Tải bản đầy đủ

Quản trị nội bộ trong công ty quản lý quỹ theo pháp luật việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THỊ NIỀM

QUẢN TRỊ NỘI BỘ TRONG CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Đình Vinh

HÀ NỘI - NĂM 2018



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi, không sao chép. Kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác. Các số liệu, ví dụ, trích dẫn
trong Luận văn đã được công bố, hoàn toàn chính xác và trung thực.
NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Niềm


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Luật Doanh nghiệp do Quốc hội ban hành : Luật Doanh nghiệp 2014
ngày 26/11/2014
Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày : Luật Chứng khoán
29/6/2006 của Quốc hội, được sửa đổi, bổ
sung bởi

Luật số 62/2010/QH12 ngày

24/11/2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật chứng khoán.
Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 : Nghị định quy định chi
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn

tiết và hướng dẫn thi hành

thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và

một số điều của Luật

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

Chứng khoán và Luật sửa

Chứng khoán, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị

đổi, bổ sung một số điều

định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/6/2015 của


của Luật Chứng khoán

Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 58/2012/NĐ-CP.
Nghị định 71/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 : Nghị định 71/2017/NĐcủa Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty

CP

đối với công ty đại chúng
Thông tư 212/2012/TT-BTC ngày 05/12/2012 : Thông tư 212/2012/TTcủa Bộ Tài chính hướng dẫn về thành lập, tổ

BTC

chức và hoạt động công ty quản lý quỹ
Quyết định 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/5/2007 : Quyết định 35/2007/QĐcủa Bộ Tài chính về Quy chế tổ chức và hoạt

BTC

động của công ty quản lý quỹ
Thông tư 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 : Thông tư 155/2015/TT-


của Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin

BTC

trên thị trường chứng khoán
Công ty Quản lý Quỹ

CTQLQ

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên : Công ty TNHH Một thành
viên
Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Hai thành viên : Công ty TNHH Hai thành
trở lên

viên trở lên

Công ty cổ phần

: CTCP

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn

: Công ty TNHH

Đại hội đồng cổ đông

: ĐHĐCĐ

Hội đồng quản trị

: HĐQT

Ban Kiểm soát

: BKS

Giám đốc (Tổng Giám đốc)

: GĐ (TGĐ)

Hội đồng thành viên

: HĐTV


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ
CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ
CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ ........................................................................ 8
1.1.Những vấn đề lý luận về công ty quản lý quỹ ........................................... 8
1.1.1. Khái niệm ............................................................................................. 8
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của công ty quản lý quỹ ......................................... 10
1.1.3. Vai trò của công ty quản lý quỹ .......................................................... 14
1.2.Những vấn đề lý luận về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ ................. 20
1.2.1. Khái niệm quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ ................................... 20
1.2.2. Vai trò của quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ .................................. 21
1.2.3. Những yếu tố chi phối đến quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ .......... 24
1.3. Những vấn đề lý luận về pháp luật về quản trị nội bộ công ty quản lý
quỹ ..................................................................................................... 27
1.3.1. Khái niệm pháp luật về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ ............... 27
1.3.2. Vai trò của pháp luật về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ .............. 28
1.3.3. Nội dung pháp luật về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ ................. 29
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ
TẠI VIỆT NAM ......................................................................................... 32
2.1. Công ty quản lý quỹ theo loại hình công ty cổ phần .............................. 32
2.1.1. Quy định của pháp luật về Đại hội đồng cổ đông ............................... 32
2.1.2. Quy định của pháp luật về Hội đồng quản trị ...................................... 41
2.1.3. Quy định của pháp luật về Giám đốc (Tổng giám đốc) ....................... 47
2.1.4. Quy định của pháp luật về Ban kiểm soát ........................................... 50
2.2. Công ty quản lý quỹ theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn........... 53
2.2.1. Quy định của pháp luật về Hội đồng thành viên ................................. 53
2.2.2. Quy định của pháp luật về Giám đốc (Tổng Giám đốc) ...................... 57
2.2.3. Quy định của pháp luật về Ban kiểm soát ........................................... 62


CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ
TẠI VIỆT NAM ......................................................................................... 70
3.1.Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quản trị nội bộ công ty quản lý
quỹ tại Việt Nam .......................................................................................... 70
3.1.1. Thể chế hoá quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nhà đầu tư
chứng khoán chuyên nghiệp ......................................................................... 70
3.1.2. Xu hướng ngày càng phức tạp của thị trường chứng khoán ................ 72
3.1.3. Giúp thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành kênh huy động vốn
hữu hiệu ....................................................................................................... 73
3.1.4. Chuẩn bị các điều kiện để Việt Nam cùng với các nước thành viên
ASEAN tiến tới thành lập một thị trường vốn ASEAN ................................ 73
3.2.Quan điểm và định hướng của việc hoàn thiện pháp luật quản trị nội bộ
công ty quản lý quỹ tại Việt Nam ................................................................. 75
3.3.Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị nội bộ công ty
quản lý quỹ tại Việt Nam.............................................................................. 76
3.3.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về Ban kiểm soát ....... 76
3.3.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về Hội đồng quản trị.. 77
3.3.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định trong Luật Chứng khoán ........... 78
3.3.4. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về nguyên tắc quản trị
nội bộ công ty quản lý quỹ ........................................................................... 78
3.3.5. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vốn pháp định ....... 79
3.3.6. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về điều lệ mẫu ........... 79
3.3.7. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về bộ phận kiểm soát
nội bộ ........................................................................................................... 79
3.3.8. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về giám đốc công ty
quản lý quỹ................................................................................................... 80
3.3.9. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về nhân viên hành
nghề .................................................................................................. 80
3.3.10. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về công bố thông tin ..... 81
KẾT LUẬN ................................................................................................. 82


