Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TOÁN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC BOT DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC IV

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
======   ======

HOÀNG QUỐC CHÍNH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC KIỂM TOÁN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
THEO HÌNH THỨC BOT DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC IV

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP. Hồ Chí Minh - 2018
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
======   ======


HOÀNG QUỐC CHÍNH


MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC KIỂM TOÁN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO
HÌNH THỨC BOT DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC IV
NGÀNH: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ: 60.58.03.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hướng dẫn khoa học: TS. Trần Quang Phú

TP. Hồ Chí Minh - 2018


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Hoàng Quốc Chính. Hiện đang công tác tại Kiểm toán nhà nước khu
vực IV. Địa chỉ số 49 Pasteur, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1 Thành phố Hồ
Chí Minh. Tôi cam đoan Đề tài Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác
kiểm toán các dự án đầu tư theo hình thức BOT dự án giao thông đường bộ của
Kiểm toán nhà nước khu vực IV là tôi tự nghiên cứu thực hiện.
TPHCM, ngày 18 tháng 01 năm 2018
Người cam đoan

Hoàng Quốc Chính


ii

LỜI CẢM ƠN
Qua hơn 18 tháng tham gia học tập và nghiên cứu Chương trình Đào tạo Thạc
sỹ Kinh tế xây dựng do Trường Đại học Giao thông vận tải tổ chức tại cơ sở II của
trường. Các thầy giáo, cô giáo của Nhà trường đã trang bị cho bản thân và các bạn
học viên của Lớp Cao học Quản lý Xây dựng K23.2 rất nhiều kiến thức về kinh tế,
tổ chức lao động, tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, lập và đánh giá dự dự án, quản
lý về đầu tư, các công nghệ mới trong thi công cầu, đường....Qua quá trình học tập,
bản thân cũng đã rút ra nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý và tổ chức lao
động, sản xuất của nghành xây dựng để ứng dụng vào công việc chuyên môn của
mình tại cơ quan.
Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm toán các dự án đầu tư


theo hình thức BOT dự án giao thông đường bộ của Kiểm toán nhà nước khu vực
IV là một nhiệm vụ của đơn vị nhằm thực hiện tốt được nhiệm vụ do Kiểm toán nhà
nước phân công, đáp ứng được sự kỳ vọng của Đảng Nhà nước và Quốc hội đối với
lĩnh vực kiểm toán dự án BOT.
Để hoàn thành luận văn này, điều đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy
Cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, cơ quan nơi tôi đang công tác đã tạo điều
kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua. Đặc biệt là
thầy TS. Trần Quang Phú đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ dẫn và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi để hoàn thành luận văn này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn và lĩnh vực nghiên cứu có rất nhiều nội dung
cần phải phân tích tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hợp lý nên luận
văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến chân
thành của quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU.....................................................................................vi
DANH MỤC HÌNH VẼ..........................................................................................vi
DANH MỤC VIẾT TẮT.......................................................................................vii
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN VÀ CHẤT
LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TOÁN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH
THỨC BOT DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ..............................................3
1.1. Cơ sở lý luận chung về kıểm toán....................................................................3
1.1.1. Khái niệm về Kiểm toán & Kiểm toán nhà nước...........................................3
1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của KTNN...................................................................4
1.1.3. Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong kiểm toán dự án BOT:......................7
1.2. Nội dung, phương pháp kiểm toán của các dự án đầu tư xây dựng công
trình giao thông đường bộ theo hình thức BOT:.................................................16
1.2.1. Nội dung kiểm toán các dự án đầu tư theo hình thức BOT dự án giao
thông đường bộ:.....................................................................................................16
1.2.2. Phương pháp kiểm toán chủ yếu của các dự án đầu tư xây dựng công trình
giao thông theo hình thức hợp đồng BOT:............................................................17
1.2.3. Quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình của Kiểm toán nhà
nước........................................................................................................................26
1.2.4. Các yêu cầu về chất lượng kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng công trình
theo hình thức BOT:...............................................................................................30
1.3. Kết luận chương 1...........................................................................................35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TOÁN TẠI MỘT SỐ DỰ
ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC BOT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC IV..........................................................37
2.1. Giới thiệu về Kiểm toán nhà nước khu vực IV.............................................37
2.2. Tình hình và kết quả kiểm toán các dự án đầu tư XDCTGT theo hình thức
BOT của KTNN khu vực IV.................................................................................37
2.2.1. Kiểm toán Dự án Xây dựng mới cầu Sài Gòn 2...........................................39


