Tải bản đầy đủ

Áp dụng pháp luật lao động khi sáp nhập doanh nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh từ thực tiễn thực hiện tại một số đơn vị thuộc tổng công ty truyền thông đa phương tiện VTC

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
******************

NGUYỄN THỊ THU LOAN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG KHI SÁP NHẬP DOANH
NGHIỆP VÀ CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI NHÁNH TỪ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ THUỘC
TỔNG CÔNG TY TRUYỀN THÔNG ĐA PHƢƠNG TIỆN VTC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
******************

NGUYỄN THỊ THU LOAN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG KHI SÁP NHẬP DOANH
NGHIỆP VÀ CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI NHÁNH TỪ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ THUỘC
TỔNG CÔNG TY TRUYỀN THÔNG ĐA PHƢƠNG TIỆN VTC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Đỗ Ngân Bình

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn
này.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Loan


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tổng công ty truyền thông đa phương tiện

: Tổng công ty VTC

Công ty trách nhiệm hữu hạn



: Công ty TNHH


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SÁP NHẬP DOANH
NGHIỆP, CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI NHÁNH VÀ CÁC QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ SÁP
NHẬP DOANH NGHIỆP, CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI NHÁNH .... 6
1.1. Những vấn đề lý luận về sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động
chi nhánh ........................................................................................................... 6
1.1.1. Sáp nhập doanh nghiệp ........................................................................ 6
1.1.1.1. Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp....................................................... 6
1.1.1.2. Đặc điểm sáp nhập doanh nghiệp ........................................................ 8
1.1.1.3. Vai trò của sáp nhập doanh nghiệp ................................................... 11
1.1.2. Chấm dứt hoạt động chi nhánh ............................................................. 12
1.1.2.1. Khái niệm chấm dứt hoạt động của chi nhánh .................................. 12
1.1.2.2. Đặc điểm của việc chấm dứt hoạt động chi nhánh ............................ 14
1.2. Các quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về sáp nhập
doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh ................................................ 16
1.2.1. Quy định về đảm bảo việc làm cho người lao động khi sáp nhập doanh
nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh ........................................................... 16
1.2.1.1. Đảm bảo việc làm cho người lao động khi sáp nhập doanh nghiệp . 16
1.2.1.2. Đảm bảo việc làm cho người lao động khi chấm dứt hoạt động của
chi nhánh ......................................................................................................... 16
1.2.1.3. Xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động ........................ 17
1.2.2. Quy định về đảm bảo thu nhập của người lao động ............................. 19
1.2.3. Chính sách ưu đãi đối với người lao động ........................................... 21
1.2.3.1. Đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng ................................ 21
1.2.3.2. Hỗ trợ về vật chất ............................................................................... 22


1.2.4. Vai trò của công đoàn trong sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt
động chi nhánh ................................................................................................ 29
1.2.5. Quy định đối với lao động dôi dư ......................................................... 32
1.2.5.1. Chính sách đối với người lao động dôi dư được tuyển dụng lần cuối
cùng trước ngày 21 tháng 4 năm 1998 hoặc trước ngày 26 tháng 4 năm
2002 ................................................................................................................. 32
1.2.5.2. Chính sách đối với người lao động dôi dư được tuyển dụng lần cuối
cùng từ ngày 21 tháng 4 năm 1998 hoặc từ ngày 26 tháng 4 năm 2002 trở về
sau ................................................................................................................... 34
Chƣơng 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT
NAM KHI SÁP NHẬP MỘT SỐ CÔNG TY, CHẤM DỨT HOẠT
ĐỘNG MỘT SỐ CHI NHÁNH THUỘC TỔNG CÔNG TY VTC.......... 36
2.1. Tổng quan về Tổng công ty VTC ............................................................ 36
2.1.1. Hiện trạng về tổ chức nhân sự Tổng công ty VTC trước khi tái cấu
trúc................................................................................................................... 36
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty VTC sau khi tái cấu trúc ................. 37
2.1.3. Xây dựng phương án sử dụng lao động và giải quyết lao động dôi dư
khi sáp nhập một số công ty, chấm dứt hoạt động một số chi nhánh thuộc
Tổng công ty truyền thông đa phương tiện ..................................................... 39
2.1.3.1. Thực trạng nguồn lao động tại Tổng công ty VTC trước khi tái cơ
cấu ................................................................................................................... 39
2.1.3.2. Phương án sử dụng lao động của Tổng công ty VTC khi sáp nhập
một số công ty, chấm dứt hoạt động một số chi nhánh ................................... 40
2.1.3.3. Giải quyết chế độ cho các nhân sự chấm dứt hợp đồng lao động và
thôi việc ........................................................................................................... 42
2.1.3.4. Giải quyết chế độ cho lao động nghỉ hưu trước tuổi ......................... 43
2.1.3.5. Giải quyết lao động dôi dư khi sáp nhập một số công ty, chấm dứt
hoạt động một số chi nhánh thuộc Tổng công ty VTC .................................... 44


