lan (Orchidaceae) là một trong đỉnh cao của sự tiến hóa của các
loài cây có hoa. Hoa lan được con người biết đến rất sớm. Ở châu Á, danh từ
lan là tên có từ xa xưa trong Tứ thư, ngũ kinh và cả trong Kinh dịch của Bách
Gia Chư Tử (Trung Quốc 551 - 479 trước công nguyên). Hoa lan được tượng


trưng cho người quân tử. Khổng Tử đã hết lời ca ngợi hoa lan và có lẽ là
người đầu tiên coi hoa lan là vua của các loài hoa.[15]
Theo Bretchneider: từ đời vua Thần Nông - Trung Quốc (2800 trước Công
nguyên) trong một tài liệu về cây thuốc, còn ghi lại hai loài lan được dùng
làm thuốc trị bệnh.
Đến đời nhà Tống - Trung Quốc (960 - 1279) có một học giả là Mao
Siang có viết một cuốn sách về dược thảo và phương pháp dưỡng sinh. Trong
cuốn sách này có trình bày về công cụ dược học của nhiều hoa lan như:
Dendrobium nobile và Dendrobium crumenatum. [15]
Từ đời nhà Minh (1278 - 1368) trở đi, hoa Lan được họa thành tranh,
và tranh hoa lan là loại tranh nghệ thuật quý để trang trí nội thất thời bấy giờ.
Năm 1728 Matsuka (Nhật Bản) đã viết một quyển sách chỉ dẫn kỹ thuật trồng
hoa lan và bón phân, tưới nước cho cây lan.
Nói chung các nước ở châu Á, hoa lan được biết đến và đưa vào nuôi
trồng rất sớm. Đến thế kỷ 20, người Anh mới đến Singapore mở đầu cho một
giai đoạn mới là lập trại nuôi trồng hoa lan và kỹ nghệ nuôi trồng lan. Các
giống lan được nuôi trồng ở đây là: Arachnis, Vanda, Oncidium... đồng thời
lai tạo các loài lan mới. Từ năm 1957, Thái Lan, Indonexia bắt đầu phát triển
nuôi trồng lan quy mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu. Các loài lan
rừng, lan lai, lan cắt cành của Thái Lan được xuất khẩu qua nhiều nước trên
thế giới. [15]
Sau những thành công của Thái Lan, nhiều người từ các nước Ấn Độ,
Sri Lanka, Philippin đã lần lượt đến Thái Lan học hỏi kinh nghiệm sản xuất
và kinh doanh lan. Hiện nay hàng tháng công ty hoa lan của Thái Lan đã gửi
hàng trăm chuyến hoa lan xuất khẩu sang các nước châu Âu, sang Hoa Kỳ và
sang Nam Mỹ. Các vườn hoa lan của Thái Lan thường có ít nhất là 10.000


cây trở lên. Đặc biệt Thái Lan đã lai tạo thành công nhiều loài hoa lan lai mới
có hoa với nhiều màu sắc đẹp hấp dẫn người thưởng thức.
Ở châu Âu cũng như châu Á, người châu Âu đã biết đến hoa lan rất
sớm, các tập di cảo dược tính, thảo mộc trong đó có nói đến cây lan đã có từ
trước Công nguyên. [15]
2.4 Tình hình nghiên cứu thực vật ở Việt Nam
Tại Việt Nam, lan Hài thường phân bố ở các vùng có lượng mưa lớn
và độ ẩm cao. Tuy nhiên, do đặc trưng là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên
chúng thường phải trải qua một giai đoạn khô hạn. Sự xuất hiện lá dày, dai và
mọng nước là hướng thích nghi tốt để cây có thể sống sót qua đợt khô hạn
định kì và chúng sẽ phục hồi nhanh chóng khi mùa mưa trở lại. Độ ẩm xung
quanh rễ, kiểu đất và độ pH, sự có mặt của các nấm rễ, tác nhân thụ phấn và
cường độ ánh sáng là các nhân tố quan trọng trong sự hình thành và phát triển
của quần thể lan Hài. Trong rừng nguyên sinh, lan hài phân bố không đều
nhau trên các hướng sườn núi. Nhưng trong các rừng bị xuống cấp, chúng có
khuynh hướng phát triển ở các sườn Bắc, đông bắc và tây bắc của núi. Tuy
nhiên, lan Hài thường có điều kiện tốt nhất và hoa nở tốt hơn ở sườn nam ấm
và nhiều ánh sáng hơn. Ngày nay thường chỉ thấy lan Hài mọc thành những
đám nhỏ. Các nơi sống tự nhiên bị phá hủy bởi con người, sự thay đổi các
điều kiện môi trường và việc thu hái lan để bán đang là nguyên nhân chính
gây ra sự tuyệt chủng nhanh chóng của các loài lan Hài ở khắp các vùng của
Việt Nam (Averyanov và cs, 2008)[1]
Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đáng trong "Calanthe R. Brown 1821" đã
ghi lại về lan bầu rượu như sau :"..Củ lan Calanthe cao khoảng 5-10 cm, đáy
hơi phình ra, đầu thu nhỏ lại và chỉ sống được trên một năm. Trên đầu củ
mang từ 1 đến 4 chiếc lá to bản, dài chừng 30-50 cm, rộng 10-15 cm màu
xanh nõn chuối. Lá lan thường vàng úa và rụng vào cuối mùa mưa hay vào


