Tải bản đầy đủ

Chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật của lào và kinh nghiệm của pháp luật việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BOUNTEM BOUASYPHAN

ĐỀ TÀI
CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC
THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT CỦA LÀO VÀ KINH
NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ YẾN


HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

BOUNTEM BOUASYPHAN


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Tên đầy đủ

CHDCND

Cộng hoà dân chủ nhân dân

NDCM

Nhân dân cách mạng


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP
ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI ........................................................... 7

1.1. Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại .... 7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương
mại ................................................................................................................... 7
1.1.2. Các loại chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại...... 12
1.2. Khái quát về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ..... 15


1.2.1. Khái niệm, đặc điểm chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại ..................................................................................................... 15
1.2.2. Vai trò của chế tài phạt vi phạm và ưu điểm của chế tài phạt vi phạm
hợp đồng so với các hình thức chế tài khác trong lĩnh vực thương mại ......... 18
1.3. Khái quát pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại ....................................................................................................... 24
1.3.1. Nguồn pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại ............ 24
1.3.2. Nội dung cơ bản và những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các quy
định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại... 29
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 32
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI
VÀ KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM ............................................. 33

2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về chế tài phạt vi
phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở nước Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào ............................................................................................................. 33
2.2. Thực trạng quy định pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về chế tài
phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại…………………………………36

2.2.1. Căn cứ áp dụng phạt vi phạm hợp đồng ............................................. 36
2.2.2. Mức phạt vi phạm .............................................................................. 39


2.2.3. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với phạt vi phạm ..................... 41
2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật nước CHDCND Lào về chế tài
phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ....................................... 44
2.4. Kinh nghiệm từ việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam về chế tài phạt vi
phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại .................................................... 55
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................ 59
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ
TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO .................. 60

3.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về chế tài do vi
phạm hợp đồng thương mại ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào .................. 60
3.1.1. Phù hợp với đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay .............................. 60
3.1.2. Đảm bảo sự thống nhất của các văn bản pháp luật ................................ 61
3.1.3. Đảm bảo sự bình đẳng của các bên trong quan hệ hợp đồng ................. 62
3.1.4. Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào .......................................................................................................... 62
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về
chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại............................ 63
3.2.1. Cần làm rõ đặc điểm của chế tài phạt vi phạm ...................................... 63
3.2.2. Bổ sung một điều khoản cụ thể quy định về căn cứ để áp dụng chế tài
phạt vi phạm................................................................................................... 64
3.2.3. Nên cho phép các bên tự do thỏa thuận mức phạt vi phạm .................... 65
3.2.4. Nên trao thẩm quyền cho Tòa án có thể hạ mức phạt vi phạm của các bên
nhưng có căn cứ xác định cụ thể ..................................................................... 66
3.2.5. Bổ sung quy định về các trường hợp miễn trừ trách nhiệm ................... 68
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................ 71
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 73


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp tồn tại và phát
triển trong một thời gian dài khi nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
(CHDCND Lào) loay hoay tìm hướng đi phát triển đất nước. Khi đã xác định
con đường cải cách, bước sang nền kinh tế thị trường, do được thiết lập trên
nền tảng pháp lý của quyền tự do kinh doanh, quan hệ thương mại và đầu tư
có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua quan hệ hợp đồng. Sự thoả
thuận, thống nhất ý chí một cách tự nguyện, bình đẳng giúp cho các bên cùng
có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu nghề nghiệp của
mình. Pháp luật hợp đồng với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của mọi sự thoả
thuận tự nguyện luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ
hợp đồng bình đẳng, an toàn cùng có lợi cho tổ chức, cá nhân.
Là chế định có lịch sử phát triển lâu đời trong khoa học pháp lý và thời
gian gần đây, dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, chế định
hợp đồng thương mại của các quốc gia đã có nhiều nét tương đồng. Bên cạnh
đó, với những truyền thống pháp luật khác nhau, trình độ phát triển kinh tế, xã
hội, tập quán kinh doanh không đồng nhất, chế định hợp đồng thương mại của
các nước còn có sự khác biệt về quan niệm, nguồn điều chỉnh quan hệ hợp
đồng cũng như một số nội dung cụ thể của chế định này. Với vị trí và vai trò
to lớn của hợp đồng thương mại, việc quan tâm đến hợp đồng thương mại thật
sự là một điều rất cần thiết trong quá trình phát triển hiện nay. Bên cạnh việc
quan tâm đến nội dung, hình thức của hợp đồng thương mại, một vấn đề cũng
rất quan trọng cần phải được quan tâm đến là việc thỏa thuận, áp dụng các chế
tài trong hợp đồng thương mại, trong đó có Phạt vi phạm hợp đồng. Phạt vi
phạm hợp đồng lần đầu tiên được ghi nhận một trong những hình thức chế tài
được ghi nhận tại Luật hợp đồng Lào 1990. Sau đó, cùng với những sửa đổi
trong Luật Doanh nghiệp Lào 2005 cũng như Luật giải quyết tranh chấp hợp