2.2. Đánh giá việc áp dụng pháp luật lao động Việt Nam hiện hành trong
hoạt động sáp nhập một số công ty, chấm dứt hoạt động một số chi nhánh
thuộc Tổng công ty truyền thông đa phương tiện ........................................... 46
2.2.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 46
2.2.1.1. Về tình hình kinh tế ............................................................................ 46
2.2.1.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ................................................ 47
2.2.1.3. Hoàn thiện cơ chế, chính sách nội bộ ................................................ 48
2.2.1.4. Cải thiện cơ chế tiền lương cho người lao động ............................... 48
2.2.2. Khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật lao động
lao động và nguyên nhân chủ yếu ................................................................... 49
Chƣơng 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
KHI SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP, CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI
NHÁNH .......................................................................................................... 53
3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật lao động về sáp nhập doanh
nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh ........................................................... 53
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về sáp nhập doanh
nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh ........................................................... 54
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật lao động về
sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh ................................. 57
3.3.1. Kiến nghị đối với người sử dụng lao động ........................................... 57
3.3.2. Kiến nghị đối với người lao động ......................................................... 58
KẾT LUẬN .................................................................................................... 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cạnh
tranh trên phạm vi toàn cầu ngày càng gay gắt, tất yếu dẫn đến sự biến động
các cơ sở sản xuất cả về tổ chức, cơ cấu, cũng như loại hình doanh nghiệp và
chủ sở hữu. Đặc biệt đối với nước ta, trình độ phát triển của nền kinh tế còn
thấp, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp còn hạn chế, sự biến đổi doanh
nghiệp và sự thay đổi cơ cấu cũng như sở hữu doanh nghiệp sẽ diễn ra thường
xuyên hơn. Trong giai đoạn 2010-2015, dưới sự tác động mạnh mẽ của khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới nhiều doanh nghiệp, trong đó có
các doanh nghiệp Nhà nước, các tập đoàn kinh tế đã bộc lộ những hạn chế
trong tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh. Trước tình hình trên, Đảng, Nhà
nước ta đã tập trung chỉ đạo thực hiện chủ trương tái cơ cấu các doanh
nghiệp, tập đoàn kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm
bảo việc làm, thu nhập của người lao động góp phần đưa nền kinh tế đất nước
phát triển bền vững.
Tại Tổng công ty VTC, Tổng công ty luôn coi nhiệm vụ đổi mới doanh
nghiệp là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển,
tăng sức cạnh tranh, phục vụ ngày càng tốt hơn khách hàng và xã hội. Môi
trường kinh doanh đối với Tổng công ty VTC đã và đang có rất nhiều sự thay
đổi khi xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh. Tổng công ty
trong những năm 2010 - 2012 chưa xác định được chiến lược phát triển tổng
thể trong dài hạn, dẫn tới chưa xác định rõ những ngành, lĩnh vực kinh doanh
chính. Chính vì vậy, nguồn lực của Tổng công ty bị phân tán, dàn trải, chưa
tối ưu. Mô hình phát triển của Tổng công ty VTC mặc dù đã hình thành với
sự tham khảo một số mô hình phát triển thành công trên thế giới, phù hợp với
luật pháp Việt Nam và bước đầu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, khi môi
trường kinh doanh thay đổi, mô hình phát triển đã bộc lộ một số hạn chế, có
dấu hiệu kìm hãm sự phát triển của Tổng công ty.


