Tải bản đầy đủ

Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

BÙI THANH HƢƠNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

BÙI THANH HƢƠNG


PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Thị Hằng

HÀ NỘI – NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Bùi Thanh Hƣơng


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHXH

Bảo hiểm xã hội

BLLĐ

Bộ luật lao động

NLĐ

Người lao động

NSDLĐ



Người sử dụng lao động


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƢƠNG 1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT
BUỘC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC .............. 6
1.1.Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc.................................................... 6
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc ................................................ 6
1.1.2.Ý nghĩa của bảo hiểm xã hội bắt buộc............................................... 9
1.2. Khái niệm và nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ............ 11
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ......................... 11
1.2.2. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ........................... 11
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 29
CHƢƠNG 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 30
2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ...................................... 30
2.2. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc .............................................................. 32
2.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc ................................................... 34
2.3.1. Chế độ bảo hiểm ốm đau ................................................................ 34
2.3.2. Chế độ bảo hiểm thai sản ............................................................... 39
2.3.3. Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ................... 46
2.3.4. Chế độ bảo hiểm hưu trí ................................................................. 54
2.3.5. Chế độ bảo hiểm tử tuất .................................................................. 62
2.4. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc . 65
2.4.1. Xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................... 65
2.4.2. Giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc ....................... 68
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 72


CHƢƠNG 3.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC Ở VIỆT NAM .......................................................................... 73
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam
...................................................................................................................... 73
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam ............................. 76
3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ........ 76
3.2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
bảo hiểm xã hội bắt buộc .......................................................................... 81
Kết luận chƣơng 3 ......................................................................................... 86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề an sinh xã hội được xem là một trong những nền tảng vững
chắc cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới.
Với tư cách là một trụ cột trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm
xã hội thực sự đã trở thành một công cụ đắc lực và hiệu quả giúp cho Nhà
nước điều tiết xã hội trong nền kinh tế thị trường, gắn kết giữa phát triển kinh
tế với thực hiện công bằng, tiến bộ và phát triển xã hội bền vững.
Tại Việt Nam, bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước ta, luôn được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và Hiến pháp qua
các thời kỳ. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động thông
quan việc mở rộng độ bao phủ và nâng cao hiệu quả của chính sách bảo hiểm
xã hội bắt buộc nhằm phát huy đầy đủ vai trò trụ cột của bảo hiểm xã hội, góp
phần quan trọng không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn nhằm mục tiêu ổn
định xã hội và an sinh cho mọi người dân. Những nội dung này đã được cụ
thể hóa tại Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành
Trung ương khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 –
2020. Nghị quyết này nêu rõ: “Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn
diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân
cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng và với
mục tiêu Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham
gia bảo hiểm xã hội”. Tiếp đó, tại Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày
22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 tiếp tục khẳng
định và đặt ra mục tiêu “Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo
hiểm xã hội”.
Để tổ chức thực hiện các chính sách này, ngày 20/11/2014 Quốc hội đã
thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2104, có hiệu lực thi hành từ ngày


2

1/1/2016 thay thế Luật bảo hiểm xã hội năm 2006. Có thể nói, Luật Bảo hiểm
xã hội năm 2014 ra đời đã khắc phục được nhiều điểm bất cập trong Luật Bảo
hiểm xã hội năm 2006, đặc biệt, sự thay đổi quy định trong các chế độ trợ cấp
của bảo hiểm xã hội bắt buộc được nhiều chuyên gia đánh giá là sự thay đổi
có lợi cho người lao động. Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện dù chưa
thật dài, bên cạnh những thành tựu đã đạt được không thể phủ nhận, một số
quy định pháp luật hiện hành đã bộc lộ hạn chế, bất cập.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở
Việt Nam để từ đó hoàn thiện các chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt
buộc là hết sức thiết thực và cần thiết. Xuất phát từ nhận thức về nhu cầu nói
trên, với mong muốn đóng góp một phần công sức của bản thân vào việc đánh
giá thực trạng pháp luật, đưa ra một số giải pháp thực hiện đối với bảo hiểm
xã hội bắt buộc ở Việt Nam hiện nay, được sự giúp đỡ tận tình của các thầy,
cô giáo và bạn bè, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về bảo hiểm xã hội
bắt buộc ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh nước ta đang tiến hành một loạt
các biện pháp an sinh xã hội nhằm đảm bảo đời sống của người lao động. Một
số công trình nghiên cứu điển hình có liên quan đến bảo hiểm xã hội bắt buộc
như sau:
- Đề tài nghiên cứu khoa học: Vụ Bảo hiểm xã hội (2010), Cơ sở lý
luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc giai
đoạn đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ; TS.
Nguyễn Hiền Phương (Chủ nhiệm đề tài, 2015), Bình luận khoa học
một số quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Đề tài nghiên cứu
khao học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ: Phạm Lan Hương (2012) “Pháp luật về bảo hiểm
xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”,