thu khi trời bắt đầu lạnh. Sau một thời gian nghỉ ngơi, chồi hoa mọc ra từ đáy
củ, cao từ 20 cm đến 1 m, có từ vài hoa đến 20 chiếc. Hoa thường có màu
trắng, vàng đỏ hay hồng tùy theo giống, hoa đẹp nhưng không thơm thường
nở vào mùa Xuân, nhưng cũng có khi vào mùa Đông. Khi hoa tàn, mầm non
mới, có khi là một hay hai mọc ra, nhưng cũng có khi mọc ra cùng một lúc
với chồi hoa..".
Hoàng thảo thái bình là cây ưa sáng, có thể trồng trong điều kiện ánh
sáng trực tiếp hay khuếch tán. Ánh sáng hữu hiệu cho cây thuộc chi
Dendrobium là 70%, vì thế giàn che với độ che sáng 30% dưới đất và 40% ở
trên cao với cường độ ánh sáng từ 15.000-30.000 lux rất thích hợp cho sự
phát triển của lan Hoàng thảo để sinh trưởng và phát triển. Tuy không đòi hỏi
số lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng N, P, K và các
nguyên tố trung, vi lượng. Tùy từng giai đoạn sinh trưởng mà nhu cầu đối với
các thành phần dinh dưỡng có khác nhau (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố
Nga, 2008)[3]
2.4.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái
Lan rừng Việt Nam – Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học đã được rất nhiều
tác gia để cập đến. Có thể tóm tắt đặc điểm thực vật học của lan rừng Việt
Nam theo tiêu chí chính sau :


Rễ :

Rễ lan có 2 nhiệm vụ:
Hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây và giữ cho cây bám vào trên cành
cây, hốc đá hay dưới đất.
Nếu rễ quá ít, cây sẽ không đủ nước, không bám cành cây hốc đá được,
hoa sẽ không nhiều và không đẹp. Nếu rễ không mọc được, bị thối, bị bệnh
hay bị chết, cây sẽ thiếu nước, thiếu chất bổ dưỡng cây sẽ còi cọc và sẽ chết
dần chết mòn.[17]