2

đồng 2005, Lào đã ban hành Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm số 01/NA năm
2008 (gọi tắt là Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008). Tuy nhiên,
trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Lào đã có nhiều thay đổi, đặc biệt cùng
với sự gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, mở cửa hội nhập thế giới,
thì các quy định của Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 về các
hình thức chế tài nói chung, về chế tài phạt vi phạm hợp đồng nói riêng đã
bộc lộ nhiều hạn chế. Tiếp nhận sự đổi mới của hệ thống pháp luật về hợp
đồng trong những năm gần đây, nhu cầu hoàn thiện các quy định về vấn đề
chế tài trong thương mại nói chung, phạt vi phạm hợp đồng nói riêng ngày
càng trở nên bức thiết nhằm ổn định các quan hệ hợp đồng, nhất là khi Lào đã
tham gia vào “sân chơi” quốc tế về các vấn đề thương mại.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã quyết định lựa chọn
“Chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật
của Lào và kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ, với hi
vọng góp phần hoàn thiện các quy định quan trọng trong lĩnh vực thương mại
này của Lào.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về chế định hợp đồng nói chung và phạt vi phạm hợp
đồng nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu ở các khía
cạnh khác nhau. Trong đó:
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu này tồn tại dưới các hình thức
đa dạng khác nhau từ sách, giáo trình đến các bài báo, tạp chí với nhiều khía
cạnh khác nhau liên quan tới trách nhiệm hợp đồng: (i) Nghiên cứu về hợp
đồng nói chung: Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ
luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp; Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật
hợp đồng Việt Nam - Phần chung, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội; Nguyễn
Như Phát, Lê Thị Thu Thủy (2003), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân…; (ii)


3

Nghiên cứu về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại: Nguyễn Thị Dung
(2001), Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh, Sách tham khảo,
Nxb Chính trị quốc gia; Nguyễn Thị Dung (1999), Trách nhiệm hợp đồng
theo qui định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Luật Thương mại, Luận văn
thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Hoàng Thị Hà Phương (2012),
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Đào Thị Ngọc Ánh
(2009), Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại, Khoá luận tốt
nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội…; (iii) Nghiên cứu về phạt vi phạm hợp
đồng thương mại: Đỗ Văn Đại (2007), “Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp
luật thực định Việt Nam”, Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao,
Số 19/2007, tr. 12 – 25; Nguyễn Việt Khoa, “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng
theo Luật thương mại năm 2005”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng
Quốc hội, Số 15/2011, tr. 46 – 51; Đỗ Văn Đại, Lê Thị Diễm Phương (2012),
“Về khái niệm và giảm mức phạt vi phạm hợp đồng”, Tạp chí Khoa học pháp
lý. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Số 3/2012, tr. 71 – 80;
Đồng Thái Quang, “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật thương mại
2005 - Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân.
Tòa án nhân dân tối cao, Số 20/2014, tr. 19 – 26; Lê Thị Hiên (2012), Chế tài
phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong việc giải quyết tranh chấp hợp
đồng theo Luật Thương mại năm 2005, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học
Luật Hà Nội; Nguyễn Thu Hương (2015), Chế tài phạt vi phạm và bồi thường
thiệt hại theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, Khóa luận tốt nghiệp,
Trường Đại học Luật Hà Nội …;
Tại Lào, nghiên cứu về chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung, phạt vi
phạm hợp đồng nói riêng chưa được quan tâm nghiên cứu. Do đó, các công
trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này hầu như tồn tại dưới các bài viết
tạp chí, trong đó có thể kể đến: BunNhăng VoLaChít (2011), “Trách nhiệm
hợp đồng trong Luật hợp đồng”, Tạp chí A-LunMay, tháng 11/2011; Okeo


4

PhômMa Kon (2012), “Một số vấn đề về chế tài do vi phạm hợp đồng trong
cơ chế thị trường”, Tạp chí KoSáng Phăk số 02 năm 2012; PhănKhăm
ViPhaVân (2014), “Một số suy nghĩ về việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng
kinh doanh trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí A-LunMay tháng 04/2014;...
Những công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung nghiên cứu về
vấn đề hợp đồng nói chung cũng như vấn đề các chế tài áp dụng do vi phạm
hợp đồng. Còn các vấn đề nghiên cứu về phạt vi phạm hợp đồng, hầu hết mới
tồn tại dưới dạng các bài tạp chí (ở cả Việt Nam và Lào). Vì vậy, các công
trình này, hầu hết mới chỉ nghiên cứu ở một góc độ nào đó về vấn đề phạt vi
phạm hợp đồng. Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ luận
văn thạc sĩ luật học về vấn đề phạt vi phạm hợp đồng theo pháp luật của nước
CHDCND Lào hay pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, chưa có công trình nào
nghiên cứu và đúc rút các bài học kinh nghiệm từ pháp luật Việt Nam và đề
xuất các kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật phạt vi phạm hợp đồng của
nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay. Do đó, việc nghiên cứu đề tài
càng có ý nghĩa quan trọng hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn này tập trung phân tích các quy
định pháp lý về khái niệm, đặc điểm của chế tài phạt vi phạm, những vấn đề
liên quan đến phạt vi phạm về quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quy
định phạt vi phạm tại nước CHDCND Lào và một số ý kiến nhằm làm sáng tỏ
những vấn đề pháp lý về phạt vi phạm trong pháp luật Lào.
* Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, người viết chỉ tập trung
nghiên cứu chế tài phạt vi phạm được quy định trong Luật Hợp đồng và Xử lý
vi phạm số 01/NA năm 2008 của nước CHDCND Lào, đồng thời người viết
cũng dựa vào Luật Thương mại 2005 của Việt Nam để làm rõ chế tài phạt vi
phạm trong hợp đồng của Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm cho Lào.