1

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và Luật

Chứng khoán sửa đổi năm 2010 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho
hoạt động của thị trường chứng khoán. Sự lớn mạnh của thị trường chứng
khoán đã tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các quỹ đầu tư chứng
khoán và các công ty quản lý quỹ.
Công ty quản lý quỹ là một định chế đầu tư chứng khoán chuyên
nghiệp với đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm. Đây là
một kênh quan trọng để thu hút nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán
và “bơm” trở lại cho các doanh nghiệp. Mặt khác, cũng thông qua kênh này,
các chủ thể có vốn nhàn rỗi nhưng không có điều kiện hoặc không muốn tham
gia đầu tư trực tiếp có thể thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán để làm cho
đồng vốn sinh lời. Bên cạnh đó, với mục tiêu đầu tư dài hạn và những ưu
điểm vượt trội về năng lực tài chính, các công ty quản lý quỹ cũng góp phần
bình ổn và dẫn dắt thị trường, tạo điều kiện để thị trường chứng khoán Việt
Nam phát triển, nhanh chóng trở thành một kênh huy động vốn trung và dài
hạn có hiệu quả cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, do các quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ có
tác động rất lớn đến thị trường chứng khoán, đặc biệt là nó liên quan chặt chẽ
đến quyền lợi của các cổ đông, nhà đầu tư. Do vậy, sự ra đời và hoạt động của
các định chế này phải được sự quản lý, giám sát chặt chẽ của pháp luật và các
cơ quan quản lý nhà nước. Bản thân tổ chức và hoạt động của các công ty
quản lý quỹ cũng phải được quản trị một cách minh bạch, khoa học, chặt chẽ
với những điều kiện hết sức nghiêm ngặt tương tự như với các công ty đại
chúng khác.


2

Với vai trò quan trọng như vậy, song hiện nay dưới góc độ pháp lý vẫn
chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến vấn đề quản trị
nội bộ của công ty quản lý quỹ. Từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Quản trị nội bộ trong công ty quản lý quỹ theo pháp luật Việt Nam” làm đề
tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Luật học của mình.
2.

Tình hình nghiên cứu đề tài
Mô hình quản trị doanh nghiệp nói chung, quản trị nội bộ công ty nói

riêng là lĩnh vực nghiên cứu luôn được các học giả quan tâm. Tại Việt Nam,
mặc dù đây là lĩnh vực còn khá mới, nhưng thời gian qua cũng đã có khá
nhiều công trình nghiên cứu, bài viết được công bố tập trung làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản trị công ty. Tiêu biểu
trong số đó phải kể đến các công trình sau:
-

Ngô Thị Hải Chiến (2014), Hoàn thiện pháp luật về Đại hội đồng cổ
đông công ty cổ phần, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội. Luận văn đã trình bày, phân tích, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý
luận về CTCP, ĐHĐCĐ CTCP và pháp luật về ĐHĐCĐ, thực trạng và
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐHĐCĐ CTCP;

-

Võ Đình Đức (2015), Những điểm mới về tổ chức, quản lý công ty theo
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp 2005, Luận
văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã trình
bày, phân tích những vấn đề lý luận chung về tổ chức quản lý công ty;
phân tích những điểm mới về tổ chức, quản lý công ty theo quy định của
Luật Doanh nghiệp năm 2014; từ đó đưa ra một số giải pháp kiến nghị
nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định mới về tổ chức, quản
lý công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 2014;

-

Nguyễn Trung Kiên (2016), Pháp luật về quản trị nội bộ công ty TNHH
hai thành viên trở lên và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La, Luận văn


3

Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn trình bày,
phân tích những vấn đề lý luận về quản trị Công ty TNHH hai thành viên
trở lên; phân tích thực trạng pháp luật về quản trị nội bộ Công ty TNHH
hai thành viên trở lên và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Sơn La; từ đó đề xuất
các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị nội bộ Công ty
TNHH hai thành viên trở lên.
-

Nguyễn Thị Hạnh (2016), Quản trị nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã trình bày, phân tích những
vấn đề lý luận về quản trị nội bộ công ty TNHH một thành viên; phân
tích thực trạng pháp luật Việt Nam về quản trị nội bộ Công ty TNHH
một thành viên, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả áp dụng chế định pháp luật này.

-

Phan Hoàng Ngọc (2016), “Bảo vệ quyền của cổ đông công ty cổ phần
theo Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (02),
tr. 25-31. Bài viết đã trình bày khái quát kết quả thực hiện Luật Doanh
nghiệp năm 2014, phân tích những điểm tích cực đồng thời chỉ ra những
tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong các quy định của Luật Doanh
nghiệp năm 2014 như: mô hình quản trị công ty; quy định pháp luật mới
bảo vệ quyền lợi của cổ đông...