2

Những bất cập này dẫn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh
tranh của Tổng công ty chưa tương xứng với nguồn lực, quản trị doanh
nghiệp chưa theo kịp yêu cầu phát triển trong cơ chế thị trường. Thực tế này
đòi hỏi Tổng công ty phải xác định rõ chiến lược phát triển trong giai đoạn
mới, có một mô hình phù hợp với chiến lược phát triển nhằm khai thác tối đa
nguồn lực, gia tăng sức cạnh tranh, đảm bảo sự phát triển bền vững.
Tổng công ty nhận định đổi mới doanh nghiệp cũng cần phải được tiến
hành hết sức thận trọng và bài bản. Thực tế trên thế giới và Việt Nam đã
chứng minh, chỉ có 30% các doanh nghiệp tiến hành đổi mới, tái cơ cấu thành
công đạt được các mục tiêu ban đầu. Tỷ lệ các doanh nghiệp đổi mới, tái cơ
cấu thành công nhờ tư vấn bên ngoài và áp dụng một mô hình có sẵn chỉ
chiếm dưới 5%. Kinh nghiệm cho thấy, yếu tố quyết định để có sự thành công
trong quá trình đổi mới, tái cơ cấu là phải xuất phát từ thực tiễn doanh nghiệp,
phải xác định đúng những nguyên nhân căn bản để đổi mới, tái cơ cấu. Đổi
mới, tái cơ cấu phải giúp doanh nghiệp hạn chế những điểm yếu trong quá
trình phát triển và phát huy thế mạnh, đồng thời tận dụng được cơ hội phát
triển. Hết sức tránh trường hợp đổi mới, tái cơ cấu làm triệt tiêu sức mạnh của
doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp đến bờ vực phá sản. Chính vì vậy, Tổng
công ty VTC xác định, tái cơ cấu tổng thể là yêu cầu cấp thiết vì sự sống còn,
xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của Tổng công ty; tái cơ cấu thành công là
nhiệm vụ bắt buộc. Quá trình tái cơ cấu phải được tiến hành hết sức thận
trọng và bài bản, phát huy trí tuệ tập thể, tránh duy ý chí. Tổng công ty VTC
tin tưởng rằng, tái cơ cấu tổng thể giai đoạn 2012-2015 sẽ được thực hiện
thành công; giúp Tổng công ty có những bước ngoặt mới trong quá trình phát
triển, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo; giúp Tổng công ty hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ chính trị-xã hội và nhiệm vụ kinh tế; hoàn thành sứ mệnh của
một Tổng công ty nhà nước đi đầu trong lĩnh vực truyền thông đa phương
tiện.
Tuy nhiên, việc tái cơ cấu mà cụ thể là sáp nhập một số công ty, chấm
dứt hoạt động một số chi nhánh tại Tổng công ty VTC không thể tránh được
những ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, đời sống của người lao động tại các


3

công ty bị sáp nhập và các chi nhánh bị chấm dứt hoạt động nói riêng và trên
toàn Tổng công ty nói chung. Thông qua đề tài “Áp dụng pháp luật lao động
khi sáp nhập doanh nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh từ thực tiễn
thực hiện tại một số đơn vị thuộc Tổng công ty VTC” học viên mong muốn
làm rõ vấn đề áp dụng pháp luật, giải quyết chế độ lao động dôi dư khi sáp
nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh cũng như kiến nghị một số
các giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động.
2. Tình hình nghiên cứu
Có thể nói, hiện nay chưa có một đề tài nghiên cứu toàn diện, quy mô
về áp dụng pháp luật lao động khi sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt
động chi nhánh, nên việc nghiên cứu đề tài “Áp dụng pháp luật lao động khi
sáp nhập doanh nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh từ thực tiễn thực
hiện tại một số đơn vị thuộc Tổng công ty VTC” là không trùng lặp với bất
kỳ đề tài nào trước đây.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhằm đạt được những mục đích cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật lao động trong
quá trình sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh.
- Tìm hiểu khái niệm và chỉ ra những đặc điểm riêng của sáp nhập
doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh.
- Đánh giá, bình luận pháp luật lao động hiện hành trong quá trình sáp
nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp lao động khi sáp nhập doanh
nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh từ thực tiễn tại một số đơn vị thuộc
Tổng công ty VTC.
- Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật lao
động khi tiến hành sáp nhập doanh nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh.


4

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hệ thống pháp luật lao động khi sáp
nhập doanh nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh.
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật lao động khi sáp nhập doanh
nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh từ thực tiễn Tổng công ty VTC.
Về phạm vi nghiên cứu: Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài,
luận văn không có tham vọng đi sâu nghiên cứu, lý giải một cách có hệ thống,
cặn kẽ, thấu đáo và toàn diện các nội dung của pháp luật về sáp nhập doanh
nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh. Trong khuôn khổ có hạn của một
bản luận văn thạc sỹ luật học, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định
pháp luật lao động khi sáp nhập doanh nghiệp và chấm dứt hoạt động chi
nhánh. Về thời gian, luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật lao động khi
sáp nhập doanh nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh từ năm 1994 đến
nay; với lý do, đây là mốc thời gian Quốc hội ban hành đạo luật đầu tiên về
lao động ở nước ta.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những yêu cầu và mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá
trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ chủ nghĩa Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị
trường.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau: Phương pháp phân tích, so sánh luật học; phương pháp đánh giá, bình
luận, diễn giải, quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học...


5

6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được bố cục bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt
hoạt động chi nhánh và các quy định pháp luật lao động Việt Nam hiện hành
về sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật lao động Việt Nam khi sáp
nhập một số công ty, chấm dứt hoạt động một số chi nhánh thuộc Tổng công
ty VTC
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật lao động khi sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt
hoạt động chi nhánh


