Tải bản đầy đủ

Pháp luật về đại diện người sử dụng lao động ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ KIM ANH

ĐỀ TÀI

PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN
NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ KIM ANH

ĐỀ TÀI

PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN
NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ DUNG

Hà Nội - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Đỗ Thị Dung,
giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu
trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo,
Khoa Sau Đại học, các thầy cô trong tổ Bộ môn Luật Lao động, khoa Pháp luật Kinh
tế, trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến
thức quý giá trong suốt quãng thời gian học tập sau đại học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã tạo điều kiện thuận
lợi và ủng hộ tôi hoàn thành luận văn này.
Do kiến thức của bản thân và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý
báu của các thầy, các cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn./.

Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2017
Học viên

Bùi Thị Kim Anh



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

BÙI THỊ KIM ANH


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLLĐ

: Bộ luật lao động

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

ILO
IOE

: Tổ chức lao động quốc tế
: Tổ chức quốc tế của người sử dụng lao động

NLĐ
NSDLĐ

: Người lao động
: Người sử dụng lao động

QHLĐ
VCCA

: Quan hệ lao động
: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

VCA

: Liên Minh Hợp tác xã Việt Nam

VINASME
TƯLĐTT

: Hiệp hội các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
: Thỏa ước lao động tập thể


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
Chƣơng 1: .......................................................................................................................7
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ
PHÁP LUẬT ĐẠI DIỆN NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ......................................7
1.1. Đại diện ngƣời sử dụng lao động .......................................................................7
1.1.1. Khái niệm đại diện người sử dụng lao động ................................................7
1.1.2. Vai trò của đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động .....10
1.1.3. Các loại đại diện người sử dụng lao động ..................................................12
1.2. Pháp luật về đại diện ngƣời sử dụng lao động ...............................................14
1.2.1. Khái niệm pháp luật đại diện người sử dụng lao động .............................14
1.2.2. Nguyên tắc của pháp luật về đại diện người sử dụng lao động ................16
1.2.3. Nội dung pháp luật về đại diện người sử dụng lao động ...........................17
1.2.3.1. Thành lập tổ chức đại diện người sử dụng lao động ..............................17
1.2.3.2. Quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện NSDLĐ .............................19
1.2.3.3. Những bảo đảm pháp lý cho hoạt động của tổ chức đại diện người sử
dụng lao động ......................................................................................................25
1.2.4. Ý nghĩa của pháp luật đại diện người sử dụng lao động ...........................27
Chƣơng 2: .....................................................................................................................30
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH ...................................30
VỀ ĐẠI DIỆN NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG .....................................................30
2.1. Quy định về thành lập tổ chức đại diện ngƣời sử dụng lao động .................30
2.1.1. Quy định nguyên tắc thành lập tổ chức đại diện người sử dụng lao động
................................................................................................................................30
2.1.2. Quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của tổ chức đại diện
người sử dụng lao động .........................................................................................32
2.1.2.1. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) .........................32
2.1.2.2. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA) ................................................34
2.1.2.3. Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) ..................36


2.2. Quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện ngƣời sử dụng lao
động trong quan hệ lao động ...................................................................................40
2.2.1. Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật trong lĩnh vực lao động .........40
2.2.2.1. Hình thức tham gia .................................................................................41
2.2.2.2. Lĩnh vực tham gia...................................................................................43
2.2.2. Đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động ........................47
2.2.2.1. Đại diện người sử dụng lao động trong đối thoại xã hội, thương lượng
tập thể ..................................................................................................................48
2.2.2.2. Đại diện người sử dụng lao động trong ký kết thỏa ước lao động tập thể
.............................................................................................................................52
2.2.2.3. Đại diện người sử dụng lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội .........54
2.2.2.4. Đại diện NSDLĐ trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp lao động...........56
2.2.2.5. Đại diện NSDLĐ trong lĩnh vực giải quyết đình công ..........................62
2.2.2.6 Trong lĩnh vực tuyên truyền, vận động… các đơn vị sử dụng lao động
thực hiện pháp luật, bảo đảm quyền lợi cho người lao động ..............................64
2.3. Những bảo đảm cho tổ chức đại diện ngƣời sử dụng lao động hoạt động
hiệu quả .....................................................................................................................65
2.3.1. Bảo đảm về tự do gia nhập tổ chức đại diện NSDLĐ ................................65
2.3.2. Bảo đảm về mặt pháp lý của tổ chức đại diện NSDLĐ ..............................66
2.3.3. Bảo đảm về tài chính của tổ chức đại diện NSDLĐ ..................................67
Chƣơng 3: .....................................................................................................................69
THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐẠI DIỆN .............................................69
NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN........................69
3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật đại diện ngƣời sử dụng lao động ..................69
3.1.1. Những kết quả nổi bật đã đạt được.............................................................69
3.1.2. Một số vấn đề còn tồn tại .............................................................................71
3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại .................................................................73
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về đại diện ngƣời sử dụng lao động ở Việt Nam hiện nay ....................................75
3.2.1. Yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về đại diện người sử dụng lao động ở Việt Nam hiện nay ..................75


3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện người sử dụng lao động ở Việt
Nam hiện nay .........................................................................................................81
3.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện người sử
dụng lao động ở Việt Nam hiện nay .....................................................................86
KẾT LUẬN ..................................................................................................................90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................1


