Tải bản đầy đủ

Những rào cản của thể chế đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

HUỲNH ĐÌNH TUÂN
M4517014

NHỮNG RÀO CẢN CỦA THỂ CHẾ
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG
KINH TẾ HỌC THỂ CHẾ - KT729

CẦN THƠ, 06/2018
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

HUỲNH ĐÌNH TUÂN

M4517014

NHỮNG RÀO CẢN CỦA THỂ CHẾ
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
ĐỀ CƯƠNG
KINH TẾ HỌC THỂ CHẾ - KT729

CÁN BỘ GIẢNG DẠY
TS. NGUYỄN TUẤN KIỆT

CẦN THƠ, 06/2018
2


MỤC LỤC
Trang

3


DANH SÁCH BẢNG

4


DANH SÁCH HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang

5


DANH MỤC VIẾT TẮT
ASEAN
CNTB
CNXH
GDP
HN
NXB
TW


UBND
USD
XHCN
VCCI
WB
WEF
WTO

Cộng đồng các nước Asean
Chủ nghĩa Tư bản
Chủ nghĩa Xã hội
Thu nhập quốc dân
Hà Nội
Nhà xuất bản
Trung Ương
Ủy ban nhân dân
Đồng đô la Mỹ
Xã hội chủ nghĩa
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Ngân hàng thế giới
Diễn đàn kinh tế thế giới
Tổ chức Thương mại Thế giới

6


CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Từ một nước nông nghiệp nghéo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề
và nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp kìm hãm, nhờ đường lối đổi
mới do Đảng đề ra, sau 30 năm phấn đấu (kể từ năm 1986), Việt Nam đã ra khỏi tình
trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình và một nền
kinh tế thị trường năng động, hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng vào hệ thống kinh tế toàn
cầu. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt khá cao (bình quân khoảng 7%/năm), liên
tục và ổn định suốt hơn 20 năm qua. Việt Nam, từ một nước thiếu đói, tỷ lệ hộ nghèo
cùng cực chiếm tới 60% trong tổng số hộ năm 1990, trở thành quốc gia xuất khẩu nhiều
mặt hàng nông sản thuộc tốp đầu của thế giới và tỷ lệ hộ nghèo cùng cực chỉ còn chiếm
dưới 3% trong tổng số hộ năm 2016.
Tuy nhiên, trong phát triển kinh tế - xã hội, nhiều thách thức lớn đang đặt ra với
Việt Nam:
Về kinh tế, quy mô của nền kinh tế Việt Nam còn nhỏ bé. Tuy là nước đang phát
triển có mức thu nhập trung bình, song là trung bình thấp, GDP bình quân đầu người
năm 2014 là 2.024 USD, năm 2015 là 2.109 USD và 2016 là 2.200 USD.
Về xã hội - môi trường, số người không có việc làm ổn định vẫn ở mức cao.
Nhiều tệ nạn xã hôi đang lây lan cả ở thành thị và nông thôn. Đạo đức bị xói mòn, thiếu
trung thực đang tác động nặng nề đến các mặt đời sống xã hội. Phân hóa xã hội diễn ra
nghiêm trọng: chênh lệch giàu nghèo đang dãn rộng thêm; của cải xã hội rơi vào tay
một số kẻ có chức quyền. Môi trường tự nhiên bị suy thoái nặng nề, dẫn đến thảm họa
lũ lụt, hạn hán, sạt lỡ đất, xâm ngập mặn, dịch bệnh diễn ra ở nhiều vùng của đất nước.
Về hệ thống chính trị, đặc biệt là bộ máy quản lý Nhà nước cồng kềnh, hoạt
động kém hiệu quả, kém minh bạch đã gây mất lòng tin khá nghiêm trọng đối với người
dân và cộng đồng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói, nền kinh tế của Việt Nam phát triển chậm so với tiềm năng, do mô
hình phát triển và cơ cấu không hợp lý, mà biểu hiện tổng hợp nhất là năng suất lao
động thấp, khả năng cạnh tranh kém. Xã hội và môi trường sinh thái đang bị suy thoái
nghiêm trọng. Trong báo cáo về Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2015 của
Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam được xếp thứ 56/140 nước và vùng lãnh thổ được
WEF khảo sát, đứng sau năm nước ASEAN là Singapore, Malaysia, Thái Lan,
Indonesia và Philippines. Đây là điều rất đáng lo ngại.
Có nhiều nguyên nhân đang cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam,
gây ra tình trạng trì trệ của nền kinh tế, trong đó vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết

7


định nhất chính là sự bất cập của hệ thống thể chế về kinh tế đối với phát triển kinh tế xã hội:
Thứ nhất, thể chế hiện hành đã không phát huy được đầy đủ những nguồn lực to
lớn của người dân, nhất là về trí tuệ, tài năng. Năng suất lao động quá thấp là do người
lao động không được làm việc trong môi trường sáng tạo, lại không được khuyến khích
trong phát minh, sáng chế.
Thứ hai, thể chế hiện hành chưa phù hợp với sự vận động của kinh tế thị trưởng
hiện đại, không những chưa tạo ra một mô hình tăng trưởng với cơ cấu kinh tế phù hợp
với đặc điểm kinh tế - xã hội Việt Nam và hội nhập quốc tế, mà trong không ít trường
hợp còn làm méo mó thị trường do những mệnh lệnh hành chính, phi kinh tế.
Thứ ba, thể chế lỏng lẻo, Ngân sách Nhà nước, nguồn lực của dân được Nhà
nước tập trung qua hình thức thuế không được quản lý chặt chẽ, nhiều khoản sử dụng
kém hiệu quả, nhất là đầu tư công kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát lớn. Đầu tư công
lớn đang chèn ép đầu tư tư nhân.
Thứ tư, thể chế hiện hành đang có những điểm dung dưỡng tham nhũng, do vậy
mà “quốc nạn” này vẫn chưa được ngăn chặn đáng kể. Khi quyền lực không gắn với
trách nhiệm, lại thiếu sự giám sát, thì sự bành trướng quyền lực dẫn đến cửa quyền, lạm
quyền là khó tránh khỏi. Nguyên tắc “công khai”, “minh bạch” trong quản lý Nhà nước
không được tuân thủ. Quan hệ “xin - cho” vẫn còn dai dẳng, các vụ chạy chức, chạy
tội... còn tiếp diễn.
Nguyên nhân gốc rễ của tình trạng trên là do thể chế kinh tế đối với phát triển
kinh tế - xã hội của Việt Nam đang bị nhiều rào cản. Mặc dù vấn đề cải cách thể chế đã
được đề ra từ nhiều năm nay, được coi như một đột phá chiến lược trong Văn kiện Đại
hội XI và XII của Đảng, song cho đến nay, các bước tiến về lĩnh vực này còn rất chậm.
Nhìn chung, các rào cản về thể chế kinh tế đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam chưa được nhận thức đầy đủ để gỡ bỏ. Vì thế, việc nghiên cứu đề tài: “Những rào
cản của thể chế đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” là rất cần thiết hiện
nay.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu cơ sở lý luận về các rào cản về thể chế kinh tế đối với phát triển
kinh tế - xã hội để từ đó nhận diện rõ các loại rào cản về thể chế kinh tế đối với phát
triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập và giải pháp để khắc phục rào cản.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Làm rõ những vấn đề lý luận về rào cản thể chế kinh tế đối với phát triển kinh tế
- xã hội; xác định các tiêu chí về rào cản thể chế kinh tế, các loại rào cản về thể chế kinh
tế và tác động của các rào cản về thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận diện đúng và khách quan các loại rào cản về thể chế kinh tế ở Việt Nam
hiện nay; phân tích, đánh giá thực trạng rào cản về thể chế kinh tế ở Việt Nam và làm rõ
mức độ tác động của các rào cản về thể chế kinh tế đối với phát triển kinh tế - xã hội
8


