Tải bản đầy đủ

Sáng kiến dùng tình cảm để giáo dục học sinh cá biệt

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
TÊN SÁNG KIẾN:
DÙNG TÌNH CẢM ĐỂ GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT
LĨNH VỰC: QUẢN LÍ

Năm học 2018 - 2019


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Dùng tình cảm để giáo dục học sinh cá biệt
2. Bộ môn ( lĩnh vực) áp dụng sáng kiến: Quản lí
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thiết
Ngày tháng/năm sinh: 18/8/1984
Trình độ chuyên môn: Đại học Văn
Chức vụ, đơn vị công tác: Trường THCS Ứng Hoè
Điện thoại: 0983497870
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS Ứng Hòe-Huyện Ninh GiangTỉnh Hải Dương (ĐT:03203760777)

5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu : Trường THCS Ứng Hòe-Huyện Ninh
Giang- Tỉnh Hải Dương (ĐT:03203760777)
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Để áp dụng được sáng kiến
cần phải được sự hỗ trợ từ phía nhà trường, sự kết hợp của giáo viên bộ
môn, các tổ chức trong và ngoài nhà trường và phụ huynh học sinh.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 8/2016

TÁC GIẢ

(ký, ghi rõ họ tên)

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP
DỤNG SÁNG KIẾN

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT
(đối với trường mầm non, tiểu học, THCS)


TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Để xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực thì việc giáo dục ý
thức học sinh là một trong những yếu tố quan trọng và không thể thiếu được.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong những giải pháp giáo dục được
quan tâm nhất đối với từng giáo viên trong trường học, trong ngành giáo
dục nước nhà. Trong các trường học hiện nay việc giáo dục đạo đức cho học
sinh cá biệt là một trong những nhiệm vụ thiết yếu, nhất là ở trong nhà
trường THCS nhằm hạn chế được những đối tượng học sinh yếu về mặt đạo
đức là góp phần vào chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Nhằm
đào tạo thế hệ cách mạng tương lai . Thế nhưng thực tế trong các trường
THCS hiện nay một bộ phận học sinh cá biệt dường như trường nào cũng có
và năm nào cũng có. Trong khi đó mục tiêu giáo dục là “ tiếp tục phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẫm mỹ và các kỹ năng cơ bản của nhân cách
con người Việt Nam”. Từ đó vấn đề đặt ra là trường THCS có nhiệm vụ giáo
dục học sinh phát triển để trở thành con người hữu ích cho xã hội, để các
em trở thành con ngoan trò giỏi mà trước tiên là phát triển về mặt nhân cách.
Tuy nhiên trong một vài năm qua hiện tượng học sinh cá biệt lại xuất hiện
ngày một nhiều gây những ảnh hưởng không nhỏ tới xã hội và cụ thể hơn là
môi trường giáo dục. Đây là một vấn đề cần thực sự đươc quan tâm. Song
việc giáo dục học sinh cá biệt không hề đơn giản. Chúng ta cần giáo dục các
em bằng tình yêu và trách nhiệm thực sự chứ không phải là việc thực hiện


nhiệm vụ thông thường. Vì thế tôi mạnh dạn đề xuất sáng kiến “ Dùng tình
cảm để giáo dục học sinh cá biệt”
2.Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
- Điều kiện áp dụng sáng kiến: Để áp dụng được sáng kiến cần phải được sự
hỗ trợ từ phía nhà trường, sự kết hợp của giáo viên bộ môn, các tổ chức
trong và ngoài nhà trường và phụ huynh học sinh


- Thời gian: Áp dụng trong quá trình chủ nhiệm lớp năm học 2016- 2017 và
năm học 2017 - 2018 đặc biệt là trong công tác giáo dục học sinh cá biệt
- Đối tượng : Áp dụng đối với các đối tượng là học sinh cá biệt
3 .Nội dung sáng kiến
- Trong sáng kiến này tôi tập trung làm rõ những giải pháp cụ thể trong công
tác giáo dục và cảm hóa học sinh cá biệt. Trong đó việc hiểu rõ về học sinh
cá biệt là rất quan trọng. Ngoài ra ở sáng kiến này tôi còn đề xuất thêm 8
giải pháp khác bao gồm cả nội dung những việc nên làm và không nên làm
khi giáo dục học sinh cá biệt.
- Tính mới của sáng kiến này được thể hiện ở chỗ: Tôi đã đề xuất giải pháp
đầu tiên làm cơ sở cho những giải pháp khác trong công tác giáo dục học
sinh cá biệt đó là giáo viên phải hiểu một cách thấu đáo về “học sinh cá
biệt” cụ thể đó là những đối tượng nào? Có mấy nhóm học sinh cá biệt và
những nguyên nhân nào khiến các em trở thành cá biệt như vậy. Hiểu được
điều đó giáo viêm mới có thể có những giải pháp cụ thể trong việc giáo dục
đối tượng học sinh này. Hơn thế nữa, trong sáng kiến này tôi còn đưa ra
nguyên tắc “nên và không nên”và coi đây là những nguyên tắc bắt buộc khi
giáo dục học sinh cá biệt.
4.Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Khi áp dụng sáng kiến này, tôi nhận thấy việc giáo dục và cảm hóa học
sinh cá biệt không còn là một việc khó. Các em có sự thay đổi theo chiều
hướng tích cực, bản thân giáo viên cũng cảm thấy công việc của mình có ý
nghĩa hơn.
5.Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.
- Với sáng kiến này tôi xin đề xuất được áp dụng ở tất cả các khối lớp trong
toàn trường và mở rộng hơn nữa để không còn hiện tượng học sinh cá biệt
trong trường học.


MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Trong những năm gần đây, khi xu thế toàn cầu hoá, hội nhập với thế giới,
mở ra cho nước ta những thời cơ, vận hội mới. Nền kinh tế đã có những
bước phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân được nâng lên. Công tác giáo
dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chăm lo hơn. Trong nhà trường,
các tổ chức đoàn thể cũng có nhận thức đúng về tầm quan trọng của đạo đức
và công tác giáo dục đạo đức học sinh, chất lượng giáo dục ngày càng được
nâng cao. Bên cạnh những thành tựu của ngành Giáo dục và Đào tạo như: Số
học sinh học giỏi, khá, học sinh có hạnh kiểm tốt, khá ngày càng nâng lên,
đã góp phần tạo nên những thành quả quan trọng trong việc thực hiện mục
tiêu của Ngành: "Nâng cao dân trí - Đào tạo nhân lực - Bồi dưỡng nhân tài"
cho đất nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan,
đây đó, còn có những hiện tượng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng,
thích chạy theo lối sống thực dụng, thậm chí những hành động phạm pháp.
Các tệ nạn xã hội có lúc, có nơi đã xâm nhập vào trong trường học; tình
trạng một số ít học sinh lún sâu vào tệ nạn xã hội, thậm chí đánh thầy, gây
án, giết người, cướp của, rượu chè bê tha, cờ bạc, có lối sống tha hóa, buông
thả, số này tuy không phổ biến nhưng có xu hướng gia tăng, làm băng hoại
đạo đức, tha hoá nhân cách, tác động xấu tới các giá trị đạo đức truyền
thống, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giáo dục đạo đức học sinh, đến an
ninh trật tự xã hội, gây nỗi đau, và là vấn đề đáng lo ngại cho các bậc cha
mẹ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Người có tài mà không
có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng
khó". Nhân dân ta cũng có câu: "Tiên học lễ, hậu học văn" Các câu nói trên
đều khẳng định vai trò cực kỳ quan trọng của phẩm chất đạo đức trong sự
nhìn nhận, đánh giá, sự tồn tại và phát triển của mỗi người nói riêng và xã
hội nói chung. Mục tiêu cơ bản của giáo dục là xây dựng một thế hệ trẻ có
phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ học vấn cao, có thể chất cường tráng, có


tâm hồn trong sáng lành mạnh, có khả năng thích ứng và kỹ năng sống cao.
Bởi vậy, bất kỳ cơ sở giáo dục nào cũng rất quan tâm về giáo dục hạnh kiểm
cho học sinh.
Ở nước ta, sự nghiệp giáo dục đào tạo đang được toàn Đảng toàn dân
quan tâm. Vai trò của người giáo viên trong nhà trường gắn liền với hai
nhiệm vụ: Vừa giảng dạy vừa làm công tác giáo dục. Mục đích là đào tạo ra
những học sinh vừa có kiến thức văn hóa, vừa có nhân cách làm người. Hiện
nay, trên các phương tiện thông tin báo chí, truyền hình đã lên tiếng khá
nhiều về tình hình học sinh cá biệt . Vấn đề này đã trở thành mối quan ngại
của dư luận, nhất là với gia đình và nhà trường.Học sinh cá biệt trường nào
cũng có. Học sinh cá biệt không nhiều, song lại là “lực cản” rất lớn, thậm trí
là thế lực đen” đe dọa, khống chế những nhân tố tích cực dám đấu tranh bảo
vệ lẽ phải ở trong lớp, trong trường.
Giáo dục là khoa học nhưng cũng là nghệ thuật. Trước những vụ bạo lực
học đường liên tiếp xảy ra gần đây đặt giáo viên và các nhà quản lý giáo dục
trước thực tế: làm thế nào để cảm hóa và giáo dục học sinh cá biệt có hiệu
quả là một vấn đề khá nan giải, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Công việc
này đã và đang trở thành một thách thức lớn với toàn xã hội nói chung và
đặc biệt là ngành giáo dục nói riêng.
Qua nhiều năm dạy học và tham gia công tác giáo dục quản lí học
sinh đặc biệt là công tác chủ nhiệm, tôi nhận thấy trong trường và trong
chính những lớp mình chủ nhiệm vẫn còn có hiện tượng học sinh cá biệt.
Điều đó trước hết ảnh hưởn đến chính tương lai của các em bên cạnh đó
cũng gây những ảnh hưởng không nhỏ đến tập thể lớp và nhà trường. Trăn
trở trước công tác giáo dục học sinh cá biệt, tôi đã chọn và nghiên cứu đề
tài: “Dùng tình cảm để giáo dục học sinh cá biệt”. Thực hiện đề tài này, tôi
rất mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo, ban giám hiệu, tổ chuyên
môn để đề tài phát huy hiệu quả cao hơn.
2.Cơ sở lý luận của vấn đề