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhằm phát triển hài hòa, ổn định quan hệ lao động luôn cần phải có sự hợp
tác giữa cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên quan hệ lao
động có thể xác lập giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động thông
qua việc ký kết hợp đồng lao động hoặc thông qua giữa đại diện các bên với nhau.
Mục đích quan hệ giữa đại diện các bên với nhau nhằm làm cho quan hệ lao động
trong đơn vị sử dụng lao động hoặc ở phạm vi lớn hơn hài hòa, ổn định. Vì vậy, các
nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam rất chú trọng đến đại diện các bên trong
quan hệ lao động.
Trên thế giới, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng có nhiều công ước về vấn
đề tổ chức đại diện NSDLĐ. Trên cơ sở quy định của ILO, pháp luật một số quốc gia
cũng quy định về vấn đề này. Cùng với bên đại diện NLĐ thì đều coi trọng đến bên
đại diện của NSDLĐ. Cùng với tổ chức đại diện NLĐ (công đoàn) thì tổ chức đại
diện NSDLĐ ra đời và phát triển từ rất lâu. Ví dụ như nhiều quốc gia như Pháp, Đức,
Philippine… đã và đang duy trì các quy định về tổ chức đại diện NSDLĐ nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích của NSDLĐ. Điều đó đảm bảo sự bình đẳng trong mối quan hệ
giữa các bên nên quan hệ lao động trên thế giới rất phát triển. Tuy nhiên, tùy vào
điều kiện cũng như hoàn cảnh của mỗi nước mà pháp luật của họ có những quy định
khác nhau.
Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của thị trường lao động, quan hệ lao động
ở nước ta cũng được hình thành và có những bước phát triển nhất định. Tuy nhiên,
mối quan tâm chủ yếu và được chú trọng trong quan hệ lao động luôn hướng về
người lao động kèm theo đó tổ chức đại diện NLĐ là tổ chức công đoàn. Bởi trên
thực tế và trong những quy định của pháp luật lao động, người ta thường quan tâm và
bảo vệ quyền và lợi ích NLĐ hơn do quan niệm NLĐ là đối tượng yếu thế, dễ bị bất
lợi hơn so với NSDLĐ. Hiện nay, do nhu cầu đảm bảo quyền và lợi ích của các bên
cũng như để duy trì QHLĐ ổn định trong nền kinh tế thị trường thì tương ứng với
bên đại diện NLĐ là đại diện của NSDLĐ
Để khẳng định vị trí, vai trò của tổ chức đại diện NSDLĐ, nhà nước đã ban
hành các văn bản pháp luật quy định về các vấn đề có liên quan. Hệ thống văn bản
pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cho tổ chức đại diện NSDLĐ thực hiện chức năng
của mình, góp phần duy trì quan hệ lao động hài hòa, ổn định, ngăn ngừa và hạn chế


2

các tranh chấp lao động phát sinh, khẳng định vị thế bình đẳng của NLĐ và NSDLĐ
trong QHLĐ.
Tuy nhiên, trên thực tế, các tổ chức đại diện NSDLĐ bảo vệ các đơn vị sử
dụng lao động tham gia tổ chức đó, hoạt động riêng lẻ và chưa có sự thống nhất
trong vấn đề bảo vệ quyền lợi chung cho bên giới sử dụng lao động trong mối tương
quan với tổ chức đại diện NLĐ là tổ chức công đoàn. Vì vậy, quyền lợi của NSDLĐ
chưa được bảo đảm một cách hiệu quả. Nguyên nhân chính là do các quy định pháp
luật nước ta về vấn đề tổ chức, hoạt động cũng như việc thục tế hóa quy định của
pháp luật của tổ chức đại diện NSDLĐ còn nhiều bất cập. Trong tiến trình hội nhập
ngày càng sâu rộng đòi hỏi sự tương thích nhất quán giữa pháp luật quốc gia và pháp
luật quốc tế trong các quy định về tổ chức đại diện của NSDLĐ.
Do đó việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về đại diện NSDLĐ và pháp luật đại
diện NSDLĐ; thực tiễn thực hiện quy định này từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện NSDLĐ là rất cần
thiết.
Chính vì từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Pháp luật về đại diện
người sử dụng lao động ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu ở bậc luận văn thạc sĩ
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đại diện NSDLĐ và pháp luật về đại diện NSDLĐ là vấn đề mới. Vì thế, ở
trong nước đã có các công trình nghiên cứu sau đây:
Sách tham khảo “Vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao
động ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Xuân Thu, Nxb. Lao động – xã hội năm 2009.
Luận án này đề cập tới cơ chế ba bên giữa nhà nước, đại diện NLĐ, đại diện NSDLĐ
trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam. Theo đó có đề cập khái quát
về tổ chức đại diện NSDLĐ là một bên trong mối quan hệ ba bên trong vấn đề giải
quyết tranh chấp chứ chưa nghiên cứu độc lập và đầy đủ về tổ chức đại diện
NSDLĐ.
Tài liệu dùng cho hội thảo “bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp
2013” của tác giả Vũ Công Giao (chủ biên), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội – tháng 7/2016.
Bài viết đề cập đến nội dung xác định mọi NLĐ cũng như NSDLĐ đều có quyền
thành lập và gia nhập các tổ chức mà họ lựa chọn mà không phải xin phép. Đồng


3

nghĩa với việc gia nhập tổ chức đại diện NSDLĐ của NSDLĐ là nhu cầu cần thiết và
chính đáng.
Bài viết: “Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động” của tác giả Lưu Bình
Nhưỡng đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5/2007. Nội dung của bài báo chỉ
xuay quanh việc nghiên cứu về vị trí pháp lý của tổ chức đại diện NSDLĐ cũng như
vai trò của tổ chức này trong QHLĐ và đưa ra một số biện pháp chủ yếu bảo đảm vai
trò của tổ chức đại diện NSDLĐ mà chưa đi sâu vào nghiên cứu quy định pháp luật
về tổ chức đại diện NSDLĐ;
Bài viết: “Tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động
theo pháp luật hiện hành của tác giả Đào Thị Hằng đăng trên tạp chí Luật học số
10/2014. Nội dung của bài tạp chí đã nghiên ở khía cạnh các quy định của pháp luật
về quyền và trách nhiệm nhất định của tổ chức đại diện NSDLĐ trong các lĩnh vực
khác nhau của quan hệ lao động mà chưa đánh giá hết những hạn chế, bất cập trong
quy định của pháp luật; thực tiễn thực hiện pháp luật và đưa ra những đề xuất nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện NSDLĐ;
Bài viết: “Thẩm quyền đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động
trong các quan hệ pháp luật của tác giả Nguyễn Hằng Hà đăng trên tạp chí Luật học
số 3/2016. Nội dung bải báo đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ giữa tổ chức đại diện
NSDLĐ với tổ chức đại diện NLĐ và trong mối quan hệ với nhà nước.
Bên cạnh đó còn có một số bài viết nghiên cứu khác có liên quan trực tiếp đến
một số khía cạnh về lĩnh vực đại diện NSDLĐ.
Các công trình nghiên cứu đã phân tích và đánh giá vai trò, quyền hạn của tổ
chức đại diện NSDLĐ trong một số lĩnh vực cụ thể và một số bảo đảm về mặt pháp
lý cho tổ chức đại diện NSDLĐ hoạt động một cách hiệu quả. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật
và thực tiễn thực hiện pháp luật, đánh giá những hạn chế còn tồn tại của các quy định
pháp luật về vấn đề này. Trên cơ sở kế thừa kế thừa kết quả nghiên cứu của các công
trình trước đó, hoặc đó mới chỉ là các nghiên cứu ở một góc cạnh, một mức độ nhất
định mà chưa đề cập đầy đủ và toàn diện.
Như vậy, cho đến thời điểm này chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
có hệ thống những vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật và kiến nghị hoàn
thiện quy định của pháp luật về đại diện người sử dụng lao động theo BLLĐ năm
2012 ở cấp độ luận văn. Theo đó nghiên cứu toàn diện các vấn đề về lý luận pháp
luật từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hế thống pháp luật Việt Nam về lĩnh vực


