Tải bản đầy đủ

TH TRNG SA NC

http://www.dalatmilk.com/vi/tin-tuc-a-su-kien/71-water-milk-market-the-warincreasingly-hot-market.html
THỊ TRƯỜNG SỮA NƯỚC - CUỘC CHIẾN THỊ PHẦN NGÀY CÀNG NÓNG.
Trong khi thị trường sữa bột chủ yếu do các hãng nước ngoài nắm thị phần thì thị trường
sữa nước có thể coi là phân khúc của doanh nghiệp nội.
PHÂN KHÚC HÀNG NỘI.
Cuộc cạnh tranh của các hãng sữa là cuộc chiến trên các dòng sản phẩm sữa tươi thanh
trùng, sữa tươi tiệt trùng và sữa hoàn nguyên (sữa được pha ra từ bột). Hơn 70% số
lượng sữa nước trên thị trường ở Việt Nam là sữa hoàn nguyên, phần còn lại là sữa tươi
từ các vùng nguyên liệu của các công ty trong nước.
Trong khi thị trường sữa bột chủ yếu do các hãng nước ngoài như Abbot, Mead Johnson,
Nestle, FrieslandCampina nắm thị phần thì thị trường sữa nước có thể coi là phân khúc
tạo cơ hội cho doanh nghiệp nội. Thị trường sữa nước có giá trị khoảng 1 tỷ USD. Nếu
cách đây vài năm chỉ một vài tên tuổi như Vinamilk hay Dutch Lady chiếm lĩnh hầu hết
thị trường thì nay hàng chục thương hiệu từ TH True Milk, Mộc Châu, Ba Vì, Dalatmilk,
Lothamilk, Nutifood, gia nhập với mức giá chênh lệch không nhiều.
alt
Thị trường sữa nước là phân khúc doanh nghiệp trong nước có sức cạnh tranh.
NGÀY CÀNG NHIỀU TAY CHƠI LỚN.
Theo khảo sát của Kantar World Panel công bố ngày 10/05/2013, trung bình 100 gia đình
Việt Nam có 94 gia đình sử dụng ít nhất một sản phẩm mang thương hiệu Vinamilk.Tuy
nhiên, theo một chuyên gia trong ngành, việc mở rộng thị phần của Vinamilk không dễ

dàng khi các đối thủ phía sau luôn theo sát.
Tháng 6/2013, Nhà máy sữa bột NutiFood được khởi công xây dựng với tổng công suất
50.000 tấn sữa bột/năm, nhà máy sẽ đáp ứng nhu cầu sử dụng sữa đạt chuẩn quốc tế cho
khoảng 600.000 trẻ em Việt Nam mỗi năm, từ đầu năm 2014.
Năm 2014 TH milk dự kiến sẽ đưa vào vận hành toàn bộ siêu Nhà máy Mega Plant, với
tổng công suất dự kiến 1.700 tấn/ngày (tương đương 500 triệu lít/năm) để thực hiện mục
tiêu đạt doanh thu năm 2015 là 15.000 tỉ đồng, năm 2017 là 23.000 tỉ đồng.
Hôm 9/6 vừa qua, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) của bầu Đức chính thức ký kết
hợp tác với Nutifood để mở rộng thị phần trong lĩnh vực sản phẩm sữa tươi.
Theo đó, Nutifood sẽ là đối tác bao tiêu toàn bộ sản phẩm sữa từ trang trại rộng trên
4.000 ha với 20.000 con bò của HAGL.