Bất cứ một ai khi đã chọn ngành nghề cho mình thì đều xác định cái
đích mình cần đạt đến. Cái đích đó tưởng như rất gần, rất dễ thực hiện,
nhưng trong thực tiễn không phải như vậy, mà nhiều khi để đạt được phải đổ
nhiều mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả tính mạng để đạt được nó.
Cũng như mọi ngành nghề khác, nghề dạy học cũng không tránh khỏi
những vấn đề nan giải ấy. Khi đã chọn cho mình cái nghề này, nó sẽ gắn bó
với mình suốt cả cuộc đời, người giáo viên sẽ sẵn sàng đón nhận bất cứ đối
tượng học sinh nào để dạy dỗ cho các em trở thành người có đức, có tài. Học
sinh THCS bắt đầu có những thay đổi về tâm sinh lí. Các em thường có
những suy nghĩ bốc đồng, cảm tính và có xu hướng thích thể hiện mà chưa
phân biệt đươc hết đúng sai. Chính vì thế, nếu môi trường tác động tốt thì
các em sẽ có những hành vi và đạo đức tốt, còn ngược lại thì sẽ rất tồi tệ, có
thể các em sẽ hư hỏng, dối trá, mất tư cách, đạo đức kém….
Tuy nhiên ở lứa tuổi này, các em cũng rất thích được tán dương, khen
ngợi. Vì vậy chúng ta cần những giải pháp thích hợp để giáo dục và định
hướng đúng đắn cho các em học sinh trong các hoạt động giáo dục, học tập
và vui chơi lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em. Chúng ta cần có
những biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng học sinh. Với học
sinh dạng cá biệt, cần có những biện pháp riêng, phù hợp với hoàn cảnh của
từng em, mà từ đó mới hướng các em đi vào nề nếp. Muốn làm điều đó giáo
viên cần phải có những hiểu biết nhất định về từng hoàn cảnh, từng nguyên
nhân tạo nên những học sinh cá biệt đó và từ đó xây dựng các biện pháp
riêng cụ thể áp dụng cho từng em học sinh cá biệt
3.Thực trạng của vấn đề
Qua theo dõi đã phát hiện những năm gần đây, hiện tượng học sinh cá biệt
có phần gia tăng và ở nhiều cấp độ khác nhau như vô lễ với thầy, cô giáo,
đánh thầy giáo và khi ra xã hội có những trường hợp trộm cắp, tiêm chích xa
vào các tệ nạn xã hội…để cuối cùng trở thành những “sản phẩm thừa” của
xã hội.