4

này trong giai đoạn hiện nay, cho nên luận văn là công trình nghiên cứu không trùng
lặp với các công trình đã nghiên cứu trước đó.
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như khó khăn về ngôn ngữ nên tác giả cũng
chưa có thời gian để khảo cứu các công trình nước ngoài. Hi vọng với các công trình
nghiên cứu sau này ở bậc cao hơn, tác giả sẽ có điều kiện nghiên cứu sâu rộng hơn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu pháp luật về đại diện NSDLĐ ở Việt Nam chủ yếu tập
trung nghiên cứu ba tổ chức bao gồm Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(VCCI), Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA), Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và
vừa Việt Nam (VINASME), được quy định trong pháp luật lao động Việt Nam hiện
hành. Trong đó chủ yếu là BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn. Để làm sâu
vấn đề này, tổ chức đại diện NSDLĐ còn được thể hiện trong các luật khác như Luật
bảo hiểm xã hội năm 2015, Luật việc làm năm 2013, Luật an toàn, vệ sinh lao động
năm 2015…
Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu các điều lệ của các tổ chức đại diện
NSDLĐ như điều lệ của VCCI, điều lệ của VCA, điều lệ của VINASME.
Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về đại diện
NSDLĐ những năm gần đây thông qua các số liệu thu thập được từ cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền.
Để làm sâu sắc vấn đề nghiên cứu, luận văn còn nghiên cứu các quy định của
pháp luật quốc tế thông qua các công ước của ILO và quy định của một số quốc gia
trên thế giới về đại diện của NSDLĐ.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ những đặc điểm của thị trường lao động, từ mô hình của quan hệ
lao động Việt Nam và những yêu cầu thực tiễn về mối quan hệ pháp luật giữa NLĐ
và NSDLĐ, việc nghiên cứu của luận văn về đại diện NSDLĐ nhằm thực hiện ba
mục tiêu cơ bản: nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đại diện NSDLĐ; thực trạng
quy định của pháp luật Việt Nam về đại diện NSDLĐ; từ những vấn đề bất cập trong
quy định của pháp luật, luận văn đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện NSDLĐ ở Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập hiện nay.


5

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ
như sau:
Một là, nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đại diện NSDLĐ dưới góc độ
pháp lý, bao gồm các vấn đề: quan niệm về đại diện NSDLĐ, phân loại đại diện
NSDLĐ, vai trò của đại diện NSDLĐ trong quan hệ lao động đặc biệt nghiên cứu
pháp luật về đại diện NSDLĐ trên cơ sở khái quát từ quy định của ILO và của một số
quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Hai là, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại
diện NSDLĐ. Chỉ ra những ưu điểm, bất cập và những vấn đề còn tồn tại trong quy
định của pháp luật.
Ba là, nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật về đại diện NSDLĐ, những
kết quả đạt được và những bất cập cũng như nguyên nhân của những bất cập đó.
Bốn là, luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện NSDLĐ ở Việt Nam hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của học thuyết Mác –
Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; quan điểm của Đảng và
nhà nước về quan hệ lao động và pháp luật đại diện NSDLĐ trong nền kinh tế thị
trường.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn gồm: phương
pháp lịch sử, phân tích, so sánh, so sánh luật học, chứng minh, dự báo khoa học.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: luận văn nghiên cứu có hệ thống một số khái niệm, vai trò
về đại diện NSDLĐ; pháp luật về đại diện NSDLĐ; đánh giá khách quan về thực
trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành; đề xuất một số kiến nghị hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện NSDLĐ ở Việt
Nam hiện nay trong tương quan với đại diện NLĐ.
Ý nghĩa thực tiễn: luận văn nhằm cung cấp kiến thức một cách toàn diện về
pháp luật đại diện NSDLĐ cho những ai quan tâm; là tài liệu tham khảo cho học
viên, sinh viên khi nghiên cứu pháp luật lao động nói chung, pháp luật về đại diện
NSDLĐ nói riêng; là tài liệu tham khảo cho những người làm trong các tổ chức đại
diện NSDLĐ.


6

Tác giả cũng hy vọng luận văn có ý nghĩa cho những nhà hoạch định chính
sách trong việc xây dựng những quy phạm pháp luật trong lĩnh vực lao động, phù
hợp với luật pháp quốc tế và là cơ sở cho việc áp dụng ở Việt Nam. Những kiến nghị
của luận văn hy vọng sẽ là một trong những cơ sở cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ
sung các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích vừa thực hiện đúng các
cam kết quốc tế vừa bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, lợi ích của NSDLĐ vừa bảo
vệ được lợi ích chính đáng của NLĐ.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về đại diện người sử dụng lao động và pháp
luật đại diện người sử dụng lao động.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện người sử
dụng lao động.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật đại diện người sử dụng lao động và
giải pháp hoàn thiện.