3

Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội; Lường Thanh
Huyền (2016) “Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn
thực hiện tại tỉnh Sơn La”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật
Hà Nội.
- Bài tạp chí: Đặng Như Lợi, Cải cách Luật Bảo hiểm xã hội để mở
rộng bảo hiểm hưu trí đối với người cao tuổi, Tạp chí Lý luận chính
trị, số 12/2014; Trần Thị Thanh Huyền, Tiếp tục đổi mới nhận thức
về bảo hiểm xã hội, góp phần hoàn thiện chiến lược an sinh xã hội,
Tạp chí Cộng sản, số 11/2012; PGS. TS. Nguyễn Hữu Chí và Ths.
Bùi Thị Kim Ngân, Một số bình luận pháp lý liên quan đến Đ. 60
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Tạp chí Luật học, số 6/2015.
Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đề cập ở mức độ khác
nhau pháp luật về bảo hiểm xã hội nói chung, hoặc một vài khía cạnh của
pháp luật bảo hiểm xã hội, hoặc về bảo hiểm xã hội bắt buộc với thực tiễn
thực hiện pháp luật trong phạm vi một địa phương nhất định, tùy theo mục
đích nghiên cứu của mỗi công trình. Với đề tài này tác giả sẽ tập trung đi sâu
vào nghiên cứu và phân tích nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về
bảo hiểm xã hội bắt buộc, có gắn với thực tiễn thực hiện chủ yếu từ những
năm gần đây để từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như thực
hiện hiệu quả chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc trên thực tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở các nghiên cứu về lý luận và các đánh
giá về nội dung quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm xã hội bắt buộc
cũng như thực tiễn thực hiện, luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện
pháp luật và tổ chức thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về bảo
hiểm xã hội bắt buộc trong thực tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài xác định
các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:


4

- Luận giải một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp
luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Phân tích và đánh giá nội dung quy định pháp luật bảo hiểm xã hội
bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam.
- Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Bảo hiểm xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội bắt
buộc nói riêng có thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau. Phù hợp với mã số và chuyên ngành luật, luận văn nghiên cứu bảo hiểm
xã hội bắt buộc dưới góc độ pháp lý.Phù hợp với mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu, luận văn chủ yếu tập trung vào các quy định pháp luật Việt Nam
hiện hành về bảo hiểm xã hội bắt buộc.Ngoài ra ở mức độ phù hợp, các quy
định pháp luật của một số nước cũng được đề cập để luận văn có độ rộng và
sâu cần thiết.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của
Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc và
quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế về bảo hiểm xã hội bắt buộc qua
một số Công ước quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
đặt ra, tác giả đã sử dụng một số các phương pháp khoa học trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, sử dụng tổng hợp các phương
pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó coi trọng phương pháp
thu thập thông tin, khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp, nhận xét thực
tiễn…


5

5. Những đóng góp mới của đề tài
. - Luận văn cũng đã phân tích được nội dung pháp luật về bảo hiểm xã
hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam hiện nay.
- Luận văn cũng đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy
định pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc; đồng thời đưa ra một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp
luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm xã
hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam.


6

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc
Để tồn tại và phát triển, trước hết con người phải lao động. Thông qua
lao động, con người tác động vào thế giới khách quan để tạo ra của cải vật
chất, tinh thần th a mãn nhu cầu của mình. Tuy nhiên, trong quá trình lao
động sản xuất, song song với những thuận lợi, con người thường gặp phải
những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công
việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh
hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào các trường hợp đó, các
nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi, trái lại, có nhu cầu
còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới. Bởi vậy, muốn tồn
tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách
giải quyết khác nhau. Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn
cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, người lao động
(NLĐ) phải được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội.
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy và xã hội phong kiến, những rủi ro,
khó khăn của mỗi người được cộng đồng san sẻ, giúp đỡ.Tuy nhiên, tùy thuộc
vào sự hảo tâm của cộng đồng mà sự giúp đỡ có thể có hoặc không, có thể
nhiều hoặc ít. Trong điều kiện kinh tế thị trường, đội ngũ người làm công ăn
lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động
làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau,
tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối
với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào
khác ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu


