Tải bản đầy đủ

Địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh yên bái

B GIO DC V O TO

B T PHP

TRNG I HC LUT H NI

TRNG THANH TNG

địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở và thực tiễn
thực hiện trong các doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh yên bái

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


B GIO DC V O TO

B T PHP


TRNG I HC LUT H NI
*******************

TRNG THANH TNG

địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở và thực tiễn
thực hiện trong các doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh yên bái

LUN VN THC S LUT HC

Chuyờn ngnh : Lut kinh t
Mó s

: 60 38 01 07

Ngi hng dn khoa hc: TS. Nguyn Huy Ban

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trƣơng Thanh Tùng


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM



6

1.1.

Một số vấn đề lý luận về Công đoàn Việt Nam

6

1.2.

Địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở

13

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ

20

PHÁP LÝ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH YÊN BÁI

2.1.

Quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý công đoàn

20

cơ sở
2.2.

Thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

37

Yên Bái
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP

52

LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

3.1.

Sự cần thiết hoàn thiện quy định pháp luật về địa vị pháp lý Công

52

đoàn cơ sở và yêu cầu của việc hoàn thiện
3.2.

Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý

58

Công đoàn cơ sở
3.3.

Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ sở trong

64

các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

68


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLLĐ

: Bộ luật lao động

BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự

CĐCS

: Công đoàn cơ sở

CNVCLĐ : Công nhân viên chức lao động
HĐLĐ

: Hợp đồng lao động

ILO

: Tổ chức lao động quốc tế

NLĐ

: Người lao động

NSDLĐ

: Người sử dụng lao động

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TƯLĐTT

: Thỏa ước lao động tập thể


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công
nhân, của người lao động. Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, đoàn
kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng giai cấp công nhân. Vai trò này của Công đoàn
Việt Nam đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật
công đoàn khẳng định.
Từ khi ra đời, qua các chặng đường lịch sử của đất nước, Công đoàn Việt
Nam đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện rõ địa vị, vai trò của mình và góp phần
không nhỏ vào thắng lợi của cách mạng nước ta, xứng đáng với niềm tin của Đảng,
là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước.
Ngày nay, thế giới đang có những biến đổi lớn lao và phức tạp. Cách mạng
khoa học công nghệ có những bước nhảy vọt thúc đẩy mọi mặt của đời sống xã hội,
kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng
sản xuất. Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước
tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, yếu tố con người được đẩy lên
cao hơn bao giờ hết. Và do vậy Công đoàn ngày càng có vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân có liên quan tới: việc làm, tiền lương,
thời gian lao động, bảo hiểm xã hội, giải quyết tranh chấp lao động...
Trên địa bàn tỉnh Yên Bái các cấp Công đoàn đã chủ động hướng dẫn, giúp
đỡ Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, ký
kết thỏa ước lao động tập thể theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn của
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam nhằm bảo đảm các quyền lợi cơ bản của người
lao động, tham gia giải quyết nhiều vụ tranh chấp lao động góp phần bảo vệ quyền,
lợi ích chính đáng của của người lao động và xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn
định, tiến bộ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động của Công đoàn cơ sở
tại các doanh nghiệp ở tỉnh Yên Bái thực tiễn vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như


2

việc tham gia quản lý, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao
động đạt hiệu quả chưa cao, còn mang tính hình thức. Một bộ phận không nhỏ cán
bộ công đoàn cũng như đoàn viên chưa hiểu được địa vị pháp lý, vai trò và quyền
hạn của tổ chức Công đoàn. Do đó việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của công đoàn
cơ sở để từ đó tìm ra những giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của công đoàn cơ sở
trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động trong các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Từ những phân tích ở trên, đặc biệt là từ thực tế tại các doanh nghiệp ở tỉnh
Yên Bái nên tác giả chọn đề tài "Địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở và thực tiễn
thực hiện trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái" làm đề tài luận văn
thạc sĩ, với mong muốn tìm hiểu về địa vị pháp lý và vai trò của Công đoàn cơ sở,
đánh giá thực trạng qua đó tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Công
đoàn cơ sở trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động nói chung
và người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu, sách, bài viết đăng trên
các tạp chí nghiên cứu về vai trò, chức năng, hoạt động của tổ chức đại diện lao
động. Trong đó, tiêu biểu có thể kể đến là cuốn sách "Đại diện lao động và pháp
luật về đại diện lao động - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam" của tác
giả Đào Mộng Điệp (2015); "Pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam" - luận văn
thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Tú (2015). Một số bài đăng trên tạp chí về
vai trò của tổ chức đại diện lao động trên một số lĩnh vực như "Vai trò của tổ chức
đại diện người lao động trong lĩnh vực tiền lương" (2013); "Vai trò của tổ chức đại
diện lao động trong đối thoại xã hội, thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập
thể" (2014) của tác giả Đào Mộng Điệp. Nhiều bài viết cũng được đăng trên
www.congdoanvietnam.org.vn như: "Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức
công đoàn trong các doanh nghiệp khu vực kinh tế ngoài Nhà nước" của tác giả
Đặng Ngọc Tùng; "Công đoàn với việc xây dựng tổ tự quản trong công nhân"; "Đẩy