Bản chất con người ở mỗi học sinh là lương thiện là trong sáng, ngây
thơ, hồn nhiên, nhưng do những yếu tố khác nhau làm ảnh hưởng đến đời
sống, tâm lý của học sinh nên các em có những biểu hiện khác nhau như vậy.
Ở lứa tuổi này các em rất cần có sự hỗ trợ, tư vấn của người lớn hay nói cách
khác các em cần có sự giáo dục và các em rất cần đến chúng ta đến những
người thầy giáo, cô giáo, muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao chúng ta cần
có tâm huyết, năng động sáng tạo đồng thời có sự kiên trì,thật sự kiên trì và
giáo dục học sinh bằng “cái tâm” của nhà giáo nhất định chúng ta sẽ thành
công.
Có rất nhiều yếu tố, hiện tượng làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm
không lành mạnh ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế
đến năng lực học tập của các em làm cho các em trở thành học sinh cá biệt,
những yếu tố, những hiện tượng đó không phải là hiện tượng ngẫu nhiên
hoặc tình cờ mà có, tất cả đều có những nguyên nhân nhất định.
4.Các giải pháp (biện pháp) thực hiện
4.1.Cần hiểu rõ về học sinh cá biệt
Để có thể giải quyết một vấn đề nào đó một cách triệt để, chúng ta cần
hiểu thấu đáo về những vấn đề đó. Và trong việc giáo dục học sinh cá biệt
cũng vậy. Để có thể giáo dục các em chúng ta cần hiểu học sinh cá biệt là
những học sinh như thế nào.
* Thế nào là học sinh cá biệt?
Trước hết, cần hiểu đúng khái niệm “học sinh cá biệt”. Đó là những
học sinh có cá tính khác biệt so với số đông học sinh bình thường
* Phân loại học sinh cá biệt và những biểu hiện cụ thể
- Những đối tượng cá biệt về học lực (có ba loại):
+ Một là những em có trí tuệ và khả năng nhận thức bình thường nhưng rất
lười biếng, lêu lổng, học kiểu “tài tử” dẫn đến hổng kiến thức, hay quay cóp
trong học tập. Kết quả học tập thất thường, sút kém, luôn xếp “đội sổ”, dẫn
đến chán học.


+ Hai là những em thiểu năng về trí tuệ: Là những trẻ trông hình thức bề
ngoài bình thường, hơi có vẻ như đần độn, trong học tập thì dạy mãi, học
mãi chẳng nhập tâm được cái gì ( hay nói cách khác là thuộc diện “chậm
hiểu”).
+ Ba là những em thuộc diện khuyết tật (nói ngọng hoặc không nói được,
mắt, tai, tay chân…) dẫn dến không đủ giác quan, phương tiện để học tập
bình thường như những bạn khác.
- Những đối tượng cá biệt về hạnh kiểm: Thường có những biểu hiện như
+ Hay chốn học đi chơi, lừa dối cha mẹ, thầy cô, giả tạo chữ kí của bố
mẹ trong sổ liên lạc hoặc giấy xin phép;
+ Dọa nạt bạn bè thậm chí đánh nhau; lảng tránh các hoạt động tập
thể;
+ Càn quấy, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thích “chơi trội” theo kiểu
con nhà đại gia giàu có cụm lại với nhau đối lập với tập thể lớp. Họ thích ăn
chơi phá phách hơn là học hành tử tế; Thậm chí còn có cả ăn cắp, ăn trộm,
“cắm quán” tài sản không chỉ của mình mà còn lừa “mượn” của bạn;
+ Khéo léo, nhanh trí trong việc giở những trò tinh nghịch với thầy
cô, bạn bè; Hay xem thường, trêu ngươi, khiêu khích trước thầy cô, bạn bè
nhằm thỏa mãn những nhu cầu tinh nghịch được xắp sẵn trong đầu óc chúng.
Có cách nói năng, ăn mặc, đi đứng hành động khác thường để gây sự chú ý.
+ Có biểu hiện thích yêu đương, phân tán tư tưởng, thích diện, hay
cãi lí với bố mẹ và thầy cô; sẵn sàng bỏ học đi chơi cùng bạn…
* Nguyên nhân:
- Từ gia đình : Thiếu sự quan tâm hay quá tin tưởng, chiều chuộng
của gia đình; những éo le trong cuộc sống gia đình ảnh hưởng rất lớn đến sự
hư đốn, hay nói một cách khác là đạo đức học sinh yếu kém.
-Từ xã hội : Thực trạng những mặt xấu của xã hội; trong điều kiện xã
hội hiện nay từng giờ từng ngày những cám dỗ,ảnh hưởng tiêu cực của xã
hội dội vào nhà trường và tác động đến học sinh.
- Từ nhà trường: Nhà trường chưa có biện pháp phù hợp trong việc


