Tải bản đầy đủ

Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN XUÂN TRƢỜNG

PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI


NGUYỄN XUÂN TRƢỜNG

PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: T.S ĐOÀN TRUNG KIÊN

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn
này.
Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Trƣờng


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài. ............................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài. ...................................................................... 3
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài. .......................... 5
5. Nhiệm vụ và mục đích của việc nghiên cứu đề tài. .................................. 6
6. Những đóng góp mới của luận văn. ........................................................... 6
7. Kết cấu của luận văn. .................................................................................. 7
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
RA NƢỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA
NƢỚC NGOÀI………………………………………………………………8
1.1. Một số vấn đề lí luận về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài. ..................... 8


1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài................. 8
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. .......................................... 8
1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài...................................... 9
1.1.2. Phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với một số hoạt động đầu tư
khác…………………………………………………………………………11
1.1.2.1. Phân biệt đầu tư trực tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài với đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam. ........................................................................ 11
1.1.2.2. Phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với đầu tư gián tiếp ra nước
ngoài………………………………………………………………………..12
1.1.3. Vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. ....................... 13
1.1.3.1. Đối với nước đầu tư. .......................................................................... 13
1.1.3.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư. .......................................................... 15
1.1.3.3. Đối với nhà đầu tư. ............................................................................ 16
1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài. . 16
1.2.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài……….....………………………………………………………16


1.2.2. Vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. ................... 19
1.2.2.1. Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là khung pháp lý cơ bản
cho hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. ............................................... 19
1.2.2.2. Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là công cụ để nhà nước
quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. ......................................... 19
1.2.2.3. Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là công cụ đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. ..................................................... 19
1.2.3. Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một số nước trên thế
giới………………………………………………………………………….20
1.2.3.1. Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc. ......... 20
1.2.3.2. Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc. ............ 23
1.2.3.3. Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Thái Lan. .............. 24
1.2.4. Khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật về đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam. ..................................................................... 25
1.2.4.1. Giai đoạn trước năm 2005. ................................................................ 25
1.2.4.2. Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014............................................... 27
1.2.4.3. Giai đoạn từ năm 2014 đến nay. ........................................................ 29
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 30
CHƢƠNG 2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ
ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM ...................... 32
2.1. Quy định về chủ thể đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài........................... 32
2.2. Quy định về điều kiện đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài........................ 34
2.3. Quy định về thủ tục đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài. .......................... 35
2.3.1. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với
dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư ra nước
ngoài………………………………………………………………………..36
2.3.2. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với
dự án không thuộc thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư ra nước
ngoài………………………………………………………………………..41
2.4. Quy định về hình thức đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài....................... 43


2.5. Quy định về lĩnh vực đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài. ........................ 44
2.6. Quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tƣ khi tiến hành đầu tƣ
trực tiếp ra nƣớc ngoài. ................................................................................ 46
2.7. Quy định về quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài. ... 48
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 49
CHƢƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ TRỰC
TIẾP RA NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ..... 51
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài ở Việt
Nam…………………………………………………………………………51
3.1.1. Những kết quả đạt được trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài………………………………………………………………………..51
3.1.1.1. Các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không ngừng gia tăng về
chất lượng và số lượng. ................................................................................... 52
3.1.1.2. Đa dạng hơn về ngành, nghề và lĩnh vực đầu tư. .............................. 53
3.1.1.3. Các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngày càng mở rộng về
phạm vi đối tác tiếp nhận đầu tư..................................................................... 54
3.1.1.4. Tình hình thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngày
càng được đẩy mạnh và hoàn thiện. ............................................................... 56
3.1.2. Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần khắc phục trong hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam. ........................................ 58
3.1.2.1. Xuất phát từ các quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài và cơ quan quản lý nhà nước. ............................................................... 58
3.1.2.2. Xuất phát từ phía các nhà đầu tư. ...................................................... 59
3.1.2.3. Xuất phát từ nước tiếp nhận đầu tư. .................................................. 60
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài ở Việt Nam. ......................... 61
3.2.1. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài ở Việt Nam. ........................................................................................... 61
3.2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam. ..................................................................... 67


KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
“Thị trường trong nước to, nhưng cũng giống như cái áo đã chật, nếu
muốn tiếp tục phát triển, bắt buộc doanh nghiệp phải đầu tư ra nước ngoài”.
Đó là câu nói của Ông Nguyễn Mạnh Hùng1, Nguyên Phó Tổng Giám đốc
Tập đoàn Viễn thông Quân đội (nay là Thiếu tướng, Tổng Giám đốc Tập đoàn
Viễn thông Quân đội) - một trong những tập đoàn của Việt Nam đầu tư ra
nước ngoài rất thành công. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ,
các quốc gia trên thế giới đang tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hoá
một cách sâu rộng. Trong bối cảnh đó, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài luôn là
vấn đề mang tính toàn cầu. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đang là xu thế
chung của các quốc gia trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu
quả kinh doanh, tận dụng tối đa nguồn tài nguyên, nguyên liệu và nhân công
tại chỗ, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp qua đó nâng cao vị thế của doanh
nghiệp trên trường quốc tế.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trước đây được thực hiện chủ yếu bởi các
nước phát triển nhưng đến nay sự đóng góp của các nước đang phát triển
trong dòng vốn đầu tư ra nước ngoài trên toàn cầu ngày càng tăng lên. Năm
2003, vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển đạt 859 tỷ USD,
chiếm 10% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên toàn cầu, tăng lên 16% vào
năm 2006, 25% vào năm 2009, 39% vào năm 2013 (Hội nghị của Liên hiệp
quốc về thương mại và phát triển, 2004, 2007, 2010, 2014). Còn ở các nước
phát triển thì diễn ra ngược lại, năm 2006, dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của
các nước phát triển chiếm 84% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài toàn cầu, đến
năm 2012 giảm xuống còn 65,4% (Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương
1

Th.S Lê Văn Sua (2015), "Một số hạn chế của quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và bài

học kinh nghiệm", Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, địa chỉ tại: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghiencuu-trao-doi.aspx?ItemID=1856


2

mại và phát triển, 2013)2. Theo các nghiên cứu thì việc các nước đang phát
triển tăng cường đầu tư ra nước ngoài do họ có lợi thế sở hữu về khả năng
giảm chi phí sản xuất nhờ biết ứng dụng công nghệ nhập khẩu từ các nước
phát triển vào sản xuất, kinh nghiệm mà họ có được từ những hoạt động của
họ ở thị trường kém phát triển hơn và có được lợi thế ở đất nước của họ như
nguồn tài nguyên thiên nhiên hay vay vốn với giá rẻ.
Tại Việt Nam, kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa, các doanh nghiệp
đã dần chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để sản xuất kinh doanh bởi khi đó
doanh nghiệp có thể tranh thủ ưu đãi của nước tiếp nhận đầu tư để sản xuất
hay xuất khẩu hàng hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt
Nam ngày một tăng. Theo Tổng cục thống kê, 10 tháng đầu năm 2015, đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam đạt khoảng 210 dự án với số vốn đăng
ký 2477,5 triệu USD tăng 108 dự án và 441,9 triệu USD so với năm 2014, so
với 9 dự án và hơn 12 triệu USD vào năm 1989. Theo số liệu của Cục Đầu tư
nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 1 năm 2017, Việt
Nam có 1.188 dự án đầu tư tại 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu
tư đăng ký đạt hơn 21 tỷ USD3. Trong đó, thị trường chủ yếu vẫn là các thị
trường truyền thống như: Lào, Campuchia, Liên Bang Nga, châu Phi. Các con
số trên cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của vốn đầu tư ra nước ngoài của
các doanh nghiệp Việt Nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một loạt văn bản quy phạm pháp luật
2

Nguyễn Thị Ngọc Mai (2015), “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam: Nhân tố tác động và hàm ý

chính sách”, Luận án Tiến sỹ Kinh tế quốc tế, Trường Kinh tế quốc tế - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội,
Trg 1.
3

Hông Sâm (2017), "Môi trường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: Minh bạch, ổn định", Thời báo Tài chính

Việt Nam, tại đại chỉ: http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/nhip-song-tai-chinh/2017-03-10/moi-truongdau-tu-truc-tiep-ra-nuoc-ngoai-minh-bach-on-dinh-41418.aspx