3

mạnh hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động
trong doanh nghiệp" của Công đoàn tỉnh Bình Định… Những công trình nói trên
chỉ nghiên cứu về đại diện lao động và ở mức độ rất khái quát mà không tập trung
vào vấn đề địa vị pháp lý của tổ chức công đoàn.
Bên cạnh đó, cũng có một số công trình tập trung nghiên cứu về vai trò của
công đoàn cơ sở nhưng cũng chỉ ở chức năng quan trọng nhất là đại diện và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ trong lĩnh vực cụ thể như "Vai trò của công đoàn
cơ sở trong đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị
Hằng (2016); "Pháp luật về công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của NLĐ tại doanh nghiệp" của tác giả Nguyễn Thị Ngân (2014).
Qua quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy, các công trình nói trên hoặc
nghiên cứu ở mức độ rất khái quát, hoặc chỉ tập trung vào vai trò của công đoàn ở
một số lĩnh vực tiêu biểu như tiền lương, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng
tập thể, TƯLĐTT, đình công mà hiện chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu
về các quyền và nghĩa vụ của Công đoàn cơ sở, đặc biệt là hoạt động của Công
đoàn cơ sở tại một địa phương cụ thể trên cả nước. Thiết nghĩ, cần có một công
trình nghiên cứu về vấn đề trên, kế thừa một cách có chọn lọc các kết quả của
những công trình có trước, tiếp tục bổ sung và hoàn thiện hơn nữa, góp phần làm
sáng tỏ vấn đề. Đây cũng chính là lí do để tác giả tìm hiểu và nghiên cứu về đề tài
này. Tác giả cũng hy vọng rằng có thể vận dụng được những kết quả nghiên cứu
vào hoạt động thực tiễn để Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp hoạt động hiệu
quả hơn, nâng cao nhận thức cho người lao động, người sử dụng lao động về địa vị
pháp lý và vai trò, tầm quan trọng của Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp, đặc
biệt là trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận về địa vị
pháp lý, quyền hạn của Công đoàn cơ sở, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn


4

thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Yên Bái và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở trong các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý, vai trò, quyền hạn của
Công đoàn cơ sở.
- Nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Công đoàn
cơ sở
- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Công đoàn
cơ sở trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái
- Đề xuất giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở trong các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề chung về Công đoàn và Công đoàn cơ
sở, tập trung chủ yếu vào các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp
lý của Công đoàn cơ sở và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Trong giới
hạn nhất định, luận văn có tiếp cận tới các quan điểm, nội dung quy định của pháp luật
quốc tế về địa vị pháp lý của Công đoàn làm cơ sở cho những luận giải và bình luận.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa với đặc trưng cơ bản của quan hệ lao động và thị trường lao
động tại Việt Nam.
Đề tài vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp
với phương pháp so sánh, tổng hợp, quy nạp, phân tích, nghiên cứu tài liệu, tập hợp,
tham khảo và sử dụng các công trình nghiên cứu, các báo cáo, số liệu, kết quả điều
tra, khảo sát của các cơ quan nghiên cứu về công đoàn.


5

6. Những đóng góp của đề tài
- Làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở.
- Đánh giá khách quan, trung thực các quy định của pháp luật hiện hành với
những ưu nhược điểm.
- Phân tích thực trạng hoạt động của CĐCS trong các doanh nghiệp trên địa
bàn tỉnh Yên Bái, từ đó chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của
pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của CĐCS trong các doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh Yên Bái, có giá trị ứng dụng cao trên thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu thành 3 chương, có tiểu kết cho từng chương, cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Công đoàn và địa vị pháp lý của Công
đoàn cơ sở.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý Công đoàn
cơ sở và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về địa vị pháp lý
Công đoàn cơ sở và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ
sở trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái.


6

Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề lý luận về Công đoàn Việt Nam
1.1.1. Định nghĩa Công đoàn
Từ thế kỷ XVIII, ở hầu hết các nước phương Tây diễn ra sự chuyển đổi của
nền kinh tế từ trồng trọt với nền tảng sản xuất thủ công sang cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất. Chính sự chuyển đổi này đã khiến cho các mâu thuẫn về kinh
tế - xã hội nảy sinh, trong đó có quan hệ lao động. Người lao động (NLĐ) với tư
cách cá nhân thường bị bất lợi trong mối quan hệ kinh tế với người sử dụng lao
động (NSDLĐ), vì vậy, một cách tự nhiên NLĐ liên kết lại với nhau để tạo nên sức
mạnh của số đông trong việc bảo vệ quyền lợi của mình và từ đó công đoàn đã bắt
đầu manh nha hình thành.
Đến năm 1984, tại cuốn Lịch sử Chủ nghĩa Công đoàn (History of Trade
Unionism) của Sidney và Beatrice Webb, công đoàn được hiểu là "một hiệp hội của
những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê
mướn họ". Cũng có một định nghĩa hiện đại khác của Cục Thống kê Úc rằng công
đoàn là "...một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ
bản là thương lượng về lương bổng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của nó".
Thực tế lịch sử cho thấy các công đoàn đều là tồn tại bất hợp pháp trong
nhiều năm ở hầu hết các nước. Đã có những hình phạt khắt khe đối với những hoạt
động của tổ chức công đoàn, mặc dù thế, các công đoàn vẫn được thành lập và dần
dần có được sức mạnh chính trị. Kết quả cuối cùng là một bộ luật lao động không
chỉ hợp pháp hóa những nỗ lực của tổ chức công đoàn mà còn luật hóa mối quan hệ
giữa giới chủ với những người làm thuê được tổ chức thành những công đoàn. Ở
nhiều quốc gia, công đoàn có thể có vị thế như một pháp nhân được ủy quyền
thương lượng với giới chủ thay cho các công nhân mà công đoàn đại diện. Công
đoàn có quyền quan trọng nhất là quyền thương lượng tập thể với người thuê mướn
lao động về lương, giờ làm cũng như các điều kiện thuê lao động khác.