7

hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng
những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…);
đồng thời, đòi h i giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống
cho họ. Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau
và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì
bệnh tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp.Lúc đầu chỉ có giới
thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp
rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật.Đến cuối những năm 1880, bảo hiểm xã
hội (BHXH) đã mở ra hướng mới.Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ NLĐ
đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình
(cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét:
mọi người, không phân biệt già – trẻ, nam – nữ, lao động phổ thông – lao
động kỹ thuật, người khoẻ – người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp
vì mục đích chung.
Lịch sử hình thành và phát triển BHXH trên thế giới cho thấy, BHXH
là vấn đề của mỗi quốc gia, nó xuất hiện từ rất lâu và mầm mống của nó từ
thế kỉ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu
phát triển. Tuy nhiên, ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai với phạm vi
nh hẹp.
Hệ thống BHXH đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỉ XIX là
công trình của Chính phủ Đức dưới thời thủ tướng Bismark (1883 – 1889).
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin,
rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh
thế giới thứ hai, BHXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu
Á, châu Phi và vùng Caribê. BHXH dần dần đã trở thành một trụ cột cơ bản
của hệ thống An sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong
những quyền con người. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc
(10/12/1948) đã ghi nhận: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã
hội có quyền hưởng BHXH”. Công ước số 102 năm 1952 về an sinh xã hội


8

của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng khẳng định các nước phải tiến
hành BHXH cho NLĐ và gia đình họ. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều thực hiện chính sách BHXH và coi đó là một trong những chính sách
quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội.
Khi bàn về khái niệm BHXH, tùy vào góc độ nghiên cứu mà khái niệm
BHXH được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa BHXH là sự bảo đảm những quyền lợi
vật chất cho công nhân viên chức khi không làm việc vì ốm đau, sinh đẻ, già
yếu, bị tai nạn lao động1.
Theo Từ điển Giải thích từ ngữ Luật học thì BHXH là bảo hiểm cho
thu nhập của NLĐ trong một số trường hợp, do Nhà nước tổ chức quản lý2.
Đặc trưng cơ bản để phân biệt BHXH với các hình thức bảo hiểm khác là sự
kết hợp nghĩa vụ của người sử dụng lao động (NSDLĐ), việc thực hiện chính
sách bảo đảm xã hội của nhà nước với sự tương trợ cộng đồng giữa những
NLĐ để ổn định của họ và gia đình họ trong và sau quá trình lao động.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau,
BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông
qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về
kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây
ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết;
đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Như vậy, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc
mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp, tuổi già hoặc chết; gắn với quá trình tạo lập một quỹ tiền
tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia đóng góp và các nguồn thu

1

Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr.39.
Trường ĐH Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích từ ngữ Luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.8.

2


9

hợp pháp khác, nhằm đảm bảo an toàn cho đời sống của NLĐ và gia đình họ,
góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
BHXH thường được thực hiện dưới hai hình thức: BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện. Trong đó, BHXH bắt buộc là loại hình BHXH có tính chất
bắt buộc áp dụng đối với một số đối tượng là NLĐ và NSDLĐ. Những đối
tượng này dù muốn hay không muốn cũng bắt buộc phải tham gia BHXH.
BHXH bắt buộc do nhà nước tổ chức thực hiện, được áp dụng với phạm vi
đối tượng rộng; tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi quốc
gia quy định về đối tượng tham gia, các chế độ BHXH khác nhau.
Như vậy, có thể khái quát về BHXH bắt buộc như sau: BHXH bắt buộc
là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức, thực hiện, được bắt buộc áp dụng
đối với một số đối tượng là NLĐ và NSDLĐ theo quy định của pháp luật.
1.1.2.Ý nghĩa của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Đối với người lao động
BHXH bắt buộc giúp ổn định cuộc sống NLĐ, trợ giúp NLĐ khi gặp
rủi ro. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn
thiện quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một
cách thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi
ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho NLĐ vế cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh
hưởng không tốt cho cả cộng đồng.
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những NLĐ gặp phải rủi ro,
bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện
lao động thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ
một niềm tin vào tương lai.
Đối với người sử dụng lao động