6

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP,
CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI NHÁNH VÀ CÁC QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ SÁP NHẬP
DOANH NGHIỆP, CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI NHÁNH
1.1. Những vấn đề lý luận về sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt
hoạt động chi nhánh
1.1.1. Sáp nhập doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức tổ chức lại rất hiệu quả nhằm tăng
quy mô kinh doanh của chủ sở hữu. Thông qua sáp nhập, doanh nghiệp nhận
sáp nhập sẽ có năng lực tài chính, năng lực kinh doanh lớn hơn và tăng sức
cạnh tranh trên thị trường.
Theo Từ điển các khái niệm, thuật ngữ tài chính Investopedia, sáp nhập
(Mergers) xảy ra khi hai công ty (thường là các công ty có cùng quy mô)
đồng ý tiến tới thành lập một công ty mới mà không duy trì sở hữu và hoạt
động của các công ty thành phần.
Theo định nghĩa kỹ thuật do David L.Scott đưa ra trong cuốn Wall
Street Words, hướng dẫn từ A đến Z về các điều khoản đầu tư cho các nhà
đầu tư hiện nay thì: sáp nhập là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty, trong đó
có tài sản và trách nhiệm pháp lý của (những) công ty được công ty khác tiếp
nhận.
Từ điển Oxford (2012), “hoạt động sáp nhập là sự kết hợp của hai tổ
chức, đặc biệt là các công ty, doanh nghiệp thành một tổ chức”.
Gaughan (2011) [53] định nghĩa “việc sáp nhập là một sự kết hợp của
hai công ty trong đó chỉ có một công ty tồn tại và các công ty còn lại chấm
dứt sự tồn tại”.


7

Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam lần đầu tiên được quy
định cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 17 Luật Cạnh tranh 2004 với tư cách là một
dạng tập trung kinh tế: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số
doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của
mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh
nghiệp bị sáp nhập”. Với khái niệm này, có thể dẫn tới cách hiểu bất kì doanh
nghiệp nào dù là doanh nghiệp tư nhân hay công ty TNHH, công ty cổ phần
cũng có thể sáp nhập được với nhau.
Trong khi đó khoản 1 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2005 lại quy định:
“Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có
thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập)
bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang
công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp
nhập”. Như vậy, khác với Luật Cạnh tranh thì theo Luật Doanh nghiệp 2005
chỉ có các công ty cùng loại mới có thể sáp nhập với nhau tức là các công ty
tồn tại dưới cùng một hình thức tổ chức doanh nghiệp. Ví dụ: hai hay nhiều
công ty TNHH hai thành viên trở lên, hoặc hai hay nhiều công ty cổ phần... là
những công ty cùng loại.
Đến Luật Doanh nghiệp 2014, khái niệm sáp nhập doanh nghiệp được
quy định lại như sau“một hoặc một số công ty có thể sáp nhập vào một công
ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp
pháp sang cho công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công
ty bị sáp nhập” (Điều 195). Có thể thấy, quy định trên của Luật Doanh nghiệp
2014 đã có sự phù hợp với quy định của Luật Cạnh tranh 2004, việc sáp nhập
không chỉ được thực hiện đối với các công ty cùng loại mà còn có thể thực
hiện được đối với các công ty khác loại.
Như vậy, sáp nhập diễn ra khi một doanh nghiệp nhập vào một doanh
nghiệp khác và chấm dứt sự tồn tại của mình. Ví dụ, khi doanh nghiệp A nhập
vào doanh nghiệp B, doanh nghiệp A sẽ không tồn tại nữa, cổ phiếu của
doanh nghiệp A sẽ được chuyển đổi sang cổ phiếu của doanh nghiệp B, hai


8

doanh nghiệp sáp nhập sẽ bắt tay nhau “đồng vai phải lứa” dù rằng trên thực
tế về mặt pháp lý có một bên bị sở hữu và một bên được sở hữu.
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra được khái niệm của sáp nhập
doanh nghiệp như sau: Sáp nhập doanh nghiệp là giao dịch trong đó một
hoặc một số doanh nghiệp từ bỏ pháp nhân của mình để gia nhập vào một
doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiếp nhận toàn bộ tài
sản, quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập. Sau
khi việc sáp nhập hoàn thành doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn
tại của mình.
1.1.1.2. Đặc điểm sáp nhập doanh nghiệp
Thứ nhất, đối tượng sáp nhập doanh nghiệp:
Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì việc sáp nhập doanh nghiệp phải là
các công ty cùng loại. Tuy nhiên, theo Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014 mới
nhất hiện nay thì không nhất thiết là phải công ty cùng loại mới được sáp
nhập, cụ thể:“Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có
thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập)
bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang
công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp
nhập”.
Các công ty là đối tượng sáp nhập doanh nghiệp phải có đủ yếu tố cấu
thành doanh nghiệp sau theo quy định của pháp luật1:
(i) Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, có tư cách pháp lý độc lập.
(ii) Doanh nghiệp có các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh
phù hợp với giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/giấy chứng nhận đầu tư
và các loại giấy phép kinh doanh khác.