Để thực hiện thương vụ hợp tác trên phía Nutifood sẽ đầu tư một nhà máy chế biến sữa
riêng tại Gia Lai với kinh phí khoảng 800 tỷ đồng, dây chuyền công nghệ nhập khẩu từ
Đức và Thụy Điển.
Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai cũng sẽ đầu tư trên 16.138 tỷ đồng vào nhà máy sữa và
khu chăn nuôi tại Khu Công nghiệp Trà Đa (TP.Pleiku - Gia Lai) trước khi bầu Đức mở
rộng nuôi bò trên đất Lào. Dự án trên đã được UBND tỉnh Gia Lai đồng ý phê duyệt.
Theo đó, quỹ đất ban đầu của nhà máy rộng trên 4.000 ha (gồm 3.400 ha trồng cỏ, 600 ha
dùng để đầu tư hạ tầng phục vụ chăn nuôi). HAGL dự kiến sẽ nhập khoảng 100.000 con
bò. Giai đoạn đầu nhập 40.000 con bò với 20.000 là bò sữa cho sản lượng khoảng 1,2
triệu lít sữa/ngày.
VIỆT NAM - THỊ TRƯỜNG SỮA TÌM NĂNG.
Việt Nam được đánh giá là thị trường tiêu thụ sữa tiềm năng. Điều này là bởi Việt Nam là
một quốc gia đông dân, cơ cấu dân số trẻ với mức tăng dân số cao khoảng 1,2%/năm, tỷ
lệ tăng trưởng GDP 6-8%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng 14,2%/năm. Những
yếu tố này kết hợp với xu thế cải thiện thiện sức khỏe và tầm vóc của người Việt Nam
khiến cho nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa luôn giữ mức tăng trưởng cao.
alt
Năm 2013, thị trường sữa nước ước đạt 670.000 tấn, tương đương 18.000 tỷ đồng và dự
tính đạt hơn 1.000 tấn, tương đương 34.000 tỷ đồng vào năm 2017. Thị trường sữa bột
năm 2013 cũng đạt 70.000 tấn, tương đương 28.000 tỷ đồng và sẽ tăng lên mức 90.000
tấn (tương đương 48.000 tỷ đồng) vào năm 2017.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 54 công ty sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh sữa, chưa kể
có hàng trăm tổng đại lí phân phối sữa, trong đó, 70% thị trường vẫn phụ thuộc vào
nguồn sữa ngoại.
Số liệu của Tổng cục thống kê cho thấy nhập khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa của Việt
Nam năm 2013 là xấp xỉ 1,1 tỷ USD, tăng hơn 130% so với năm 2012. Theo số liệu mới
nhất, 4 tháng đầu năm nay, giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa của Việt Nam là


hơn 362,2 triệu USD.
Dự báo năm 2017 thị trường sữa nước sẽ đạt đến quy mô 34.000 tỷ đồng, thị trường sữa
bột là 48.000 tỷ đồng. Với những dự báo khả quan này, hàng loạt doanh nghiệp sữa đã
đầu tư xây dựng nhà máy, mở rộng công suất để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đặc điểm địa lý và khí hậu nhiệt đới xen với vành đai ôn đới tại Việt Nam rất thuận lợi
cho phát triển đàn bò sữa. Các đồng cỏ như Hà Tây, Mộc Châu, Bình Dương… cung cấp
nguồn thức ăn dồi dào, phong phú và điều kiện sinh trưởng tốt.
Tuy nhiên một trong những thách thức lớn của ngành sữa hiện nay là khâu nguyên liệu.
Theo Bộ NN&PTNT, cả nước có khoảng 170.000 con bò sữa, tốc độ tăng trưởng khoảng
13,6%/năm, năng suất sữa bình quân khoảng 3,88 tấn/bò vắt sữa/năm, sản lượng sữa đạt


gần 400.000 tấn nhưng mới đáp ứng khoảng 25,5% nhu cầu tiêu dùng trong nước. Năm
2013 vẫn phải nhập gần 841 triệu USD sữa và sản phẩm sữa cho nhu cầu tiêu dùng.
Báo Thanh Niên dẫn lời ông Nguyễn Đăng Vang, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, cho
biết: “Tổng đàn bò sữa năm 2012 có 167.000 con, dự kiến sẽ tăng lên 400.000 con vào
năm 2020, tổng sản lượng sữa tươi lúc đó sẽ tăng lên gần gấp 3 lần, từ 381.000 tấn hiện
nay lên 1 triệu tấn vào 2020; nhưng cũng chỉ đáp ứng 35% nhu cầu tiêu dùng sữa tươi
trong nước”.
http://vbcsd.vn/detail.asp?id=477
Ngành sữa Việt Nam: Thách thức và cơ hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, thị trường rộng lớn và môi trường đầu tư thông
thoáng, hấp dẫn, là những điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường sữa tại Việt Nam.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi đó, ngành sữa Việt Nam cũng phải đối diện với
nhiều thách thức như vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng sữa, kỹ thuật chăn
nuôi, dây chuyền công nghệ, chi phí cũng như các chính sách, cơ chế khuyến khích từ
Nhà nước.
Một ngành sữa với tiềm năng phát triển thị trường lớn
Trong nhiều năm trở lại đây, nhu cầu sử dụng sữa tại Việt Nam tăng lên đáng kể. Theo
Thống kê từ Hiệp hội Thức ăn gia súc Việt Nam, nhu cầu sữa tươi nguyên liệu tăng
khoảng 61% , từ 500 triệu lít (năm 2010) lên đến 805 triệu lít (năm 2015). Các nhà
chuyên môn đánh giá rằng tiềm năng phát triển của thị trường sữa tại Việt Nam vẫn còn
rất lớn.
Là một quốc gia đông dân và mức tăng dân số cao khoảng 1.2%/năm, thị trường sữa tại
Việt Nam có tiềm năng lớn. Tỷ lệ tăng trưởng GDP 6-8%/năm, thu nhập bình quân đầu
người tăng 14.2%/năm, kết hợp với xu thế cải thiện thiện sức khỏe và tầm vóc của người
Việt Nam khiến cho nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa luôn giữ mức tăng trưởng cao.
Năm 2010, trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ khoảng 15 lít sữa/năm. Dự báo đến
năm 2020, con số này sẽ tăng gần gấp đôi, lên đến 28 lít sữa/năm/người.
Đặc điểm địa lý và khí hậu nhiệt đới xen với vành đai ôn đới tại Việt Nam rất thuận lợi
cho phát triển đàn bò sữa. Các đồng cỏ như Hà Tây, Mộc Châu, Bình Dương… cung cấp
nguồn thức ăn dồi dào, phong phú và điều kiện sinh trưởng tốt.
Việc đầu tư phát triển ngành sữa vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất
với chi phí nhân công thấp đồng thời mang lại sinh kế cho người dân thiếu việc làm và
thiếu thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội, gắn liền lợi ích
doanh nghiệp với cộng đồng.