3

điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và qua đó đã thu được
những thành quả nhất định. Đặc biệt, Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực từ ngày
01/07/2015 đã tạo ra khung pháp lý mới quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn, bảo đảm cho doanh nghiệp
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.
Với mong muốn tìm hiểu những quy định pháp luật hiện hành về hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời
đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật cũng như hiệu quả thực thi pháp luật
về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để có cơ sở pháp lý thuận lợi giúp cho hoạt
động này phát huy vai trò, lợi thế của mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay, tôi quyết định chọn đề tài “Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học luật
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một vấn đề khá rộng và
luôn mang tính thời sự. Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên
cứu pháp luật trong lĩnh vực này, cụ thể như: “Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài ở Việt Nam - Lý luận, thực trạng và giải pháp” - Vũ Thị Thu
Hương - Khoá luận tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội - 2010; “Pháp luật về
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” - Trương Quang Anh - Khoá luận tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội 2012; “Tìm hiểu các quy định của Luật Đầu tư (2005) về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài” - Hoàng Nguyên Thắng - Khoá luận tốt nghiệp Đại học Luật Hà
Nội - 2012; “Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh
nghiệp Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” - Đỗ Thị Phương Luận văn thạc sĩ luật học - 2013… Gần đây nhất có thể kể đến các công trình
nghiên cứu như: “Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam” - bài viết trên Tạp chí Khoa học Đại học


4

quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh, tập 31, số 4 năm 2015 của tác giả
Đỗ Huy Thưởng; “Đầu tư trực tiếp nước ngoài - những thành tựu và vấn đề
đặt ra” - bài viết trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 11 năm 2016 của tác giả
Ngô Hồng Nhung; “Thu hút FDI và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt
Nam hiện nay” - bài viết trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 1 năm 2017 của tác
giả Nguyễn Minh Phong.
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trước đây đều là các nghiên cứu
về pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư
2005 đã hết hiệu lực pháp lý hoặc là các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài theo quy định hiện hành nhưng ở quy mô nhỏ là các bài viết khoa
học trên các tạp chí mà chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên
cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc pháp luật về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam theo quy định của Luật Đầu
tư 2014.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc
các quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo Luật Đầu tư
2014, đồng thời đưa ra giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay là một đòi hỏi cấp bách và cần thiết với khoa học pháp lý ở nước ta.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các văn bản
pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam cũng như
thực tiễn áp dụng lĩnh vực pháp luật này ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
hoặc liên quan đến pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam.
Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam chủ yếu được quy định tại Luật đầu tư 2014


5

đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài ở Việt Nam nhằm rút ra các bài học trong quá trình áp dụng pháp luật
trong lĩnh vực này ở nước ta để đưa ra các giải pháp hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam
trong những năm sắp tới.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế.
Luận văn cũng đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu đề tài cụ
thể, bao gồm:
-

Phương pháp khảo cứu tài liệu và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã

có: Đây là phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong luận văn
thông qua việc tham khảo các tài liệu, kết quả nghiên cứu về đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài ở Việt Nam và các vấn đề có liên quan để làm cơ sở cho việc
hệ thống hóa các vấn đề lý luận, pháp lý thuộc phạm vi nghiên cứu đề tài, cung
cấp cái nhìn khách quan, toàn diện hơn trong việc đánh giá từng nội dung cụ thể
của luận văn.
-

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận logic: thể hiện

thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật về đầu tư ra trực tiếp nước
ngoài ở Việt Nam tại chương 2, so sánh, đối chiếu các quy định trong các văn
bản pháp luật khác nhau, cùng với việc đánh giá thực tiễn áp dụng, từ đó tổng
hợp, tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam tại
chương 3


6

5. Nhiệm vụ và mục đích của việc nghiên cứu đề tài.
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài này là trình bày một cách có hệ
thống, sâu sắc và phân tích, chứng minh một cách khoa học, có căn cứ các
quy định của pháp luật trước đây và hiện tại về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
để thấy được quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam. Ngoài ra, tác giả cũng cố gắng trình bày đầy
đủ những kết quả đạt được cũng như khó khăn, hạn chế trong hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài khi áp dụng Luật Đầu tư 2014.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là lập luận một cách thuyết phục về
việc cần phải hoàn thiện pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài. Luận văn cũng nêu ra giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để thực thi có hiệu quả các
quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong thực tiễn.
6. Những đóng góp mới của luận văn.
Luận văn có sự phân tích sâu sắc một số chế định thuộc lĩnh vực đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài và làm rõ những ưu điểm cũng như chỉ ra những
nhược điểm, bất cập của các quy định hiện hành về pháp luật đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài.
Luận văn nêu lên thực trạng áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài ở Việt Nam với kết quả là chỉ ra những kết quả đạt được trong quá
trình áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đồng thời chỉ ra
những hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần khắc phục trong hoạt động đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam. Từ những kết quả đó, luận văn đưa ra
một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
ở Việt Nam cũng như một số giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật trong lĩnh vực này.