“Đối tượng sáp nhập doanh nghiệp”, tại địa chỉ http://luathopdong.com/dich-vu/mua-ban-sapnhap/2285-doi-tuong-sap-nhap-doanh-nghiep.html ngày truy cập 12/5/2017
1


9

(iii) Doanh nghiệp có hệ thống bộ máy quản trị doanh nghiệp và hệ
thống nhân sự, lực lượng lao động.
Như vậy, các công ty ở đây có thể là công ty TNHH một thành viên,
công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần.
Thứ hai, bản chất của sáp nhập doanh nghiệp là tập hợp các công ty về
dưới một “ngọn cờ” để mạnh hơn, vững vàng hơn và theo đó việc tập hợp sẽ
được thực hiện theo các cách thức khác nhau. Đây thực chất là giao dịch để
hai hay nhiều doanh nghiệp tập hợp lại bằng cách chuyển toàn bộ tài sản,
quyền nghĩa vụ vào một doanh nghiệp khác. Các bên thông qua hợp đồng sáp
nhập để xác định các điều kiện sáp nhập, phương án sử dụng lao động, thời
hạn thủ tục và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ
phần, trái phiếu của doanh nghiệp bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần,
trái phiếu của doanh nghiệp nhận sáp nhập. Sau đó các bên thông qua Điều lệ
doanh nghiệp, tiến hành thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh theo Luật Doanh nghiệp.
Thứ ba, hậu quả pháp lý của sáp nhập doanh nghiệp:
Sau khi sáp nhập, chỉ duy nhất doanh nghiệp nhận sáp nhập được
hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa
thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các doanh
nghiệp bị sáp nhập; doanh nghiệp bị sáp nhập chấm dứt sự tồn tại.
Thư tư, áp dụng pháp luật cạnh tranh khi sáp nhập doanh nghiệp:
Thực tế, trong thời gian vừa qua ở nước ta chưa có các vụ tập trung
kinh tế lớn dẫn đến việc một doanh nghiệp nào đó chiếm vị trí thống lĩnh thị
trường, nhưng trước mắt, khi chúng ta tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế
thế giới, việc sáp nhập các doanh nghiệp tất yếu sẽ diễn ra nhiều, đòi hỏi
chúng ta phải đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tránh các vụ tập
trung kinh tế lớn dẫn đến độc quyền, triệt tiêu cạnh tranh, ảnh hưởng đến lợi
ích chung của nền kinh tế. Chính vì thế, pháp luật nước ta cấm các trường hợp
sáp nhập doanh nghiệp mà theo đó doanh nghiệp nhận sáp nhập có thị phần


10

trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp luật cạnh tranh có quy
định khác2. Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập sẽ có thị
phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các
doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến
hành sáp nhập3.
Để tránh rơi vào trường hợp tập trung kinh tế bị cấm hoặc rơi vào
trường hợp tập trung kinh tế phải thông báo trước cho cơ quan quản lý cạnh
tranh, các doanh nghiệp có dự định sáp nhập với nhau cần phải nghiên cứu kỹ
thị trường hàng hóa, dịch vụ liên quan của mình để xem thị phần của doanh
nghiệp nhận sáp nhập đó có khả năng chiếm bao nhiêu % thị trường. Nếu thị
phần của doanh nghiệp nhận sáp nhập thấp hơn 30% thị trường liên quan thì
không cần phải thông báo.
Thứ năm, thẩm quyền quyết định:
Thẩm quyền quyết định việc sáp nhập doanh nghiệp thuộc về chủ sở
hữu công ty, hội đồng thành viên đối với công ty TNHH hoặc Đại hội đồng cổ
đông đối với công ty cổ phần4.
Thứ sáu, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp mới thành lập từ doanh nghiệp bị sáp nhập được
hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, phải chịu trách nhiệm hoặc liên đới
chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và
nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bị sáp nhập. Cụ thể:
* Về nghĩa vụ đối với người lao động:
Theo quy định của Bộ luật Lao động, trong trường hợp sáp nhập doanh
nghiệp, người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng
số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có, người sử dụng lao động
kế tiếp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động
Khoản 3 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014; Điều 18 Luật Cạnh tranh 2004
Khoản 3 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014; Khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh 2004
4
Điểm b Khoản 2 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014
2
3