trong thời kỳ hội nhập và nguyên nhân tạo ra các rào cản về thể chế kinh tế của Việt
Nam.
Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu khắc phục các rào cản
trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế ở Việt Nam; kiến nghị các điều kiện để thực
hiện giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tuân thủ các nguyên tắc của
kinh tế thị trường, phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp và Chính phủ trong
điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Rào cản thể chế kinh tế là gì? Tiếp cận rào cản thể chế theo quan điểm nào? Các
bộ phận nào cấu thành lên nội dung của rào cản thể chế kinh tế? Những nội dung chủ
yếu nổi lên ở nước ta hiện nay là gì? Nguồn gốc tạo ra rào cản thể chế kinh tế là gì? Rào
cản thể chế kinh tế ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một
đất nước?
Thực trạng rào cản thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam
hiện nay như thế nào? Nó đã kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta ra sao?
Những nguyên nhân nào tạo ra rào cản thể chế kinh tế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã
hội của nước ta hiện nay?
Làm thế nào để giảm thiểu rào cản thể chế kinh tế, từ đó thúc đẩy kinh tế - xã
hội nước ta những năm tới?
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của là các rào cản về thể chế kinh tế. Thể chế kinh tế có
thể chế chính thức và phi chính thức, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các rào cản
thuộc thể chế chính thức, đặc biệt là: Các rào cản từ pháp luật, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước; các rào cản từ tổ chức, cơ chế quản lý điều hành và thực thi
pháp luật, chính sách của Bộ máy Nhà nước và, các rào cản đối với các chủ thể tham gia
hoạt động trong nền kinh tế.
1.4.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Về không gian: đề tài nghiên cứu các rào cản về thể chế kinh tế đối với phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Về thời gian: nghiên cứu thực trạng rào cản về thể chế đối với phát triển kinh tế
- xã hội Việt Nam thời kỳ từ năm 2007 đến năm 2017.
Về góc độ nghiên cứu: thể chế kinh tế vĩ mô trên phạm vi cả nước.
1.5 Đóng góp của nghiên cứu
Rào cản về thể chế kinh tế hiện tại là một điểm nghẽn, một trở lực lớn đối với
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Việc tháo dỡ các rào cản về thể chế kinh tế, từ
đó tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội của nước nhà phát triển nhanh và
bền vững, vì vậy đã trở thành một đòi hỏi hết sức bức xúc.

9


Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về thể chế kinh tế và rào cản về thể
chế kinh tế đã được các Nhà Khoa học ở trong và ngoài Việt Nam giải quyết, cũng như
trên cơ sở phân tích quá trình chuyển đổi nền kinh tế của Việt Nam từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt là phân
tích về quá trình xây dựng và vận hành của thể chế kinh tế thị trường định hướng
XHCN Việt Nam trong hơn 10 năm vừa qua, đề tài đã tiến hành phân tích thực trạng các
rào cản về thể chế kinh tế và ảnh hưởng của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt
Nam thời kỳ hội nhập.
1.6 Kết cấu của đề tài
Đề tài được trình bày thành 5 chương sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Thực trạng rào cản về thể chế đối với phát triển kinh tế - xã hội ở
Việt Nam.
Chương 5: Định hướng và giải pháp khắc phục rào cản về thể chế đối với phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
1.8 Khung nghiên cứu

10


Mục tiêu nghiên cứu
Lược khảo tài liệu
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Xây dựng mô hình nghiên cứu