7

Chƣơng 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
VÀ PHÁP LUẬT ĐẠI DIỆN NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
1.1. Đại diện ngƣời sử dụng lao động
1.1.1. Khái niệm đại diện người sử dụng lao động
Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường gồm nhiều mô hình khác nhau,
trong đó có quan hệ lao động giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ và QHLĐ giữa tập thể
NLĐ với NSDLĐ. QHLĐ cá nhân chỉ liên quan đến vấn đề thỏa thuận quyền và lợi
ích của từng cá nhân trên cơ sở thực hiện hợp đồng lao động. QHLĐ tập thể được
hiểu là quan hệ giữa tập thể lao động với NSDLĐ về các vấn đề phát sinh liên quan
đến tập thể lao động. Theo đó, chủ thể của quan hệ lao động tập thể này có một bên
là tập thể lao động đó là tổ chức công đoàn hoặc đại diện của NLĐ. NLĐ họ tự cử ra
đại diện cho mình nhất là trong những đơn vị chưa có tổ chức công đoàn.
Trong quan hệ lao động tập thể tại một đơn vị sử dụng lao động, chủ thể của
mối quan hệ này cũng bao gồm hai bên, bao gồm: một bên là đơn vị sử dụng lao
động, hay gọi cách khác là người sử dụng lao động hay người thuê lao động và một
bên là đại diện cho tập thể người lao động làm thuê cho chủ sử dụng lao động đó.
Theo quan niệm truyền thống, trong quan hệ lao động, NLĐ thường ở vị trí
yếu thế, lệ thuộc vào NSDLĐ, sự phụ thuộc này có thể ở những mức độ khác nhau
nhưng tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển. Sự tiến bộ của loài người chỉ có
thể giảm bớt những phụ thuộc quá mức cần thiết, giải phóng NLĐ để họ được tự do
và hưởng quyền con người một cách đầy đủ chứ không thể xóa bỏ nó một cách hoàn
toàn. Yếu tố phụ thuộc này được NLĐ và NSDLĐ mặc nhiên thừa nhận và xem như
một tồn tại khách quan vì yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất luôn chịu sự chi phối
của quan hệ sở hữu. Chính vì thế nhu cầu tập hợp, liên kết giữa những NLĐ với nhau
thông qua việc thành lập, gia nhập tổ chức công đoàn để tạo nên sức mạnh tập thể,
tạo ra sự cân bằng ở mức tương đối với NSDLĐ để đại diện và bảo vệ họ một cách
hiệu quả. Tuy vậy, dù NSDLĐ được coi là phía mạnh hơn nhưng họ cũng có nhu cầu
liên kết bằng việc thành lập hoặc tham gia một hoặc một số tổ chức của họ thiết lập
để tham gia vào quá trình đàm phán, củng cố quyền quản lý, phát triển tại đơn vị sử
dụng lao động và thúc đẩy quan hệ lao động, được bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng, đặc biệt khi các quyền, lợi ích đó vượt ra ngoài đơn vị sử dụng lao động như ở
cấp độ ngành, khu vực hay cấp quốc gia. Trong mối quan hệ tập thể với nhà nước


8

hoặc với đại diện tập thể lao động ở cấp độ ngoài doanh nghiệp, đặc biệt trong cơ chế
ba bên, từng NSDLĐ không thể tham gia một cách đơn lẻ mà cần thiết phải có sự
hiện diện của tổ chức đại diện NSDLĐ để đại diện cho họ. Điều này càng trở nên
quan trọng và cần thiết trong nền kinh tế thị trường.
Theo Từ điển tiếng Việt, đại diện là “thay mặt cho cá nhân hoặc tập thể”
hoặc “người được cử thay mặt cho cá nhân hoặc tập thể”1 nên dưới góc độ ngôn ngữ
có thể hiểu đại diện NSDLĐ là sự thay mặt cho cá nhân NSDLĐ hoặc tổ chức
NSDLĐ. Tổ chức có tính đại diện là tổ chức có thể thay mặt được cho tất cả các
thành viên của mình. Xuất phát từ sự đông đảo của NSDLĐ trên cả nước nên tổ chức
NSDLĐ chỉ có tính đại diện nếu thu hút được tất cả NSDLĐ trong các ngành, các
khu vực, thành phần kinh tế hoặc là một tổ chức liên hiệp các tổ chức của giới sử
dụng lao động. Tính đại diện được xem là tiêu chí cơ bản của tổ chức đại diện
NSDLĐ vì như vậy mới đảm bảo phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của tất cả
NSDLĐ. Nếu không, chức năng của nó đơn thuần chỉ giống như một tổ chức của
NSDLĐ, không thể tham gia cùng với nhà nước và tổ chức đại diện NLĐ tham gia
giải quyết các vấn đề phát sinh trong QHLĐ.
Trên thế giới, pháp luật quốc tế rất chú trọng đến QHLĐ tập thể cũng như rất
chú trọng đến bên đại diện của NLĐ và đại diện của NSDLĐ để hài hòa, cân bằng lợi
ích giữa các bên.
Vai trò đại diện cho giới sử dụng lao động rất được ILO coi trọng. Theo ILO,
trong các công ước và khuyến nghị để điều chỉnh QHLĐ toàn cầu đã có nhiều công
ước liên quan đến vấn đề về lao động. ILO định nghĩa thì “Quan hệ lao động là
những mốii quan hệ cá nhân và tập thể giữa những người lao động và người sử dụng
lao động tại nơi làm việc, cũng như các mốii quan hệ giữa các đại diện lao động của
họ với nhà nước”2. Cũng có quan điểm tiếp cận quan hệ lao động theo nghĩa rộng và
xác định quan hệ lao động là “quan hệ giữa người với người trong lao động”3. Bên
cạnh đó, quan hệ lao động cũng được hiểu là “một hệ thống bao gồm nhiều chủ thể
tương tác lẫn nhau trong quá trình lao động sản xuất”4.

1

Hoàng Phê (Chủ biên) (2013), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr.372, 373.
Nguyễn Tiệp (2008), Giáo trình Quan hệ lao động, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội, tr.10.
3
Phạm Công Trứ (Chủ Biên) (2005), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, tr.6.
4
Nguyễn Tiệp (2008), Giáo trình Quan hệ lao động, Nxb.Lao động – Xã hội, Hà Nội, tr.11.
2


9

Trong Điều lệ năm 1919, ILO xác định các vấn đề cơ bản như: nguyên tắc, tổ
chức hoạt động, tôn chỉ, mục đích cơ cấu tổ chức, tư cách thành viên đều quy định có
sự tham gia của ba bên.
Từ năm 1920, ở cấp độ quốc tế, tổ chức này đã ra đời với tên gọi: Tổ chức
quốc tế của người sử dụng lao động (International Organisation of Employers – IOE)
với vai trò hỗ trợ và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp trên toàn thế giới trong lao
động và chính sách xã hội, với mục đích: thúc đẩy kinh tế, việc làm và chính sách xã
hội, tạo môi trường cần thiết để duy trì và phát triển các doanh nghiệp và nền kinh tế
thị trường, cung cấp diễn đàn quốc tế để liên kết với nhau, đại diện và thúc đẩy lợi
ích của các tổ chức và các thành viên của tổ chức sử dụng lao động quốc gia trên
toàn thế giới trong tất cả các vấn đề lao động và chính sách kinh tế - xã hội; hỗ trợ,
tư vấn đại diện và cung cấp dịch vụ có liên quan và thông tin cho các thành viên,
thiết lập, duy trì liên lạc giữa họ, phối hợp quyền lợi NSDLĐ ở cấp quốc tế, thúc đẩy
và hỗ trợ sự tiến bộ, tăng cường các tổ chức độc lập và tự chủ sử dụng lao động,
nâng cao năng lực cho các thành viên; thông tin cho công luận, thúc đẩy sự hiểu biết
về các đơn vị sử dụng lao động; tạo điều kiện và thúc đẩy sự trao đổi, chuyển giao
thông tin, kinh nghiệm thực tiễn giữa các thành viên5.
Ở Việt Nam, trước đây chưa hề đề cập đến vấn đề về đại diện NSDLĐ. Hiện
nay, quy định tại khoản 5 Điều 3 BLLĐ năm 2012 định nghĩa: “Tổ chức đại diện
người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động”. Từ đó
có thể thấy quy định của pháp luật Việt Nam là phù hợp với tinh thần của ILO, đã
bao quát định nghĩa đầy đủ về tính hợp pháp khi thành lập, mục đích thành lập, phạm
vi hoạt động của tổ chức đại diện NSDLĐ.
Qua đó, đại diện NSDLĐ là một thực thể xã hội đặc thù, khi được pháp luật
quy định thì tạo thành một chế định riêng của luật lao động với đặc trưng cơ bản:
Một là, đại diện NSDLĐ thể hiện quyền của NSDLĐ, một trong những quyền
con người được Đại hội đồng liên hợp quốc ghi nhận6. Việt Nam là một trong các
quốc gia đã phê chuẩn công ước này đảm bảo thực thi quyền đại diện NSDLĐ trên
thực tế khi tham gia vào các QHLĐ.