5

4. Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm nắm rõ khái niệm về chế tài và phân loại
chế tài thương mại. Hiểu và nắm được các quy định của pháp luật về việc áp
dụng phạt vi phạm, các điều kiện áp dụng của phạt vi phạm, bên cạnh đó,
nhận thức được sự khác nhau và giống nhau giữa chế tài phạt vi phạm và bồi
thường thiệt hại. Giải quyết những vụ án liên quan đến chế tài phạt vi phạm,
đưa ra phương hướng riêng để giải quyết những điểm chưa phù hợp của chế
tài phạt vi phạm trong hoạt động thương mại.
5. Các câu hỏi nghiên cứu
- Khái niệm về chế tài và phân loại chế tài? Khái niệm, đặc điểm, ý
nghĩa chế tài phạt vi phạm thương mại?
- Quy định của pháp luật về việc áp dụng phạt vi phạm, các điều kiện
áp dụng của phạt vi phạm, bên cạnh đó, nhận thức được sự khác nhau và
giống nhau giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại?
- Thực tiễn giải quyết những vụ án liên quan đến chế tài phạt vi phạm ở
nước CHDCND Lào?
- Bài học kinh nghiệm từ pháp luật Việt Nam?
- Phương hướng riêng để giải quyết những điểm chưa phù hợp của chế
tài phạt vi phạm trong hoạt động thương mại.
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Tác giả đã nghiên cứu giải quyết đề tài Luận văn dựa trên phương
pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
(Đảng NDCM Lào) về Nhà nước và pháp luật. Trong quá trình nghiên cứu,
để làm rõ vấn đề được đặt ra, người viết sử dụng các phương pháp phương
pháp sau đây: (i) Phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để tìm hiểu
các quy định của pháp luật Lào hiện hành; (ii) Phương pháp so sánh, đối
chiếu được vận dụng để đối chiếu với các quy định của pháp luật khác có liên


6

quan (đặc biệt là pháp luật Việt Nam); (iii) Phương pháp chứng minh được sử
dụng để đưa ra những dẫn chứng cụ thể; (iv) Phương pháp tổng hợp, thống kê
tài liệu như chương trình nhằm tìm kiểm, tra cứu và thu thập tài liệu.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài nghiên cứu về vấn đề phạt vi phạm hợp đồng một cách toàn diện
và có hệ thống trên cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp
luật kinh doanh, hợp đồng kinh doanh và thương mại, miễn trách nhiệm phạt
vi phạm hợp đồng trong giai đoạn vừa qua. So sánh một số điểm tương đồng
và khác biệt giữa miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Lào so với các
quy định của Việt Nam cũng như Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế. Phân tích, luận giải các quy định về vấn đề miễn trách nhiệm
phạt vi phạm hợp đồng thời phân tích các điểm bất cập của các quy định này
trong tình hình hiện nay. Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật về phạt vi phạm hợp đồng, cụ thể cần sửa đổi những điều
khoản nào của các văn bản pháp luật có liên quan.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế tài phạt trong vi phạm hợp
đồng lĩnh vực thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào về
chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại và kinh nghiệm
của pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định về pháp luật về chế tài vi
phạm hợp đồng thương mại trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật Cộng
hoà dân chủ nhân dân Lào.


7

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM
HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh
vực thương mại
1.1.1.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường, hình thức pháp lý chủ yếu của các quan
hệ tài sản nói chung và các quan hệ kinh doanh nói riêng chính là hợp đồng.
“Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể
nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự do,
tự nguyện và bình đẳng”1. Tuy nhiên, một thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi
hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ được coi là hợp pháp khi được Nhà nước
thừa nhận và đảm bảo thực hiện, tức là phải đảm bảo các yêu cầu về thẩm
quyền giao kết; về mục đích, đối tượng giao kết; về hình thức của sự thoả
thuận… đó chính là các quy định của pháp luật về hợp đồng. Một thoả thuận
đáp úng được các yêu cầu trên là một hợp đồng hợp pháp. Trong quá trình
thực hiện hợp đồng, không phải lúc nào các bên cũng thực hiện đúng, đầy đủ
nghĩa vụ đã được thỏa thuận. Do đó, các chế tài do vi phạm hợp đồng xuất
hiện, như là một đảm bảo cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng.
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là một loại chế tài phát sinh
trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó để hiểu thế nào là chế tài do vi
phạm hợp đồng thương mại cần hiểu khái niệm chế tài.
Chế tài là một khái niệm mang tính chất pháp lý, hiểu theo nghĩa hẹp
là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động
1

Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.109.