7

7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
luận văn gồm 03 chương như sau:
-

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và

pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
-

Chương 2: Những nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài ở Việt Nam.
-

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước

ngoài ở Việt Nam và một số giải pháp.


8

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC
NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI
1.1. Một số vấn đề lí luận về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt
động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn,
mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp
đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Căn cứ vào nguồn vốn của nhà đầu tư có
thể chia ra đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Trong đó, đầu tư nước
ngoài bao gồm đầu tư hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu
tư từ trong nước ra nước ngoài. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay thì hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng được coi trọng và có sự gia
tăng đáng kể.
Bên cạnh việc các nhà đầu tư nước ngoài gia tăng đầu tư vào Việt Nam
thì hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng
chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Trong đó, hoạt động đầu tư ra nước
ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là đầu tư trực tiếp. Từ khi
manh nha xuất hiện ở Việt Nam cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác
nhau về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 22/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày
14 tháng 04 năm 1999 quy định về đâu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp
Việt Nam,“Đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam là việc doanh
nghiệp Việt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư
trực tiếp ở nước ngoài theo quy định của Nghị định này”. Tại Khoản 14 Điều
3 Luật Đầu tư 2005 thì quy định như sau: “Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà


9

đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước
ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư”. Sau đó, để làm rõ hơn quy định tại
Luật Đầu tư 2005 thì Nghị định số 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09
ngày 08 năm 2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã quy định cụ
thể hơn như sau: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển
vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia
quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài”. Mới đây nhất, Nghị định số
83/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 09 năm 2015 quy định về đầu
tư ra nước ngoài đã quy định: “Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư
chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh;
hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài
lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu
tư đó”.
Từ các định nghĩa nêu trên có thể hiểu khái quát hoạt động đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài là một hình thức đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư bỏ vốn để
xây dựng hoặc mua một phần, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước
ngoài để trở thành chủ sở hữu từng phần hoặc toàn bộ cơ sở đó và trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối tượng
mà họ bỏ vốn đầu tư.
1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Từ định nghĩa về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã nêu ở trên, có thể rút
ra một số đặc điểm của hình thức đầu tư này như sau:
-

Về chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chủ yếu là các nhà
đầu tư là cá nhân, tổ chức kinh tế không phân biệt nhà đầu tư là doanh nghiệp
hay nhà đầu tư không là doanh nghiệp, không phân biệt nhà đầu tư có nguồn


10

gốc vốn đầu tư trong nước hay nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư
nước ngoài.
-

Về hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Đây là hình thức đẩu tư trực tiếp thông qua các hoạt động sản xuất kinh
doanh, cung cấp dịch vụ tại nước nhận đầu tư mà ở đó, nhà đầu tư trực tiếp
nắm quyền quản lý mọi hoạt động của dự án mà mình đầu tư.
-

Về nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Hoạt động đầu tư này được thực hiện bằng nguồn vốn của chính nhà đầu
tư do họ tự quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định này. Nguồn vốn
của nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể là
tiền, tài sản hoặc máy móc, công nghệ…
-

Mục đích của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Giống các hoạt động đầu tư khác, mục đích trước tiên của hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận. Đây luôn là mục tiêu cao
nhất mà các chủ đầu tư hướng tới. Ngoài ra còn do các mục đích khác hoặc đi
kèm như mở rộng thị trường, tận dụng nguồn nhân công giá rẻ và tài nguyên
phục vụ sản xuất tại chỗ dồi dào…
-

Tính chất của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ đảm bảo quyền kiểm soát,
quản lý của nhà đầu tư đối với dự án đầu tư của mình. Nhà đầu tư sẽ hoàn
toàn chủ động trong việc tìm hiểu, lựa chọn thị trường, xây dựng dự án, thực
hiện dự án và hưởng lợi nhuận từ dự án.
-

Về mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nước nhận đầu tư.