5

Nguyễn Hằng Hà, “Thẩm quyền của tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong các quan hệ pháp luật”,
Tạp chí luật học số 3/2016
6
Điều 23 Tuyên bố chung của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc về quyền con người thông qua ngày 10/12/1948.


10

Hai là, đại diện NSDLĐ phản ánh ý chí tự do, tự nguyện của NSDLĐ trong
việc: tự do tổ chức, thành lập, gia nhập tổ chức đại diện; thông qua điều lệ hoạt động
của tổ chức; hoạt động theo pháp luật mà không chịu sự can thiệp của đối tác xã hội
khác.
Ba là, đại diện NSDLĐ gắn với QHLĐ, được nhà nước và tổ chức lao động
khác thừa nhận, như một quyền năng pháp lý và có những cơ chế đảm bảo thực hiện.
1.1.2. Vai trò của đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động
Trong mối quan hệ lao động, tổ chức đại diện NSDLĐ có vai trò bảo vệ các
thành viên là những NSDLĐ, là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của tổ
chức đại diện NSDLĐ. Vai trò của tổ chức đại diện NSDLĐ được thể hiện qua các
phương diện:
Thứ nhất, đại diện NSDLĐ thực hiện hoạt động bảo vệ thông qua việc tham
gia hoạch định chính sách, pháp luật nhằm tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho
các hoạt động của các thành viên của mình. Với khả năng phản ánh đầy đủ, chính
xác và kịp thời những tâm tư, nguyện vọng của NSDLĐ ở các đơn vị sử dụng lao
động, tổ chức đại diện NSDLĐ có vai trò phối hợp cùng với chính phủ và tổ chức đại
diện NLĐ tham gia xây dựng các chính sách pháp luật trong các lĩnh vực lao động.
Tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, công bằng cho các hoạt động của các thành viên
của tổ chức mình. Chức năng này được gọi như chức năng bảo vệ từ xa, mang tính
chiến lược và lâu dài.
Thứ hai, đại diện NSDLĐ thực hiện các hoạt động bảo vệ NSDLĐ trong
QHLĐ. Các hoạt động này chủ yếu được tiến hành khi có yêu cầu hoặc tổ chức đại
diện NSDLĐ cho là cần thiết hoặc theo quy tắc nội bộ, theo các quy định của pháp
luật. Vai trò này đồng nghĩa với việc tổ chức đại diện NSDLĐ bảo vệ lợi ích cho
NSDLĐ thông qua các hoạt động thực tế của mình như: cung ứng dịch vụ đào tạo và
tư vấn cho NSDLĐ trong việc xây dựng các điều khoản của hợp đồng lao động, kỹ
năng tuyển chọn lao động, quản lý và sử dụng nguồn lao động hiệu quả trong đơn vị
sử dụng lao động, phối hợp cùng tổ chức công đoàn tuyên truyền, giáo dục chính
sách pháp luật cho NSDLĐ cũng như cho cả NLĐ… Chức năng bảo vệ trực tiếp của
tổ chức đại diện NSDLĐ đặc biệt thể hiện rõ ở việc đại diện của tổ chức này là thành
viên của Hội đồng trọng tài lao động để trực tiếp tham gia vào việc giải quyết tranh
chấp lao động. Theo đó, tổ chức đại diện NSDLĐ luôn đồng hành cùng các doanh
nghiệp trên con đường phát triển của họ, hỗ trợ và bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp
một cách kịp thời và hiệu quả nhất.


11

Thứ ba, vai trò của đại diện NSDLĐ còn thể hiện ở sự liên kết giữa các thành
viên và liên kết với các chủ thể khác. Cụ thể:
Một là, quan hệ giữa tổ chức đại diện NSDLĐ với tổ chức đại diện NLĐ. Đây
là sự liên kết bên ngoài của tổ chức đại diện NSDLĐ. Mối quan hệ hai bên thể hiện
rõ nét nhất là cùng nhau xây dựng các thỏa thuận khung hay các thỏa thuận chi tiết
về các vấn đề của QHLĐ ở việc hợp tác xây dựng các thỏa ước lao động tập thể
ngành, tiêu chuẩn lao động và các điều kiện lao động. Bên cạnh đó, hai bên còn phối
hợp với nhau nhằm chia sẻ kinh nghiệm, giải quyết các vấn đề phát sinh trong
QHLĐ 7. Trong quan hệ này, nếu không có Nhà nước làm trung gian hoặc sự can
thiệp của Nhà nước, phía NLĐ đương nhiên sẽ chịu nhiều bất lợi khi mọi quyền lực
kinh tế đều do NSDLĐ nắm giữ. Nếu giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai chủ thể này
đồng thời với sự can thiệp của Nhà nước làm giảm bớt sự bất đồng, bất bình đẳng sẽ
góp phần tạo dựng môi trường lao động công khai, minh bạch, ổn định.
Hai là, quan hệ giữa tổ chức đại diện NSDLĐ với Nhà nước. Nhà nước luôn
là chủ thể đặc biệt trong những mối quan hệ cùng với đặc điểm và quyền năng riêng.
Ở Việt Nam, quy định về tổ chức đại diện NSDLĐ là bước đột phá lớn không chỉ
trong pháp luật mà còn trong cả nhận thức xã hội dù vẫn bó hẹp vai trò của tổ chức
này trong QHLĐ. Tổ chức đại diện NSDLĐ ra đời trong bối cảnh đang ở thế mạnh
về quyền quản lý lao động lại có vị trí yếu thế trong mối quan hệ không chỉ đối với
Nhà nước mà cả trong mối quan hệ với tổ chức đại diện NLĐ do không được công
nhận là một bộ phận trong hệ thống chính trị quốc gia.
Tuy nhiên, sự liên kết cao nhất, có vai trò quan trọng nhất là việc tổ chức
NSDLĐ, tổ chức đại diện tập thể lao động và Nhà nước kết hợp trong cơ chế ba bên
nhằm xúc tiến các hoạt động vì một môi trường lao động văn minh, hiệu quả, xây
dựng và duy trì mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định.
Ba là, sự liên kết giữa các tổ chức đại diện NSDLĐ trong việc đại diện, bảo vệ
và cung cấp các dịch vụ cho thành viên của tổ chức này. Bất kỳ tổ chức nào được
thành lập đều nhằm mục đích đại diện bảo vệ thành viên tham gia tổ chức của mình.
Mối quan hệ giữa tổ chức đại diện NSDLĐ trong việc đại diện, bảo vệ và cung cấp
các dịch vụ cho thành viên của tổ chức này là sự liên kết bên trong; sự liên kết này
được tiến hành và duy trì, phát triển giữa các thành viên đại diện sử dụng lao động.
Kiểu liên kết này tạo nên nội lực và bản sắc riêng của tổ chức đại diện NSDLĐ8.
7
8