8

mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm
minh. Các biện pháp tác động nêu ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật
sẽ được áp dụng đối với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm pháp luật, không
thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy
phạm pháp luật. Hiểu theo nghĩa rộng, chế tài là những hậu quả pháp lý bất
lợi đối với bên vi phạm pháp luật.
Chế tài là điều kiện đảm bảo cần thiết cho những quy định của nhà nước
được thực hiện chính xác, triệt để. Do vậy, các biện pháp nêu trong chế tài
những biện pháp cưỡng chế gây hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp
luật. Các hình thức chế tài rất đa dạng, có thể là những biện pháp cưỡng chế nhà
nước mang tính trừng phạt có liên quan tới trách nhiệm pháp lý, báo gồm: chế tài
hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự; cũng có thể là những biện pháp chỉ
gây cho chủ thể những hậu quả bất lợi như đình chỉ, bãi bỏ các văn bản sái trái
của cơ quan cấp dưới, tuyên bố hợp đồng vô hiệu và các biện pháp khác.
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là một hình thức chế tài, tuy
nhiên, pháp luật các nước đều không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là chế
tài do vi phạm hợp đồng thương mại hay chế tài thương mại. Theo pháp luật
Hoa Kỳ, vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hoặc
không thực hiện đúng nghĩa vụ theo các điều kiện hợp đồng, Điều kiện hợp
đồng (conditions) là bất kỳ điều kiện nào đã được các bên thoả thuận cụ thể
trong hợp đồng hoặc được xác định áp dụng bằng những cách khác, ví dụ từ
những thông lệ, tập tụng hoặc các quy phạm dự liệu khi các bên không thoả
thuận (gap filling rules). Một sai lệch so với các điều kiện này đều được coi là
vi phạm hợp đồng. Theo truyền thống thông luật, có thể chia vi phạm hợp
đồng thành: từ chối thực hiện nghĩa vụ (anticipatory repudiation), không có
khả năng thực hiện hợp đồng (disability of performance) và thực hiện không
đầy đủ theo các điều kiện hợp đồng. Pháp luật Hoa Kỳ không có khái niệm
chế tài thương mại hay chế tài hợp đồng mà chỉ đưa ra các hình thức chế tài
áp dụng cho vi phạm hợp đồng bao gồm: đền bù thiệt hại, đền bù thiệt hại đã


9

được ước trước, huỷ bỏ hợp đồng, yêu cầu thực hiện hợp đồng và chế tài do
Toà án áp đặt nhằm sửa đổi hoặc xác định lại nội dung hợp đồng theo các
nguyên tắc của luật công bình (injunction), trong đó, chế tài bồi thương thiệt
hại là chế tài được áp dụng phổ biến nhất2.
Điều 33 Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 và Khoản 12
Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005 đều đưa ra khái niệm vi phạm hợp
đồng tương tự nhau, đó là: Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện,
thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận
giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này. Cùng với đó, Luật Hợp đồng và
xử lý vi phạm 2008 của Lào đã thiết lập nhằm thực hiện hiệu quả hợp đồng, đó
là chế tài phạt, cầm cố và bảo lãnh bằng tài sản của cá nhân và pháp nhân cùng
chế tài bồi thường thiệt hại. Còn Luật thương mại Việt Nam lại liệt kê các loại
chế tài trong thương mại, bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng; đình chỉ thực
hiện hợp đồng; huỷ bỏ hợp đồng; và các biện pháp khác do các bên thoả thuận
không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. Như vậy, chế tài do vi
phạm hợp đồng thương mại là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại, là
sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi của bên có hành vi vi phạm hợp đồng.
Một cách khái quát có thể hiểu: chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại là hình thức chế tài áp dụng đối với các chủ thể không thực hiện hay thực
hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết theo hợp đồng, theo đó bên có
hành vi vi phạm hợp đồng thương mại phải gánh chịu một hậu quả pháp lý
bất lợi do hành vi vi phạm của mình gây ra.
1.1.1.2. Đặc điểm
Từ định nghĩa, có thể thấy, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có
một số đặc điểm chủ yếu sau:

2

Hoàng Thị Hà Phương (2012), Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.12.


10

Thứ nhất, chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại phát sinh
trong quá trình thực hiện hợp đồng. Khác với trách nhiệm pháp lý nói chung
được áp dung đối với mọi vi phạm pháp luật, trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong thương mại chỉ được áp dụng đối với những vi phạm pháp luật
hợp đồng hay vi phạm những điều khoản mà các bên đã thoả thuận. Xuất phát
từ nguyên tắc tự do hợp đồng đã được pháp luật thừa nhận, các bên được
quyền tự do quyết định việc giao kết những hợp đồng trong thương mại phù
hợp với mục đích kinh doanh của mình. Chính vì vậy, trách nhiệm hợp đồng
chủ yếu phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng (khi đã có hợp đồng và
các bên đã bị ràng buộc với nhau về quyền và nghĩa vụ).
Thứ hai, về căn cứ phát sinh. Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
phát sinh trong lĩnh vực thương mại khi có hành vi vi phạm hợp đồng thương
mại có hiệu lực pháp luật. Khác với các loại chế tài pháp lý nói chung được
áp dụng đối với những hành vi vi phạm những điểu khoản trong hợp đồng mà
các bên đã thoả thuận. Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên tự
nguyện quyết định việc giao kết những hợp đồng phù hợp với mục đích kinh
doanh của mình. Khi hợp đồng đã được ký kết hợp pháp, các bên sẽ ràng
buộc với nhau về việc quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, bên vi phạm các
nghĩa vụ này sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay những chế
tài do vi phạm hợp đồng.
Thứ ba, về tính chất. Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại mang tính
tài sản rõ rệt: chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại buộc bên vi phạm phải
gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản. Yếu tố tài sản thể hiện ở cách thức bên
vi phạm phải gắng chịu những hậu quả bất lợi như: bên vi phạm phải sử dụng tiền
hoặc tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ nộp phạt vi phạm, nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam
kết theo hợp đồng. Việc nộp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại này được thực
hiện theo sự thoả thuận của các bên và theo quy định của pháp luật; bên vi phạm