Phỏng vấn, điều chỉnh
Nghiên cứu định tính

Mục tiêu 1: xác định rào cản thể chế kinh tế
Thu thập

Số liệu thứ cấp

Nghiên cứu định lượng

Kết quả nghiên cứu

Mục tiêu 2: thực trạng rào cản thể chế kinh tế
Số liệu sơ cấp

Phỏng vấn

Phương pháp so sánh
Phương pháp thống kê mô tả, tần số

Tổng hợp
Mục tiêu 3: định hướng, giải pháp khắc phục rào cản
Suy luận

Kiểm định T-test
Kiểm định Cronbach’s alpha
Phân tích nhân tố khám phá EFA

Giải pháp

Hình 1.1: Khung nghiên cứu
Nguồn: Kết quả nghiên cứu, 2018
Kết luận và kiến nghị

11


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Các nghiên cứu quốc tế
Tư tưởng thể chế được xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và được phổ biến rộng rãi ở
Mỹ trong những năm 20 - 30 của thế kỷ XX. Sự nảy sinh của chủ nghĩa thể chế diễn ra do
quá trình chuyển đổi từ việc tự do cạnh tranh của CNTB sang giai đoạn độc quyền, với sự
tăng cường tập trung sản xuất và tích tụ tư bản, thiết lập sự thống trị của các tổ chức độc
quyền trong các ngành công nghiệp then chốt, tập trung cao độ tư bản ngân hàng.
Acemoglu & Robinson (2010) đã cung cấp minh chứng rất thuyết phục rằng một
quốc gia giàu, nghèo không phải là do điều kiện địa lý, văn hóa… mà cái tạo ra sự khác biệt
chính là chất lượng thể chế. Tác giả nhận định rằng chất lượng thể chế là nguyên nhân cơ
bản của sự khác biệt về tăng trưởng và phát triển kinh tế giữa các quốc gia và nó có thể
phát triển một khuôn khổ chặt chẽ cho sự hiểu biết lý do tại sao có sự khác nhau đó. Kết
luận này cũng đã từng được khẳng định trong nghiên cứu của Hall & Jones (1999).
Barro (1996) tiến hành thực nghiệm các yếu tố quyết định tăng trưởng cấp quốc gia.
Nghiên cứu này cũng đã sử dụng chỉ số dân chủ và chỉ số các quy định của pháp luật để đại
diện cho chất lượng thể chế. Kết quả cho thấy có mối quan hệ nhân quả phi tuyến tính giữa
dân chủ và tăng trưởng, “dân chủ làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế khi tự do chính trị
thấp, nhưng làm giảm tăng trưởng sau khi một mức tối ưu nhất định của tự do được đạt
tới”. Ngoài ra, chỉ số quy định của pháp luật cũng có tác động tích cực đến tăng trưởng.
Xem xét dưới góc độ ổn định chính trị, Chong & Calderon (2000) cho thấy sự bất
ổn chế độ, phân cực chính trị và sự đàn áp của chính phủ đều có một tác động tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, Jong-A-Pin (2009) sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố để
kiểm tra tác động của 25 chỉ số bất ổn chính trị và tác dộng của chúng đến tăng trưởng kinh
tế và đưa ra phát hiện chính là mức độ cao của sự bất ổn chế độ chính trị sẽ dẫn đến giảm
tăng trưởng kinh tế. Bất ổn chính trị có khả năng làm giảm tầm nhìn của các nhà hoạch
định chính sách trong việc tối ưu hóa các chính sách kinh tế vĩ mô. Sự bất ổn chính trị sẽ
tạo ra một môi trường kinh tế chính trị không chắc chắn, tăng rủi ro và giảm đầu tư. Quy
định của pháp luật và ổn định chính trị là cần thiết để đảm bảo hệ thống pháp lý trong sạch
và vững mạnh để loại bỏ những trở ngại trong việc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài - một yếu
tố quan trọng trong tăng trưởng (Goldsmith, 1987).
Knack & Keefer (1995) cho rằng một chính sách công dù tốt đến mức nào cũng sẽ
thất bại nếu điều kiện thể chế của quốc gia đó quá yếu kém. Các nghiên cứu trên đã cho
thấy vai trò quan trọng của chất lượng thể chế tới tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Sẽ
thiếu sót nếu chỉ xem xét chất lượng thể chế trên khía cạnh thể chế chính trị. Vì vậy, bài
viết này sẽ tiếp cận trên cả hai phương diện thể chế chính trị và thể chế kinh tế nhằm phản
ánh đầy đủ, toàn diện mối quan hệ giữa thể chế và tăng trưởng.
12


Heckelman & Powell (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa tham nhũng và tăng
trưởng gắn với môi trường thể chế (dân chủ và tự do kinh tế). Bài nghiên cứu sử dụng dữ
liệu của 83 quốc gia trong khoảng thời gian từ năm 1995 - 2005 bằng phương pháp bình
phương bé nhất theo trọng số (Weighted Least Squares). Nghiên cứu tìm thấy những kết
quả rất đặc biệt và mối quan hệ này phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng thể chế của quốc gia.
Cụ thể, tham nhũng được phát hiện là có lợi cho tăng trưởng tại các quốc gia có nền dân
chủ cao.
Venard (2013) phân tích mối quan hệ giữa chất lượng thể chế, mức độ tham nhũng
và sự phát triển kinh tế, bằng cách sử dụng dữ liệu của 120 quốc gia bao gồm cả quốc gia
có chất lượng thể chế cao và thấp, dữ liệu được thu thập trong các năm 1998, 2001, 2004 và
2007 và phương pháp ước lượng mô hình cấu trúc PLS (Partial least squares). Kết quả thực
nghiệm cho thấy cả tham nhũng và chất lượng thể chế có tác động tiêu cực đến phát triển
kinh tế. Tuy nhiên, nghiên cứu này cho thấy kết quả thú vị về sự tương tác giữa tham nhũng
và chất lượng thể chế đến tăng trưởng. Việc cải thiện chất lượng thể chế và giảm tham
nhũng có hiệu quả hơn cho sự phát triển kinh tế ở các nước có chất lượng thể chế thấp so
với các nước có chất lượng thể chế cao.
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thể chế kinh tế đã được đề cập đến trong nhiều
công trình nghiên cứu, mà đặc biệt được chú trọng kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ XI
(2011), với việc xác định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là một
trong ba khâu đột phá để phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đến nay vấn đề
thể chế vẫn còn chưa có sự định hình một cách rõ ràng bởi nhiều cách hiểu khác nhau.
Trong bài viết “Cải cách thể chế nhằm thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế” Phạm Duy
Nghĩa (2010) cho rằng, thể chế là một khái niệm rộng, được định nghĩa bao quát, đôi khi
mơ hồ, gồm những luật chơi chính thức hoặc phi chính thức định hình nên phương thức
ứng xử của con người. Cũng như các quốc gia khác, nền kinh tế Việt Nam được điều tiết
bởi những thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức bao gồm hiến pháp,
luật, đặc biệt là các quyền sở hữu, luật pháp về tự do khế ước, tự do cạnh tranh, tổ chức
công quyền, nhất là các thiết chế thi hành pháp luật và những quy trình kiểm soát quyền lực
công cộng khác được thực hiện bởi những cơ chế khách quan. Thể chế phi chính thức bao
gồm vô tận các quy tắc bất thành văn, quy phạm, những điều cấm kỵ được tuân thủ trong
quan hệ giữa nhóm người.
Ở nước ta, thuật ngữ “ rào cản về thể chế kinh tế” mới xuất hiện trong những năm
gần đây. Gần đây, các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu nước ta đã đề cập nhiều đến vấn
đề này. Chẳng hạn, tại buổi làm việc với Bộ kế hoạch và Đầu tư, thủ tướng Nguyễn Xuân
Phúc cho rằng “Tinh thần lớn là tập trung hoàn thiện thể chế, gỡ bỏ các rào cản để phát
triển” (Đức Tuân, Quang Hiếu, 2016).