11

theo quy định. Trường hợp bắt buộc phải cho người lao động thôi việc thì
phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định.
* Nghĩa vụ đối với cơ quan quản lý thuế:
Khi thực hiện việc sáp nhập, doanh nghiệp phải thực hiện quyết toán
thuế với cơ quan thuế đến thời điểm có quyết định tổ chức lại của cơ quan có
thẩm quyền và có trách nhiệm nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn cùng
với thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế. Trường hợp có số thuế giá trị gia tăng
nộp thừa hoặc số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết, doanh
nghiệp sẽ được hoàn thuế giá trị gia tăng nếu nộp thuế giá trị gia tăng theo
phương pháp khấu trừ thuế.
Thứ bảy, thủ tục sáp nhập doanh nghiệp:
Theo quy định tại Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014, để sáp nhập
doanh nghiệp, các thành viên, chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc các cổ đông của
các doanh nghiệp liên quan phải thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công
ty nhận sáp nhập. Điều này chứng tỏ các bên liên quan phải hoàn toàn nhất trí
với nhau về việc sáp nhập doanh nghiệp. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi
đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày thông qua.
* Đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp nhận sáp nhập:
Sau khi các bên có liên quan đã thông qua hợp đồng sáp nhập và thông
qua Điều lệ cho doanh nghiệp nhận sáp nhập, thì phải tiến hành đăng ký kinh
doanh cho doanh nghiệp nhận sáp nhập. Hồ sơ đăng ký kinh doanh phải kèm
theo Hợp đồng sáp nhập. Sau khi đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp bị sáp
nhập chấm dứt tồn tại; doanh nghiệp nhận sáp nhập được hưởng các quyền và
lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp
đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bị sáp nhập.
1.1.1.3. Vai trò của sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp có vai trò nhằm mở rộng thị trường cho các
doanh nghiệp, trong một vài trường hợp, một số công ty nhỏ có kế hoạch mở


12

rộng thị trường nhưng bị các hàng rào về tài chính, uy tín cản trở. Do đó,
những công ty này chủ động tìm kiếm các đối tác lớn hơn để có những khoản
vốn đầu tư cần thiết, lúc này biện pháp sáp nhập sẽ là phương án được ưu tiên
hàng đầu. Các vụ sáp nhập hiện nay đã trở thành một hình thức đầu tư thông
dụng của các công ty muốn bảo vệ, củng cố và thúc đẩy vị trí của mình bằng
cách sáp nhập công ty khác từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của mình.
Ngoài ra, sáp nhập doanh nghiệp nhằm bảo đảm chi phí kinh doanh.
Những vụ sáp nhập khác lại tìm kiếm sự bảo toàn chi phí bằng việc đẩy mạnh
sự hợp nhất các hoạt động kinh doanh. Việc sáp nhập hai công ty sản xuất
hoặc kinh doanh sản phẩm cùng loại hoặc tương tự có thể dẫn đến sự giảm
bớt các chi phí sản xuất và chi phí thị trường. Việc sáp nhập hai công ty, trong
đó một bên cung cấp nguyên liệu cho quá trình sản xuất ra sản phẩm hoàn
chỉnh của bên kia, có thể đem lại sự cắt giảm chi phí. Ví dụ: HP đã thể hiện rõ
mục đích này khi sáp nhập với Compaq. Thông qua vụ sáp nhập, riêng trong
những tháng đầu tiên, HP đã tiết kiệm được gần 700 triệu USD. Một năm sau
ngày chính thức sáp nhập, tập đoàn HP đã giảm được khoản chi phí lên tới 3,5
tỉ USD5.
Tóm lại, sáp nhập doanh nghiệp đưa lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên
tham gia. Nó không chỉ giúp các doanh nghiệp lớn giảm chi phí đầu tư, giúp
các doanh nghiệp nhỏ, yếu kém thoát khỏi nguy cơ phá sản mà còn giúp
doanh nghiệp nhận sáp nhập có đầy đủ tiềm lực phát triển mạnh và đạt được
lợi thế cạnh tranh trên thương trường.
1.1.2. Chấm dứt hoạt động chi nhánh
1.1.2.1. Khái niệm chấm dứt hoạt động của chi nhánh
* Sơ lược về chi nhánh:
Hoạt động của doanh nghiệp mà mang lại hiệu quả cao trong kinh
doanh thì lúc này doanh nghiệp thường tiến hành thành lập ra chi nhánh để
Người đàn bà thép của tập đoàn HP, Thời báo kinh tế Việt Nam, tại địa chỉ
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/nguoi-dan-ba-thep-cua-tap-doan-hp2675695.html ngày truy cập 12/5/2017
5


13

doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp.
Vậy, chi nhánh là gì và chi nhánh có vai trò như thế nào trong doanh nghiệp?
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực
hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại
diện theo ủy quyền. Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải đúng với
ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp6. Người đứng đầu chi nhánh thực
hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được
ủy quyền và doanh nghiệp có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch
dân sự do chi nhánh xác lập, thực hiện7.
Việc thành lập chi nhánh giúp cho doanh nghiệp được nhiều người biết
đến, qua đó quảng bá thương hiệu, mở rộng việc kinh doanh và đem lại lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
* Chấm dứt hoạt động chi nhánh:
Trên thực tế, nhiều trường hợp chi nhánh sau khi được thành lập đã
hoạt động không hiệu quả, thậm chí gây thua lỗ, thất thoát vốn của doanh
nghiệp dẫn đến chủ sở hữu phải ra quyết định chấm dứt hoạt động để giảm
thiểu chi phí phát sinh.
Quy định chi tiết về chấm dứt hoạt động chi nhánh được quy định tại
Điều 206 Luật Doanh nghiệp 2014, đây là điểm mới tiến bộ so với Luật
Doanh nghiệp 2005 và rất phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước ta trong
giai đoạn hiện nay, khái niệm chấm dứt hoạt động chi nhánh trước đây chưa
được luật hóa và chỉ được đề cập tại Thông tư 14/2010/TT-BKH ngày
04/6/20108 tại Biểu mẫu Thông báo chấm dứt hoạt động Chi nhánh (Phụ lục
III-3 của Thông tư).
Theo quy định tại Điều 206 Luật Doanh nghiệp 2014, “Chi nhánh của
doanh nghiệp được chấm dứt hoạt động theo quyết định của chính doanh
Khoản 1 Điều 45 Luật Doanh nghiệp 2014
Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015
8
Thông tư 14/2010/TT-BKH ngày 04/6/2010 hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục
đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính
phủ về đăng ký doanh nghiệp
6
7