Lưu Bình Nhưỡng, “Tổ chức đại diện người sử dụng lao động”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 97/2007.
Lưu Bình Nhưỡng, “Tổ chức đại diện người sử dụng lao động”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 97/2007.


12

Việc liên kết phải đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện trong việc thể hiện
quan điểm, chính kiến. Tổ chức đại diện NSDLĐ có quyền tự tổ chức, tập hợp, bảo
vệ các tài sản của tổ chức. Quyền tự do liên kết xuất phát từ quyền tự do của con
người. Vì vậy tất cả sự độc đoán, chuyên quyền hoặc xâm hại với mục đích hạn chế
quyền tự do liên kết cần được loại bỏ.
Bốn là, về đối ngoại. Tổ chức đại diện NSDLĐ thay mặt giới sử dụng lao
động ở Việt Nam để tham gia các hội nghị của Tổ chức lao động quốc tế, bao gồm
việc báo cáo tình hình hoạt động trọng nước và tham gia xây dựng đóng góp ý kiến.
Ngoài ra, đây cũng là chủ thể chính tham gia các cuộc hội thảo của tổ chức giới sử
dụng lao động như: tổ chức giới chủ thế giới, tổ chức giới chủ khu vực Đông Nam Á,
Liên minh Hợp tác xã quốc tế, Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa thế giới…
Chức năng của một tổ chức là lý do dẫn tới sự ra đời, tồn tại và duy trì hoạt
động của tổ chức đó. Từ chức năng, các nhiệm vụ sẽ được cụ thể hóa và cơ cấu tổ
chức cũng sẽ dần được hình thành để phù hợp với việc thực hiện chức năng đó.
1.1.3. Các loại đại diện người sử dụng lao động
Theo quy định của pháp luật quốc tế, có các loại đại diện NSDLĐ chủ yếu:
- Thứ nhất, căn cứ vào tính chất của loại đại diện người sử dụng lao động có
thể chia ra các loại :
Một là, đại diện người sử dụng lao động trực tiếp.
Đây là hình thức, loại đại diện NSDLĐ do tổ chức hoặc người được bầu, cử ra
thay mặt NSDLĐ can thiệp ý chí trực tiếp với các chủ thể hữu quan (cơ quan nhà
nước, tổ chức đại diện NLĐ) thông qua đó, các quyền và lợi ích chính đáng của
NSDLĐ được bảo vệ một cách tối ưu.
Hai là, đại diện người sử dụng lao động gián tiếp.
Đây là hình thức, loại đại diện do tổ chức hoặc người được bầu, cử ra thay
mặt người sử dụng lao động can thiệp ý chí một cách gián tiếp với các chủ thể hữu
quan (nhà nước, người lao động) nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của
NSDLĐ. Hình thức đại diện gián tiếp thể hiện qua việc tham gia đóng góp ý kiến xây
dựng chính sách, pháp luật lao động.
Đại diện NLĐ, tổ chức đại diện NSDLĐ tham gia cùng với cơ quan nhà nước
xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các


13

quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động, người sử dụng lao động9.
- Thứ hai, căn cứ vào cấp độ và phạm vi đại diện người sử dụng lao động có
thể chia làm các loại:
Một là, đại diện người sử dụng lao động cấp quốc tế.
Đại diện NSDLĐ cấp quốc tế được xem là loại đại diện có cấp độ cao nhất
trong các cấp độ đại diện lao động, được thành lập trên cơ sở sự liên kết của các tổ
chức đại diện NSDLĐ các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, độc lập, cùng phấn đấu cho
mục tiêu chung. Đại diện NSDLĐ ở cấp quốc tế có phạm vi ảnh hưởng đến đại diện
các quốc gia là thành viên và tổ chức đại diện của các quốc gia khác trên toàn thế
giới; không chịu sự chi phối, ràng buộc bởi các thiết chế chính trị cũng như sự can
thiệp của các đảng phái chính trị. Đại diện NSDLĐ cấp quốc tế hoạt động hướng đến
việc bảo vệ quyền lợi của cộng đồng NSDLĐ, định hướng trong việc thúc đẩy quan
hệ lao động hài hòa, bền vững, hợp tác, đối thoại cùng phát triển. Tổ chức quốc tế
của NSDLĐ (IOE) là mạng lưới lớn nhất của khu vực tư nhân trên thế giới, với hơn
150 tổ chức kinh doanh và tổ chức đại diện sử dụng lao động. Trong cuộc hội thảo về
chính sách xã hội và lao động đang diễn ra tại ILO, Liên Hợp quốc, hệ thống đa
phương và các quy trình kết nối khác, IOE có tiếng nói được công nhận trong kinh
doanh10.
Hai là, đại diện người sử dụng lao động cấp quốc gia.
Đây là loại đại diện NSDLĐ do nhà nước thừa nhận, quy định hoặc do tổ chức
NSDLĐ hiệp thương cử ra. Phạm vi đại diện NSDLĐ cấp quốc gia có quy mô và tầm
ảnh hưởng sâu rộng đến các loại đại diện NSDLĐ khác đặc biệt là đại diện NSDLĐ
cấp vùng, ngành. Hầu hết các quốc gia đều thành lập tổ chức đại diện NSDLĐ cấp
quốc gia. Tổ chức đại diện NSDLĐ thay mặt NSDLĐ thể hiện ý chí của mình trong
việc tham gia vào các lĩnh vực xây dựng chính sách, pháp luật về lao động. Ngoài ra,
tổ chức đại diện NSDLĐ tham gia vào diễn đàn của ILO, báo cáo thực hiện các công
ước của đã được phê chuẩn.
Ba là, đại diện người sử dụng lao động cấp vùng, ngành.
Đây được xem là loại đại diện NSDLĐ mang tính chất nghề nghiệp, địa
phương với chức năng bảo vệ quyền và lợi ích của NSDLĐ trong một lĩnh vực ngành
nghề cụ thể hoặc phạm vi khu vực, địa phương cụ thể. Loại đại diện này là sự thống
9