quản lí giáo dục học sinh; chưa quan tâm đúng mức tới những học sinh có
hoàn cảnh đặc biệt (những em quá đầy đủ về vật chất, được chiều chuộng;
ngược lại những em quá khó khăn thiếu thốn về vật chất hoặc những em có
hoàn cảnh éo le, những em có cá tính khác thường…); chưa tạo ra môi
trường thân thiện thức sự khi các em đến trường, làm cho các em thấy nhàm
chán khi đến trường, có nhu cầu muốn tự thay đổi và làm mới môi trường
sống; từng giáo viên chưa trở thành chỗ dựa về tinh thần cho các em mỗi lúc
gặp khó khăn, giáo viên còn ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm, sợ bị xúc
phạm khi đối diện với học sinh hư, thiếu tâm huyết với nghề, chưa quan tâm
phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi lệch lạc của học sinh…
-Từ bản thân học sinh : Giai đoạn học sinh THCS, tâm sinh lý có
nhiều biến đổi. Từ tuổi thiếu niên chuyển sang tuổi thanh niên, học sinh
muốn khẳng định mình bằng sự hiểu biết chưa hoàn thiện của mình; có thể
do bản năng hoặc bệnh a dua hay bệnh lấy lệ. . Thậm chí các em còn nghĩ
làm như vậy là không sai. Khi đạo đức yếu kém thì học lực cũng tỉ lệ thuận
với nó. Điều này sẽ dẫn đến hệ quả, các em kiến thức bị hổng dẫn đến mất
căn bản; điểm kiểm tra thấp so với các bạn cùng lớp làm các em mặc cảm
đưa đến hiện tượng sợ bị kiểm tra, tiếp theo là chán học và cuối cùng nảy
sinh bỏ học.
4.2.Cần nắm được nguyên tắc “nên và không nên”
* Nên
- Đối với học sinh cá biệt,người giáo viên chủ nhiệm phải biết nhìn bằng con
mắt của tình thương và sự thông cảm thật sự xem học sinh như người thân
của mình,ta nên có cái hiền từ bao dung của người mẹ,người cha cái gần gũi
cảm thông của người anh,người chị;và cái thân thiết của một người bạn.
- Có điều kiện tâm tình,gặp gỡ,trao đổi với các em phải đứng về phía các em
để nhìn nhận sự việc
- Gặp gỡ, trò chuyện với gia đình,người thân của các em để hiểu hơn
- Nhẹ nhàng phân tích những mặt ưu,khuyết,đúng sai trong nhận thức,suy
nghĩ của các em ...


- Nên ghi nhận khi các em làm được việc tốt, có tiến bộ thậm chí có hình
thức khen thưởng riêng khi các em tiến bộ so với chính bản thân mình.
- Giúp học sinh cá biệt khắc phục sửa chữa những sai phạm của mình và chú
ý theo dõi,động viên khích lệ kịp thời.Tôi nghĩ rằng một lời khen học sinh cá
biệt sẽ có tác dụng hơn là một tờ tự kiểm .
* Không nên:
- Cô lập học sinh cá biệt đối với tập thể.
- Xúc phạm và làm tổn thương danh dự của học sinh trước tập thể.Một lời
nói cũng cần phải thận trọng.
Không nên nói những câu tỏ thái độ miệt thị học sinh. Đại khái như “ở em
chẳng có điểm nào tốt cả”. Người như em thật chẳng ra gì!”.Hoặc bi đát hơn
“cuộc đời em rồi chẳng có ra làm sao đâu”...
- Quá khắt khe xử lý mạnh tay bằng những hình thức kỷ luật nặng nề, đe
dọa, thành kiến không dùng lời lẽ nặng nề dao to búa lớn,nói như một nhà sư
phạm “không cần dùng búa để mổ một con gà”
- Một điều tôi nghĩ là tối kỵ đối với học sinh cá biệt,đó là không được đánh
học sinh – dù chỉ là một cái tát tay.Theo lời giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, thì
“Quả đấm không phải là khoa học”.
- Bỏ mặc và phủ nhận những chuyển biến của học sinh cá biệt. Những thay
đổi theo chiều hướng tích cực của học sinh – dù nhỏ cũng đáng trân trọng và
phải ghi nhận
4.3. Cảm hóa bằng tình yêu thương
Tránh đối xử thô bạo, trách móc các em. Hày tôn trọng nhân cách
của các em. Hãy đem đến cho các em hơi ấm của tình người, để các em biết
người tốt chung quanh ta, nhiều lắm. Các em cần được đối xử tử tế, cần
được yêu thương và tôn trọng. Không ai được ngược đãi các em vì các em
học chậm. Các em có quyền được đặt câu hỏi và yêu cầu thầy cô giáo giải
thích cho em hiểu. Chính vì vậy mới cần có trường học. Và đó là lý do tại
sao cần có thầy cô giáo...”
Để hiểu học sinh “cá biệt”, trước hết phải biết chấp nhận các em vô