13


“Những yếu tố thể chế nào là rào cản cho triển vọng phát triển của Việt Nam? Để
giải đáp câu hỏi này, cần phân tích 3 yếu tố quyết định hiệu lực của Nhà nước: (1) là năng
lực của bộ máy hành chính dựa trên sự phân tầng bậc rõ ràng, thẩm quyền thống nhất, chế
độ chức nghiệp thực tài và quyền hạn được pháp luật quy định; (2) là sử dụng các tín hiệu
thị trường để phân bổ nguồn lực và sử dụng kỷ luật tài khóa để bảo đảm sự ăn khớp giữa
chính sách với năng lực tài chính của Nhà nước; và (3) là sự tham gia rộng rãi của dân
chúng vào quá trình hoạch định chính sách để bảo đảm sự đồng bộ giữa chính sách và
chương trình của Nhà nước với nhu cầu và khát vọng của dân chúng.” (WB và Bộ KH &
ĐT, 2016). Cũng theo Báo cáo trên “có 3 yếu tố tác động qua lại lẫn nhau đóng vai trò
quyết định trong việc giải thích cho những thách thức về hiệu lực của Nhà nước ở Việt Nam
hiện nay: (1) tình trạng tham gia quá nhiều của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, tình trạng
quyền lực của Nhà nước bị cát cứ, manh mún; (2) sự thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực hữu
hiệu trong bộ máy chính quyền; và (3) sự hạn chế về trong lượng tiếng nói của dân chúng
cũng như sự tham gia rất hạn chế của người dân trong trong quá trình hoạch định và thực
thi chính sách”. Vì thể, để gỡ bỏ rào cản thể chế kinh tế, Việt Nam cần: (1) áp dụng nguyên
tắc thị trường đối với các quyết sách kinh tế thông qua các hoạt động tăng cường đảm bảo
các quyền tài sản; bảo đảm cạnh tranh; chuyển đổi vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế
từ vị thế của một nhà sản xuất sang vị thế là chủ thể điều tiết và hỗ trợ một cách hiệu quả.
(2) Tăng cường trách nhiệm giải trình của Nhà nước thông qua việc tăng cường kiểm soát
và cân bằng giữa các nhánh quyền lực Nhà nước; đồng thời nâng cao khả năng truy trách
nhiệm giải trình của Nhà nước từ phía người dân” (WB và Bộ KH & ĐT, 2016)
Trong nghiên cứu của Ngô Thắng Lợi (2015) về “Phát triển bền vững ở Việt Nam
trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu” , tác giả cho
rằng “Mặc dù những nỗ lực xây dựng thể chế cho phát triển bền vững của Việt Nam rất rõ
ràng, nhưng cần thừa nhận rằng đó mới chỉ là những nền tảng ban đầu, và đa số các nền
tảng đó mới dừng lại ở khung thể chế hoặc các nguyên tắc, quan điểm, định hướng chung.
Việc chuyển từ các ý tưởng thành hành động cụ thể để thực sự tạo ra các thể chế kinh tế và
chính trị cho phát triển bền vững vẫn còn nhiều hạn chế. Điều đó thể hiện rõ trên các mặt
sau: (1) Các thể chế chính trị ở Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn từ mô hình kế hoạch
hóa tập trung trước đây và sự chuyển đổi này còn khá chậm chạp. Do đó, thay đổi tư duy
lãnh đạo trong điều hành nền kinh tế là một ưu tiên quan trọng để tạo ra được các thể chế
thực sự hướng tới phát triển bền vững. (2) Quá trình phân cấp trao quyền cho địa phương
cũng đang bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt trong việc quản lý các nguồn lực chung có tính
chất quốc gia hoặc quốc tế, trong đó nổi bật nhất là những vấn đề liên quân đến bảo vệ môi
trường. (3) Thể chế cho phát triển bền vững không chỉ dừng lại ở việc ban hành các cơ chế,
chính sách mà quan trọng hơn và phải đảm bảo hiệu lực thực thi của các cơ chế, chính sách
đó. Do đó, đảm bảo hiệu lực thực thi của các thể chế phát triển bền vững là một nhiệm vụ
cần thiết khác phải đặt ra trong quá trình đổi mới hướng đến xây dựng một thể chế kinh tế
thị trường thực sự tại Việt Nam. (4) Mặc dù trách nhiệm giải trình đã được cải thiện đáng
14


kể, nhưng nhiều khi còn chậm và không phải lúc nào cũng tối ưu. Tăng cường trách nhiệm
giải trình đòi hỏi phải đẩy mạnh các trụ cột khác của quản trị Nhà nước hiệu quả, đó là:
công khai, minh bạch, sự tham gia cũng như tính tiên liệu trong các cơ chế, chính sách.
2.3 Những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu về thể chế và rào cản về thể chế kinh tế đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Nhìn chung, mặc dù có những ý kiến khác nhau, nhưng các nghiên cứu có sự thống
nhất ở một số khía cạnh sau: Thứ nhất, thể chế là các hiện tượng xã hội do con người tạo ra
nhằm phục vụ mục đích của mình. Thứ hai, thể chế kinh tế là một hệ thống bao gồm ba bộ
phận chính là: (1) Các quy định về kinh tế của Nhà nước và các quy tắc xã hội được Nhà
nước công nhận; (2) Hệ thống các chủ thể thực hiện các hoạt động kinh tế; và (3) Các cơ
chế, phương pháp, thủ tục thực hiện các quy định và vận hành bộ máy đó. Thứ ba, thể chế
kinh tế vừa là tiền đề cơ bản của vận hành nền kinh tế, vừa là điều kiện quan trọng của tăng
trưởng kinh tế và phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, đến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra trong nghiên cứu thể chế và rào cản
thể chế kinh tế đối với phát triển kinh tế - xã hội. Một là, thể chế là vấn đề rộng, có nhiều
cách tiếp cận theo xu hướng tâm lý - xã hội, tiếp cận theo xu hướng luật pháp - xã hội, tiếp
cận theo xu hướng thống kê. Vậy trong phạm vi một đề tài nghiên cứu khoa học cần lựa
chọn cách tiếp cận nào? Hai là, nghiên cứu thể chế kinh tế có thể dưới góc độ vĩ mô (luật
chơi, người chơi, sân chơi, cách chơi) cũng có thể dưới góc độ vi mô (thể chế kinh tế của
các doanh nghiệp, công ty, các tổ chức); thể chế chính thức và thể chế không chính thức...
Vậy trong phạm vi một đề tài nghiên cứu khoa học cần lựa chọn cách tiếp cận nào? Ba là,
đến nay quan niệm về rào cản thể chế kinh tế còn chưa có sự thống nhất và những nghiên
cứu cũng mới chỉ đặt ra những nét chấm phá bước ban đầu, đặc biệt là ở Việt Nam. Một
loạt vấn đề đặt ra cần có câu trả lời có sức thuyết phục trong quá trình thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chính vì thế, nghiên cứu này ra đời với mục đích góp phần làm sáng tỏ những câu
hỏi trên.