Khoản 2 Điều 7 BLLĐ năm 2012
http://ioe-emp.org/

10


14

nhất về lợi ích, quyền lợi của những NSDLĐ trong cùng một ngành nghề hoặc một
khu vực nhất định. Mức độ ảnh hưởng từ phía nhà nước hay đại diện lao động đến
loại đại diện NSDLĐ này không cao. Loại đại diện NSDLĐ này không bao phủ,
thống nhất giữa những ngành nghề còn lại cũng như không có vai trò ảnh hưởng lớn,
trực tiếp đến loại đại diện NSDLĐ cấp đơn vị sử dụng lao động.
Bốn là, đại diện người sử dụng lao động cấp đơn vị sử dụng lao động.
Đây là loại đại diện NSDLĐ tại đơn vị sử dụng lao động chủ yếu là doanh
nghiệp mà tổ chức đại diện tham gia với NLĐ trong phạm vi doanh nghiệp để bảo vệ
quyền lợi cho doanh nghiệp.
1.2. Pháp luật về đại diện ngƣời sử dụng lao động
1.2.1. Khái niệm pháp luật đại diện người sử dụng lao động
Trên thực tế đã xảy ra trường hợp có sự nhầm lẫn rằng nếu có tổ chức đại diện
cho người lao động thì dứt khoát phải có tổ chức đại diện cho người sử dụng lao
động tương ứng và vai trò của hai tổ chức này quan trọng như nhau. Vấn đề không
hoàn toàn như vậy vì QHLĐ được đề cập ở đây là QHLĐ tập thể. Khi NLĐ liên kết
lại và cử ra đại diện của mình thì đại diện đó được gọi là đại diện của NLĐ mà hầu
hết các nước gọi đó là tổ chức công đoàn. Nếu không có tổ chức đại diện của NLĐ
thì không tồn tại QHLĐ tập thể, mà chỉ có một tập hợp của các QHLĐ cá nhân. Còn
nếu không có tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động thì vẫn tồn tại QHLĐ tập
thể, ít nhất là ở cấp doanh nghiệp.
Khi QHLĐ vượt qua ranh giới của một doanh nghiệp thì khi đó giới chủ mới
có nhu cầu liên kết và hình thành nên tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động.
Như vậy, để có sự vận hành bình thường của QHLĐ tập thể, dứt khoát phải có tổ
chức đại diện cho người lao động. Còn sự cần thiết của tổ chức đại diện cho người sử
dụng lao động chỉ ở mức độ vừa phải, không phải tiên quyết. Chính vì vậy, luật
QHLĐ của một số nước thậm chí chỉ có quy định về công đoàn mà không có quy
định về tổ chức người sử dụng lao động. Nhiều nước nhập Luật Công đoàn và Luật
QHLĐ làm một.
Ở Việt Nam, bên cạnh các tổ chức đại diện cho NSDLĐ, Việt Nam còn tồn tại
các hiệp hội như Hiệp hội doanh nghiệp thành phố Hà Nội, Hiệp hội doanh nghiệp
dược, Hiệp hội cao su Việt Nam… các tổ chức này có vai trò: một là đại diện cho
giới chủ trong việc đề xuất, tham gia ý kiến vào chính sách, pháp luật với các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền nhưng chủ yếu là liên quan đến yếu tố quyền kinh
doanh, thuế, hải quan, xuất nhập khẩu…); hai là, hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên thúc


15

đẩy và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp và NSDLĐ,
xúc tiến và hỗ trợ các hoạt động thương mại, hợp tác, đầu tư khoa học – công nghệ
và các hoạt động kinh doanh khác của các thành viên.
Trên thực tế, việc thành lập hay công nhận sự hiện diện của tổ chức đại diện
NSDLĐ ở các quốc gia có sự khác nhau. Đa số các quốc gia tôn trọng quyền tự do
thành lập và gia nhập tổ chức này của NSDLĐ nhưng cũng có không ít quốc gia chỉ
định tổ chức đại diện. Đồng thời, tên gọi của tổ chức này ở các quốc gia cũng có sự
khác nhau như: Liên đoàn sử dụng lao động Jamaica (JEF); Liên minh các nhà công
nghiệp và doanh nhân Nga (RSPP); Liên đoàn công nghiệp Anh (CBI); Hội đồng sử
dụng lao động Canada (CEC); Phòng thương mại và công nghiệp Australia (ACCI);
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI); Liên đoàn các nhà tuyển dụng
Thái Lan (ECOT)11…
Pháp luật quốc tế quy định về đại diện NSDLĐ được đề cập trong giới hạn
các văn bản của ILO vì đây là một tổ chức thành lập với mục đích cơ bản là giải
quyết các vấn đề lao động phát sinh ở các quốc gia trong mối tương quan với sự phát
triển toàn cầu, một trong những vấn đề quan trọng hướng tới là vấn đề lao động và
công bằng xã hội. Theo đó, pháp luật về đại diện NSDLĐ có thể được hiểu là một
chế định trong hệ thống pháp luật quốc tế bao gồm các quy phạm pháp luật ghi nhận
quyền của NSDLĐ tông qua ý chí của mình tham gia thành lập và gia nhập vào tổ
chức đại diện NSDLĐ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ.
Tổ chức lao động quốc tế là cơ quan liên Chính phủ nhưng thành phần của các
nước thành viên tham gia bao gồm đại diện của cả ba bên: đại diện cho Chính phủ,
đại diện cho giới người lao động, đại diện cho giới sử dụng lao động.
Đại diện NSDLĐ là một vấn đề đang dần được quan tâm và chú trọng hơn
trong quan hệ lao động, trong mối quan hệ hai bên cũng như ba bên. Hiệu quả của
đại diện NSDLĐ chính là mức độ tham gia của tổ chức đại diện đối với NLĐ cũng
như đối với nhà nước để bảo vệ quyền lợi cho NSDLĐ. Mức độ tham gia được pháp
luật về đại diện NSDLĐ quy định và đảm bảo thực hiện trên thực tế.
Như vậy, pháp luật về đại diện NSDLĐ là một chế định trong hệ thống pháp
luật quốc tế hoặc trong từng quốc gia nhất định, bao gồm các quy phạm pháp luật do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động, quyền và nghĩa vụ cũng như việc quy
định về các điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động của tổ chức đại diện NSDLĐ.
11