7

Ngày nay, vấn đề về công đoàn cũng đã được Tổ chức lao động quốc tế
ILO quy định trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công ước như: Công ước số 87 về
quyền tự do liên kết và bảo vệ quyền được tổ chức; Công ước số 98 về áp dụng
những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể và Công ước số 135
về những đại diện NLĐ trong doanh nghiệp và những thuận lợi dành cho họ. Từ
đây, các quốc gia cũng đều xây dựng định nghĩa công đoàn trong pháp luật công
đoàn hoặc pháp luật lao động của mình. Điển hình như:
Tại Điều 2 Luật công đoàn của Liên bang Nga quy định: "Công đoàn là một
thực thể tự nguyện của mọi công dân liên kết lại với nhau vì lợi ích ngành nghề
chung phù hợp với tôn chỉ hoạt động của họ và lập ra để đại diện và bảo vệ quyền
lao động và xã hội cũng như lợi ích của người lao động".
Hay tại Điều 2 Luật công đoàn của CHDCND Trung Hoa quy định: "Công
đoàn là một tổ chức tập thể của tầng lớp NLĐ được hình thành nên từ những người
lao động và cán bộ công nhân viên. Tổng liên đoàn lao động Trung Quốc và tất cả
các tổ chức công đoàn cấp dưới hoạt động vì lợi ích của người lao động và các
thành viên, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ theo quy định của pháp luật".
Điều 1 Luật Công đoàn Việt Nam năm 2012 cũng khẳng định: "Công đoàn
là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động,
được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã
hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ,
công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung
là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham
gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát
hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận
động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành
pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa".


8

1.1.2. Vai trò của Công đoàn
Lênin từng nói "Công đoàn có vai trò là trường học quản lý, trường học
kinh tế, trường học chủ nghĩa Cộng sản". Công đoàn giúp cho người công nhân,
viên chức, NLĐ tham gia quản lý sản xuất, quản lý doanh nghiệp, quản lý các công
việc xã hội. Công đoàn vận động công nhân, viên chức và NLĐ tham gia vào việc
đổi mới cơ chế quản lý, hoàn thiện các chính sách nhằm nâng cao năng suất lao
động, hiệu quả kinh doanh - sản xuất. Đồng thời Công đoàn cũng tiến hành giáo dục
chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, giáo dục văn hóa, giáo dục lối sống, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân, viên chức và NLĐ.
Điều 10 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận "Công đoàn Việt Nam là tổ chức
chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của NLĐ được thành lập trên cơ sở tự
nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra,
thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp
về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tuyên truyền, vận động
NLĐ học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc". Như vậy, Công đoàn không chỉ đại diện, bảo vệ lợi ích
của NLĐ, mà còn tham gia quản lý kinh tế xã hội, quản lý nhà nước. Ngày nay khi
đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vai trò
của Công đoàn còn được thể hiện trên nhiều lĩnh vực:
Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần
xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động theo hệ thống dân chủ tập trung, từng bước
hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, góp phần đảm bảo việc thực thi pháp luật
và để đảm bảo Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân. Đảm bảo sự ổn định
về chính trị, đấu tranh chống lại mọi âm mưu của kẻ thù nhằm chống phá cách
mạng Việt Nam.


9

Trong lĩnh vực kinh tế: Hiện nay nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta
đặt ra cho Công đoàn hàng loạt những vấn đề phức tạp. Công đoàn cần tham gia
xây dựng và hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ chế độ quan liêu,
bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở mở rộng dân chủ. Góp
phần củng cố những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật đã đạt được trong
những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu
quả hoạt động của các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển có lợi
cho quốc kế dân sinh. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
từng bước đưa nền kinh tế của Việt Nam nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế của
các nước trong khu vực và thế giới.
Trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng: Công đoàn phát huy vai trò của mình
trong việc giáo dục công nhân, viên chức, lao động nâng cao lập trường giai cấp,
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị truyền thống, văn hóa, đạo đức, lối
sống cao đẹp của dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân
loại, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn tham gia xây dựng giai cấp công nhân
vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ
chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, thực sự là nòng
cốt của khối liên minh công - nông - trí thức, là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn
dân, là cơ sở xã hội vững chắc để đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường
sức mạnh của Nhà nước.
Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 còn quy định một cách chi tiết, cụ
thể vai trò của công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động tại khoản 1 Điều 188. Theo
đó, công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của đoàn viên công đoàn, NLĐ; tham gia, thương lượng, ký kết và giám
sát việc thực hiện TƯLĐTT, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế
trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ


10

quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với
NSDLĐ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ
quan, tổ chức.
Đây là cơ sở pháp lý để công đoàn cơ sở thực hiện các quyền hạn, trách
nhiệm của mình đối với NLĐ cũng như phối hợp chặt chẽ với đơn vị sử dụng lao
động và cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề của quan hệ lao
động. Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của công đoàn, tập hợp đoàn viên công
đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp
trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ công đoàn.
Đây là cấp công đoàn gắn bó trực tiếp với NLĐ, có vai trò rất quan trọng trong quan
hệ lao động. Công đoàn cơ sở không chỉ đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của các đoàn viên công đoàn mà còn đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích
cho cả những NLĐ không phải là đoàn viên công đoàn.
1.1.3. Chức năng của công đoàn
Chức năng của công đoàn được hiểu là những phương diện hoạt động chủ
yếu của công đoàn. Với vị trí, vai trò của công đoàn, có thể xác định chức năng của
công đoàn bao gồm:
Chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ. Đây là
chức năng cơ bản, quan trọng hàng đầu của tổ chức công đoàn bởi đây là tổ chức
của NLĐ, NLĐ gia nhập công đoàn trước hết là để được chăm lo về đời sống, để
được bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình, sau mới đến các vấn đề
khác. Hơn nữa, Nhà nước ta đang thực hiện chính sách hội nhập kinh tế, khuyến
khích các thành phần kinh tế tự do kinh doanh, mở rộng hình thức đầu tư nhằm phát
triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân. Điều này tất yếu dẫn đến sự ra đời
của nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau và do vậy, nguy cơ NLĐ bị bóc lột, lạm
dụng sức lao động ngày càng cao. Do đó, sự tham gia của tổ chức công đoàn nhằm
tạo ra tương quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên, không vì thế mà công đoàn khi thực hiện chức năng của mình lại đối lập với
NSDLĐ. Bởi vì xét cho cùng thì quyền lợi của NLĐ chỉ đạt được một cách ổn định,


11

bền vững khi quan hệ lao động diễn ra hài hòa, trên cơ sở tôn trọng, hiểu biết lẫn
nhau tức là quyền lợi của NSDLĐ cũng phải được đảm bảo. Nói cách khác, chức
năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ của công đoàn cần phải được đặt
trong mối quan hệ hợp tác và tôn trọng với NSDLĐ và tổ chức đại diện của NSDLĐ.
Chức năng tham gia quản lí nhà nước, quản lí kinh tế - xã hội. Việc công
đoàn tham gia quản lí nhà nước là một tất yếu bởi lẽ công đoàn là đại diện cho giai
cấp công nhân, khi giai cấp công nhân giành chính quyền, NLĐ trở thành người
chủ, họ có quyền và trách nhiệm tham gia quản lí kinh tế, xã hội và quyền, trách
nhiệm này được thực hiện thông qua đại diện của họ là tổ chức công đoàn. Tuy
nhiên, việc công đoàn tham gia quản lí không có nghĩa là công đoàn làm thay, can
thiệp vào công việc của Nhà nước. Công đoàn tham gia quản lí thực chất là để cùng
với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế
quản lí, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của NLĐ.
Công đoàn làm tốt chức năng tham gia quản lí sẽ có tác dụng to lớn là bảo vệ NLĐ
từ bước hoạch định chính sách, chế độ đối với NLĐ. Do vậy, xét theo mục đích
hoạt động công đoàn thì việc tham gia quản lí là điều kiện và phương tiện quan
trọng để công đoàn thực hiện chức năng bảo vệ.
Chức năng giáo dục. Giáo dục của công đoàn là làm cho NLĐ nhận thức
được đầy đủ trách nhiệm công dân, nâng cao ý thức phấn đấu, bồi dưỡng kiến thức,
năng lực nghề nghiệp, kiến thức pháp luật để từ đó củng cố kỉ luật lao động, xây
dựng ý thức tự nguyện, tự giác trong lao động. Bảo đảm cho NLĐ vừa hoàn thành
tốt công việc, vừa bảo vệ được mình trong môi trường đầy biến động và cạnh tranh
của cơ chế thị trường. Đồng thời, công đoàn giáo dục NLĐ vững tin vào con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn, luôn tỉnh táo cảnh giác, đấu tranh với những
khuynh hướng sai lầm, cơ hội.
Chức năng của công đoàn là một chỉnh thể, hệ thống đồng bộ và trên thực
tế hoạt động, các chức năng đan xen nhau cho dù mức độ, vai trò của từng chức
năng, ở từng hoàn cảnh khác nhau là không giống nhau. Trong cơ chế thị trường
như hiện nay với sự hoạt động mạnh mẽ của thị trường lao động, chức năng bảo vệ