15


CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Thể chế và thể chế kinh tế
3.1.1.1 Khái niệm về thể chế
Theo các nhà kinh tế học thể chế, thuật ngữ này được hiểu là những hiện tượng xã
hội như gia đình, Nhà nước, tổ chức độc quyền, nghiệp đoàn ... có thể là sự biểu hiện của
tâm lý xã hội, động cơ xử sự, phương thức tư duy - những thứ này đã trở thành quen thuộc
đối với một nhóm người hoặc đối với cả một dân tộc - đó là tập tục, truyền thống, thói quen
và những biểu hiện về luật pháp, luân lý ... Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa thể chế khẳng
định rằng các phạm trù kinh tế như chế độ sở hữu tư nhân, thuế, tiền tệ, tín dụng, lợi nhuận,
thương mại, tất cả những thứ này chỉ là hình thức thể hiện của tâm lý học trong xã hội. Do
đó, những người ủng hộ chủ nghĩa thể chế không thừa nhận tác động của các quy luật kinh
tế khách quan. Họ không phân tích sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, mà họ chỉ phân tích sự tiến hóa của tâm lý xã hội (Mai Ngọc Cường, 2005).
Một trong những người đầu tiên đưa ra định nghĩa về thể chế là Thorstein Veblen.
Theo ông, thể chế là “tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong
những tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp nhận và tuân thủ”
(Đinh Văn Ân và Lê Xuân Bá, 2006). Về cơ bản, sự tuân thủ các quy tắc đó là do bản thân
tự kiểm soát hoặc do quyền lực bên ngoài khống chế.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về thể chế tuy có muộn hơn, song cũng đã có nhiều
định nghĩa được đưa ra:
Trong cuốn Từ điển Việt Nam (Hoàng Phê 1992), thể chế được định nghĩa là
“Những quy định, luật lệ của một xã hội, buộc mọi người phải tuân theo.
Tác giả Phạm Duy Nghĩa (2010) thì “Thể chế là một khái niệm rộng, được định
nghĩa bao quát, đôi khi mơ hồ, gồm những luật chơi chính thức hoặc phi chính thức định
hình nên phương thức ứng xử của con người. Cũng như các quốc gia khác, nền kinh tế Việt
Nam được điều tiết bởi những thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức bao
gồm hiến pháp, luật, đặc biệt là các quyền sở hữu, luật pháp về tự do khế ước, tự do cạnh
tranh, tổ chức công quyền, nhất là các thiết chế thi hành pháp luật và những quy trình kiểm
soát quyền lực công cộng khác được thực hiện bởi những cơ chế khách quan. Thể chế phi
chính thức bao gồm vô tận các quy tắc bất thành văn, quy phạm, những điều cấm kỵ được
tuân thủ trong quan hệ giữa nhóm người”.
Như vậy, có thể thấy, tuy cách diễn giải có khác nhau, song tất cả các tác giả đều
thống nhất thể chế là “bộ quy tắc” hay “bộ chuẩn mực’ về hành vi của con người, có tác
dụng điều tiết các mối quan hệ qua do lại giữa con người với nhau.
16


3.1.1.2 Khái niệm thể chế kinh tế
Khái niệm thể chế kinh tế được đề cập từ những năm 80 của thế kỷ XX. Trong số
các khái niệm về thể chế kinh tế được đưa ra, đáng chú ý có các định nghĩa sau đây:
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, quyển 4, trang 193, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà
Nội, 2005 thì “Thể chế kinh tế không phải là tự nó nảy sinh, tự điều chỉnh, tự cung cấp mà
luôn luôn dựa vào khả năng tự giúp của chế độ khác và của lực lượng phi kinh tế”.
Hai nhà khoa học Đinh Văn Ân và Lê Xuân Bá trong công trình nghiên cứu “Tiếp
tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam (2006) thì cho rằng “Thể chế kinh tế là hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều
chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất, kinh doanh và các quan hệ kinh tế. Thể chế
kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế
gắn với các chế tài xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý Nhà nước về
kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơ chế vận hành nền kinh tế”.
Dưới một góc nhìn khác, tác giả Đinh Vũ trang Ngân (2013) lại quan niệm thể chế
kinh tế có thể được chia thành: Thể chế kinh tế “tước đoạt” và thể chế kinh tế “dung hợp”.
Thể chế kinh tế “tước đoạt” là không có pháp luật và trật tự, quyền sở hữu không được bảo
đảm; rào cản gia nhập thị trường; các quy định ngăn cản hoạt động của thị trường và tạo ra
một sân chơi bất công. Thể chế kinh tế “dung hợp” là quyền sở hữu được bảo đảm, luật
pháp và trật tự, dựa vào thị trường, Nhà nước hỗ trợ thị trường; gia nhập thị trường tương
đối tự do, tôn trọng hợp đồng; tiếp cận với giáo dục và cơ hội cho đại đa số công dân.
3.1.1.3 Các yếu tố cấu thành của thể chế kinh tế.
Thể chế kinh tế là một khái niệm rộng, bao quát nhiều vấn đề phức tạp, có liên quan
đến các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống, quan hệ quốc tế. Chính vì
thế, nội dung của thể chế kinh tế gồm những vấn đề gì, là vấn đề không dễ thống nhất trong
thực tiễn, bởi lẽ nó tùy thuộc vào chổ đứng, góc nhìn, nghiên cứu và xem xét của mỗi
người.
Theo quan điểm của Đinh Văn Ân và Lê Xuân Bá (2006) thì thể chế kinh tế có 4
nội dung: Một là, các bộ quy tắc tạo thành “ luật chơi” kinh tế thị trường gồm khung pháp
luật về kinh tế và các quy tắc chuẩn mực về kinh tế. Hai là, các chủ thể tham gia “trò chơi”
kinh tế thị trường, người chơi gồm các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế; các doanh
nghiệp và các tổ chức “xã hội dân sự”. Ba là, các cơ chế thực thi thể chế kinh tế thị trường,
cách chơi gồm cơ chế cạnh tranh thị trường; cơ chế phân cấp quản lý kinh tế; cơ chế phối
hợp, tham gia; cơ chế theo dõi và đánh giá. Bốn là, thể chế kinh tế thị trường cơ bản, sân
chơi gồm thị trường hàng hóa; thị trường tài chính; thị trường khoa học và công nghệ và thị
trường bất động sản.