-

Nguyễn Văn Cừ (2016), “Cơ chế ngăn ngừa khả năng lạm quyền của
Hội đồng quản trị và người quản lý trong công ty cổ phần theo Luật
Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề
môi trường pháp lý cho doanh nghiệp, tr171-175. Bài viết đã đi sâu phân
tích các hành vi lạm quyền của HĐQT và người quản lý công ty cổ phần,
cơ chế ngăn ngừa hành vi lạm quyền của HĐQT và người quản lý công


4

ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 và một số
kiến nghị của tác giả nhằm góp phần hoàn thiện chế định pháp luật này.
-

Lưu Thị Tuyết, Vũ Thị Thu Trang (2016), “Công ty trách nhiệm hữu hạn
- nhìn từ góc độ Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Thanh tra, (3),
tr23-25. Bài viết đã trình bày và phân tích các khía cạnh pháp lý liên
quan đến mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó có vấn đề quản
trị công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tác giả đã
chỉ ra được những quy định mới về công ty trách nhiệm hữu hạn theo
Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhằm phản ánh đúng tình hình thực tế,
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp, tạo môi trường kinh
doanh thuận lợi, thông thoáng cho các loại hình doanh nghiệp phát triển.

-

Nguyễn Như Chính (2016), “Đánh giá một số quy định mới trong Luật
Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Luật học, (1), tr. 3 – 10. Bài viết tập
trung phân tích, đánh giá một số quy định mới của Luật Doanh nghiệp
năm 2014 liên quan đến thủ tục thành lập doanh nghiệp, gia nhập thị
trường; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; tổ chức quản lý
nội bộ đối với công ty cổ phần và trách nhiệm tài sản của thành viên góp
vốn trong công ty hợp danh. Tác giả đã chỉ ra được những mặt tích cực
cũng như những hạn chế, bất cập trong các quy định nêu trên và gợi mở
một số giải pháp khắc phục.

-

Trần Ngọc Dũng (2016), “Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát hoạt
động quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp
năm 2014”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (5), tr. 45 - 49. Bài viết đã
phân tích và chỉ ra một số điểm hạn chế, bất cập trong các quy định về
cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành công ty cổ phần theo Luật
Doanh nghiệp năm 2014, từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm
khắc phục các hạn chế, bất cập nêu trên.


5

Tuy các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này tương đối phong phú
và đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến quản trị công ty,
đặc biệt là theo các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên,
phần lớn các công trình được liệt kê trên đây mới chỉ dừng lại ở việc nghiên
cứu mô hình quản trị công ty nói chung, chưa có một công trình nào nghiên
cứu chuyên sâu về mô hình công ty trong một lĩnh vực cụ thể như công ty
quản lý quỹ. Do vậy, việc nghiên cứu về quản trị nội bộ trong công ty quản lý
quỹ theo pháp luật Việt Nam vẫn là một đề tài mới và không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu đã được công bố.
3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các quan hệ phát sinh giữa các chủ

thể trong quá trình tổ chức, quản trị nội bộ của công ty quản lý quỹ và các vấn
đề pháp lý có liên quan theo quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là các quy định của Luật Doanh nghiệp
năm 2014, Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) và các
văn bản hướng dẫn thi hành về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ cũng như
các vấn đề pháp lý nảy sinh trong quá trình tổ chức, quản trị nội bộ công ty
quản lý quỹ ở Việt Nam trong thời gian qua.
4.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài
Nghiên cứu đề tài “Quản trị nội bộ trong công ty quản lý quỹ theo pháp

luật Việt Nam”, một mặt tác giả mong muốn trình bày một cách hệ thống
những vấn đề pháp lý về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ cũng như các quy
định pháp luật hiện hành về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ, qua đó giúp
cho người đọc có một cái nhìn tổng quan về mô hình quản lý, vận hành của
công ty quản lý quỹ. Mặt khác, tác giả muốn đi sâu phân tích, đánh giá những
ưu điểm và hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành về quản trị nội
bộ công ty quản lý quỹ, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp


6

luật hiện hành về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ. Việc nghiên cứu Đề tài
ngoài mục đích cung cấp những kiến thức cơ bản cho những người muốn tìm
hiểu về quản trị nội bộ của công ty quản lý quỹ, còn có mục đích làm sáng tỏ
thêm những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến mô hình quản trị công ty
quản lý quỹ, qua đó cung cấp nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho các nhà làm
luật, nhà quản lý và bản thân các công ty quản lý quỹ ở Việt Nam.
5.

Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử. Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình
nghiên cứu Đề tài để đưa ra những nhận định, những kết luận khoa học đảm
bảo tính khách quan, chân thực của các vấn đề nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, tùy thuộc vào từng vấn đề thuộc đối tượng
nghiên cứu mà Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau một
cách linh hoạt:
- Phương pháp phân tích; Phương pháp so sánh; Phương pháp lịch sử;
Phương pháp hệ thống được sử dụng thường xuyên khi nghiên cứu những vấn
đề lý luận về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ và pháp luật về quản trị nội
bộ công ty quản lý quỹ tại Chương I.
- Phương pháp tổng hợp; Phương pháp phân tích, đánh giá, đối chiếu
được sử dụng khi nghiên cứu và đánh giá pháp luật hiện hành về quản trị nội
bộ công ty quản lý quỹ tại Chương II.
- Phương pháp tổng hợp; Phương pháp diễn giải được sử dụng chủ yếu
khi nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị nội
bộ công ty quản lý quỹ ở Việt Nam tại Chương III.
6.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu

hệ thống pháp luật về công ty quản lý quỹ nói chung và pháp luật về quản trị


7

công ty quản lý quỹ ở Việt Nam nói riêng. Việc nghiên cứu Đề tài có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, Đề tài nghiên cứu một cách khái quát, toàn diện pháp luật về
quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ, những nội dung cơ bản và những quy
định đặc thù của pháp luật về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ ở Việt Nam;
chỉ ra những điểm hợp lý cũng như những bất cập của chế định pháp luật này.
Thứ hai, trên cơ sở phân tích, đánh giá pháp luật về quản trị nội bộ
công ty quản lý quỹ ở Việt Nam hiện nay, Tác giả đã đưa ra những giải pháp
kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định pháp luật quan trọng này.
7.

Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ

viết tắt và lời cam đoan, bố cục Luận văn được chia làm 03 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ
và pháp luật về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ.
Chương 2. Nội dung và thực trạng pháp luật hiện hành về quản trị nội
bộ công ty quản lý quỹ tại Việt Nam.
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị nội
bộ công ty quản lý quỹ tại Việt Nam.


8

CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ CÔNG TY
QUẢN LÝ QUỸ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ
CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ
1.1. Những vấn đề lý luận về công ty quản lý quỹ
1.1.1. Khái niệm
Tại Mỹ, CTQLQ được biết đến với thuật ngữ nhà tư vấn đầu tư
(investment adviser), tức là tổ chức tiến hành các dịch vụ tư vấn về giá trị
chứng khoán, về tính chất của khoản đầu tư và việc mua bán các chứng
khoán1. Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính dường như là các thuật ngữ tương
tự, nhưng ý nghĩa lại được phân biệt. Nếu như thuật ngữ tư vấn tài chính được
dùng để chỉ hoạt động môi giới chứng khoán nói chung thì thuật ngữ tư vấn
đầu tư lại được dùng để chỉ hoạt động của công ty quản lý trong lĩnh vực tư
vấn tài sản và quản lý danh mục đầu tư2.
Tại Anh, CTQLQ được hiểu là tổ chức tư vấn đầu tư, quản lý khoản
đầu tư hoặc thực hiện giao dịch cho danh mục đầu tư với tư cách là đại diện
theo ủy thác của khách hàng. Các hoạt động này được xem là hoạt động bị
điều chỉnh bởi pháp luật (regulated activities), và cũng chính vậy mà CTQLQ
phải xin được sự chấp thuận từ Cơ quan Thực thi Tài chính (Financial
Conduct Authority), là cơ quan giám sát hoạt động của các quỹ và CTQLQ3.
Tại Ireland, CTQLQ được tiếp cận theo đối tượng mà công ty đó quản
lý, theo đó có công ty quản lý quỹ UCITS và công ty quản lý quỹ đầu tư thay
thế (“AIFM”). Công ty quản lý quỹ UCITS được định nghĩa là loại hình công
1

Jason E Brown, Leigh R Fraser and John M Loder (2017), “The Asset Management Review –
Sixth Edition”, tại địa chỉ : http://thelawreviews.co.uk/digital_assets/71b9dc26-1215-46de-a7dfb43e2a382e1c/Asset-Management-6th-full-book.pdf, pp.421, truy cập ngày 11/12/2017
2
Financial Industry Regulatory Authority (2017), Investment Advisers, tại địa chỉ:
http://www.finra.org/investors/investment-advisers, truy cập ngày 11/12/2017
3
Paul Dickson (2017), “The Asset Management Review – Sixth Edition”, tại địa chỉ :
http://thelawreviews.co.uk/digital_assets/71b9dc26-1215-46de-a7df-b43e2a382e1c/AssetManagement-6th-full-book.pdf, pp.382, truy cập ngày 11/12/2017


9

ty có hoạt động quản lý các quỹ UCITS, cụ thể là hoạt động quản lý đầu tư,
quản trị quỹ và phân phối quỹ. Trong khi đó, công ty quản lý quỹ AIFM có
thể tiến hành tất cả những hoạt động nêu trên, nhưng điểm khác biệt là chúng
buộc phải tự tiến hành hoạt động quản lý đầu tư (bao gồm: quản lý danh mục
và quản trị rủi ro), mà không được uỷ quyền cho bất kỳ bên thứ ba nào4.
Tại Nhật Bản, CTQLQ được chia thành hai loại hình, tùy thuộc vào nhu
cầu quản lý của nhà đầu tư, trong đó: công ty quản lý quỹ chủ động là loại
công ty được nhà đầu tư uỷ thác toàn bộ quyền quản lý khoản đầu tư, trong
khi đó công ty quản lý quỹ theo chỉ định là loại hình công ty tiến hành đầu tư
theo chỉ thị của nhà đầu tư có tài sản uỷ thác. Về các dịch vụ, CTQLQ tại
Nhật Bản cũng cung cấp đến khách hàng dịch vụ tư vấn, quản lý tài sản ủy
thác và các công ty đầu tư5.
Còn tại Việt Nam, khái niệm về CTQLQ lần đầu tiên được đưa ra tại
Quyết định 35/2007/QĐ-BTC, theo đó, CTQLQ là “...tổ chức có tphạm pháp luật trong lĩnh vực
chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm trong thời hạn hai (02) năm, tính tới thời
điểm được bổ nhiệm; có ít nhất năm (05) năm kinh nghiệm tại các bộ phận
nghiệp vụ của các tổ chức trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoặc
tại bộ phận tài chính, kế toán, đầu tư trong các doanh nghiệp khác; có Chứng
chỉ hành nghề quản lý quỹ hoặc có một trong các văn bằng, chứng chỉ quốc tế
sau: (1) chứng chỉ hành nghề quản lý tài sản tại các quốc gia là thành viên của
tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD); hoặc (2) chứng chỉ quốc tế về
phân tích đầu tư CFA bậc II (Chartered Financial Analyst level II), hoặc CIIA
bậc II (Certified International Investment Analyst - Final level); tính tới thời
điểm được bổ nhiệm, là người hành nghề kinh doanh chứng khoán chưa từng
có các hành vi vi phạm Luật Chứng khoán; không kiêm nhiệm là nhân viên
của các tổ chức kinh tế khác và tuân thủ các quy định về trách nhiệm người
hành nghề chứng khoán tại Điều 81 Luật Chứng khoán.
Như vậy có thể thấy Thông tư 212/2012/TT-BTC đề ra khá nhiều điều
kiện mà GĐ (TGĐ) phải đáp ứng nếu muốn giữ vị trí này trong CTQLQ.
Ngoài các yêu cầu về kinh nghiệm và đạo đức, Thông tư buộc GĐ (TGĐ)
phải có chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ; hoặc chứng chỉ hành nghề quản lý
tài sản tại các quốc gia là thành viên của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD); hoặc đã thi đạt chứng chỉ quốc tế về phân tích đầu tư CFA bậc II