Rễ chia ra làm 5 phần: lõi rễ, thân rễ, vỏ rễ, lông rễ và đầu rễ
Đầu rễ có nhiệm vụ hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây. Nếu vật
liệu nuôi trồng khô ráo, rễ sẽ mọc dài ra để tìm nước. Trái lại lúc nào cũng có
sẵn nước ở bên, rễ sẽ không mọc thêm ra. Ngay cả nhưng giống lan cần tưới
nhiều như Vanda, Renanthera chẳng hạn, cũng nên đợi một vài giờ sau cho
khô rễ rồi mới tưới.
Nếu tình trạng sũng nước kéo dài ngày này qua ngày khác, rễ sẽ bị thối.
Rễ bị thối không có gì để hút nước, lá cũng có thể thấm nước nhưng không đủ
để nuôi cây cho nên lá bị nhăn nheo, thân, bẹ cây bị tóp lại. Chúng ta cũng
đừng nhầm lẫn giữa thối rễ và tưới không đủ nước. Nếu tưới không đủ, cây sẽ
bị cằn cỗi và không tăng trưởng đúng mức. Những loại lan có lá dài và mềm
như Oncidium, Brassia hay Odontoglossum… khi thiếu nước lá sẽ có triệu
chứng chun xếp lại. [17]
Rễ lan cần ẩm chứ không ướt và có không khí chuyển động quanh rễ.
Nhìn vào rễ có thể biết ngay việc tưới nước và bón phân ra sao. Nếu rễ có
màu trắng, cứng và đầu rễ có màu xanh là tốt, còn nếu tưới quá nhiều chỉ có
một vài rễ tốt, số còn lại mềm nhũn và có màu nâu.
Bón phân quá mạnh hoặc quá nhiều sẽ làm cho rễ cháy xám lại. Vì vậy
nên bón phân rất loãng và thưa không nên bón bằng phân viên, phân hột vì
chúng ta không thể kiểm soát được liều lượng.
Muốn quan sát tình trạng của rễ ra sao, nhiều người dùng loại chậu
nhựa trong suốt để dễ dàng quan sát.
Đầu rễ của lan rất dễ bị tổn thương và rất dễ gãy khi chúng ở ngoài
chậu. Hầu hết rễ lan thường phải nằm yên trong chậu, nhưng theo bản năng
chúng thường hướng về phía có không khí và nước nên thường mọc tràn ra
miệng chậu và tiếp tục phát triển thì có thể lơ lửng hay bám vào bất kỳ bề mặt
nào mà chúng chạm tới. [17]


Rễ không được kết cấu thường xuyên mà theo từng năm, nhú ra từ gốc
một khoảng thời gian sau khi mọc chồi mới. Tương tự như thế, lá rụng sau 1
hay vài năm, do đó rễ chết tự nhiên và được thay thế bằng rễ từ chồi mới.


Thân

Lan có 2 loại thân là đa thân và đơn thân. Ở các loài lan sống phụ có
nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành) đó là bộ phận dự trữ nước và các
chất dinh dưỡng để nuôi cây khi điều kiện gặp khô hạn khi sống bám trên cao.
Củ giả hành đa dạng, hình cầu hay thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều đặn
hoặc hình trụ xếp chồng chất thành một thân giả, cấu tạo củ giả, gồm nhiều
mô mềm chứa đầy dịch nhầy phía ngoài là lớp biểu bì, với vách tế bào dày,
nhẵn bóng bảo vệ để trách sự mất nước do mặt trời hun nóng. Đa số củ giả
đều xanh bóng để làm nhiệm vụ quang hợp cùng với lá. [17]




Hầu hết các loài phong lan là cây tự dưỡng, nó phát trển đầy đủ hệ
thống lá, hình dạng của lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước đến loại lá
phiến mỏng phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung, hay chỉ gấp
lại theo hình chữ v. Màu sắc lá thường xanh bóng, nhưng có trường hợp hai
mặt lá khác nhau


Hoa

Cấu trúc của một đóa hoa lan thực là độc nhất vô nhị trong số các
loài thực vật có hoa. Hoa lan tiêu biểu có 3 cánh phía ngoài, 3 cánh phía trong
và một trụ nhụy hoa ở giữa (gynostemium, bao gồm tiểu nhị đực – stamens,
gắn liền với nhụy cái – pistil).
Phía ngoài cùng là 3 cánh đài, trong đó một cánh đài phía trên hay
phía sau của hoa gọi là lá đài lý và hai cánh đài ở 2 bên gọi là lá đài cạnh. Ba
cánh đài giống nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc. Hầu hết các giống
lan, lá đài có cùng kích thước và giống như cánh hoa. Tuy nhiên, trong một số