17


3.1.2 Rào cản thể chế kinh tế
3.1.2.1 Khái niệm rào cản về thể chế kinh tế
Rào cản, hiểu một cách thông thường, đơn giản là vật ngăn cách (hữu hình hoặc vô
hình) giữa hai sự vật hoặc hai hiện tượng nhằm phục vụ cho một mục đích nào đó. Mục
đích ở đây cũng có thể là tốt hoặc không tốt.
Rào cản về thể chế kinh tế cũng có tính hai mặt của nó, tích cực và tiêu cực. Mặt
tích cực của nó có thể thấy như: rào cản thuế quan, rào cản hải quan, rào cản kỹ thuật ... các
quốc gia thường dùng để ngăn chặn sự xâm nhập của các loại hàng hóa từ bên ngoài vào có
thể làm ảnh hưởng đến sản xuất của các mặt hàng đó ở trong nước. Tuy nhiên, trong thực
tiễn, khi nói đến rào cản về thể chế kinh tế, người ta thường đề cập đến mặt tiêu cực, mặt
hạn chế của nó là chính. Đề tài nghiên cứu này cũng vậy, chỉ tập trung nghiên cứu mặt tiêu
cực, hạn chế của rào cản về thể chế kinh tế mà thôi. Vậy rào cản về thể chế kinh tế là gì?
Thuật ngữ “Rào cản về thể chế kinh tế” mới xuất hiện ở nước ta trong mấy năm gần
đây, khi trong thực tiễn không ít các quy định của các bộ Luật và Luật, các cơ chế và chính
sách được đưa ra thực thi trong nền kinh tế, cũng như cách hành xử của các cơ quan và
công chức thuộc bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế đã đem lại không ít khó khăn, trở
ngại đối với các hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và người dân. Hậu quả
là làm cho tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có xu hướng chậm lại, nguy cơ tụt hậu so với
các nước trong khu vực ngày càng trở thành hiện thực.
Nói một cách đơn giản hơn thì: “Rào cản về thể chế kinh tế là những trở lực do hệ
thống luật pháp và chính sách của Nhà nước, do các quy tắc của cộng đồng, do việc tổ chức
thực thi pháp luật và chính sách của bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế các cấp gây ra cho
các doanh nghiệp, tổ chức và người dân khi tham gia hoạt động trong nền kinh tế, ở một
thời kỳ nhất định”.
3.1.2.2 Bản chất của rào cản về thể chế kinh tế
Cho đến nay, trong thực tiễn phát triển của nền kinh tế thế giới, cũng như của nền
kinh tế nước ta, chưa có một nghiên cứu nào về bản chất các rào cản về thể chế kinh tế
được thực hiện. Chính vì thế, việc xác định chuẩn xác bản chất của rào cản thể chế kinh tế
là một điều không đơn giản, bởi lẽ phải có sự nghiên cứu khá thận trọng và bài bản.
Bản chất của rào cản về thể chế kinh tế là sự kìm hãm phát triển (cả kinh tế - xã
hội). Sở dĩ như vậy vì, rào cản về thể chế kinh tế tác động hết sức xấu đến phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước. Đặc biệt là, làm thất thoát, lãng phí các nguồn lực phát triển, làm nản
lòng các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế, từ đó làm giảm động lực phát triển
của nền kinh tế, làm thui chột tính năng động, sáng tạo của người lao động, làm giảm lòng
tin của người dân đối với Nhà nước, làm xấu hình ảnh của Quốc gia với bạn bè trên thế
giới.

18


3.1.3 Phân loại rào cản về thể chế kinh tế
3.1.3.1 Rào cản về luật pháp, chính sách.
Rào cản về luật pháp và chính sách được đề cập ở đây chủ yếu là nói đến những hạn
chế, những bất cập do hệ thống luật pháp và chính sách vĩ mô của Nhà nước tạo ra đối với
sự phát triển của nền kinh tế nói chung, đến hoạt động của các chủ thể (doanh nghiệp, tổ
chức, người dân) tham gia trong nền kinh tế nói riêng.
3.1.3.2 Rào cản về Bộ máy và năng lực tổ chức triển khai thực thi luật pháp và
chính sách của Bộ máy quản Nhà nước về kinh tế.
Rào cản này thể hiện trong thực tiễn rất phức tạp.
Bộ máy quản lý cồng kềnh. Đây là rào cản không nhỏ, bởi lẽ, Bộ máy càng lớn thì
tiền nuôi Bộ máy càng nhiều. Mà tiền này thực chất là tiền thuế do người dân đóng. Như
vậy, bộ máy cồng kềnh thì người dân phải chịu đóng thuế nặng và phần tiền còn lại dành
cho đầu tư cho phát triển sẽ rất hạn hẹp. Hai yếu tố này đã góp phần không nhỏ vào việc
kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
Cơ chế thực thi luật pháp và chính sách do Bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế
đưa ra quá phức tạp, đặc biệt là các thủ tục hành chính có liên quan đến các hoạt động sản
xuất – kinh doanh.
Sự nhũng nhiễu và tham nhũng của đội ngũ công chức trong thực thi công vụ.
Rào cản này cộng với rào cản thủ tục hành chính phức tạp, rắc rối là hai rào cản gây
ra sự bức xúc, sự nản lòng nhất của đối với các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh
tế.
3.1.3.3 Rào cản từ các quy tắc của cộng đồng.
Rào cản đến từ các quy tắc do cộng đồng đưa ra thường là những điều cấm kỵ đối
với tổ chức và người dân ở một địa phương nào đó, khi tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, nhằm giữ truyền thống hoặc một nét văn hóa nào đó của địa phương. Chẳng
hạn, ở một vùng nào đó người ta cấm không được ăn thịt bò, thì đương nhiên những người
kinh doanh thịt bò ở đây sẽ bị cản trở bởi quy định của cộng đồng.
Rào cản xuất phát từ những quy định của cộng đồng ở quốc gia nào cũng có. Tuy
nhiên, do phạm vi ảnh hưởng của nó không lớn, nên tác động kìm hãm đối với sự phát triển
của quốc gia cũng không lớn.
3.1.4 Tác động của các rào cản về thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế-xã hội.
3.1.4.1 Đối với vận hành và điều hành nền kinh tế
Các rào cản về thể chế kinh tế sẽ làm cho nền kinh tế vận hành khó khăn, không trôi
chảy, đặc biệt là không tuân theo các yêu cầu và các quy luật của nền kinh tế thị trường.
Đây là điều cực kỳ nguy hiểm, bởi lẽ nó làm cho nền kinh tế bị méo mó, từ đó dễ gặp