11

cũng phải có những chi phí cần thiết để thực hiện đúng hợp đồng hay chịu những
hậu quả bất lợi nếu bên bị vi phạm đình chỉ hoặc huỷ bỏ hợp đồng.
Thứ tư, việc áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại cũng
mang tính mền dẻo, linh hoạt và tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên.
Khi bị vi phạm hợp đồng thương mại, bên vi phạm hợp đồng có quyền áp
dụng chế tài đối với bên vi phạm theo thoả thuận trong hợp đồng và theo quy
định pháp luật. Như vậy, việc áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại có thể được các bên thoả thuận trước trong hợp đồng (ví dụ như phạt vi
phạm hợp đồng, các trường hợp vi phạm dẫn đến huỷ hợp đồng…). Hơn nữa,
nếu xảy ra tranh chấp các bên có thể yêu cầu Toà án hay Trọng tài (khi có
thoả thuận) giải quyết.
Thứ năm, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có hình thức đa
dạng và được áp dụng trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Ví dụ,
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã liệt kê có 6 hình thức chế tài cụ thể
do vi phạm hợp đồng thương mại và các hình thức khác do bên thoả thuận
phù hợp với quy định pháp luật. Để đảm bảo nguyên tắc tự do kinh doanh, tự
do hợp đồng, khi các bên tự nguyên thiết lập quan hệ hợp đồng thì nghĩa vụ
hợp đồng và nghĩa vụ trực tiếp giữa các bên. Do đó, khi xảy ra hợp đồng, bên
vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm với bên bị vi phạm, tức trực tiếp gánh
chịu hậu quả bất lợi, còn bên bị vi phạm sẽ trực tiếp được hưởng thụ những
bù đắp vật chất mà bên vi phạm phải thực hiện.
Thứ sáu, mục đích của của việc xây dựng và áp dụng chế tài do vi
phạm hợp đồng thương mại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên trong quan hệ hợp đồng. Xây dựng chế tài do vi phạm hợp đồng
thương mại trước tiên là để ngăn ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm hợp
đồng và khi xảy ra vi phạm hợp đồng là nhằm khôi phục lại trạng thái ban
đầu, bồi hoàn những tổn thất đã xảy ra và trừng phạt bên có hành vi vi phạm.


12

1.1.2. Các loại chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Trong lĩnh vực hợp đồng thương mại, có nhiều chế tài được áp dụng khi
có vi phạm hợp đồng thương mại. Căn cứ chung để áp dụng chế tài bao gồm: có
hành vi vi phạm; có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra; có mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế; có lỗi của bên vi phạm. Tùy
từng trường hợp, mức độ vi phạm khác nhau mà các chủ thể có thể phải chịu
những loại chế tài khác nhau. Trong đó, pháp luật Lào quy định hai chế tài chủ
yếu đó là bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng, còn pháp luật Việt
Nam, ngoài hai chế tài này, còn ghi nhận thêm một số loại chế tài khác. Tựu
chung lại, các chế tài áp dụng khi có vi phạm hợp đồng thương mại bao gồm:
Thứ nhất, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Buộc thực hiện đúng
hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp
đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi
phạm phải chịu chi phí phát sinh.
Mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng là muốn các quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ hợp đồng được thực hiện đúng, đầy đủ và thiện chí, mang lại
lợi ích kinh tế cho mỗi bên. Đây chính là cơ sở thực tiễn của biện pháp buộc
thực hiện đúng hợp đồng, một biện pháp được áp dụng phổ biến khi có hành
vi vi phạm hợp đồng.
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng là nhằm đảm bảo
thực hiện trên thực tế hợp đồng đã ký kết, làm cho nghĩa vụ hợp đồng phải
được tiếp tục thực hiện. Các bên xuất phát từ mục tiêu kinh doanh để ký kết
hợp đồng chứ không phải là nhằm đạt được lợi ích từ việc nộp phạt hay bồi
thường thiệt hại từ phía bạn hàng. Trong nhiều trường hợp tiền phạt hay bồi
thường thiệt hại không thể thay thế lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng đã ký
kết của các bên.
Thứ hai, chế tài phạt vi phạm hợp đồng. Phạt vi phạm là việc bên bi vi
phạm yêu cầu bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng


13

nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm được
pháp luật ghi nhận.
Phạt hợp đồng là một chế tài tiền tệ, được áp dụng phổ biến đối với tất
cả các hành vi vi phạm các điều khoản của hợp đồng, không cần tính đến
hành vi đó đã gây ra thiệt hại hay chưa gây thiệt hại. So với chế tài “buộc thực
hiện đúng hợp đồng”, chế tài phạt hợp đồng cứng rắn hơn và có chức năng
chủ yếu là trừng phạt, phòng ngừa vi phạm hợp đồng, đề cao ý thức tôn trọng
pháp luật nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng.
Mục đích chủ yếu mà bên bị phạm hướng tới khi áp dụng hình thức chế
tài này không phải là “hành vi” giống như buộc thực hiện đúng hợp đồng mà
là khoản tiền phạt mà bên vi phạm phải trả.
Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 cũng như Luật
Thương mại Việt Nam năm 2005 qui định các bên có thể thoả thuận về một
khoản tiền phạt hợp đồng, nếu xảy ra vi phạm, bên bị vi phạm có quyền đòi
khoản tiền phạt mà không được quyền đòi bồi thường thiệt hại.
Với quy định như vậy, chế tài phạt vi phạm dường như được áp dụng
nhằm đồng thời hai mục đích: răn đe, ngăn chặn vi phạm hợp đồng (trong
trường hợp có vi phạm thì bên vi phạm sẽ phải nộp “phạt” không phụ thuộc
vào việc thực tế vi phạm đó có gây ra thiệt hại cho bên kia không); và, bồi
thường thiệt hại theo mức định trước (tức là nếu có vi phạm gây thiệt hại thì
bên bị thiệt hại không được quyền đòi bồi thường thiệt hại theo mức thiệt hại
thực tế mà chỉ được đòi khoản tiền đã xác định trước mặc dù thực tế không có
thiệt hại hoặc thiệt hại có thể là thấp hơn hoặc cao hơn mức quy định này).
Thứ ba, chế tài bồi thường thiệt hại. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi
phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên
bị vi phạm.
Nếu như hình thức phạt hợp đồng có chức năng chủ yếu là trừng phạt,
giáo dục và phòng ngừa thì bồi thường thiệt hại có chức năng chủ yếu là bồi


14

hoàn, bù đắp khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm. Với
mục đích này, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra.
Thứ tư, các chế tài tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng. Chế tài
tạm ngừng, đình chỉ và huỷ bỏ hợp đồng thể hiện sự tự vệ và thái độ phản ứng
trực tiếp của bên bị vi phạm đối với bên vi vi phạm hợp đồng.
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực
hiện nghĩa vụ trong hợp đồng. Khi hợp đồng thương mại bị tạm ngừng thực
hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng. Khi hợp đồng thương mại bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm
dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không
phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền
yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
- Huỷ bỏ hợp đồng là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó làm cho nội
dung hợp đồng bị huỷ bỏ không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Huỷ bỏ hợp
đồng có thể là huỷ bỏ một phần hợp đồng hoặc huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng.
Huỷ bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ
hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
Huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả
các nghĩa vụ của hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Khi một hợp đồng trong
thương mại bị huỷ bỏ toàn bộ, hợp đồng được coi là không có hiệu lực kể từ
thời điểm giao kết. Các bên không không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ
đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thoả thuận về các quyền và nghĩa vụ sau
khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mà các bên thoả
thuận tạm ngừng, đình chỉ và huỷ bỏ hợp đồng thì không được coi là chế tài
trong thương mại, chỉ được coi là chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương


15

mại khi một bên vi phạm và một bên tuyên bố đơn phương tạm ngừng, đình
chỉ, hoặc huỷ bỏ hợp đồng.
Thứ năm, các biện pháp khác do các bên thỏa thuận. Trong điều kiên
kinh tế thị trường, khi bước vào sân chơi chung của thế giới, các chủ thể kinh
doanh không chỉ phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong nước, mặt khác
nguyên tắc tự do giao kết, tự do thoả thuận hợp đồng càng có vai trò quan trọng.
Do đó, để đáp ứng yếu cầu của xu thế mở cửa hội nhập chung vào nền kinh tế
thế giới, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã ghi nhận thêm hình thức chế
tài do các bên thoả thuận. Tuy nhiên, không phải cứ biện pháp chế tài nào do các
bên thoả thuận là đều được áp dụng khi có hành vi vi phạm, mà các biện pháp
khác do các bên thoả thuận phải không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên và tập quán thương mại quốc tế3.
1.2. Khái quát về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh
vực thương mại
1.2.1.1. Khái niệm chế tài phạt vi phạm
Phạt vi phạm được hiểu là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả
một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận.
Tuy nhiên, quan điểm về chế tài phạt vi phạm lại có sự khác nhau giữa các hệ
thống pháp luật.
Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
(Công ước Viên 1980) đã không có một quy định nào về vấn đề phạt vi phạm,
có lẽ đây là hệ quả của việc không thể dung hòa được quan điểm khác nhau
của hai hệ thống pháp luật lớn nhất thế giới là Civilaw và Common law về
trách nhiệm phạt vi phạm. Tuy nhiên vấn đề này đã được quy định trong Bộ
3

Khoản 7, Điều 292, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005.