Đây là mối quan hệ hợp tác bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. Trong mối
quan hệ này, nhà đầu tư sẽ mở rộng được thị trường, có lợi nhuận lớn, tận
dụng được nguồn nhân công giá rẻ tại chỗ, được hưởng ưu đãi thuế… còn


11

nước tiếp nhận đầu tư sẽ nhận được các công nghệ tiên tiến mà nhà đầu tư
chuyển giao cùng với kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh…
1.1.2. Phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với một số hoạt động
đầu tư khác.
1.1.2.1. Phân biệt đầu tư trực tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài với đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
-

Về chủ thể đầu tư.

Chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chủ yếu là các nhà
đầu tư là cá nhân, tổ chức kinh tế không phân biệt nhà đầu tư là doanh nghiệp
hay nhà đầu tư không là doanh nghiệp, không phân biệt nhà đầu tư có nguồn
gốc vốn đầu tư trong nước hay nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư
nước ngoài.
Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, chủ thể của hoạt động
này là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước
ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
-

Về địa điểm thực hiện hoạt động đầu tư.

Hoạt động đầu tư trực tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài được thực hiện
ngoài lãnh thổ Việt Nam, tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Trong
khi đó, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chỉ được thực
hiện trên lãnh thổ Việt Nam.
-

Về nguồn vốn đầu tư.

Nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam đều có thể là tiền, tài sản hoặc máy móc, công
nghệ… Tuy nhiên, nguồn gốc của vốn và dòng tiền di chuyển của 2 hoạt động
đầu tư này có sự khác biệt hoàn toàn.
Nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài
xuất phát từ Việt Nam và được dịch chuyển sang nước tiếp nhận đầu tư để


12

thực hiện đầu tư. Còn nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam xuất phát từ nước đầu tư và được dịch chuyển vào Việt Nam.
Về cơ bản thì dòng vốn di chuyển của 2 hoạt động này là trái ngược nhau.
1.1.2.2. Phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với đầu tư gián tiếp ra
nước ngoài.
-

Về chủ thể của hoạt động đầu tư.

Khác với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có chủ thể chủ yếu là các nhà
đầu tư là cá nhân, tổ chức kinh tế không phân biệt nhà đầu tư là doanh nghiệp
hay nhà đầu tư không là doanh nghiệp, không phân biệt nhà đầu tư có nguồn
gốc vốn đầu tư trong nước hay nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư nước
ngoài, hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thường được thực hiện bởi
các tổ chức kinh tế xã hội, các tổ chức quốc tế và bởi nguồn vốn của chính
phủ các nước như quỹ của IMF, WTO, UNESCO, WHO… dưới dạng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA.
-

Về nguồn vốn đầu tư.

Nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể có vốn là
tiền, tài sản hoặc máy móc, công nghệ… Trong khi đó, nguồn vốn cho hoạt
động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài chỉ có thể là tiền. Nếu là vốn của Chính
phủ, các tổ chức quốc tế thì còn đi kèm theo đó là điều kiện về lãi suất và các
ưu đãi kèm theo.
-

Về hình thức của hoạt động đầu tư.

Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nhà đầu tư trực tiếp bỏ
vốn để thực hiện đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý mọi hoạt động đầu tư
của dự án đầu tư.
Đối với hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, nhà đầu tư thông qua
việc mua bán cổ phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng
khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư


13

không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư hoặc đầu tư thông qua các
hình thức viện trợ và tài trợ.
-

Về tính chất của hoạt động đầu tư.

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ đảm bảo quyền kiểm soát,
quản lý của nhà đầu tư đối với dự án đầu tư của mình. Nhà đầu tư vừa là
người bỏ vốn, vừa là người trực tiếp quản lý điều hành việc sử dụng vốn của
mình và có quyền tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp. Do đó nhà đầu
tư đặc biệt quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì
liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ. Hay nói cách khác, quyền sở hữu và
quyền sử dụng gắn liền với nhà đầu tư.
Hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài chỉ đơn thuần là hoạt động bỏ
vốn, đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua việc mua bán chứng khoán hoặc
những tài sản có giá khác, nhà đầu tư không có quyền tham dự vào hoạt động
của công ty. Lợi nhuận thu được từ việc chia cổ tức hoặc việc bán chứng
khoán thu chênh lệch. Tuy nhiên, nếu nắm giữ một số cổ phần nhất định, đầu
tư gián tiếp ra nước ngoài sẽ trở thành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và nhà
đầu tư có quyền ra quyết định với công ty họ đang bỏ vốn.
1.1.3. Vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu
thế tất yếu khách quan của các quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có vai trò quan trọng đối với các
quốc gia cũng như chính các nhà đầu tư. Cụ thể như sau:
1.1.3.1. Đối với nước đầu tư.
-