Các thách thức của ngành sữa VN
Chăn nuôi bò sữa là ngành đòi hỏi kỹ thuật, đầu tư cao. Tuy nhiên, trên thực tế hơn, 95%
số bò sữa ở nước ta được nuôi phân tán trong các nông hộ với quy mô nhỏ lẻ, thiếu
chuyên nghiệp. Người dân không được hướng dẫn bài bản về kỹ thuật chăn nuôi, biện
pháp phòng trừ bệnh tật. Thêm vào đó, người nuôi bò hoàn toàn thụ động trước các tác
động kinh tế, xã hội khác ảnh hướng trực tiếp đến quá trình chăn nuôi như việc tăng giá
của con giống, thức ăn đầu vào hay chi phí đầu ra cho sản phẩm sữa thu hoạch.
Trong năm 2009, sản xuất sữa nguyên liệu từ đàn gia súc trong nước chỉ mới đáp ứng
được khoảng 20-30% tổng mức tiêu thụ sữa. Ở Việt Nam, chỉ có 5% của tổng số bò sữa
được nuôi tập trung ở trang trại, phần còn lại được nuôi dưỡng bởi các hộ gia đình ở quy
mô nhỏ lẻ. Đến cuối năm 2009, có 19.639 nông dân chăn nuôi bò sữa với mức trung bình
là 5,3 con bò mỗi trang trại. Hậu quả là các sản phẩm sữa của Việt Nam là một trong
những đắt nhất trên thế giới. Chi phí trung bình của sữa ở Việt Nam là USD1.40/litre, so
với USD1.30/litre ở New Zealand và Philippines, USD1.10-1.20/litre tại Úc và Trung
Quốc, và USD0.90/litre ở Anh, Hungary và Brazil, theo công bố của Tập đoàn nghiên
cứu thị trường Euromonitor.
Để xây dựng một hệ thống chăn nuôi bò sữa đạt chuẩn, doanh nghiệp phải đầu tư một số
vốn rất lớn. Hơn nữa, muốn đáp ứng yêu cầu thị trường, các doanh nghiệp trong ngành
sữa phải nhập khẩu công nghệ, nguyên liệu, thiết bị từ nước ngoài do kỹ thuật trong nước
còn hạn chế ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm, doanh thu của doanh nghiệp. Các
công ty sữa phụ thuộc vào sữa bột nhập khẩu hơn là sản xuất sữa tươi trong nước. Sản
xuất sữa phải đối mặt với sự mất cân bằng cung và cầu khi đàn bò sữa trong nước chỉ đáp
ứng khoảng 20-30% tổng nhu cầu sữa trên toàn quốc. Sự phụ thuộc nhiều vào thị trường
nước ngoài đối với nguyên liệu đầu vào tạo ra một nguy cơ chèn ép lợi nhuận do biến
động giá của các sản phẩm sữa nhập khẩu. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(Bộ NN & PTNT), Việt Nam nhập khẩu 72 phần trăm của tổng sản phẩm sữa trong năm
2009, bao gồm 50 phần trăm sữa nguyên liệu và 22 phần trăm sữa thành phẩm.
Mặt khác, từ sau khi gia nhập WTO, doanh nghiệp sữa Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh
ngày một gia tăng do việc giảm thuế cho sữa ngoại nhập theo chính sách cắt giảm thuế
quan của Việt Nam khi thực hiện các cam kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực
chung trong Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (cam kết CEPT/AFTA) và cam kết với Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO). Tâm lý “sính ngoại” của người Việt cũng tác động
tiêu cực đến số lượng tiêu thụ các sản phẩm sữa Việt Nam. Hiện nay, các sản phẩm sữa
trong nước chỉ chiếm 30% thị phần nội địa.
Vấn đề chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm cũng ảnh hưởng lớn đến tâm lý người
tiêu dùng. Do thiếu tiêu chí đánh giá cộng với quy trình kiểm định chất lượng sữa lỏng
lẻo, nhiều loại sữa không rõ bao bì nhãn mác vẫn được bày bán một cách công khai. Vụ
việc như sữa có Melamine, sữa có chất lượng thấp hơn so với công bố…, khiến cho các
hoạt động tiêu thụ sữa gặp khó khăn, ảnh hưởng đáng kể tới các doanh nghiệp sản xuất
sữa.