14

nghiệp đó hoặc theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động
chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
1.1.2.2. Đặc điểm của việc chấm dứt hoạt động chi nhánh
Thứ nhất, đối tượng của việc chấm dứt hoạt động của chi nhánh là các
chi nhánh của doanh nghiệp. Pháp luật không quy định hay hạn chế các doanh
nghiệp trong việc chấm dứt hoạt động của chi nhánh, về nguyên tắc, các
doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh, có quyền thành lập các chi nhánh để
mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khi chi nhánh
hoạt động không hiệu quả, doanh nghiệp có quyền chấm dứt hoạt động của
chi nhánh đó.
Thứ hai, các trường hợp chấm dứt hoạt động của chi nhánh:
Chi nhánh có thể được chấm dứt theo hình thức tự nguyện theo quyết
định của chính doanh nghiệp hoặc theo hình thức bắt buộc là theo quyết định
thu hồi Giấy chứng nhận hoạt động chi nhánh của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Hình thức thu hồi giấy chứng nhận hoạt động của chi nhánh thường
xảy ra trong trường hợp chi nhánh vi phạm một nghĩa vụ nào đó đối với cơ
quan nhà nước.
Thứ ba, điều kiện chấm dứt hoạt động của chi nhánh:
Pháp luật không quy định về điều kiện chấm dứt bởi các khoản nợ của
chi nhánh, văn phòng đại diện do công ty chịu và cũng không đặt ra vấn đề
đảm bảo thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ vẫn tồn tại bởi chủ thể thực hiện. Việc
thực hiện nghĩa vụ tài sản, thanh toán các khoản nợ không phải là điều kiện
bắt buộc của chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện.
Thứ tư, hậu quả pháp lý:
Chi nhánh chấm dứt hoạt động, mọi quyền và nghĩa vụ của chi nhánh
sẽ được doanh nghiệp kế thừa.
Thứ năm, thẩm quyền quyết định:


15

Thẩm quyền quyết định việc chấm dứt hoạt động chi nhánh thuộc về
chủ sở hữu công ty, hội đồng thành viên đối với công ty TNHH hoặc Hội
đồng quản trị đối với công ty cổ phần.
Thứ sáu, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có chi nhánh chấm dứt
hoạt động:
* Nghĩa vụ đối với người lao động:
Trường hợp chấm dứt hoạt động chi nhánh mà ảnh hưởng đến việc làm
của nhiều người lao động, thì doanh nghiệp có chi nhánh chấm dứt hoạt động
có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy
định của pháp luật; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại
người lao động để tiếp tục sử dụng. Trong trường hợp doanh nghiệp không
thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì
phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định của Bộ luật
lao động. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động khi chấm dứt hoạt
động chi nhánh chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập
thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà
nước về lao động cấp tỉnh.
* Nghĩa vụ tài chính:
Doanh nghiệp có chi nhánh đã chấm dứt hoạt động chịu trách nhiệm
thực hiện các hợp đồng, thanh toán các khoản nợ, gồm cả nợ thuế của chi
nhánh và tiếp tục sử dụng lao động hoặc giải quyết đủ quyền lợi hợp pháp cho
người lao động đã làm việc tại chi nhánh theo quy định của pháp luật.
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và người đứng đầu chi
nhánh bị giải thể liên đới chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của
hồ sơ chấm dứt hoạt động chi nhánh.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ chấm dứt
hoạt động chi nhánh, cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý
của chi nhánh trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.