12

quyền, lợi ích của NLĐ được xem là chức năng hàng đầu, cơ bản, mang ý nghĩa
trọng tâm, là mục tiêu hoạt động của công đoàn. Chức năng tham gia quản lí là điều
kiện, phương tiện đạt mục tiêu của công đoàn, còn chức năng giáo dục mang ý
nghĩa tạo động lực tinh thần là điều kiện xã hội để công đoàn hoàn thành nhiệm vụ.
1.1.4. Cơ cấu tổ chức của công đoàn Việt Nam
Cũng giống như các tổ chức chính trị khác, tổ chức công đoàn Việt Nam
cũng có hệ thống cơ cấu tổ chức riêng, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ hoạt động
riêng. Điều 7 Luật Công đoàn 2012 quy định hệ thống tổ chức công đoàn gồm có
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn các cấp theo quy định của Điều
lệ Công đoàn Việt Nam. Còn tại Điều 9 Điều lệ công đoàn Việt Nam được Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI Công đoàn Việt Nam thông qua ngày 30/7/2013 thì tổ
chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ bản sau:
1. Cấp Trung ương: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
2. Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn
ngành trung ương và tương đương (sau đây gọi chung là Liên đoàn Lao động cấp
tỉnh, thành phố và tương đương).
3. Liên đoàn Lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; công đoàn
ngành địa phương; công đoàn các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu
công nghệ cao; công đoàn tổng công ty và một số công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở
đặc thù khác (sau đây gọi chung là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở).
4. Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn (sau đây gọi chung là công đoàn cơ sở).
Như vậy, có thể thấy rằng Công đoàn Việt Nam hiện nay được tổ chức theo
04 cấp và được phân chia theo địa giới hành chính. Bên cạnh đó, pháp luật Việt
Nam cũng thừa nhận có sự tồn tại của Công đoàn các ngành nghề ở trung ương và
địa phương. Và trên thực tế ở Việt Nam, Công đoàn các ngành nghề hoạt động hiệu
quả hơn so với Công đoàn các cấp chia theo địa giới hành chính. Chính vì vậy, địa
vị pháp lý của Công đoàn các ngành nghề ngày càng được chú trọng, một trong
những biểu hiện đó là pháp luật đã quy định thẩm quyền của Công đoàn ngành
trong việc đại diện tập thể lao động thương lượng và ký kết TƯLĐTT ngành.


13

Công đoàn các cấp có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và ảnh hưởng
lẫn nhau. Mỗi cấp công đoàn đều có quyền hạn riêng, rõ ràng. Công đoàn cấp trên
trực tiếp lãnh đạo công đoàn cấp dưới, ban hành các chính sách, quyết định nhằm
điều chỉnh hoạt động của các tổ chức công đoàn bộ phận tùy thuộc vào tình hình
thực tiễn cụ thể. Sự chỉ đạo của công đoàn cấp trên sẽ tạo cơ sở cho công đoàn cấp
dưới hoạt động có hiệu quả hơn, đồng bộ hơn trên phạm vi rộng. Tuy nhiên, cũng
phải thấy rằng hoạt động của công đoàn cấp dưới có hiệu quả thì công đoàn cấp trên
mới có sức mạnh, trong đó hoạt động của công đoàn cơ sở là yếu tố quyết định.
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Công đoàn 2012 thì Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở
của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy
định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Công đoàn cơ sở là địa bàn
hoạt động chủ yếu của đoàn viên, nơi trực tiếp liên hệ với NLĐ và đặc biệt là cùng
hợp tác với NSDLĐ, chăm lo lợi ích, đời sống của NLĐ.
1.2. Địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở
Theo Từ điển Luật học, địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong
mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật,
thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật
khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật
trong các mối quan hệ pháp luật.
Như vậy, có thể hiểu địa vị pháp lý của CĐCS chính là vị trí mà pháp luật
quy định cho CĐCS trong mối quan hệ với các chủ thể khác như NLĐ, NSDLĐ. Và
địa vị pháp lý của CĐCS được thể hiện thông qua các quyền, trách nhiệm nhất định
được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Trong các quốc gia khác nhau thì địa vị pháp lý của tổ chức đại diện lao
động nói chung, của công đoàn nói riêng là khác nhau. Sự khác nhau này phụ thuộc
vào điều kiện kinh tế, xã hội, chế độ chính trị cũng như hệ thống pháp luật của các
quốc gia đó. Ngoài ra, sự khác nhau này còn phụ thuộc vào từng giai đoạn, thời kỳ
lịch sử. Và chính giữa các cấp công đoàn của một quốc gia cũng có sự khác nhau về