61

(Chartered Financial Analyst level II), hoặc CIIA bậc II (Certified
International Investment Analyst - Final level). Yêu cầu về bằng cấp này sẽ
không trở thành vấn đề khi đây không được xem là một trong những điều kiện
để Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét khi CTQLQ đăng ký GĐ (TGĐ),
mà thông thường cũng là người đại diện theo pháp luật của công ty, hay thay
đổi GĐ (TGĐ). Trong khi để lấy được chứng chỉ theo yêu cầu, cần mất tới ít
nhất sáu tháng, cụ thể: để được cấp chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ, học
viên phải tham gia học bảy môn học chuyên môn, thi lấy chứng chỉ con của
bảy môn học này, trước khi tham gia một kỳ thi sát hạch. Khi thi qua kỳ thi
này, học viên còn phải chuẩn bị hồ sơ để xin cấp chứng chỉ quản lý quỹ tại Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước. Đối với CFA bậc II hoặc những chứng chỉ quốc
tế tương đương, học viên phải mất ít nhất ba tháng ôn thi cho mỗi cấp đó, có
nghĩa ôn và thi qua CFA bậc I mới được phép tiếp tục thi CFA bậc II. Đó là
chưa kể, các khóa học và kỳ thi được tổ chức khi có lượng học viên đủ để tập
hợp lớp hoặc buổi thi, tức là phải theo từng đợt và có thể hoãn do vì số lượng
không đủ.
Vì lẽ đó, thực trạng đăng ký GĐ (TGĐ) mà GĐ (TGĐ) chưa có chứng
chỉ theo yêu cầu là rất phổ biến. Và để thỏa mãn yêu cầu này, CTQLQ phải
bỏ ra một khoản tiền lớn để tổ chức lớp cũng như buổi thi cho riêng GĐ
(TGĐ). Vậy xét đến cùng, việc CTQLQ phải chi trả một số tiền như vậy để
nhằm mục đích đăng ký chức danh với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có
hợp lý? Trong khi yêu cầu về kinh nghiệm “Có ít nhất năm (05) năm kinh
nghiệm tại các bộ phận nghiệp vụ của các tổ chức trong lĩnh vực tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm hoặc tại bộ phận tài chính, kế toán, đầu tư trong các
doanh nghiệp khác” (điểm b Khoản 1 Điều 11 Thông tư 212/2012/TT-BTC)
dường như đã bao hàm cả kiến thức về đầu tư, pháp luật chứng khoán, quản
lý tài sản mà các chứng chỉ chuyên môn kia muốn hướng người sở hữu chứng
chỉ phải có.


62

2.2.3. Quy định của pháp luật về Ban kiểm soát
2.2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát
BKS tiến hành kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn trọng của HĐTV,
Chủ tịch công ty và GĐ (TGĐ) trong tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu,
trong quản lý điều hành công việc kinh doanh của công ty. Trước khi trình
chủ sở hữu công ty hoặc cơ quan nhà nước có liên quan, BKS phải thẩm định
báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo đánh giá công tác
quản lý và các báo cáo khác.
BKS có quyền tham dự và thảo luận tại các cuộc họp HĐTV và các cuộc
họp khác trong công ty, kiến nghị chủ sở hữu công ty các giải pháp sửa đổi,
bổ sung, cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành công việc kinh doanh của công ty.
Để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, BKS có thể xem xét bất kỳ hồ sơ,
tài liệu nào của công ty tại trụ sở chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện
của công ty. Thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, GĐ (TGĐ) và người quản
lý khác có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin về thực hiện
quyền chủ sở hữu, về quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh của công ty
theo yêu cầu của Kiểm soát viên.
2.2.3.2. Tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm soát
Kiểm soát viên phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về chuyên môn, kinh
nghiệm cũng như đạo đức, tính minh bạch để tiến hành chức năng giám sát
hoạt động công ty và của HĐTV, Chủ tịch Công ty và GĐ (TGĐ), cụ thể là
phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc đối tượng quy định tại
khoản 2 Điều 18 của Luật Doanh nghiệp 2014; không phải là người có liên
quan của thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, GĐ (TGĐ), người có thẩm
quyền trực tiếp bổ nhiệm Kiểm soát viên; có trình độ chuyên môn, kinh
nghiệm nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán hoặc trình độ chuyên môn, kinh
nghiệm thực tế trong ngành, nghề kinh doanh của công ty hoặc tiêu chuẩn,
điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.