16

1.2. Các quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về
sáp nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh
1.2.1. Quy định về đảm bảo việc làm cho người lao động khi sáp
nhập doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động chi nhánh
1.2.1.1. Đảm bảo việc làm cho người lao động khi sáp nhập doanh
nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp là sự kiện không thường xuyên xảy ra nhưng
khi xảy ra sẽ có tác động lớn đến tình hình việc làm và giải quyết việc làm
cho người lao động trong doanh nghiệp và có thể làm cho nhiều người lao
động bị mất việc làm.
Nhằm bảo đảm việc làm và đời sống cho người lao động, Bộ luật Lao
động 2012 đã quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm đảm bảo việc
làm cho người lao động. Cụ thể tại khoản 1 Điều 45, trong trường hợp sáp
nhập doanh nghiệp, người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp
tục số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Điều này có nghĩa tại thời điểm sáp nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp nhận
sáp nhập phải có nghĩa vụ kế thừa quyền và nghĩa vụ đối với toàn bộ hợp
đồng lao động và số lao động của doanh nghiệp bị sáp nhập. Trên cơ sở bố trí,
sắp xếp công việc cho người lao động, doanh nghiệp sẽ có sự điều chỉnh, bổ
sung hợp đồng lao động để phù hợp với tình hình thực tế.
1.2.1.2. Đảm bảo việc làm cho người lao động khi chấm dứt hoạt động
của chi nhánh
Theo quy định tại Điều 44 Bộ luật Lao động 2012, vấn đề bảo đảm việc
làm cho người lao động khi tái cơ cấu doanh nghiệp được quy định như sau:
Trường hợp thay đổi cơ cấu mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều
người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực
hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao
động; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động
để tiếp tục sử dụng.


17

Trong nội dung của phần này, trước hết chúng ta cần xác định các
trường hợp thay đổi cơ cấu doanh nghiệp. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 13
Nghị định 05/2015/NĐ-CP9, việc thay đổi cơ cấu, công nghệ gồm các trường
hợp sau đây:
- Thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động (bao gồm nhưng không
hạn chế ở việc tổ chức thành lập mới, sáp nhập, giải thể một hoặc nhiều bộ
phận của doanh nghiệp);
- Thay đổi sản phẩm, cơ cấu sản phẩm (chuyển đổi mặt hàng, sản phẩm
hoàn chỉnh, bán thành phẩm…);
- Thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh
gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động.
Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động, pháp luật quy định doanh
nghiệp phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động.
1.2.1.3. Xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động
Theo quy định tại Điều 44, 45 Bộ luật Lao động 2012, khi chấm dứt
hoạt động của chi nhánh và khi không sử dụng hết lao động hiện có sau khi
sáp nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp có chi nhánh chấm dứt hoạt động và
doanh nghiệp nhận sáp nhập có trách nhiệm xây dựng Phương án sử dụng lao
động được quy định tại Điều 46 nhằm giải quyết vấn đề lao động liên quan
đến các trường hợp người sử dụng lao động cho nhiều người lao động thôi
việc.
* Chủ thể có nghĩa vụ xây dựng phương án sử dụng lao động bao gồm:
- Người sử dụng lao động trong trường hợp cho nhiều người lao động
(từ 02 người trở lên) thôi việc do thay đổi cơ cấu mà ở đây là chấm dứt hoạt
động chi nhánh.
- Người sử dụng lao động kế tiếp trong trường hợp sáp nhập doanh
nghiệp mà không thể sử dụng hết số lao động hiện có.
Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội
dung của Bộ luật lao động
9


18

Như vậy, trường hợp cho 01 người lao động thôi việc, Nhà nước không
quy định bất kỳ thủ tục nào mà người sử dụng lao động phải tuân theo, người
sử dụng lao động có quyền ra quyết định cho người lao động thôi việc/chấm
dứt hợp đồng lao động khi ở vào trường hợp sáp nhập doanh nghiệp và chấm
dứt hoạt động chi nhánh. Tuy nhiên, để đảm bảo hài hòa, tránh sự đột ngột
cho người lao động, người sử dụng lao động có thể thông báo trước cho người
lao động về việc chấm dứt hợp đồng và tham khảo hoặc thống nhất ý kiến với
tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở trước khi chính thức cho người lao
động thôi việc.
* Thời điểm xây dựng phương án sử dụng lao động được quy định khác
nhau tùy từng trường hợp cụ thể:
(i) Đối với trường hợp chấm dứt hoạt động chi nhánh mà người sử dụng
lao động thấy khả năng phải cho nhiều người lao động thôi việc thì phải xây
dựng phương án sử dụng lao động;
(ii) Đối với trường hợp sáp nhập doanh nghiệp thì sau khi thực hiện
việc sáp nhập doanh nghiệp mà người sử dụng lao động kế tiếp không thể sử
dụng hết số lao động hiện có thì phải xây dựng phương án sử dụng lao động;
* Nội dung của phương án sử dụng lao động bao gồm:
- Danh sách và số lượng người lao động tiếp tục được sử dụng, người
lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng;
- Danh sách và số lượng người lao động nghỉ hưu;
- Danh sách và số lượng người lao động được chuyển sang làm việc
không trọn thời gian;
- Người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động;
- Biện pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án.
* Về thủ tục, khi xây dựng phương án sử dụng lao động phải tham khảo
ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (trường hợp đơn vị sử
dụng lao động đã có tổ chức công đoàn cơ sở thì tham khảo ý kiến của ban


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×