điều kiện. Luôn đứng về phía các em, quan tâm điều các em nghĩ, bàn về
những đề tài các em thích. Thỉnh thoảng, sử dụng “thuật ngữ” của các em.
Đó là cách mang các em đến gần mình hơn. Khi mối quan hệ đủ thân thiện,
khi niềm tin đủ lớn, người thầy sẽ thuận lợi trong việc uốn nắn hành vi, khai
sáng tư duy, định hướng nhận thức...
Nên xử lý mềm mỏng, thậm chí dịu ngọt đối với học sinh cá biệt này,
nếu không sẽ không có hiệu quả, có khi gặp phản ứng không tốt ngược trở
lại về phía học sinh. Tuy nhiên cũng có đôi lúc ta cũng phải cứng rắn: chẳng
hạn trong vấn đề xử phạt "mềm nắn, rắn buông".
Nếu học sinh có thói hư tật xấu phạm lỗi trầm trọng cũng có thể tùy
trường hợp hay tùy đối tượng mà xử lí, tuy nhiên không xử lí một cách cứng
nhắc. Dù lỗi lầm lớn nhưng nếu em đó biết nhận lỗi và sửa lỗi thì tôi luôn
tạo cho học sinh đó cơ hội tự làm chủ bản thân, có niềm tin nghị lực để vươn
lên. Thế nhưng đối với những học sinh vi phạm không đáng kể nhưng lại vi
phạm thường xuyên thì không thể bỏ qua mà xử lí một cách linh động tùy
theo từng đối tượng. Dù các em vi phạm ở mức độ lỗi lớn hay nhỏ cũng xử lí
trên cơ sở giáo dục các em, cụ thể cho em đó biết chuộc lỗi, làm một việc
tốt, giao cho em đó thời gian thử thách.
4.4. Trở thành bạn của các em
Chúng ta hãy thử hòa mình vào phong cách sống của các em xem
sao? Để điều hành được học sinh “cá biệt”, người thầy phải sắm đủ các vai.
Khi thì nhà mô phạm nghiêm khắc, lúc lại là cái vai cho các em gục đầu vào.
Khi thì nhà tâm lý, lúc lại là bác sĩ trị liệu, khi thì ông trọng tài, lúc khác lại
là người cố vấn... Cứ như thế, kiên trì cho đến khi các em tự nhận ra tại sao
mình phải thay đổi.
Từ cảm giác cô đã không chối bỏ mình, không chê mình, luôn khen
ngợi, động viên ... các em dần phát hiện ra giá trị của bản thân, cảm thấy
mình hữu ích và được việc. Thế là tinh thần học tập được nhân lên, tạo ra sự
tương tác và cộng hưởng.
Giáo viên nên thường xuyên trò chuyện, quan tâm, gần gũi, nhắc nhở,


động viên học sinh học tập, có thái độ thân thiện với học sinh. Tạo cho học
sinh nhìn mình là cảm thấy gần gũi, chứ không phải gặp mình là sợ la, sợ bị
mắng. Như vậy học sinh sẽ có tâm lý bất cần " Thầy cô kệ thầy cô, ta là ta".
Ta phải làm sao tạo cho học sinh có cảm giác là giáo viên như là một người
bạn thân, bạn tâm tình, sẵn sàng lắng nghe ý kiến của mình, khi mình vui,
buồn đều có thể chia sẻ với thầy cô, khích lệ mình khi mình khó khăn trong
gia đình, bế tắc trong học tập.
Giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ. Chẳng hạn
phải thức sớm một chút để không phải đi trễ, mình học yếu thì nên chịu khó,
siêng làm bài tập hơn các bạn, khi nào làm bài tập, học sinh mệt thì nên giải
lao để tinh thần thoải mái rồi làm tiếp, không nên cố gắng quá sức. Giáo
viên không nên giáo dục ào ạt chưa hỏi han lý do gì hết mà đã la mắng học
sinh cho dù học sinh đó vi phạm nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả giáo dục. Bởi
vì đấy là những học sinh cá biệt, tính tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học
hay không đối với bản thân học sinh không quan trọng mà học sinh vào lớp
là chỉ được "lãnh lương" hàng ngày, không phải làm những việc nặng nhọc
bằng tay chân ở nhà
4.5. Biết chấp nhận
Frank McCourt, một thầy giáo người Mỹ (được phong tặng danh
hiệu Nhà giáo của năm), trong hồi ức “Người thầy” đã kể: Trường hướng
nghiệp nơi thầy dạy được xem là “bãi rác” cho những học sinh không đủ
trình độ vào trường trung học bình thường. Ngày nhận lớp cũng là ngày thầy
đứng quan sát chúng quậy phá, la ó... đủ kiểu. Cao điểm là lấy bánh mì ném
nhau và một học sinh lên tiếng: “Để xem tay thầy giáo mới này sẽ làm gì?”.
Frank McCourt nói ông cố nghĩ về những kiến thức được học ở
Trường ĐH Sư phạm New York để tìm cách đối phó. Tiếc là chỉ có những
triết lý giáo dục, các mệnh lệnh đạo đức và luân lý, mà không có cách giải
quyết tình huống... “ném bánh mì”. Cuối cùng, ông quyết định... ăn chiếc
bánh. Ông viết: “Đó là hành xử đầu tiên của tôi trong lớp. Cái miệng đầy
bánh của tôi thu hút sự chú ý của cả lớp. Chúng trố mắt nhìn tôi đầy nét thán