19


những rủi ro khó lường trong sự phát triển (tạo ra các nhu cầu giả tạo, những cơn sốt giả
tạo, từ đó có thể dẫn đến sự khủng hoảng cục bộ trong nền kinh tế).
Các rào cản về thể chế kinh tế sẽ làm cho việc điều hành nền kinh tế của bộ máy
quản lý Nhà nước kém hiệu lực và hiệu quả, không đạt được các mong muốn và các mục
tiêu đã đề ra. Đáng quan ngài nhất là tình trạng trên bảo dưới không nghe, trên chỉ đạo một
đường, dưới làm một nẽo. Hậu quả là các nguồn lực thì tiêu tốn nhiều, nhưng kết quả mang
lại thì rất hạn chế, kinh tế vẫn chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân
vẫn chậm được cải thiện, và nguy cơ tụt hậu xa so với các nước trong khu vực và thế giới
vẫn không hề giảm.
3.1.4.2 Đối với phát triển kinh tế-xã hội
Các rào cản về thể chế kinh tế làm nản lòng các chủ thể tham gia hoạt động trong
nền kinh tế (kể cả hoạt động đầu tư và hoạt động sản xuất - kinh doanh - dịch vụ). Điều
nguy hại hơn là tạo điều kiện, mở đường cho cho họ đi vào con đường làm ăn bất chính, phi
pháp như: chụp dựt, trốn thuế, buôn lậu, làm hàng giả...
Các rào cản về thể chế kinh tế làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước
nhà (kể cả khả năng cạnh tranh của sản phẩm, của ngành hàng, của doanh nghiệp và quốc
gia), bởi lẽ, các tiêu cực từ các rào cản sinh ra, sẽ làm tăng các chi phí không cần thiết, từ
đó làm cho giá thành các sản phẩm do các chủ thể tham gia thị trường làm ra bị đội lên cao,
mà giá thành cao thì làm sao cạnh tranh thắng lợi được trên thị trường, đặc biệt là thị
trường quốc tế. Mặt khác, các tiêu cực do các rào cản sinh ra, cũng làm cho lợi nhuận của
các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất giảm sút, từ đó làm cho họ ít có khả năng đầu tư đổi
mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp, sản phẩm
làm ra chất lượng thấp, giá thành cao, vì thế sẽ không cạnh tranh được.
Các rào cản về thể chế kinh tế làm lãng phí, thất thoát các nguồn lực phát triển của
đất nước, đặc biệt là nguồn lực đất đai, tài chính, nhân lực và trí tuệ. Đã lãng phí, thất thoát
thì sản xuất sẽ không có hiệu quả, tăng trưởng kinh tế vì thế sẽ chậm. Kinh tế chậm phát
triển sẽ làm ảnh hưởng đến hàng loạt vấn đề về xã hội và môi trường, đặc biệt là nghèo đói,
bất công, tội phạm, ô nhiễm nguồn nước, không khí...
Các rào cản về thể chế kinh tế góp phần làm hư hỏng, tha hóa đội ngũ doanh nhân
và đội ngũ công chức Nhà nước. Tha hóa ở đây kể cả đạo đức, lối sống, cách thức làm ăn,
cách thức giải quyết các vấn đề có liên quan đến công việc được đảm trách, đến lợi ích của
cộng đồng và quốc gia...
Các rào cản về thể chế kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng làm giảm lòng
tin của người dân đối với Nhà nước, làm xấu hình ảnh của quốc gia đối với thế giới.
3.1.5 Mô hình nghiên cứu
Thông qua quá trình nghiên cứu cũng như lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài
nước, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu, cụ thể:
20


Tác động
Phát
triểnvà
kinh
tế hành
- xã hội
Vận hành
điều
nền kinh tế

Hệ
sách
Bộthống
máy vàchính
cơ chế
bộpháp
máy luật
NN

Cơ chế hình thành và vận hạnh các lại thị trường
Các chủ thể tham gia thị trường
Rào cản thể chế kinh tế

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu
Nguồn: Kết quả nghiên cứu, 2018

3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Quy trình nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài sẽ triển khai nghiên cứu theo quy
trình được thể hiện trong hình 2.2.

21


ứu về thể chế kinh tế, rào cản về thể chế kinh tế cũng như vai trò của thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận diện các rào cản về thể chế kinh tế và nguồn gốc hình thành các rào cản.

Nhận diện nhân tố tác động và các khía cạnh tác động của rào cản thể chế kinh tế tới phát triể

thể chế kinh tế và vai trò của các rào cản thể chế kinh tế tới sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt từ khi đổi mới đến nay.

Thảo luận
xin ý kiến chuyên gia

Điều tra khảo sát

Phỏng vấn

n tích, đánh giá thực trạng và mức độ tác động của các rào cản thể chế kinh tế đến phát triển kinh tế - xã hội Việt th

quan điểm, định hướng, giải pháp hạn chế rào cản thể chế kinh tế và hạn chế tác động của các rào cản đến phát triển

Hình 3.2: Quy trình nghiên cứu của đề tài
Nguồn: Kết quả nghiên cứu, 2018

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài dự kiến sử dụng cả các nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Công tác thu
thập dữ liệu sẽ được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau, thực hiện phương pháp
định tính và định lượng. Cụ thể các phương pháp này bao gồm:
3.2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Đề tài sẽ tiến hành tổng quan kết quả các công trình nghiên cứu, tài liệu khoa học
đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để
rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về thể chế kinh tế; vai trò của thể chế kinh tế đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội; quá trình đổi mới thể chế kinh tế trong thời kỳ đổi mới và
hội nhập ở nước ta, qua đó nhận diện các rào cản thể chế kinh tế và cách thức tác động đến
sự phát triển kinh tế-xã hội của nước ta thời gian qua. Ở đây, đề tài sử dụng phương pháp
lịch sử, phương pháp so sánh đối chiếu nhằm phân tích, so sánh đặc điểm của quá trình đổi