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ kéo theo những hoạt

động liên quan như việc chuyển dịch một số lượng nhất định lao động trong
nước ra nước ngoài, chuyển giao công nghệ, dịch chuyển hàng hoá… từ đó


14

giải quyết một số khó khăn trong nước như dư thừa lao động, bão hoà về các
sản phẩm trong nước và sự thiếu cạnh tranh trong đầu tư trong nước…
Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, mà sản phẩm

-

đặc trưng, mang thương hiệu quốc gia sẽ có mặt tại nước nhận đầu tư và dần
gây dựng tiếng tăm trên thị trường thế giới. Qua đó sẽ tạo nên danh tiếng,
nâng cao tên tuổi cho quốc gia trên thị trường quốc tế, giúp củng cố vai trò
chính trị và vị thế kinh tế của quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho các quốc gia thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế
giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ví dụ điển hình cho
trường hợp này là Nhật Bản, Hàn Quốc nổi tiếng trên thị trường quốc tế với
các doanh nghiệp như Samsung, Sony, Toyota, Huyndai, LG…
Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các quốc gia sẽ

-

có thêm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu… phục vụ cho sự phát triển kinh tế
trong nước. Ví dụ: Tập đoàn dầu khí Việt Nam đầu tư hoạt động khai thác dầu
mỏ tại các nước trên thế giới sẽ tạo nguồn cung cấp cho nhà máy lọc dầu
Dung Quất khi mà khả năng khai thác dầu trong nước có xu hướng giảm sút4.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thành công cũng sẽ tác động ngược lại

-

nền kinh tế trong nước theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinh tế về
thể chế chính sách, về thuế, về thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đối
ngoại và cả về chính sách điều hành vĩ mô.
Ngoài ra, các quốc gia còn thu được thêm một lượng lớn ngoại tệ

-

nhờ việc đóng thuế hoặc hoạt động tái đầu tư của các nhà đầu tư có hoạt động
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

4

“Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam”, Diễn đàn pháp luật VIBOnline, tại địa

chỉ:

http://vibonline.com.vn/Baiviet/1850/Hoat-dong-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-cua-cac-doanh-nghiep-Viet-

Nam.aspx.


15

1.1.3.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư.
-

Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mà nguồn thu

ngân sách của nước tiếp nhận đầu tư tăng lên đáng kể thông qua việc thu các
loại thuế (thuế đất, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế doanh nghiệp…). Qua đó
góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn lực đầu tư của nước nhận đầu tư.
-

Xuất phát từ việc nguồn vốn đầu tư có thể là máy móc, công nghệ,

nguyên liệu, quyền sở hữu trí tuệ, bằng sáng chế… mà nước tiếp nhận đầu tư
có thể tiếp thu các công nghệ hiện đại, máy móc và quy trình sản xuất tiên
tiến từ hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Đồng thời, nước tiếp nhận
đầu tư còn nhận được các kinh nghiệm, phương thức quản lý tiên tiến để nâng
cao hiệu quả quản lý cho nền kinh tế trong nước.
-

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài góp phần quan trọng vào xuất khẩu.

Bằng việc tiếp nhận đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài mà lượng hàng hoá
sản xuất để xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư sẽ của tăng lên nhanh chóng.
Ví dụ tại Việt Nam, trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực đầu tư nước
ngoài chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô. Từ năm 2003, xuất khẩu
của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở 10 thành nhân tố
chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm
20125. Đồng thời, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tác động tích cực
tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư.
-

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng góp phần giải quyết

tình trạng thiếu hụt việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi
cơ cấu lao động của nước tiếp nhận đầu tư.
5

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), “Những đóng góp tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế -

xã hội của Việt Nam”, Tạp chí điện tử Tài chính, địa chỉ tại: http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--traodoi/trao-doi-binh-luan/nhung-dong-gop-tich-cuc-cua-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-doi-voi-kinh-te-xa-hoi-cuaviet-nam-24159.html