63

Tại CTQLQ, bất kể được tổ chức dưới dạng CTCP hay CTNHH, Thông
tư 212/2012/TT-BTC quy định phải thành lập bộ phận kiểm soát nội bộ giúp
việc cho ban điều hành. Và nếu CTQLQ là công ty đại chúng hoặc quản lý
quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng thì phải thành lập bộ
phận kiểm toán nội bộ.
Thứ nhất, bộ phận kiểm toán nội bộ, trực thuộc HĐQT hoặc HĐTV.
Theo Thông tư 212/2012/TT-BTC, kiểm toán nội bộ có một số chức năng,
như kiểm tra, đánh giá cơ cấu tổ chức, hoạt động quản trị công ty nhằm ngăn
ngừa xung đột lợi ích, bảo vệ quyền lợi của khách hàng; kiểm tra, đánh giá
toàn diện mức độ đầy đủ, hiệu quả, mức độ tuân thủ các quy định nội bộ của
công ty, đặc biệt là quy định trong điều lệ, quy trình nghiệp vụ, nguyên tắc
đạo đức nghề nghiệp, quy định về kế toán và công bố thông tin. Nhân sự của
bộ phận kiểm toán nội bộ phải đáp ứng được điều kiện tại Khoản 5 Điều 9
Thông tư 212/2012/TT-BTC, trong đó buộc phải có một số chứng chỉ chuyên
môn, hoặc phải đảm bảo kinh nghiệm chuyên môn là công tác từ ba (03) năm
trở lên ở bộ phận pháp chế, thanh tra, quản lý, giám sát tổ chức tài chính tại
cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
chứng khoán, kiểm toán nhà nước.
Thứ hai, bộ phận kiểm soát nội bộ, trực thuộc ban điều hành. Kiểm soát
nội bộ chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của từng vị trí, từng bộ phận và
của cả công ty tuân thủ các quy định pháp luật, quy trình nghiệp vụ cũng như
quy định nội bộ của công ty. Cùng với đó, kiểm soát nội bộ của CTQLQ cũng
tham gia việc xây dựng quy trình các quy trình, quy định nội bộ công ty nhằm
ngăn ngừa xung đột lợi ích. Về cơ cấu, bộ phận kiểm soát nội bộ phải có ít
nhất hai (02) nhân viên, trong đó họ phải có chuyên môn, nghiệp vụ về kế
toán/kiểm toán và luật, có kinh nghiệm ít nhất hai (02) năm làm việc tại bộ
phận nghiệp vụ của tổ chức kinh doanh chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm


64

hoặc cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng
khoán, kiểm toán nhà nước. Đồng thời, nhân viên bộ phận kiểm soát nội bộ
không phải là người có liên quan của thành viên ban điều hành cũng như làm
việc kiêm nhiệm tại bộ phận nghiệp vụ khác của công ty.
Kiểm soát nội bộ là bộ phận hỗ trợ GĐ (TGĐ) thực hiện chức năng kiểm
soát kế toán và kiểm soát hành chính của CTQLQ. Có thể thấy, công tác kiểm
tra kế toán của công ty tốt và hiệu quả sẽ đóng vai trò quan trọng, giúp phát
hiện ra các dấu hiệu lừa đảo, bảo vệ tài sản của công ty. Mặt khác, công tác
kiểm tra hành chính liên quan đến việc bảo đảm tính hiệu quả của hoạt động
thực thi các chính sách của ban quản trị, giúp giảm thiểu rủi ro khi CTQLQ là
tổ chức trung gian tài chính, phải đối mặt với các hoạt động rửa tiền hoặc hoạt
động phi pháp. Thế nhưng, hầu như các CTQLQ hiện nay đều chỉ duy trì bộ
phận kiểm soát nội bộ mang tính hình thức mà thôi. Thậm chí trong sáu tháng
đầu năm 2017, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã xử phạt hai CTQLQ về
việc không đảm bảo cơ cấu nhân sự tại bộ phận kiểm soát nội bộ, trong đó lỗi
điển hình là bộ phận Kiểm soát nội bộ chỉ có nhân viên chuyên môn nghiệp
vụ về kế toán nhưng không có nhân viên chuyên môn nghiệp vụ về luật hoặc
ngược lại.
Quy định pháp luật hiện hành về quản trị nội bộ công ty quản lý quỹ tuy
còn một số hạn chế, nhưng không thể phủ nhận được hiệu quả trong quá trình
áp dụng những quy định này. Ngoài những ưu điểm đã được điểm qua ở các
mục trong Chương 2, phải kể đến các quy định tại Thông tư 212/2012/TTBTC, sau một thời gian dài áp dụng trên thực tiễn thị trường chứng khoán, đã
góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo sự phát triển bền vững cho
ngành quản lý quỹ Việt Nam, cụ thể như sau:
-

Hình thành hệ thống CTQLQ, đồng thời sàng lọc, lựa chọn ra các công
ty quản lý quỹ chuyên nghiệp, uy tín bằng cách nâng dần các điều kiện,


65

tiêu chuẩn đối với việc thành lập CTQLQ cũng như duy trì hoạt động
kinh doanh của CTQLQ. Ngành quản lý quỹ tại Việt Nam bắt đầu hình
thành kể từ tháng 7/2003 với sự ra đời của Công ty Liên doanh Quản lý
quỹ đầu tư Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một loại hình tổ chức kinh
doanh chứng khoán mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Số
lượng các CTQLQ đã liên tục phát triển nhanh, năm 2003 có một
CTQLQ, đến năm 2008 có 44 CTQLQ.
-