10

Việc tham gia BHXH bắt buộc thể hiện trách nhiệm của NSDLĐ đối
với NLĐ. Khi NLĐ gặp phải những rủi ro nảy sinh trong quá trình lao động
như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, NSDLĐ đương nhiên phải có trách
nhiệm với NLĐ mà mình thuê mướn. Ngoài ra, NSDLĐ cũng cần chia sẻ
những rủi ro khác của NLĐ, sự chia sẻ này chính là nguồn động viên giúp
NLĐ an tâm vượt qua khó khăn.
Tham gia BHXH bắt buộc giúp NSDLĐ giảm bớt gánh nặng tài chính.
Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc đóng góp BHXH cho NLĐ có thể sẽ làm
tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng thực chất, về
lâu dài, phương thức BHXH đã chuyển giao trách nhiệm bảo vệ NLĐ khi gặp
rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho
chủ sử dụng lao động bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của
doanh nghiệp, yên tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Đối với xã hội
Quỹ BHXH là một nguồn tài chính độc lập ngoài ngân sách Nhà nước
do các bên tham gia BHXH đóng góp nhằm phân phối lại theo luật định cho
mọi thành viên khi bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra do tạm thời hay vĩnh
viễn mất khả năng lao động. Quỹ BHXH không những tác động tới quá trình
phát triển kinh tế của đất nước mà còn góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất
kinh doanh mới, việc làm mới cho NLĐ, từ đó giải quyết tình trạng thất
nghiệp, tăng thu nhập cho NLĐ … dưới nhiều hình thức khác nhau như hình
thức đầu tư phát triển phần "nhàn rỗi" của quỹ.
Như vậy, BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng
không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm ổn định đời sống kinh tế - xã hội và
góp phần làm vững chắc thể chế chính trị.


11

1.2. Khái niệm và nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Từ khi ra đời cho đến nay, BHXH vẫn là hình thức bảo vệ hữu hiệu
nhất được hầu hết các quốc gia trên thế giới tổ chức thực hiện. BHXH được
xác định như một quyền cơ bản của NLĐ và trở thành bộ phận quan trọng
trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội của các quốc gia.
Pháp luật về BHXH bắt buộc là tổng hợp các quy định của Nhà nước
điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và sử dụng
một quỹ tiền tệ tập trung, dựa trên sự đóng góp bắt buộc của NSDLĐ và
những NLĐ nhất định nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần cho
NLĐ và gia đình khi họ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập.
Các quốc gia đều xác định BHXH bắt buộc có vai trò vô cùng quan
trọng, song sự điều chỉnh pháp luật đối với BHXH bắt buộc ở các quốc gia
cũng có sự khác nhau nhất định, thậm chí ở một quốc gia trong những giai
đoạn phát triển khác nhau cũng khác nhau. Sự khác nhau này phụ thuộc vào
quan niệm về BHXH bắt buộc, mô hình BHXH bắt buộc, điều kiện kinh tếxã hội để thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều xác định đối tượng điều chỉnh của
pháp luật về BHXH bắt buộc là các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình
tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung, do sự đóng góp bắt buộc của
NSDLĐ và những NLĐ nhất định nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất và
tinh thần cho NLĐ và gia đình khi họ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập.
Ngoài ra, các quốc gia đều xác định nội dung cơ bản của pháp luật
BHXH bắt buộc bao gồm: đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc, các chế độ
BHXH bắt buộc và tài chính đảm bảo thực hiện trợ cấp BHXH bắt buộc.
1.2.2. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc


12

Xuất phát từ nhu cầu của NLĐ, NSDLĐ và nhà nước, BHXH ra đời
như một biện pháp hữu hiệu nhất bảo vệ NLĐ trước những biến cố về thu
nhập. Từ việc xác định BHXH là quyền của mọi NLĐ nên đối tượng áp dụng
BHXH được pháp luật hầu hết các quốc gia quy định chung là mọi NLĐ trong
xã hội, không có sự phân biệt theo tiêu chí nào. Tuy nhiên, trên thực tế do
điều kiện kinh tế, xã hội của các quốc gia khác nhau mà phạm vi đối tượng áp
dụng cụ thể lại có những giới hạn nhất định. Không một quốc gia nào ngay từ
đầu đã thiết lập được hệ thống BHXH cho mọi NLĐ trong xã hội mà đều bắt
đầu bằng một số nhóm đối tượng nhất định, rồi dần dần mở rộng phạm vi áp
dụng tiến tới bao quát toàn bộ NLĐ với các hình thức tham gia khác nhau như
bắt buộc, tự nguyện. Nhóm đối tượng mà pháp luật BHXH quốc gia thường
tiếp cận đầu tiên là NLĐ trong bộ máy nhà nước, NLĐ thuộc khu vực chính
thức (có quan hệ lao động) với ưu điểm dễ kiểm soát thu nhập và đơn giản
trong tổ chức quản lý, thực hiện. Song song với việc quy định phạm vi áp
dụng là NLĐ, pháp luật BHXH xác định rõ trách nhiệm của người sử dụng
với nghĩa vụ đóng góp cụ thể3.
Việc tham gia BHXH có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo thu nhập
cho NLĐ và gia đình họ. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải NLĐ và NSDLĐ
nào cũng tự giác tham gia BHXH. Mặt khác, để thực hiện BHXH một cách ổn
định, lâu dài, để đảm bảo nguồn thu của quỹ BHXH thì cần thiết phải quy
định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Đối tượng tham gia BHXH bắt
buộc là NLĐ và NSDLĐ mà theo quy định của pháp luật thì họ bắt buộc phải
tham gia BHXH dù muốn hay không. Việc tham gia của những đối tượng này
vừa là quyền nhưng cũng đồng thời là nghĩa vụ của họ. NLĐ và NSDLĐ
không thể th a thuận về việc có tham gia BHXH hay không cũng như thay
thế việc đóng BHXH bằng các hình thức khác.