Đứng trước những khó khăn, thách thức đó, một số doanh nghiệp trong ngành sữa đã tìm
cách đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường với nhiều ý tưởng kinh doanh sáng tạo và
thiết thực. Song, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ tiềm lực tài chính và dịch vụ
hỗ trợ, tư vấn để vận dụng thành công ý tưởng kinh doanh sáng tạo của mình.
Cơ hội lớn giải quyết thách thức cho DN Việt Nam
Với mục đích tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có những ý tưởng kinh doanh sáng tạo
thông qua các mô hình kinh doanh cùng người thu nhập thấp, Quỹ Thách thức Doanh
nghiệp Việt Nam (VBCF) được thành lập với cam kết hỗ trợ tư vấn kinh doanh và tài trợ
không hoàn lại lên tới 49% tổng mức đầu tư của dự án. Quy mô tài trợ của VBCF sẽ nằm
trong phạm vi từ 100.000USD đến 800.000 USDcho mỗi dự án được lựa chọn. Đây là
một cơ hội lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp sữa
Việt Nam nói riêng.
Để nhận tài trợ của VBCF, DN phải đưa ra được ý tưởng kinh doanh sáng tạo có thể áp
dụng được vào thực tiễn, trong đó có sự tham gia của người thu nhập thấp theo hướng có
lợi cho cả DN và người thu nhập thấp. Đề xuất đầu tư phải liên quan đến một trong các
ngành thuộc ba lĩnh vực nông nghiệp, tăng trưởng xanh, cơ sở hạ tầngvà dịch vụ cơ bản.
Các DN phải chứng minh kinh nghiệm hoạt động của mình, ít nhất là hai năm, trong lĩnh
vực liên quan đến dự án đề xuất và có khả năng đầu tư tối thiểu 51% ngân sách cho dự
án.
Box
Quỹ Thách thức Doanh nghiệp Việt Nam (VBCF) được thiết kế đặc biệt nhằm hỗ trợ các
doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam thực hiện các mô hình kinh doanh sáng tạo cùng
người có thu nhập thấp. Mục đích của quỹ là hỗ trợ doanh nghiệp đạt được lợi nhuận
trong kinh doanh, đồng thời mang lại tác động tích cực về mặt xã hội cho người dân có
thu nhập thấp. Quỹ VBCF được tài trợ bởi Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
(DFID) và được Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV quản lý từ tháng 9 năm 2012 đến tháng
12 năm 2015.
Nhiệm vụ của Quỹ VBCF là phát triển các mô hình kinh doanh sáng tạo mang lại lợi ích
thương mại cho các doanh nghiệp tư nhân và lợi ích phát triển cho người dân có thu nhập
thấp. Các lợi ích phát triển bao gồm tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện khả năng
tiếp cận hàng hóa và dịch vụ cơ bản.

http://agro.gov.vn/news/tID23953_Dan-bo-sua-cua-Viet-Nam-dang-tang-nhanh.htm
Đàn bò sữa của Việt Nam đang tăng nhanh
(12-09-2014)
Kết quả điều tra sơ bộ của Tổng cục Thống kê cho thấy số lượng đàn bò sữa tính đến
1/4/2014 tăng mạnh lên 200.400 con, tăng 26.000 con (tăng 14%) so cùng kỳ.Cũng theo