Tái cấu trúc các CTQLQ phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và quy mô
phát triển của thị trường chứng khoán, củng cố hoạt động, nâng cao
năng lực quản trị theo hướng công khai, minh bạch và theo thông lệ
quốc tế. Dưới đây là bảng số liệu các CTQLQ từ năm 2003 đến tháng
6/201615.
Bảng 1: Số lượng công ty quản lý quỹ từ năm 2003 đến tháng 6/2016

15

Vụ Quản lý các Công ty Quản lý quỹ và Quỹ Đầu tư chứng khoán – Uỷ ban chứng khoán Nhà
nước (2017), “Triển vọng vào năm 2020 ngành quản lý quỹ”, Báo đầu tư chứng khoán, (Đặc san 20
năm thị trường chứng khoán Việt Nam), tr. 214


66

Trong các năm 2012-2013, khi Thông tư 212/2012/TT-BTC vừa ra đời,
đã có 06 CTQLQ (chiếm 12%) thuộc diện tái cấu trúc rút khỏi thị trường bằng
các phương thức khác nhau như: giải thể, tạm ngừng hoạt động, chấm dứt
hoạt động. Cũng trong giai đoạn này, 02 công ty quản lý quỹ mới được cấp
phép thành lập trực thuộc các Tập đoàn bảo hiểm nước ngoài cũng nhằm
khuyến khích các tổ chức tài chính ngân hàng, công ty bảo hiểm tham gia thị
trường, vừa tận dụng được hệ thống cơ sở hạ tầng của các tổ chức này, vừa hỗ
trợ phát triển các sản phẩm mới cho thị trường16.
-

CTQLQ phải có cơ cấu sở hữu bao gồm các tổ chức có tiềm lực tài
chính như các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng
khoán. CTQLQ là doanh nghiệp nhận ủy thác tiền và các tài sản khác
từ nhà đầu tư, do đó niềm tin của công chúng đối với CTQLQ là yếu tố
quan trọng quyết định sự thành công của việc thuyết phục nhà đầu tư sử
dụng dịch vụ quản lý tài sản của CTQLQ. Chính bởi lẽ đó, bản thân
tiềm lực tài chính, uy tín cũng như kinh nghiệm của các cổ đông hay
thành viên sáng lập ra CTQLQ sẽ tạo ra uy tín cho chính bản thân
CTQLQ đối với công chúng đầu tư và một trong các tiêu chí người đầu
tư quan tâm đầu tiên khi đưa ra quyết định đầu tư vào các quỹ do
CTQLQ đó lập ra. Đồng thời, Chính phủ cho phép nhà đầu tư nước
ngoài được sở hữu không hạn chế tại công ty đại chúng, công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định
khác hoặc tổ chức phát hành hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh
doanh mà pháp luật liên quan có quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài
tại Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị

16

Thời báo Tài chính Việt Nam Online (2015), http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/chungkhoan/2014-12-31/tai-cau-truc-cac-cong-ty-quan-ly-quy-nhung-thanh-tuu-buoc-dau-16724.aspx
ngày truy cập 18/07/2017


67

định 58/2012/NĐ-CP1. Quy định này giúp cho CTQLQ nội có khả
năng hút được vốn góp từ các đối tác nước ngoài, đã có kinh nghiệm
hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh này, và sẽ góp phần đáng kể thúc
đẩy sự phát triển của định chế này 17.
Song song với những điểm đạt được trong các quy định hiện hành về
quản trị CTQLQ nói chung, và Thông tư 212/2012/TT-BTC nói riêng, cũng
cần kể đến những hạn chế nhất định như sau:
Thứ nhất, về quy định của Luật Chứng khoán
Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có quy định chung về quản trị công ty,
người đại diện. Các tổ chức kinh doanh chứng khoán nói chung, cũng như
CTQLQ nói riêng là doanh nghiệp đặc thù, quản lý và nắm giữ tài sản của các
khách hàng. Tuy nhiên, Luật Chứng khoán chưa quy định cụ thể về các vấn
đề nêu trên cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán để phù hợp với tính chất
đặc thù của các doanh nghiệp này, bảo đảm quyền lợi của các cổ đông nhỏ lẻ
và phòng ngừa rủi ro đối với tài sản của các khách hàng ủy thác18.
Thứ hai, về nguyên tắc quản trị nội bộ của CTQLQ
Khoản 3 Điều 7 Thông tư 212/2012/TT-BTC quy định CTQLQ phải
tuân thủ các nguyên tắc về quản trị công ty được nêu trong điều lệ công ty.
CTQLQ là công ty đại chúng còn phải tuân thủ các quy định khác của pháp
luật chứng khoán về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng.
Nhưng đến quy định tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư 212/2012/TT-BTC lại quy
định:
17

Tạp chí chứng khoán (2016), “Ngành quản lý quỹ năm 2015 - Những đột phá về cơ chế chính
sách” tại địa chỉ:
http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/oracle/webcenter/portalapp/pages/vi/aptcnoidungchitiet.jspx?id=
982&_afrLoop=48124104306685812&_afrWindowMode=0#%40%3F_afrLoop%3D48124104306
685812%26id%3D982%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D6ktpunhq2_37 ngày
truy cập 18/07/2017