3

TS. Nguyễn Hiền Phương (2010), Pháp luật an sinh xã hội những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Tư
Pháp, Hà Nội, Tr. 67-68.


13

Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia có những quy định
khác nhau về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Có quốc gia quy định đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc là những người tham gia quan hệ lao động
một cách thường xuyên, ổn định như Việt Nam. Bên cạnh đó, có một số quốc
gia lại quy định đối tượng tham gia không phụ thuộc vào quan hệ lao động
như pháp luật BHXH Đan Mạch có quy định mọi người dân được hưởng chế
độ bảo hiểm từ hệ thống chăm sóc sức kh e quốc gia, trợ cấp gia đình và trợ
cấp người già mà không phụ thuộc vào hoạt động nghề nghiệp. Hay như tại
Hà Lan, có hai loại hình BHXH là BHXH đối với những người làm công ăn
lương và BHXH quốc gia. BHXH của những người làm công ăn lương bảo
đảm chi phí duy nhất cho những người làm công ăn lương và những người
tương tự như vậy. Để được thụ hưởng chế độ BHXH này, phải có một hợp
đồng lao động, ít nhất giống như người làm công ăn lương. Đó là những
trường hợp học nghề, những NLĐ tại nhà hoặc trong các phân xưởng được
bảo hiểm. Những NLĐ thật sự độc lập không giống người làm công ăn lương
và công chức có chế độ riêng4.
1.2.2.2. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Để đảm bảo tài chính chi trả các chế độ BHXH bắt buộc, thường thiết
lập một quỹ BHXH.
Quỹ BHXH bắt buộc là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, nằm ngoài
ngân sách nhà nước.
Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.Tuy nhiên, một
trong những nguồn cơ bản là sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ. Về phía
NSDLĐ, sự đóng góp một phần BHXH cho NLĐ sẽ tránh được những thiệt
hại kinh tế do phải chi ra một khoàn tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ
mà mình thuê mướn và thể hiện trách nhiêm đối với NLĐ mà họ đang sử
dụng. Về phía NLĐ, sự đóng góp thể hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của
4

Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới,
Nbx. Tư pháp, Hà Nội, tr.408.


14

chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt
chẽ.
Tùy từng quốc gia mà mức đóng góp BHXH của người tham gia rất
khác nhau.Đa phần các quốc gia xác định trên cơ sở tỷ lệ với tiền lương
nhưng cũng có những quốc gia áp dụng mức đóng đồng đều trên cơ sở tiền
lương tối thiểu.Thông thường mức đóng của NLĐ thấp hơn NSDLĐ nhưng
cũng có quốc gia quy định tỷ lệ bằng nhau. Ở các nước như Đức, Hà Lan, Tây
Ban Nha các khoản phí đóng góp này cũng được chia đều cho cả NLĐ và
NSDLĐ. Đặc biệt ở Tây Ban Nha, đóng góp BHXH chiếm 70% tổng thu
nhập BHXH, trong đó các khoản đóng góp của NSDLĐ lớn gấp 5 lần khoản
đóng góp của NLĐ. Hay như ở Đan Mạch, từ ngày 01/01/1994 đã áp dụng
một loại phí xã hội bắt buộc đối với tất cả NLĐ hưởng lương hoặc không
hưởng lương.NSDLĐ đóng góp từ ngày 01/01/1997 là 0.3%.Vào năm 1995,
tỷ lệ đóng góp của NLĐ là 1.9% của lương gộp.Tỷ lệ này là 2.9% vào năm
1996 và tăng lên dần dần đến năm 1998 là 4.9%5.
Ngoài ra, quỹ BHXH còn có thể được hình thành bởi sự hỗ trợ của Nhà
nước, nguồn thu từ hoạt động kinh doanh của quỹ BHXH và các nguồn thu
hợp pháp khác.
Các khoản chi chủ yếu từ quỹ BHXH bắt buộc là các khoản trợ cấp và
các chế độ luật định khác cho người được BHXH bắt buộc. Khoản chi này chỉ
phụ thuộc vào điều kiện hưởng BHXH bắt buộc do pháp luật quy định, không
phụ thuộc vào khả năng của quỹ BHXH. Ngoài ra, còn có các chi phí quản lý
hệ thống và chi đầu tư tăng trưởng. Thông thường, chi phí quản lý hệ thống sẽ
tỷ lệ nghịch với trình độ quản lý ở mỗi nước và ngày càng giảm do trình độ
quản lý đạt được ngày càng cao. Tuy nhiên, để tránh lạm dụng, trong từng
thời kỳ, Nhà nước có thể quy định một mức trần chi quản lý, tương đương với
chất lượng dịch vụ BHXH, quy mô hệ thống và thời gian hoạt động.
5

Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới,
Nbx. Tư pháp, Hà Nội, tr.329.


15

Về tổ chức và quản lý quỹ BHXH, tùy thuộc vào mô hình tổ chức quỹ
BHXH mà các quốc gia quy định việc quản lý quỹ BHXH. Do điều kiện kinh
tế – xã hội và chính trị của mỗi nước khác nhau nên hệ thống BHXH của các
nước được xây dựng khác nhau và vì vậy không có mô hình tổ chức BHXH
chung cho tất cả các nước. Thông thường các quốc gia thiết lập hệ thống các
cơ quan từ trung ương đến địa phương để quản lý quỹ BHXH.Có một số nước
lại giao cho một bộ nào đó đảm nhận cả chức năng quản lý Nhà nước về
BHXH và tổ chức thực hiện các nghiệp vụ BHXH.
1.2.2.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Về nguyên tắc, BHXH phải đảm bảo an toàn kinh tế cho mọi NLĐ
trong mọi trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động. Tuy nhiên, tùy theo
điều kiện kinh tế-xã hội của từng quốc gia trong từng giai đoạn mà các chế độ
BHXH được quy định khác nhau.
Theo Công ước số 102 ngày 25/6/1952 của ILO thì hệ thống BHXH
bao gồm 9 chế độ gồm: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp,
trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình,
trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp mất người nuôi dưỡng. Bên cạnh đó,
ILO cũng khuyến nghị mỗi quốc gia tham gia công ước có thể quy định các
chế độ bắt buộc khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, mỗi
quốc gia phải thực hiện ít nhất 3 chế độ và phải có một trong năm chế độ là
trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp; trợ cấp khi tàn phế và trợ cấp tiền tuất.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều quy định chế độ BHXH bắt buộc
gồm các chế độ là BHXH ốm đau; BHXH thai sản; BHXH tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp; BHXH hưu trí và chế độ tử tuất.
Mỗi chế độ được kết cấu bởi các yếu cố cơ bản như đối tượng hưởng
trợ cấp, điều kiện, mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp.Trong đó, đối tượng