14

địa vị pháp lý. Tuy nhiên, dù thiết kế theo mô hình đa công đoàn, công đoàn đơn
nhất hay tồn tại nhiều hình thức đại diện lao động, địa vị pháp lý của các công đoàn
đều có các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, pháp luật quy định quyền của công đoàn trong bảo vệ quyền lợi
của NLĐ tập trung vào ba nhóm quyền cơ bản: quyền tổ chức, quyền thương lượng
tập thể, quyền hành động tập thể.
Đây là nhóm quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của công đoàn trong quan
hệ lao động được pháp luật nhiều nước (Latvia, Nga, Trung Quốc, Philipin, Thái
Lan…) quy định. Theo đó, quyền tổ chức được hiểu là loại quyền người lao động tự
nguyện tham gia thành lập công đoàn hoặc từ bỏ việc gia nhập; quyền thương lượng
tập thể là loại quyền đại diện lao động ký kết thỏa ước nhằm xác lập những điều
kiện lao động, đảm bảo cam kết thực hành lao động công bằng và đưa ra những thỏa
thuận có lợi hơn cho NLĐ; quyền hành động tập thể được hiểu là quyền được
hưởng sự bảo vệ về mặt pháp lý các hành động tranh luận và hành động đình công
cũng như những cơ chế bảo vệ NLĐ khi tham gia đình công.
Pháp luật một số nước có thể quy định quyền, trách nhiệm trong nhiều lĩnh
vực liên quan đến quan hệ lao động, nhưng cũng có thể quy định trên bình diện
chung và hạn chế một số quyền nhất định. Luật Công đoàn của Nga đã cụ thể hóa
quyền, trách nhiệm của đại diện lao động trong các phạm vi như: i) Quyền đại diện
và bảo vệ các quyền lao động và xã hội cũng như lợi ích của NLĐ; ii) Quyền trong
thúc đẩy công ăn việc làm; iii) Quyền trong thương lượng tập thể; iv) Quyền trong
giải quyết tranh chấp lao động tập thể; v) Quyền tiếp cận thông tin; vi) Quyền tham
gia vào đào tạo; vii) Quyền giám sát việc thực hiện pháp luật lao động; viii) Quyền
trong bảo vệ lao động và môi trường tự nhiên.
Trong các loại quyền đó, pháp luật của Nga chỉ thừa nhận việc ký kết thỏa ước
hay đình công là quyền duy nhất thuộc về tổ chức công đoàn và công đoàn ngành. Các
cuộc đình công không do công đoàn tổ chức được xem là đình công trái pháp luật.
Pháp luật Singapore cũng quy định đặc quyền của tổ chức đại diện lao động
đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, Điều 19 Luật Công đoàn Singapore


15

quy định: "Nếu bất cứ công đoàn nào không nộp đơn đăng ký theo thời hạn hoặc bị
từ chối đăng ký… thì công đoàn hay cán bộ đoàn viên hoặc đại diện công đoàn
không được phép tham gia vào tranh chấp, kêu gọi, tổ chức hay cấp tiền cho hoạt
động đình công hay bế xưởng hoặc hỗ trợ tài chính hay những lợi ích khác cho đoàn
viên trong quá trình tiến hành đình công hay bế xưởng".
Trong khi đó, luật pháp Trung Quốc không quy định về quyền đình công
của NLĐ. Mặc dù trong Hiến pháp năm 1975 và năm 1978 thừa nhận quyền đình
công nhưng quyền này lại không được ghi nhận ở Hiến pháp năm 1982. Luật Công
đoàn Trung Quốc năm 2001 đã khẳng định thêm về loại quyền này, theo đó cũng
không quy định về quyền đình công của NLĐ.
Đối với các lĩnh vực khác, công đoàn có các quyền cơ bản sau: i) Ký kết
TƯLĐTT; ii) Bảo vệ sức khỏe cho NLĐ; iii) Tham gia giám sát việc giải quyết các
tai nạn lao động; v) Tham gia góp ý dự thảo thảo hoặc sửa đổi luật điều lệ hay các
quy định khác liên quan tới lợi ích của NLĐ; vi) Tham gia xây dựng các chính sách
liên quan đến việc làm, tiền lương và các nội dung khác liên quan đến NLĐ; vii)
Quyền đảm bảo cho NLĐ tham gia quản lý dân chủ… Các quyền này của Luật
Công đoàn Trung Quốc là những tiền đề pháp lý để các quyền công đoàn được thực
thi dưới góc độ pháp luật bảo vệ.
Khác với Luật Công đoàn Trung Quốc, pháp luật của Đức thừa nhận công
đoàn là hình thức quan trọng nhất để đại diện quyền lợi chung cho tập thể lao động
và là tổ chức duy nhất có quyền lãnh đạo đình công. Ngoài ra, pháp luật của Đức
cũng thừa nhận, công đoàn đại diện cho NLĐ chủ yếu thông qua việc ký kết
TƯLĐTT. Theo mục 2 tiểu mục 3 Luật Hiến pháp của Đức quy định nhiệm vụ đặc
biệt của tổ chức công đoàn là bảo vệ lợi ích của tất cả công đoàn viên không bị ảnh
hưởng bởi Luật Hiến pháp. NLĐ được thực thi nghĩa vụ của mình mà không bị hạn
chế đối với hoạt động công đoàn của họ trong cơ sở. Pháp luật của Đức quy định,
công đoàn là chủ thể duy nhất có quyền ký kết TƯLĐTT1.
1

Đào Mộng Điệp (2015), Đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động - Những vấn đề lý luận và
thực tiễn ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Tr. 96 -97.