16

nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại quốc tế năm 2004 (Bộ
nguyên tắc UNIDROIT 2004), đây quả thực là một nỗ lực đáng ghi nhận của
các nhà soạn thảo Bộ nguyên tắc. Bộ nguyên tắc đã không sử dụng thuật ngữ
phạt vi phạm, mà lại gọi là tiền bồi thường ấn định trước nhưng thực chất đây
chính là hình thức phạt vi phạm hợp đồng. Điều 7.4.13 Bộ nguyên tắc
UNIDROIT 2004 quy định về “Tiền bồi thường ấn định trước trong hợp
đồng” như sau: “khi hợp đồng quy định bên không thực hiện nghĩa vụ sẽ phải
trả một khoản tiền bồi thường nhất định do việc không thực hiện, bên có
quyền sẽ được hưởng khoản tiền này một cách độc lập với thiệt hại thực tế
phải gánh chịu. Tuy vậy, mặc dù có thỏa thuận khác, khoản tiền bồi thường
có thể được giảm một cách hợp lý nếu nó quá mức so với thiệt hại gây ra do
việc không thực hiện và do các hoàn cảnh khác”.
Các hệ thống pháp luật khác nhau, có những cách nhìn nhận không
giống nhau về hình thức trách nhiệm phạt vi phạm. Trong khi các nước theo
hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đều ghi nhận hình thức này thì trái ngược
lại các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ lại không thừa nhận vấn đề
này, và cho rằng: “các biện pháp bảo vệ pháp lý trong lĩnh vực dân sự chỉ có
thể mang tính chất đền bù mà không có tính chất dự phạt hoặc trừng phạt bên
vi phạm nghĩa vụ. Vì vậy, những thỏa thuận của các bên về những khoản tiền
mang tính chất dự phạt (penalty) sẽ bị bác bỏ hoặc sẽ không được công nhận.
Nói cách khác, khi có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, bên có quyền không có
quyền đòi phạt vi phạm (penalty) mà chỉ được bồi thường hoặc những thiệt
hại xảy ra hoặc những loại thiệt hại được ấn định trước hay được tính trước
(lig-uidated damaged) với điều kiện những thiệt hại được ấn định trước hay
được tính trước đó phải hợp lý , tức là phải tương ứng với thiệt hại dự kiến
hoặc thiệt hại thực tế xảy ra”4.
Pháp luật Việt Nam và Lào đều thừa nhận hình thức phạt vi phạm:
4

Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
tr.481.


17

Pháp luật Lào quy định chế tài phạt vi phạm tại Điều 36 Luật Hợp đồng
và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 như sau: “Phạt vi phạm hợp đồng là biện
pháp áp dụng đối với những người không thực hiện, thực hiện không đầy đủ
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên.
Mức phạt sẽ được áp dụng theo các quy định cụ thể liên quan hoặc
theo thỏa thuận giữa các bên ký kết hợp đồng trong trường hợp không có quy
định cụ thể”.
Trong khi đó, theo Điều 300 Luật Thương Mại Việt Nam 2005 quy
định: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một
khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận”.
Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 cũng quy định rằng: “Phạt vi
phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm
nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”.
Nghiên cứu quy định của Lào, Việt Nam và các nước, dù còn những
khác nhau trong nội hàm chế tài phạt vi phạm, nhưng nhìn chung lại, chúng ta
có hiểu chế tài phạt vi phạm theo nghĩa sau: “Chế tài phạt vi phạm là một loại
chế tài gây bất lợi cho người có hành vi vi phạm, được thỏa thuận cụ thể giữa
các bên về một mức phạt nhất định khi có hành vi vi phạm mà ở đó các bên
dù có lỗi hay không có lỗi vẫn phải chịu hậu quả bất lợi này.”5
1.2.1.2. Đặc điểm của chế tài phạt vi phạm
Khi một hợp đồng thương mại được xác lập có hiệu lực pháp luật, các
bên có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Việc vi phạm các nghĩa vụ theo hợp đồng (không thực hiện, thực hiện không
đúng, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu chế
tài do pháp luật quy định. Xét về bản chất thì phạt vi phạm là dạng cụ thể của
trách nhiệm pháp lý phát sinh trong hoạt động thương mại.
Phạt vi phạm trong hoạt động thương mại có những đặc điểm cơ bản là:
5

Lê Trung Thảo (2009), Tài liệu nghiên cứu pháp luật về thương mại, Nxb Thời Đại, Hà Nội tr.278.


18

Thứ nhất, được áp dụng trên cơ sở hành vi vi phạm hợp đồng thương
mại có hiệu lực pháp luật. Có nghĩa là việc thỏa thuận về phạt vi phạm phải
phù hợp với pháp luật hiện hành, bảo đảm đầy đủ các điều kiện của một hợp
đồng có hiệu lực theo của Luật hợp đồng, không rơi vào các điều khoản về
hợp đồng vô hiệu đã được quy định tại Luật hợp đồng.
Thứ hai, nội dung gắn liền với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp
đồng hoặc trách nhiệm về tài sản. Việc thỏa thuận về phạt vi phạm phải liên
quan trực tiếp đến phần nghĩa vụ trong hợp đồng mà hai bên giao kết, việc
thỏa thuận này không thể nào là một thỏa thuận nằm ngoài và không liên quan
đến hợp đồng. Việc quy định này đảm bảo quyền lợi ích cho các bên, tránh
được những thỏa thuận trong hợp đồng gây ảnh hưởng đến các bên, ảnh
hưởng đến vấn đề cạnh tranh lành mạnh.
Thứ ba, do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị phạt
vi phạm áp dụng trên cơ sở pháp luật. Khi một bên bắt đầu có hành vi xâm phạm
đến hợp đồng đã thỏa thuận, đó có thể là việc thực hiện sai, thực hiện không
đúng theo thỏa thuận hoặc có thể là không thực hiện hợp đồng thì bên bị vi phạm
đương nhiên có quyền yêu cầu bên vi phạm phải có nghĩa vụ thanh toán khoản
tiền phạt vi phạm như đã thỏa thuận trong hợp đồng với mình (không đề cập đến
những phần nghĩa vụ khác). Khi bên vi phạm luôn tìm cách trốn tránh thực hiện
nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phạt vi phạm như trong thỏa thuận với bên bị phi
phạm thì bên bị vi phạm có quyền tiến hành quá trình tố tụng tại cơ quan có
thẩm quyền theo pháp luật. Lúc này quyền lợi của bên bị vi phạm sẽ được sự bảo
đảm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