16

hưởng trợ cấp là NLĐ, thân nhân của họ khi đảm bảo đủ các điều kiện hưởng
quy định với từng chế độ.
Trợ cấp BHXH bắt buộc là quyền lợi của người tham gia khi họ đáp
ứng yêu cầu hưởng, bao gồm: mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp. Mức
trợ cấp được chi trả bằng tiền một lần hoặc hàng tháng nhằm bù đắp hoặc thay
thế phần thu nhập bị giảm hoặc mất của NLĐ. Mức trợ cấp này thường được
xác định trên cơ sở tỷ lệ với tiền lương của NLĐ với mức tối đa và tối thiểu.
Thời gian hưởng trợ cấp có thể dài hoặc ngắn tùy thuộc vào mục đích
của từng loại trợ cấp, mức độ suy giảm khả năng lao động, mức đóng góp,
thời gian đóng góp của NLĐ.
Chế độ bảo hiểm ốm đau
Bảo hiểm ốm đau là một trong các chế độ BHXH ra đời sớm nhất trong
lịch sử hình thành và phát triển pháp luật và đây cũng là chế độ BHXH bắt
buộc có ý nghĩa to lớn đối với NLĐ, gia đình họ, NSDLĐ và toàn xã hội.
Điều 14 Công ước số 102 của ILO quy định chế độ trợ cấp ốm đau
được áp dụng đối với các trường hợp bị mất khả năng lao động do đau ốm
gây ra và dẫn đến gián đoạn thu nhập như pháp luật hoặc quy định quốc gia
quy định. Do đó, chế độ ốm đau được thiết kế chủ yếu để đảm bảo thu nhập
cho NLĐ tham gia BHXH phải tạm thời nghỉ việc do ốm đau hoặc tai nạn rủi
ro (mà không phải tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp).
Khi ốm đau, NLĐ và gia đình họ tạm thời mất đi một phần thu nhập từ
lao động, trong khi đó họ phải gánh chịu thêm rất nhiều chi phí khác để khám,
chữa bệnh. Vì vậy, bảo hiểm ốm đau sẽ hỗ trợ một phần chi phí chữa trị bệnh
tật cho NLĐ, duy trì cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình NLĐ. Từ
đó giúp ổn định thu nhập, ổn định đời sống cho NLĐ, tạo tâm lý yên tâm cho
NLĐ trong quá trình làm việc.
Đối với NSDLĐ, bảo hiểm ốm đau gắn trách nhiệm của NSDLĐ với
NLĐ khi sử dụng lao động. Khi thu nhập, đời sống của NLĐ được đảm bảo


17

thì họ sẽ thoải mái phát huy tinh thần sáng tạo, tăng năng suất lao động, góp
phần vào sự phát triển chung của doanh nghiệp.
Đối với Nhà nước, xã hội, bảo hiểm có ý nghĩa về mọi mặt chính trị,
kinh tế, xã hội.
Đối tượng áp dụng của chế độ bảo hiểm ốm đau là NLĐ tham gia
BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp NLĐ bị ốm
đau hay tai nạn rủi ro họ đều được hưởng bảo hiểm mà phải đáp ứng đầy đủ
các điều kiện luật định.
Bị ốm đau (không phải bệnh nghề nghiệp) được coi là điều kiện tiền đề
của chế độ bảo hiểm ốm đau, nhưng chỉ những trường hợp ốm đau mang tính
khách quan (không phải do lỗi của NLĐ) mới trở thành điều kiện hưởng bảo
hiểm ở chế độ bảo hiểm ốm đau. Còn những trường hợp NLĐ nghỉ việc do họ
tự hủy hoại sức kh e của mình, do say rượu, dùng các chất ma túy hay các
chất gây nghiện khác thì họ sẽ không được hưởng bảo hiểm ở chế độ này. Khi
NLĐ bị ốm đau hệ quả thường xảy ra là họ phải nghỉ việc để điều trị
bệnh.Đây cũng là điều kiện quan trọng để xác định nhu cầu bảo hiểm thực sự
của NLĐ đồng thời đảm bảo nguồn chi đúng mục đích và phát huy tác dụng
tích cực của quỹ BHXH.
Thời gian tối thiểu tham gia BHXH cũng là một điều kiện cần thiết để
một số quốc gia xác định đối tượng hưởng bảo hiểm ốm đau. Theo Điều 17
Công ước số 102 của ILO thì điều kiện này để tránh lạm dụng từ phía NLĐ,
gây ảnh hướng xấu đến tình hình tài chính của quỹ BHXH. Tuy nhiên, cũng
có một số quốc gia khác không coi đây là điều kiện để được hưởng trợ cấp,
chẳng hạn như Việt Nam.
Về thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau, Điều 18 Công ước số 102 của
ILO quy định những nguyên tắc chung của việc khống chế thời gian hưởng
bảo hiểm ốm đau của người tham gia bảo hiểm làm cơ sở cho các quốc gia
tham gia Công ước cụ thể hóa trong pháp luật quốc gia. Thời gian hưởng bảo