18

Dự thảo báo cáo tổng kết thi hành Luật Chứng khoán ngày 11/1/2017, tr.23


68

Cơ cấu tổ chức, điều kiện, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm và các
quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ của hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên,
chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, ban
kiểm soát (nếu có), bộ phận kiểm toán nội bộ (nếu có), ban điều hành do điều
lệ công ty quy định, phù hợp với quy định của pháp luật về quản trị công ty
áp dụng cho các công ty đại chúng, các quy định của pháp luật về doanh
nghiệp và không trái với các quy định tại Thông tư này.
Hiện nay, các yêu cầu về công bố, công khai thông tin về hoạt động của
CTQLQ tương tự như đối với các công ty niêm yết, công ty đại chúng có quy
mô lớn. Vậy các quy định về quản trị CTQLQ có phải tuân theo quy định tại
Nghị định 71/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 của Chính phủ hướng dẫn về quản
trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng hay không?
Thứ ba, quy định về vốn pháp định
Một số các ngành nghề kinh doanh phải đáp ứng yêu cầu về mức vốn
pháp định bao gồm: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, du lịch, dịch vụ lao
động và kinh doanh vàng bạc. Đối với ngành quản lý quỹ, số vốn pháp định
này là 25 tỷ đồng và phải duy trì mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn
pháp định trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Yêu cầu của luật pháp
về vốn pháp định nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của khách hàng và các chủ
nợ của công ty hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh đó. Có thể
thấy, mức vốn pháp định cho một CTQLQ khá khiêm tốn so với lượng tài sản
uỷ thác mà CTQLQ nhận uỷ thác từ khách hàng, tổng cộng có thể lên tới hàng
trăm tỷ đồng. Đó là chưa kể đến việc, khi huy động vốn để thành lập quỹ đầu
tư chứng khoán do mình quản lý, vì đa số nhà đầu tư vào quỹ là cá nhân nhỏ
lẻ và vốn ít, CTQLQ phải bỏ ra một khoản vốn mồi (seed fund) để đáp ứng
yêu cầu về mức vốn tối thiểu cho một quỹ theo quy định pháp luật hiện hành
là 50 tỷ đồng. Như vậy, nếu xét một cách trực quan, thì số vốn pháp định của


69

CTQLQ không thể đáp ứng mục tiêu mà các nhà lập pháp khi đề ra quy định
vốn pháp định.
Thứ tư, quy định về điều lệ mẫu
Thông tư 212/2012/TT-BTC ban hành phụ lục có điều lệ mẫu để các
CTQLQ tham khảo và xây dựng điều lệ cho chính mình. Nhưng nhiều
CTQLQ sao chép nguyên văn nội dung của các văn bản pháp luật vào điều lệ
công ty và đưa vào điều lệ công ty nhiều chi tiết không liên quan. Cả hai cách
làm này đều không thể nâng cao chất lượng của điều lệ công ty. Điều lệ công
ty nên có những nội dung theo yêu cầu của pháp luật, nhưng hoàn toàn không
phải là sao chép nguyên văn, và những quy định cần thiết khác để đảm bảo
cho việc quản trị công ty một cách có hiệu quả. Chẳng hạn, Điều 144 Luật
doanh nghiệp quy định rằng các quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua khi
được số cổ đông đại diện cho ít nhất 51% đến 65% tổng số phiếu biểu quyết
của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2014
cho phép điều lệ quy định một tỷ lệ cao hơn (ví dụ từ 80% đến 90%). Vì vậy,
công ty có thể quy định một tỷ lệ cao hơn trong việc thông qua một số quyết
định cụ thể nào đó nhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ lẻ. Công ty
cũng có thể bổ sung thêm một số vấn đề cần phải được ĐHĐCĐ thông qua
ngoài những vấn đề đã được nêu trong Luật doanh nghiệp, ví dụ việc phê
duyệt đề nghị chấp nhận các nhà đầu tư chiến lược, việc chỉ định tổ chức
thanh lý hay bổ nhiệm cán bộ quản lý trong công ty. Thêm vào đó, điều lệ có
thể bao hàm những quy định được khuyến nghị trong Điều lệ mẫu và phù hợp
với các mục tiêu của công ty, chẳng hạn một thành viên HĐQT có thể chỉ
định một thành viên HĐQT thay thế đại diện cho mình để tham dự và biểu
quyết tại cuộc họp của HĐQT.


70

CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN TRỊ NỘI BỘ CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ TẠI VIỆT NAM
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quản trị nội bộ công ty
quản lý quỹ tại Việt Nam
3.1.1. Thể chế hoá quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nhà đầu
tư chứng khoán chuyên nghiệp
Trong chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 và tầm
nhìn đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg
ngày 02 tháng 08 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định phát
triển hệ thống nhà đầu tư trong và ngoài nước theo hướng: Khuyến khích
các định chế đầu tư chuyên nghiệp (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm…)
tham gia đầu tư trên thị trường theo quy định của pháp luật. Thực hiện lộ
trình mở cửa đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp nước ngoài vào thị
trường Việt Nam theo lộ trình đã cam kết; đa dạng hoá các loại hình quỹ
đầu tư; tạo điều kiện cho phép Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tiết kiệm bưu
điện,… tham gia đầu tư trên thị trường vốn; từng bước phát triển, đa dạng
hoá các quỹ hưu trí để thu hút các vốn dân cư tham gia đầu tư; khuyến
khích việc thành lập các quỹ đầu tư ở nước ngoài đầu tư dài hạn vào thị
trường Việt Nam. Đây là vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu
dài vì việc khuyến khích nhà đầu tư chuyên nghiệp tham gia thị trường là
nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững của thị trường vốn nhạy cảm
với biến động của nền kinh tế vĩ mô. Để làm được điều này cần nhanh
chóng hình thành và phát triển đồng bộ cơ cấu của thị trường vốn, trong đó
thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng, bảo đảm huy động và phân
bổ có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế; phối hợp chặt
chẽ với thị trường tiền tệ trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ; hội


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×