16

Hiện nay, ở Đức có các công đoàn lớn đã tham gia ký kết TƯLĐTT như
Liên hiệp Công đoàn Đức; Công đoàn kim khí; Công đoàn dịch vụ hợp nhất; Công
đoàn mỏ hóa chất năng lượng… Khi ký kết thỏa ước, công đoàn xác định cụ thể nội
dung, việc ký kết và chấm dứt quan hệ lao động cũng như các vấn đề liên quan đến
quy chế xí nghiệp. Nội dung công đoàn đàm phán chủ yếu các vấn đề về tiền lương,
ngạch bậc, thời gian làm việc, chế độ nghỉ phép, thời gian làm thêm, điều kiện lao
động… Ngoài ra, luật pháp cũng quy định, công đoàn có quyền, trách nhiệm hỗ trợ
đối với hình thức đại diện lao động khác như Hội đồng xí nghiệp. Trong mối quan
hệ đó, công đoàn có một số quyền như: i) Cử đại diện Hội nghị xí nghiệp; ii) Thực
hiện chức năng dịch vụ…
Thứ hai, pháp luật quy định quyền, trách nhiệm của công đoàn trong mối
quan hệ với NSDLĐ và Nhà nước.
Mối quan hệ của công đoàn với NSDLĐ, cơ quan quyền lực nhà nước,
chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở quan hệ đối tác và tương tác lẫn
nhau. Trong đó, pháp luật quy định công đoàn có quyền tham gia các hoạt động
quản lý nhà nước, quản lý các công việc kinh tế, xã hội, giải quyết các vấn đề liên
quan đến quan hệ xã hội, công đoàn hỗ trợ Nhà nước trong các hoạt động và trong
việc bảo vệ quyền lực của Nhà nước (Điều 5 Luật Công đoàn Trung Quốc). Đối với
dự thảo, nghị định, sắc luật, sửa đổi luật, điều lệ, các chính sách liên quan đến lĩnh
vực xã hội và lao động, Nhà nước phải xem xét thông qua trên cơ sở các ý kiến của
tổ chức đại diện lao động (Điều 11, Điều 15 Luật Công đoàn Nga; Phần 6 Luật
Công đoàn Latvia; Điều 33 Luật Công đoàn Trung Quốc). Trong mối quan hệ với
NSDLĐ, các vấn đề về lao động, kinh tế, xã hội và những nội dung liên quan đến
quyền lợi của NLĐ, NSDLĐ phải trao đổi với tổ chức đại diện lao động.
Việt Nam quy định một số quyền và trách nhiệm của công đoàn liên quan
đến tất cả các lĩnh vực của quan hệ lao động như việc làm, tiền lương, xử lý kỉ luật
lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động… Tương tự pháp luật của một số nước,
Việt Nam dành quyền thương lượng, ký kết thỏa ước và lãnh đạo đình công thuộc


17

về công đoàn. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng quy định thẩm quyền của công
đoàn trong mối quan hệ với NSDLĐ cũng như trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan,
tổ chức, doanh nghiệp đối với công đoàn.
Từ việc nghiên cứu pháp luật của một số nước, có thể thấy việc quy định tất
cả các loại quyền đơn lẻ của công đoàn trong quan hệ lao động hay quy định ba
nhóm quyền cơ bản (quyền tổ chức, quyền thương lượng, quyền hành động tập thể)
phụ thuộc vào điều kiện kinh tế chính trị cũng như hệ thống pháp luật của các nước
đó. Pháp luật của một số nước tập trung chủ yếu vào loại quyền thương lượng tập
thể và cho các chủ thể linh hoạt thỏa thuận, chủ động đối với loại quyền này. Nhà
nước tôn trọng quyền tự do thỏa thuận thông qua thương lượng tập thể nhưng vẫn
quản lý trên phương diện vĩ mô. Vấn đề đặt ra là Nhà nước cần tạo một cơ chế đảm
bảo thực thi các loại quyền cơ bản của công đoàn trên thực tế. Đây cũng chính là
những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức công đoàn ở Việt Nam. Việc
pháp luật quy định cụ thể các quyền đơn lẻ hay nhóm quyền cơ bản không có nghĩa
là chức năng đại diện lao động đã phát huy hiệu quả trong thực tế. Vì xét cho cùng,
pháp luật chỉ tạo ra hành lang pháp lý cho các chủ thể, còn mức độ thực thi và hiệu
quả của nó còn chịu ảnh hưởng bởi thái độ, ý thức của chủ thể, mối tương quan về
địa vị pháp lý của các bên trong quan hệ lao động, mức độ can thiệp của Nhà nước
tới góc độ quyền hay các chế tài áp dụng cho các chủ thể tham gia quan hệ 2.
Kể từ khi ra đời vào ngày 28/7/1929, Công đoàn Việt Nam đã giữ một vị trí
quan trọng trong phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và
thực sự là một tổ chức quần chúng rộng lớn của giai cấp công nhân, nằm trong mặt
trận dân tộc thống nhất được Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cùng các tổ chức
chính trị - xã hội khác thực hiện đường lối chiến lược, sách lược của Đảng cộng sản
Việt Nam, quyết tâm giành độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên chủ
nghĩa xã hội. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như sau
2

Đào Mộng Điệp (2015), Đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động - Những vấn đề lý luận và
thực tiễn ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Tr. 100.