phục... Tôi nghĩ, tôi đã nắm được chúng trong tay...”.
4.6. Tạo hứng thú cho các giờ lên lớp
Giáo dục HSCB còn một yêu cầu quan trọng, thầy, cô phải giỏi nghề.
Thầy, cô luôn cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy. Tiết sau “mới” hơn
tiết trước. Sau một tiết học, trò học được nhiều tri thức bổ ích tạo nên sự
đam mê học hỏi, khám phá tự tin, khẳng định mình.
Thầy, cô biết “cuốn” học sinh vào trò chơi học tập, sẽ “lấp” thời gian
“chết”, trò không “nhàn cư…” nghịch, đánh cờ ca rô, nhắn tin… ngay trong
tiết học.
Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể những việc mà học sinh hỏi, tránh để
học sinh cảm thấy mình lạc lỏng, cảm giác vì mình học dở nên không ai
quan tâm, ai cũng khi dễ mình, không ai thèm chơi, để ý đến mình.
Giáo dục học sinh cá biệt là một nghệ thuật. Thầy, cô đứng trên bục
giảng phải đóng nhiều vai: Tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên, cả khán
giả-tức học sinh ngồi nghe giảng trên lớp. Làm thầy, nhưng phải hiểu trò
đang nghĩ gì, làm gì trong giờ học. Bài giảng là một “món ăn”, nếu nhàm
chán, học trò sẽ bỏ ăn-bỏ học.
4.7. Giúp các em tìm được mục tiêu và động cơ học tập
Tác động vào động cơ học tập để các em này thấy rõ tầm quan trọng
của việc học. Có thể đưa ra một số tranh ảnh về nạn thất học - chỉ mới mấy
tuổi đầu không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của người
lớn rồi lại bị bạn bè khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không đủ
mặc. Ngược lại những em có học thì làm việc thuận lợi dễ dàng, càng ngày
càng tiến thân, bạn bè ngưỡng mộ phải trầm trồ khen ngợi, cha mẹ được nở
mày, nở mặt.
4.8. Đừng tiếc lời khen
Giáo viên phải biết trân trọng những gì là tốt dù rất nhỏ của học sinh.
Một lời động viên khích lệ kịp thời khi các em chỉ có một việc làm tốt rất
nhỏ cung đủ làm cho các em thấy tự tin hơn, thấy mình thực sự có ích.
Hãy mạnh dạn giao việc cho chúng, hướng dẫn các em để chúng làm


theo định hướng của mình nhưng vẫn phải để “Đất” cho các em thể hiện tính
sáng tạo, tuyệt đối không được áp đặt.
4.9. Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong xã hội
Chúng ta cần biết sử dụng và phát huy hợp lí giá trị, tác dụng của dư luận
xã hội.
Phát huy vai trò của ban đại diện hội cha mẹ học sinh.Tổ chức các buổi
ngoại khóa, kết hợp với những người cao tuổi, có uy tín trong làng xã, mời
họ đến trường nói chuyện, nhờ họ tuyên truyền giáo dục giúp nhà
trường.Thường xuyên thăm gia đình học sinh để tìm hiểu hoàn cảnh, tạo sự
gần gũi giữa giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh. Không nên chỉ khi
các em có khuyết điểm mới đến thăm gia đình.
5.Kết quả đạt được
Qua sự cố gắng nỗ lực của bản thân, nhiều năm qua trong công tác chủ
nhiệm tôi luôn vận dụng linh hoạt các biện pháp trên và cũng đã thu được
kết quả rất khả quan : Ở các lớp tôi chủ nhiệm không có hiện tượng học sinh
vi phạm đạo đức nghiêm trọng, không có hiện tượng bỏ học tự do; một số
em đầu năm ý thức rèn luyện chưa tốt nhưng được giáo dục các em đã có
những thay đổi rõ rệt. về mặt học tập, số học sinh khá giỏi tăng lên rõ rệt
trong từng năm.
Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến cụ thể như sau:
+ Năm học 2016 – 2017, sau khi áp dụng sáng kiến vào công tác giáo dục
học sinh, học sinh lớp tôi chủ nhiệm đã có sự tiến bộ rõ rệt.
*Về học lực:
Học lực giỏi: 9/35 em(25,7 %, tăng 7 em so với năm học trước
Có 3/35 học sinh trung bình ( trong khi đó năm học trước là 9 em)
Không có học sinh xếp loại học lực yếu
100% học sinh đỗ vào trường THPT công lập
*Về hạnh kiểm: 100% học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt


+ Năm học 2017 – 2018 sau khi áp dụng sáng kiến vào công tác giáo dục
học sinh, học sinh lớp tôi chủ nhiệm mặc dù chất lược học sinh đầu vào
không cao nhưng cũng đã có sự tiến bộ rõ rệt.
*Về học lực:
Học lực giỏi: 7/40em(17,5 %, tăng 5 em so với năm học trước)
Có 5/40 học sinh trung bình ( trong khi đó năm học trước là 11 em)
Không có học sinh xếp loại học lực yếu
Có 39/40 học sinh thi đỗ vào cá trường THPT công lập
*Về hạnh kiểm: 40/40 học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt (Tăng 3 em so với
năm học trước)
Đồng thời việc áp dụng sáng kiến cũng giúp cho mối quan hệ thầy trò,
bạn bè ngày càng trở nên gần gũi, thân thiết; uy tín nhà giáo được nâng cao,
tạo được niềm tin trong phụ huynh học sinh.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng:
Để sáng kiến được nhân rộng cần được sự giúp đỡ của ban giám hiệu,
tổ chuyên môn. Các đồng chí làm công tác chủ nhiệm lớp cần tìm hiểu kĩ
các giải pháp được nêu ở trên và áp dụng vào việc giáo dục học sinh cá biệt
ở lớp mình.


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Giáo dục học sinh cá biệt là một việc làm khó khăn và phức tạp, đòi hỏi
người giáo viên luôn có sự nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Tất cả sự cố gắng
và nỗ lực của chúng ta sẽ là cái chìa khoá cho các em bước sang một cuộc
đời mới với sự nhìn nhận tích cực về thực tế và có ý thực rèn luyện để đạt
tiêu chuẩn của con người mới xã hội chủ nghĩa.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nho nhỏ của bản thân trong quá trình
làm công tác chủ nhiệm lớp. Trong phần trình bày chắc hẳn không tránh
khỏi sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp và ban
giám khảo. Xin chân thành cám ơn.
2. Khuyến nghị:
- Lãnh đạo các cấp chính quyền có hướng tích cực hơn về mặt giáo dục học
sinh cá biệt .
- Tăng cường tiết ngoại khóa về giáo dục đạo đức học sinh
- Nhà trường kết hợp với chính quyền để giáo dục học sinh cá biệt
- Tổng phụ trách đội, Ban giám hiệu, phụ huynh kết hợp với giáo viên chủ
nhiệm để cùng giáo dục các em .
- GVBM cũng có trách nhiệm hơn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh


Tµi liÖu tham kh¶o
1/Phương pháp dạy học tích cực – Nguyễn Kỳ, NXB Giáo dục 1995
2/Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, NXB Đại học quốc gia Hà Nội
2011.
3/Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, NXB Đại học sư phạm 2010.
4/Thông tư 58/TT-BGDĐT, ngày 12/12/2011 về việc ban hành quy chế đánh
giá, xếp loại học sinh THCS và THPT.
5/ Kĩ năng quản lý lớp học hiệu quả ,NXB Đại học quốc gia Hà Nội .
6/ Giáo dục kĩ năng phòng chống bạo lực học đường và tệ nạn xã hội cho
học sinh THCS- Phạm Thanh Hà ,NXB Đại học quốc gia Hà Nội .
7/ Thực hành kĩ năng sống 6,7,8,9 - Lưu Thu Thủy , NXB Đại học sư phạm

MỤC LỤC


PHẦN
Phần I
1
2
3
4
5
Phần II
1
2
3
4
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
5
6
Phần
III

NỘI DUNG
Tóm tắt sáng kiến
Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
Nội dung sáng kiến
Giá trị, kết quả SK
Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng SK
Mô tả SK
Hoàn cảnh nảy sinh SK
Cơ sở lý luận của vấn đề
Thực trạng của vấn đề
Các giải pháp thực hiện
Cần hiểu rõ về học sinh cá biệt
Cần nắm được nguyên tắc “nên và không nên”
Cảm hóa bằng tình yêu thương
Trở thành bạn của các em
Biết chấp nhận
Tạo hứng thú cho các giờ lên lớp
Giúp các em tìm được mục tiêu và động cơ học tập
Đừng tiếc lời khen
Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong xã
hội
Kết quả đạt được
Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
Kết luận và khuyến nghị

TRANG
3
3
3
4
4
4
5
5
7
7
8
8
11
12
13
14
14
15
15
15
15
17
18




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×