1.2.2. Vai trò của chế tài phạt vi phạm và ưu điểm của chế tài phạt vi
phạm hợp đồng so với các hình thức chế tài khác trong lĩnh vực thương mại
1.2.2.1. Vai trò của chế tài phạt vi phạm
Theo quy định của pháp luật hiện hành, bên vi phạm hợp đồng phải trả
cho bên bị vi phạm tiền phạt hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại thì phải


19

bồi thường thiệt hại. Như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng không phụ
thuộc vào việc có hay không có thiệt hại. Thực tế có nhiều trường hợp, số tiền
phạt vi phạm và số tiền bồi thường thiệt hại sẽ lớn hơn thiệt hại thực tế mà bên bị
vi phạm phải gánh chịu. Cũng chính vì điều đó mà phạt vi phạm được xem là
một biện pháp được áp dụng nhằm củng cố quan hệ hợp đồng thương mại, nâng
cao ý thức tôn trọng pháp luật họp đồng kinh tế nói riêng, pháp luật quản lý kinh
tế nói chung đồng thời phòng ngừa vi phạm hợp đồng thương mại.
Phạt vi phạm được nói đến chủ yếu trong luật thương mại là một trong
những biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng. Xuất phát từ quy định nói trên
của pháp luật mà nhiều người có quan điểm, theo đó việc trả tiền phạt vi
phạm được coi là biện pháp trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Quan
điểm này chỉ phù hợp trong nền kinh tế phi thị trường, kế hoạch hoá. Bởi vì
khi đó các chủ thể của quan hệ hợp đồng thương mại chủ yếu tập trung ở
doanh nghiệp nhà nước và khi đó việc ký kết và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
được xem là kỷ luật của Nhà nước. Trong cơ chế kinh tế thị trường thì mục
đích của việc áp dụng phạt vi phạm có nội dung hoàn toàn khác. Vì vậy, cách
hiểu trên trở nên không thích hợp.
Xuất phát từ việc phân chia các quan hệ hợp đồng trong hoạt động dân
sự và thương mại thành những lĩnh vực riêng biệt và được điều chỉnh bởi các
quy định của các văn bản pháp luật khác nhau mà các quy định về phạt hợp
đồng có các vai trò sau:
Thứ nhất, phạt vi phạm được xem là biện pháp tăng cường trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Với mức
phạt được quy định cụ thể thì điều này giúp cho các chủ thể có thể biết trước
được mực phạt sẽ phải gánh chịu nếu vi phạm hợp đồng và hạn chế được tình
trạng vi phạm trong hợp đồng. Đối với trường hợp phạt vi phạm theo hợp
đồng, khi các bên đưa điều kiện phạt vi phạm vào hợp đồng với mục đích
thúc đẩy bên chậm thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ phải thực
hiện nghĩa vụ đầy đủ, thì việc sử dụng phạt vi phạm trước hết với tư cách là


20

tăng cường mức trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ khi giao kết hợp đồng. Tuy
nhiên trong trường hợp này phạt vi phạm cũng có thể được sử dụng với tư
cách là một hình thức của trách nhiệm vật chất với mục đích là đền bù cho
bên bị vi phạm, đặc biệt là khi các bên chỉ thoả thuận phạt vi phạm mà không
thoả thuận bồi thường thiệt hại6.
Thứ hai, khi có sự vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng bởi vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là sự đền bù
vật chất cho bên bị vi phạm. Và sự đền bù vật chất này được quy định cụ thể
với một lượng phần trăm (%) theo luật định. Theo quan điểm của TS Dương
Anh Sơn và TS Lê Thị Bích Thọ, phạt vi phạm là một trong hai hình thức của
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng không thể mang tính trừng phạt mà chỉ có
chức năng đền bù. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng không coi tính
trừng phạt là chức năng của phạt vi phạm. Cách nhìn nhận này trong pháp luật
của các nước rõ ràng phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại.
Trong thực tiễn có những trường hợp mặc dù có hành vi vi phạm hợp đồng
nhưng thiệt hại không xảy ra, nếu bên bị vi phạm trong trường hợp đó yêu cầu
bên vi phạm trả tiền phạt đã thoả thuận trước thì rõ ràng là phù hợp với quy
định của pháp luật hiện hành, vì đó là phần trách nhiệm mà chính các bên đã
thỏa thuận trong hợp đồng7.
Thứ ba, nhằm bảo đảm phân biệt rõ giá trị pháp lý, ý nghĩa riêng biệt
của mỗi điều khoản (nhiều khi phải mất nhiều công sức qua đàm phán, thỏa
thuận mới đạt được), cũng như nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng, lạm dụng
của một bên yêu cầu hủy bỏ giao dịch vì sự vô hiệu của một điều khoản mà
trong nhiều tình huống là không cần thiết và không bảo vệ được quyền và lợi
ích của bên (các bên) còn lại. Tuy nhiên đều này không có nghĩa là các bên
được quyền tự do thỏa thuận nội dung của điều khoản này mà nó còn tùy
6
Dương Anh Sơn, Lê Thị Bích Thọ (2005), “Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của
pháp luật Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, (1), tr.42-48.
7
Dương Anh Sơn, Lê Thị Bích Thọ (2005), “Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của
pháp luật Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, (1), tr.42-48.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×