http://www.ioe-emp.org/ioe-members/


16

1.2.2. Nguyên tắc của pháp luật về đại diện người sử dụng lao động
Các nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cơ bản có
tính định hướng cho hoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật cho toàn bộ
cơ chế điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội cụ thể, có tính chất xuất phát điểm, thể
hiện tính toàn diện, linh hoạt, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật.
Nguyên tắc pháp luật là nền tảng của hệ thống pháp luật. Một hệ thống pháp
luật từ đơn giản đến phức tạp đều được thiết lập dựa trên hệ thống các nguyên tắc
pháp luật. Do đó, nguyên tắc pháp luật như hệ thống giá đỡ cho toàn bộ hệ thống
pháp luật. Trong hệ thống pháp luật luôn tồn tại những nguyên tắc pháp luật.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật gồm: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân; nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo; bảo đảm sự
thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ của các bên; nguyên tắc công bằng12.
Từ đó có thể thấy nguyên tắc pháp luật về đại diện NSDLĐ là những quan
điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ quá trình xây dựng, thực hiện
pháp luật về thành lập và tổ chức đại diện NSDLĐ, pháp luật về địa vị pháp lý của tổ
chức đại diện NSDLĐ và pháp luật về bảo đảm pháp lý cho tổ chức đại diện
NSDLĐ.
Là một bộ phận của pháp luật lao động, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
về đại diện NSDLĐ phải thể hiện đường lối của Đảng và Nhà nước, bảo vệ quyền lợi
hợp pháp chính đáng cho người lao động, người sử dụng lao động, xây dựng quan hệ
lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ (khoản 2 Điều 7 BLLĐ năm 2012).
Với tư cách là một bộ phận của pháp luật lao động, pháp luật về đại diện
NSDLĐ cũng sử dụng những nguyên tắc của luật lao động bao gồm nguyên tắc định
hướng (nguyên tắc kinh tế, nguyên tắc chính trị; nguyên tắc xã hội; nguyên tắc pháp
chế; nguyên tắc tư tưởng văn hóa) và những nguyên tắc đặc thù (nguyên tắc nhà
nước quản lý thống nhất các quan hệ lao động và quan hệ liên quan đến quan hệ lao
động; nguyên tắc bảo vệ người lao động, nguyên tắc bảo vệ người sử dụng lao động;
nguyên tắc kết hợp chính sách kinh tế và chính sách xã hội).
Trong phạm vi điều chỉnh của mình, pháp luật về đại diện NSDLĐ có những
nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, nguyên tắc đảm bảo tính tự nguyện.

12

GS.TS. Đinh Văn Mậu, GS.TS. Phạm Hồng Thái, GS.TS. Nguyễn Hữu Khiển (Chủ biên), Nhà nước và
pháp luật, Phần I (2011), Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr.90-94.


17

Tổ chức đại diện NSDLĐ là tổ chức xã hội, mang tính quần chúng, bày tỏ
khách quan ý chí của các thành viên tham gia tổ chức vì thế nó hoàn toàn được ra đời
trên cơ sở tự nguyện.
NSDLĐ được tự do ý chí và tự quyết trong việc gia nhập và hoạt động của tổ
chức đại diện NSDLĐ. NSDLĐ thông qua tổ chức đại diện của mình để phản ánh
tâm tự nguyện vọng của mình khi tham gia vào quan hệ lao động. NSDLĐ không bị
bất kỳ chủ thể nào ép buộc gai nhập vào một tổ chức đại diện NSDLĐ cụ thể nào.
Hai là, nguyên tắc bảo đảm tính độc lập.
Là tổ chức xã hội nên tổ chức đại diện NSDLĐ mang nguyên tắc xã hội, độc
lập với nhà nước, độc lập với bất kỳ tổ chức xã hội nào khác. Đại diện NSDLĐ là
một bên trong QHLĐ nên nó phải độc lập với nhà nước, độc lập với NLĐ. Nó phải
độc lập, phải vững mạnh thì mới đủ khả năng bảo vệ thành viên của tổ chức mình.
Điều này thể hiện ở việc tổ chức đại diện NSDLĐ có quyền thiết lập điều lệ
riêng của tổ chức mình quy định về các nguyên tắc, hoạt động riêng. Tổ chức đại
diện NSDLĐ không chịu bất kỳ sự chi phối hay can thiệp nào từ các tổ chức nào
cũng như các thiết chế khác trong hệ thống chính trị. Các bên có liên quan hợp tác,
phối hợp nhau cùng vì mục tiêu chung trong việc đảm bảo và cân bằng lợi ích.
1.2.3. Nội dung pháp luật về đại diện người sử dụng lao động
Xuất phát từ vai trò của đại diện NSDLĐ, nhiều quốc gia trên thế giới đã quy
định và thừa nhận tổ chức đại diện NSDLĐ. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội của từng nước khác nhau nên đã có những quy định khác nhau. Song điểm
chung về pháp luật đại diện NSDLĐ các nước trên thế giới đều chú trọng và hướng
đến các vấn đề về việc thành lập tổ chức đại diện, quyền và nghĩa vụ của các bên,
bảo đảm hoạt động của tổ chức đại diện NSDLĐ.
1.2.3.1. Thành lập tổ chức đại diện người sử dụng lao động
NSDLĐ có quyền tự do liên kết thành lập tổ chức đại diện NSDLĐ của mình.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tôn trọng và thừa nhận nguyên tắc độc lập,
bình đẳng trong quá trình hoạt động.
Một là, quyền thành lập tổ chức đại diện NSDLĐ mang tính tự do, tự nguyện.
Việc tham gia tổ chức đại diện hay không do NSDLĐ tự quyết định. Đây được xem
là yếu tố cơ bản góp phần thực thi quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và các loại
quyền khác. Thừa nhận quyền tự do lập hội là một loại quyền của tất cả mọi người và
được pháp luật công nhận.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×