16

1.1.3.3. Đối với nhà đầu tư.
-

Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường,

thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó
mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Bằng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài, doanh nghiệp sẽ dễ dàng đưa sản phẩm tới nước nhận đầu tư mà không
vướng phải hàng rào thuế quan và hàng rào bảo hộ phi thuế quan như khi xuất
khẩu sản phẩm, nhờ đó sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn hơn
và tiêu thụ tốt hơn tại nước nhận đầu tư.
-

Đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp có điều kiện phân tán rủi ro

kinh doanh, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong khi tinh hình thế
giới đầy biến động về kinh tế - chính trị như hiện nay.
-

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận

cao hơn đầu tư trong nước. Các nhà đầu tư luôn tính toán và tận dụng lợi thế
của mình và các ưu đãi của nước nhận đầu tư để đầu tư vào nơi có tỉ suất lợi
nhuận lớn nhất.
-

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư khắc phục những

khó khăn, thiếu thốn khi đầu tư trong nước như thiếu hụt lao động có tay
nghề; thiếu hụt tài nguyên, nguyên liệu sản xuất; thiếu hụt máy móc, công
nghệ phù hợp sản xuất, kinh doanh…
1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật đầu tƣ trực tiếp ra
nƣớc ngoài.
1.2.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài.
Vì bản chất là hoạt động đầu tư xuyên quốc gia nên khung pháp luật điều
chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm hệ thống pháp luật
của nước đầu tư và hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư. Bên cạnh
đó, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng chịu sự điều chỉnh của các


17

hiệp định song phương và đa phương cũng như các điều ước quốc tế mà các
quốc gia ký kết với nhau. Khung pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của Việt Nam cũng không ngoại lệ, nó được quy định trong nhiều văn bản
quy phạm pháp luật mà trước hết phải kể đến là Hiến Pháp và Luật Đầu tư
trực tiếp quy định về hoạt động này. Cùng với đó là các đạo luật có liên quan
như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Chứng khoán, Luật Các tổ
chức tín dụng… và các văn bản dưới luật có liên quan khác. Ngoài ra, khung
pháp luật về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam còn bao
gồm các điều ước quốc tế, các hiệp định song phương hoặc đa phương về đầu
tư mà Việt Nam đã ký kết như: Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ;
Hiệp định Đầu tư trong khuôn khổ Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn
diện ASEAN - Ấn Độ; Công ước về "tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên"…
Như vậy, có thể hiểu ở mức độ khái quát rằng pháp luật về đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài là tổng thể những quy định pháp luật do nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
tổ chức và quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài mà nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài bao gồm các quy định về những vấn đề sau:
-

Quy định về chủ thể đầu tư.

Đây là các quy định về các cá nhân, tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh
của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
-

Quy định về điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Để được đầu tư ra nước ngoài thì nhà đầu tư phải đáp ứng được các điều
kiện cụ thể do nhà nước đưa ra để đảm bảo tính khả thi của dự án đầu tư, đảm
bảo lợi ích của quốc gia…
-

Quy định về thủ tục đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.


18

Đây là các thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài; thủ tục
cấp, điểu chỉnh và chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước
ngoài; thủ tục triển khai dự án đầu tư.
-

Quy định về hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài rất đa dạng để doanh nghiệp
lựa chọn nhưng còn phụ thuộc vào quy định của nước tiếp nhận đầu tư. Về cơ
bản, pháp luật các nước đều quy định các hình thức đầu tư trực tiếp như liên
doanh, độc doanh, hợp doanh hoặc thực hiện hoạt động sáp nhật và mua lại
doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư.
-

Quy định về lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Theo pháp luật Việt Nam thì doanh nghiệp được đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế quốc dân trừ các
dự án gây phương hại đến bí mật, an ninh, quốc phòng, lịch sử, văn hoá,
thuần phong mỹ tục của Việt Nam. Ngoài ra, việc doanh nghiệp có thể đầu tư
vào lĩnh vực nào còn phụ thuộc vào quy định pháp luật của nước tiếp nhận
đầu tư.
-

Quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư

trực tiếp ra nước ngoài.
Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam quy định thống
nhất về quyền và nghĩa vụ đối với các chủ thể khi tham gia vào mối quan hệ
pháp luật này. Dù là nhà đầu tư ra nước ngoài hay đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam hay đầu tư trong nước thì đều có quyền và nghĩa vụ giống nhau.
-

Quy định về quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Đây là các quy định về trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước
trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×