22


mới thể chế kinh ở Việt Nam với các nền kinh tế thị trường hiện đại; so sánh, phân tích
những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
3.2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Đề tài sẽ thực hiện kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính qua phỏng vấn sâu
(in-depth interview), thảo luận theo nhóm và phương pháp nghiên cứu định lượng thông
qua điều tra chọn mẫu, sử dụng bảng hỏi.
Phương pháp định tính (phỏng vấn sâu): Sẽ được tiến hành đồng thời bằng việc điều
tra trên diện rộng. Dự kiến, sẽ phỏng vấn sâu 10 đối tượng là các nhà khoa học, các nhà
quản lý ở các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế - xã hội (các cơ quan Đảng, Chính
phủ, các Bộ, Ngành); các cơ quan điều hành, thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã hội,
các nhà khoa học ở các viện nghiên cứu, các trường đại học; các cơ quan, các nhà nghiên
cứu, tư vấn hoạch định chính sách thuộc các tổ chức khác.
Mục đích của phỏng vấn sâu là nhằm nhận diện rõ các loại rào cản về thể chế kinh
tế đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập; những nhân tố ảnh hưởng,
những tiêu chí phân tích, đánh giá; các điều kiện và giải pháp khắc phục các rào cản về thể
chế kinh tế để đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.
Phương pháp thảo luận nhóm: Dự kiến sẽ thực hiện 5 tọa đàm thảo luận nhóm. Mỗi
tọa đàm khoảng 5-10 người, bao gồm các đối tượng khác nhau là các chủ thể tham gia vào
nền kinh tế để xin ý kiến của họ về những rào cản thể chế và cách thức tác động của các rào
cản thể chế kinh tế đến phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Các buổi thảo luận nhóm sẽ
được tiến hành dựa trên các chủ đề và câu hỏi được gửi trước. Tỷ lệ của các đối tượng tham
gia thảo luận nhóm sẽ như nhau đối với từng đơn vị khảo sát. Dự kiến 30% là đại diện các
cơ quan quản lý Nhà nước, 30% là khối doanh nghiệp, 30% đến từ cộng đồng xã hội với tư
cách là người tiêu dùng, còn lại là các đối tượng liên quan khác. Nội dung các cuộc thảo
luận nhóm sẽ được tổng hợp để làm minh chứng cho các kết luận của đề tài nghiên cứu.
3.2.2.3 Phương pháp điều tra chọn mẫu
Đề tài dự kiến thực hiện điều tra với 100 phiếu. Đối tượng khảo sát, phỏng vấn bao
gồm: 25% là cán bộ quản lý tại các cơ quan tham mưu, tư vấn hoạch định chính sách; 25%
là các doanh nghiệp; 25% là các tầng lớp nhân dân; và 25% là các chuyên gia, các nhà khoa
học, các tổ chức xã hội khác. Cách thức chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện. Phương
pháp gửi phiếu tới các đối tượng khảo sát sử dụng đồng thời theo email hoặc phát trực tiếp
khi gặp. Do hạn chế của nghiên cứu, đa số các đối tượng khảo sát tập trung nhiều ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long. Ngoài ra, dựa vào danh sách các chuyên gia, các cơ quan và các
doanh nghiệp để gởi bảng câu hỏi qua mail cho một số đối tượng có thể tiếp cận được ở
mức diện rộng nhất có thể.
Nội dung điều tra hướng vào đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở địa
phương, chỉ ra các rào cản về thể chế kinh tế, đánh giá mức độ tác động của những rào cản
23


về thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương, cũng như mức độ
quan trọng của các giải pháp.
Hình thức khảo sát lấy ý kiến theo thang điểm từ 1-5 với 1 là mức độ đồng ý thấp
nhất, và 5 là mức độ đồng ý cao nhất của thang đo Likert.
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Về kỹ thuật phân tích, các kỹ thuật chính được sử dụng bao gồm cả phân tích định
tính và định lượng:
3.2.3.1 Phương pháp phân tích định tính
Các kỹ thuật phân tích dữ liệu định tính, trên cơ sở tập hợp các ý chính nổi bật qua
các cuộc phỏng vấn theo từng chủ đề, hoặc với sự trợ giúp của phần mềm phân tích NVivo. Các dữ liệu của phỏng vấn, thảo luận nhóm sẽ được tổng hợp, phân tích, so.
3.2.3.2 Phương pháp phân tích định lượng
Kỹ thuật phân tích định lượng, trên cơ sở số liệu điều tra, đề tài sẽ sử dụng kỹ thuật
phân tích thông thường và kỹ thuật phân tích đa nhân tố để xử lý.Với kỹ thuật phân tích
thông thường như thống kê mô tả nhằm nêu ra bức tranh tổng thể và đa chiều về hiện trạng
các rào cản về thể chế kinh tế ở Việt Nam. Kỹ thuật phân tích đa nhân tố sử dụng để xác
định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các rào cản về thể chế kinh tế đối với
phát triển kinh tế - xã hội cùng các chỉ số kiểm định độ tin cậy Crobach Anpha, EFA,
ANOVA...
Về mặt công cụ phân tích và nghiên cứu, các công cụ chính sẽ được sử dụng là
phần mềm máy tính chuyên dụng: Với những công cụ phần mềm chuyên dụng của máy
tính sẽ cho phép xử lý các số liệu điều tra đã thu thập được trong quá trình khảo sát thực tế
(cụ thể là SPSS và các phần mềm hỗ trợ phân tích tiên tiến khác như AMOS).

24


CHƯƠNG 4
THỰC TRẠNG RÀO CẢN VỀ THỂ CHẾ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
4.1 Thực trạng rào cản về thể chế đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong
thời kì hội nhập
4.1.1 Thực trạng rào cản về hệ thống chính sách pháp luật
4.1.2 Thực trạng rào cản phát sinh từ bộ máy và cơ chế hoạt động của bộ máy Nhà nước
4.1.3 Thực trạng rào cản phát sinh từ cơ chế hình thành và vận hành các loại thị trường
trong nền kinh tế
4.1.4 Thực trạng rào cản đối với các chủ thể tham gia thị trường
4.2 Đánh giá tác động của rào cản về thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của Việt Nam hiện nay
4.2.1 Tác động đến vận hành và điều hành nền kinh tế
4.2.2 Tác động đối với phát triển kinh tế - xã hội

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×