Tổng cục thống kê, sản lượng sữa bò đạt 265.400 tấn, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm
trước.
Hiện nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đang tham gia vào phong trào nuôi bò sữa. Mới
đây, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) công bố kế hoạch nuôi 120.000 con bò sữa
và 116.000 con bò thịt.Đàn bò sữa 120.000 con mà ông Đoàn Nguyên Đức, chủ tịch tập
đoàn Hoàng Anh Gia Lai muốn nuôi bằng 60% đàn bò sữa 200.400 con của cả nước tính
đến ngày 1/4/2014. Diện tích dành cho nuôi bò thịt và bò sữa của HAGL dự kiến tại VN
và Lào là hơn 100.000 ha.
Lượng sữa của HAGL được NutiFood bao tiêu. Ông Trần Thanh Hải - Chủ tịch Công ty
NutiFood cho biết, dự án nhà máy sữa do Công ty NutiFood đầu tư với số vốn 5.000 tỉ
đồng. Trong khi đó, đại diện Công ty VISSAN sẽ xây dựng nhà máy chế biến thịt gia súc
với công suất 78.000 tấn/năm tiêu thụ toàn bộ lượng thịt bò do HAGL cung cấp.
Vinamilk, doanh nghiệp dẫn đầu trong ngành sữa Việt Nam, cũng đã lên kế hoạch đầu tư
vào các trang trại chăn nuôi bò sữa nhằm chủ động nguồn nguyên liệu sữa tươi tại chỗ
trong bối cảnh giá nguyên liệu sữa thế giới tăng cao. Vinamilk dự kiến đến 2015 sẽ nâng
tổng số trang trại bò sữa lên 9 trang trại với khoảng 46.000 con. Theo Vinamilk, số bò
sữa này sẽ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu sữa tươi nguyên liệu của Vinamilk. 20%
nhu cầu nguyên liệu sữa được cung ứng bởi các hộ nông dân. 60% nhu cầu nguyên liệu
sữa còn lại sẽ được đáp ứng bằng việc nhập khẩu từ nước ngoài.
Để hoàn thành kế hoạch 46.000 con bò sữa, trong năm 2014 và 2015, Vinamilk sẽ tiếp
tục triển khai đưa vào hoạt động thêm 4 trang trại mới tại Tây Ninh (quy mô 10.000 con),
Hà Tĩnh (quy mô 3.000 con), Thanh Hóa 2 (quy mô 3.000 con) và Nông trường Thống
Nhất, Thanh Hóa (quy mô 25.000 con, trong đó phát triển các hộ chăn nuôi bò sữa vệ
tinh là 9.000 con).
Trong khi đó bà Thái Hương, Chủ tịch Tập đoàn TH (thương hiệu sữa TH True MILK)
công bố hoàn thành số lượng tổng đàn 45.000 con vào quý I.2014 trong buổi làm việc
với ông Gerry Ritz, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Canada vào cuối năm 2013.
Tốc độ tăng trưởng 14% hiện tại của đàn bỏ sữa đang cao hơn tốc độ tăng trưởng ổn định
tiêu thụ sữa hàng năm (CAGR) 6%. Cũng như nhiều mặt hàng nông nghiệp khác, giá sữa
biến động có tính chu kỳ. Khi nguồn cung trở nên dư thừa, giá sữa nguyên liệu sẽ sụt
giảm làm ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi các doanh nghiệp và hộ nông dân tham gia vào cuộc đua tăng trưởng, phần thắng sẽ
thuộc về doanh nghiệp nào tiết kiệm được chi phí và có chiến lược đi trước thị trường,
những người nuôi bò sữa sau cùng sẽ trở thành những người thua cuộc và khi giá bò sữa
sụt giảm, những nông dân có giá thành sản xuất cao nhất sẽ sớm phải rời bỏ cuộc chơi
như đã từng diễn ra trong năm 2010 khi giá sữa sụt giảm.

http://doc.edu.vn/tai-lieu/de-tai-phan-tich-nganh-sua-bang-mo-hinh-nam-ap-luc-canhtranh-71498/


KHÁCH HÀNG
Nhà phân phối:
Hiện nay hệ thống phân phối chính của ngành sữa là hệ thống các siêu thị và các đại lý.
Hệ thống này trải khắp toàn quốc và có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp. Hơn 70% lượng sữa tiêu thụ thông qua 2 kênh phân phối gián tiếp này.
NHÀ CUNG ỨNG
Hiện quy mô nhà cung cấp sữa ở trong nước hiện nay còn nhỏ lẻ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×