18

khi Tổ quốc được thống nhất, Đảng ta xác định rõ hơn địa vị pháp lý của Công đoàn
trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Cùng với sự phát triển của xã hội, Công
đoàn Việt Nam nói chung và công đoàn cơ sở nói riêng dần chiếm một vị trí quan
trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội và đời sống của NLĐ.
Địa vị pháp lý của CĐCS được thể hiện trên nhiều khía cạnh, trong mối
quan hệ với những chủ thể khác nhau thì địa vị pháp lý của CĐCS cũng khác nhau.
Tuy nhiên, một cách bao quát nhất, địa vị pháp lý của CĐCS có thể được phân chia
thành các nhóm sau đây:
 Địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở trong việc đại diện và bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của NLĐ. Trong lĩnh vực này, địa vị pháp lý của CĐCS được thể
hiện thông qua những quyền, trách nhiệm sau: Hướng dẫn, tư vấn cho NLĐ về
quyền, nghĩa vụ của NLĐ khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm
việc với đơn vị sử dụng lao động; Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng
và ký kết TƯLĐTT doanh nghiệp; Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng
và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả
lương, quy chế thưởng, an toàn lao động và vệ sinh lao động; Tham gia xây dựng
nội quy lao động, xử lí kỉ luật lao động, tạm đình chỉ công việc, cho thôi việc đối
với NLĐ; Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan
đến quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ, bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở; Đại diện cho tập thể lao động hoặc NLĐ khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích
hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động hoặc NLĐ bị xâm phạm, đại diện cho tập
thể lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh
nghiệp; Tổ chức, lãnh đạo đình công.
 Địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở trong việc tham gia quản lí cơ quan,
doanh nghiệp, đơn vị và tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp.
 Địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở trong việc tuyên truyền, giáo dục,
vận động NLĐ và phát triển đoàn viên công đoàn.


19

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Quan hệ lao động được hiểu là mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ, tuy
nhiên, để cho quan hệ này được duy trì một cách bền vững, đảm bảo quyền lợi của
cả hai bên thì không thể thiếu sự tham gia của tổ chức công đoàn. Một mặt, công
đoàn tham gia với tư cách là đại diện cho một bên trong quan hệ lao động, là đối tác
của NSDLĐ chứ không phải tham gia quan hệ với vai trò là bên thứ ba, mặt khác sự
tham gia này phản ánh tính bình đẳng, độc lập và khẳng định vị trí của tổ chức công
đoàn. Sự thừa nhận tổ chức công đoàn là một tất yếu khách quan và cần thiết phải
được điều chỉnh thông qua một hành lang pháp lý. Pháp luật về công đoàn được các
quốc gia quy định trong đạo luật chung hoặc đạo luật cụ thể. Xét trên bình diện
chung, các quốc gia đều thừa nhận và trao cho tổ chức công đoàn những quyền
năng pháp lý nhất định, đặc biệt là quyền, trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của NLĐ tại doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị.
Trong hệ thống cơ cấu tổ chức của công đoàn thì Công đoàn cơ sở là tổ
chức đóng vai trò quan trọng, gần gũi và thấu hiểu nhất tâm tư, nguyện vọng của
NLĐ. Pháp luật các quốc gia trên thế giới nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng
đều thừa nhận địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở gồm: Đại diện và bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của NLĐ; tham gia quản lí cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị và tham
gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp;
tuyên truyền, giáo dục, vận động NLĐ và phát triển đoàn viên công đoàn.


20

Chƣơng 2
THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý công đoàn cơ sở
2.1.1. Địa vị pháp lý công đoàn cơ sở trong việc đại diện và bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của NLĐ
Theo quy định tại Điều 10 Luật công đoàn 2012 và Nghị định số
43/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật công đoàn thì trong vấn
đề đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, CĐCS có các
quyền, trách nhiệm sau:
Quyền, trách nhiệm của công đoàn cơ sở trong việc hướng dẫn, tư vấn cho
NLĐ về quyền, nghĩa vụ của NLĐ khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp
đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động.
HĐLĐ luôn là vấn đề trung tâm trong các quy định của BLLĐ nước ta từ
trước đến nay, bởi nó hội tụ đầy đủ các quy định về những vấn đề thuộc mối quan
hệ lao động giữa NSDLĐ với NLĐ. Đặc biệt, HĐLĐ có liên quan mật thiết đến bản
thân NLĐ, có tác động rất lớn đến quá trình thực hiện và duy trì quan hệ lao động.
Hơn nữa, trong quan hệ này, NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn so với NSDLĐ, do vậy,
nguy cơ NLĐ bị lạm dụng, bóc lột sức lao động là rất lớn. Bên cạnh đó, trong bối
cảnh Việt Nam hiện nay, lực lượng lao động chủ yếu là lao động có trình độ thấp,
chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng cũng như các quyền, nghĩa vụ của
mình khi giao kết hợp đồng với NSDLĐ. Do vậy, pháp luật quy định quyền, trách
nhiệm của CĐCS trong việc hướng dẫn, tư vấn cho NLĐ về hình thức, nguyên tắc,
loại hợp đồng, nội dung hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên về cung cấp
thông tin, thời gian thử việc, thời gian tập sự và những vấn đề liên quan khi giao kết
hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc; nghĩa vụ thực hiện công việc theo hợp


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×