giống, lá đài lý trở nên to lớn và lòe loẹt, 2 lá đài cạnh thấp ở hai bên đôi khi
hợp nhất lại thành ra một, và trong những giống khác tất cả 3 lá đài hợp nhất
thành kết cấu hình chuông chung quanh hoa. Trong một vài giống, các lá đài
hoàn toàn lấn áp hoa thật. [17]
Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa. Cánh hoa bảo
vệ bao bọc nụ hoa. So với 2 cánh hoa hai bên sườn, cánh hoa phía dưới còn
lại gọi là cánh môi. Cánh môi đôi khi đặc biệt to lớn khác hẳn với 2 cánh kia.
Cánh môi thường sặc sỡ, viền cánh hoa dợn sóng hoặc dưới dạng một cái túi,
trang hoàng với những cái mũ mào (như mào gà), những cái đuôi, cái sừng,
những nốt màu, những cái lông,… Cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ của
hoa lan. Trong một số trường hợp, cánh môi còn là một cái bẫy dụ dỗ các côn
trùng giúp thụ phấn. [17]
Cơ quan sinh sản của hoa lan kết hợp thành một trụ đơn không giống
hình dạng tiểu nhị đực/túi phấn và nhuỵ cái/nướm như các loại hoa khác. Đây
là đặc điểm để nhận dạng đầu tiên của hoa lan. Ở trên đầu của trụ hoa là bao
phấn bao gồm nhiều hạt phấn gọi là túi phấn. Phía dưới túi phấn là nhuỵ cái ,
một shallow, vách thường ẩm ướt nơi mà hạt phấn rơi vào thụ tinh. Có một bộ
phận nhỏ đó là vòi nhuỵ có tác động rào cản bảo vệ ngăn chận tự thụ phấn của
chính hoa này. Để ngăn chận việc tự thụ phấn, một số loài chúng có hoa đực
và hoa cái riêng rẽ.


Cấu tạo hoa lan

Lá đài
Mặc dù chúng giống như cánh hoa, chúng thực sự tô điểm cho phần còn lại
của nụ hoa. Thường 3 lá đài có kích thước bằng nhau.
Cánh hoa
Hoa luôn luôn có 3 cánh hoa. Hai cánh “bình thường”, và cánh thứ ba trở
thành một cấu trúc đặc biệt gọi là cánh môi.


Cánh môi hay Cánh dưới
Cánh hoa thấp phía dưới của hoa Lan. Hoa dùng cánh này để cung cấp một
“bãi đáp” dành cho những côn trùng thụ phấn.
Trụ nhụy
Một cấu trúc giống ngón tay, đó là bộ phận sinh dục của hoa. Đầu nhụy (nhụy
cái) và phấn hoa (nhị đực) ở dưới đầu nắp bao phấn (nắp).


Quả

lan
Sự tạo quả của hoa lan trong tự nhiên rất khó do cấu tạo đặc biệt của hoa
và thường phải nhờ côn trùng. Quả lan thuộc loại quả nang, thời gian tạo quả
đến khi quả chín kéo dài. Đối với Cattleya phải từ 12 đến 14 tháng, Vanda 18
tháng hoặc hơn, Cypripedium 1 năm, Dendrobium từ 9 tới 15 tháng. Khi chín
quả nở ra theo 3 đến 6 đường nứt dọc mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía
đỉnh và phía gốc. [17]


Hạt

lan
Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ty. Hạt cấu tạo bởi một khối chưa phân hóa, trên
một mạng lưới nhỏ xốp chứa đầy không khí. Phải trải qua 2 – 18 tháng hạt
mới chín. Hạt muốn nảy mầm trong tự nhiên phải có sự cộng sinh của nấm
Phizotonia nuôi dưỡng. [17]
2.4.2 Nghiên cứu về gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại
cho lan
 Các nghiên cứu gây
trồng: Có 3 cách trồng
chính:
Trồng treo :
Ưu điểm: Loại bỏ được các mầm bệnh gây ra do các rêu xanh bám trên thành
chậu, rễ không bao giờ bị thối do úng nước, không tốn chậu và môi trường
trồng (than, gạch, dớn..)[18]