18

hiểm ốm đau thường được tính theo ngày làm việc của NLĐ. Tùy thuộc vào
điều kiện lao động, thời gian BHXH, tình trạng ốm đau của NLĐ, mục đích
bảo hiểm của Nhà nước và khả năng cân đối quỹ BHXH mà từng quốc gia sẽ
quy định khác nhau về thời gian hưởng bảo hiểm.
NLĐ bị ốm đau sẽ được hưởng trợ cấp ốm đau theo quy định pháp luật.
Trợ cấp ốm đau là khoản thay thế tiền lương của NLĐ bị mất trong thời gian
nghỉ việc để điều trị bệnh, do đó mức bảo hiểm cần được tính toán hợp lý
nhằm đảm bảo đời sống tối thiểu cho NLĐ. Đồng thời, cũng cần phải đảm
bảo cân đối giữa mức đóng góp và hưởng thụ của NLĐ, đảm bảo về sự công
bằng về quyền lợi giữa những NLĐ đang làm việc và NLĐ nghỉ việc hưởng
bảo hiểm, giữa người hưởng trong thời gian dài và người hưởng trong một
thời gian ngắn hơn… Trong những trường hợp nhất định cần áp dụng mức
bảo hiểm ưu tiên ở một mức độ hợp lý.Từ những cơ sở này mức bảo hiểm ốm
đau thông thường thấp hơn mức tiền lương của NLĐ khi làm việc.Trong
trường hợp đặc biệt có thể bằng 100% tiền lương.
Mức hưởng trợ cấp ốm đau được ILO đề xuất khiêm tốn cho các quốc
gia phê chuẩn Công ước số 102 bằng 45% tiền lương và thời gian hưởng từ
13 đến 26 tuần trong một năm tùy từng trường hợp ốm đau (Điều 67 Công
ước số 102). Trong Công ước số 130 năm 1960 về chăm sóc y tế và trợ cấp
ốm đau, đã ấn định mức 60% tiền lương và coi đây là quy chuẩn. Trong khu
vực, Thái Lan quy định bằng 50% tiền lương, tối đa 250 bath/ngày, Philippin
quy định bằng 90% tiền lương, Malaysia quy định bằng 80% tiền lương,
Trung Quốc quy định 60% đến 100% tiền lương tùy thuộc thời gian đóng bảo
hiểm6.
Bảo hiểm thai sản

6

Ts. Nguyễn Hiền Phương, (2010), Pháp luật an sinh xã hội những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Tư
Pháp, Hà Nội, Tr.71.


19

Trong xã hội, lao động nữ chiếm một tỷ lệ lớn trong lực lượng lao
động. Lao động nữ vừa tham gia lao động trong mọi ngành nghề, lĩnh vực của
xã hội vừa phải thực hiện thiên chức làm mẹ. Trong thời gian mang thai, sinh
đẻ, họ phải nghỉ việc trong một khoảng thời gian nhất định, sức kh e thì suy
giảm nên ảnh hưởng không nh đến đời sống của bản thân họ và gia đình. Vì
vậy, để bảo vệ NLĐ nói chung, lao động nữ và trẻ sơ sinh nói riêng, hầu hết
các quốc gia trên thế giới đều có chính sách về bảo hiểm thai sản. Tuy nhiên,
tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội mà mỗi quốc gia có quy định
khác nhau về chế độ bảo hiểm thai sản. Dù khác nhau về đối tượng hưởng,
thời gian nghỉ và mức trợ cấp nhưng pháp luật các nước đều giống nhau về
mục đích hướng tới của chế độ bảo hiểm thai sản là thông qua việc bù đắp
một phần chi phí tăng lên trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôi con sơ
sinh, thực hiện biện pháp tránh thai, bảo hiểm thai sản nhằm giữ cân bằng về
thu nhập, bảo vệ sức kh e của NLĐ và trẻ sơ sinh. Điều 47 Công ước số 102
của ILO quy định trường hợp phải bảo vệ NLĐ khi thai sản gồm thai nghén,
sinh đẻ, nuôi con, kể cả nuôi con nuôi sơ sinh và những hậu quả tiếp theo, sự
gián đoạn thu nhập nảy sinh như pháp luật hoặc quy định quốc gia quy định.
Bảo hiểm thai sản được coi là chế độ bảo hiểm đặc thù. Đối tượng của
bảo hiểm thai sản chủ yếu là nữ. Thông thường lao động nam chỉ hưởng chế
độ thai sản khi nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai. Tuy
nhiên, hiện nay, một số quốc gia quy định cả nam và nữ đều được hưởng chế
độ thai sản như nhau như Thụy Điển, Bulgaria. Đặc biệt, ở Bulgaria còn quy
định ông, bà cũng được nghỉ hưởng trợ cấp trong thời gian người mẹ mang
thai, trước và sau sinh nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con cháu trong gia
đình7.
Về điều kiện hưởng bảo hiểm thai sản, hầu hết các quốc gia đều quy
định thời gian tham gia BHXH tối thiểu trước khi sinh. Tùy từng quốc gia mà
thời gian này được quy định khác nhau như ở Nhật Bản, NLĐ phải làm việc
7

Trường ĐH Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, Tr.149


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×