Nhược điểm: Số lượng phân bón sử dụng trong mỗi lần tưới rất tốn kém, điều
kiện trồng phải luôn luôn có độ ẩm cao và tương đối ổn định nếu không cây
sẽ bị chuồn lá, chỉ áp dụng cho các loại lan độc trụ cụ thể như Vanda,
Ascocentrum, Ascocenda. Cách trồng treo chỉ áp dụng ở những nơi có độ
thông gió kém và độ ẩm cao[18]
Trồng trên thân cây:
Trồng trên thân cây sống chỉ áp dụng những nơi công cộng hơn là gia
đình, có tính cách sưu tập hơn là thẩm mỹ, ví dụ như vườn bách thảo, các
vườn hoa. Mục đích của cách trồng này nhằm dựng lại một khung cảnh thiên
nhiên thu hẹp, vì thế số lượng giống phải nhiều và rất khó làm nổi bật vẻ đẹp
của lan.
Trồng trên thân cây chết là cách trồng nên khuyến khích vì mật độ
trồng cao, cây phát triển nhanh, ít bị bệnh. Vú sữa là loại cây được ưa chuộng
nhất để thực hiện cách trồng này. Kết quả theo dõi trong 4 năm cho thấy, tỷ lệ
phát triển giữa cách trồng trên thân cây gấp 1,5 lần cách trồng trong chậu. Vú
sữa được cưa thành từng khúc l,5 m, có thể để cả nhánh được dựng đứng vào
trong một cái chậu, giữ vững bằng lớp gạch vụn hoặc xi măng đổ vào trong
gốc. Cách này giống như cách trồng lan trên cây sống, nhưng nhờ cây thấp
nên có thể điều khiển độ che sáng thích hợp. Lan được buộc chặt vào thân vú
sữa. Mỗi gốc vú sữa có thể trồng 20 - 30 cây lan. Khoảng 2 tuần đến 1 tháng
rễ non sẽ bám chặt vào thân cây. Cách này có ưu điểm là cây phát triển
nhanh, ít bị mầm bệnh làm thối rễ, mật độ trồng cao. Khuyết diểm duy nhất là
khó bán, khó trưng bày vì khách hàng rất ngại ngùng mua một cây lan trổ hoa
bị đứt rễ do nhổ ra khỏi thân cây. Phương pháp này được áp dụng cho nơi nào
chưa có ý định trồng lan để kinh doanh ngay. Hiệu quả của phương pháp là
tạo một số lượng giống lan nhanh nhất trong thời gian ngắn. Nếu phương
pháp cấy mô hoa lan chưa là mục tiêu được sản xuất đại trà tại thành phố, thì
phương pháp này giúp các nhà vườn tự tin cho sự phát triển vườn lan của


mình. Phương pháp này áp dụng tốt nhất cho Dendrobium, Cattleya,
Ascocenda. [18]
Trồng trong chậu : Đây là cách trồng phổ biến trong thành phố vì cây lan
có hoa có thể dễ dàng đem trưng bày trong phòng khách, đem bán, đem biếu
mà không bị ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nó. Các loại phù hợp trồng
trong chậu như bầu rượu, hoài mạng đỏ tía... [18]


Các loại giá thể trồng lan thông dụng ở Việt Nam

Than củi: Được dùng khá phổ biến, là một chất trồng tốt vì không bị mục,
sạch bệnh, tạo thông thoáng cho hệ rễ lan phát triển. Than sẽ hấp thụ dinh
dưỡng qua quá trình bón phân và cung cấp dưỡng chất qua sức hút rất mạnh
của rễ lan. Than được dùng ở đây là loại than gỗ rừng, được nung (hun) thật
chín. Tránh tuyệt đối dùng các loại than gỗ rừng sác (như than đước) vì hàm
lượng NaCl trong than cao, dễ làm chết lan. Than được chặt nhỏ vừa (kích
thước 1 x 3 x 2 cm), không nên chặt quá nhỏ sẽ làm cản trở hô hấp của rễ.
Nhược điểm là giữ ẩm kém, giá thành khá cao.[19]
Gỗ vú sữa, gỗ cây me: Là chất trồng thông dụng cho các loại lan rừng
có rễ to và thích thoáng khí như ngọc điểm, sóc, hoàng thảo các loại . Vì bản
thân lan rừng khi ở trong rừng bám vào các loại cây để sống.
Vỏ dừa chặt khúc: Có khả năng giữ ẩm tốt và chất dinh dưỡng được cung
cấp từ phân bón giúp cho rễ phát triển tốt. Vỏ dừa chặt khúc nhỏ (1 x 3 x 2
cm) xử lý bằng nước vôi 5% hoặc NaOH 2%. Nhược điểm là không bền, dễ
bị rong rêu phát triển trên bề mặt. [19]
Vỏ dừa miếng: Đây là chất trồng lan chủ yếu của người Thái, dễ công
nghiệp hóa nếu sản xuất lan đại trà trên quy mô lớn. Nhưng do số lượng nhiều
và rất rẻ nên vỏ dừa miếng được trồng thành băng trên hệ thống giàn. Nếu
dùng vỏ dừa miếng trồng chậu phải hạn chế tưới nước. Tốt nhất là tạo điều
kiện đảm bảo ẩm độ bên ngoài hơn là trong chậu. Vỏ dừa miếng lại là môi


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×