iv

2.2.2. Kiểm toán Dự án Xây dựng mới cầu Rạch Chiếc 2 trên Xa lộ Hà Nội.......42
2.2.3. Kiểm toán Dự án Xây dựng cầu Đồng Nai mới...........................................45
2.3. Những vấn đề còn hạn chế, tồn tại trong quá trình kiểm toán các DAĐT
theo hình thức BOT dự án GTĐB của KTNN khu vực IV.................................47
2.3.1. Kết quả đạt được...........................................................................................47
2.3.2. Thực trạng chất lượng công tác kiểm toán các DAĐT theo hình thức BOT
dự án GTĐB............................................................................................................ 49
2.3.2.1. Thực hiện kiểm toán chưa kỹ, chưa sâu đối với một số nội dung................49
2.3.2.2. Đối với công tác khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán dự án BOT..................51
a. Đối với công tác khảo sát...................................................................................51
2.3.2.3. Tổ chức thực hiện kiểm toán.......................................................................52
2.3.2.4. Yếu tố tổ chức kiểm soát chất lượng kiểm toán..........................................57
2.3.2.5. Yếu tố lập Báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán.....................................58
2.3.2.6. Về công tác Kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị kiểm toán.....................59
2.3.2.7. Kết quả kiểm toán chưa đưa ra được ý kiến đánh giá sâu sắc, toàn diện về
tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực của dự án đầu tư.....................................................59
2.4. Những nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong quá trình kiểm toán
các DAĐT theo hình thức BOT dự án GTĐB của KTNN khu vực IV..............60
2.4.1. Nguyên nhân khách quan............................................................................60
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan................................................................................60
2.5. Kết luận chương 2...........................................................................................62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC
KIỂM TOÁN CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TRONG CÁC CUỘC
KIỂM TOÁN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC BOT GIAO
THÔNG ĐƯỜNG BỘ.......................................................................................63
3.1. Xu hướng phát triển chung của công tác kiểm toán lĩnh vực đầu tư công
theo kế hoạch chiến lược phát triển của KTNN..................................................63
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm toán các dự án đầu tư
xây dựng theo hình thức hợp đồng BOT dự án giao thông đường bộ...............65
3.2.1. Thực hiện kiểm toán kỹ lưỡng đối với một số nội dung kiểm toán.............65
3.2.1.1. Đối với giai đoạn lập, thẩm định và phê duyệt dự án.................................65
3.2.1.2. Đối với công tác thiết kế, dự toán...............................................................65


v

3.2.1.3. Đối với công tác đấu thầu...........................................................................66
3.2.1.4. Đối với công tác quản lý thi công, nghiệm thu thanh toán..........................66
3.2.1.5. Đối với giai đoạn kết thúc thi công, bàn giao đưa công trình vào khai thác,
sử dụng....................................................................................................................66
3.2.2. Đối với công tác khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán dự án BOT...................66
3.2.2.1. Đối với công tác khảo sát...........................................................................67
3.2.2.2. Đối với công tác lập Kế hoạch kiểm toán...................................................68
3.2.3. Tổ chức thực hiện kiểm toán........................................................................70
3.2.3.1. Về nhân sự kiểm toán viên..........................................................................70
3.2.3.2. Về trang thiết bị..........................................................................................74
3.2.3.3. Về tổ chức thực hiện...................................................................................74
3.2.4. Về việc kiểm soát chất lượng kiểm toán.......................................................78
3.2.5. Về việc Lập Báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán...................................79
3.2.6. Về công tác Kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị kiểm toán.....................81
3.2.7. Công tác kiểm toán đánh giá toàn diện về tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực
của dự án đầu tư XDCTGT....................................................................................81
3.3. Kết luận chương 3...........................................................................................82
1. Kết luận..............................................................................................................83
2. Kiến nghị............................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................87


vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số liệu nguồn vốn đầu tư các dự án.........................................................38
Bảng 2.2. Giá trị quyết toán chi phí xây dựng được kiểm toán................................38

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Các bước của Quy trình kiểm toán..........................................................26
Hình 2.1. Biểu đồ so sánh kết quả kiểm toán của 03 cuộc kiểm toán......................49


vii

DANH MỤC VIẾT TẮT
QH

Quốc hội.

CP

Chính phủ.

TW

Trung ương.

KTNN

Kiểm toán nhà nước

BGTVT

Bộ Giao thông vận tải.

BXD

Bộ Xây dựng.

BKHĐT

Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

BNNNT

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

KTNN KV IV

Kiểm toán nhà nước khu vực IV

UBND

Ủy ban nhân dân.

TKT

Tổng kiểm toán.

KTT

Kiểm toán trưởng.



Nghị định.



Quyết định.

QĐHC

Quyết định hành chính.

CT

Chỉ thị.

CV

Công văn.

DADT

Dự án đầu tư.

CĐT

Chủ đầu tư.

KTĐL

Kiểm toán độc lập

GTVT

Giao thông vận tải.

CTGT

Công trình giao thông.

QL

Quốc lộ.

TL

Tỉnh lộ.

GPMB

Giải phóng mặt bằng.

XDCB

Xây dựng cơ bản

HTKT

Hạ tầng kỹ thuật

HSMB

Hồ sơ mẫu biểu.

HSKT

Hồ sơ kiểm toán.

QTKT

Quy trình kiểm toán.


viii

BCKT

Báo cáo kiểm toán.

BBKT

Biên bản kiểm toán.

BOT

Hình thức hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao


1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chủ trương xã hội hóa đầu tư theo hình thức đối tác công tư (gọi tắt là PPP) là
một chủ trương đúng và phù hợp, trong đó hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh Chuyển giao (gọi tắt là BOT) được xã hội đón nhận và áp dụng trong thời gian vừa
qua đã tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế. Ngoài các ưu điểm của hình thức đầu tư này thì qua thời gian
nó cũng đã bộc lộ những hạn chế gây bức xúc trong xã hội. Vấn đề thiếu minh bạch
tài chính ở các dự án BOT là một trong những hạn chế đó. Trước đòi hỏi phải có sự
kiểm soát và minh bạch trong đầu tư các dự án BOT đồng thời công khai trước dư
luận xã hội, cùng với việc kiểm toán dự án đầu tư có 100% vốn nhà nước, trong
những năm qua Kiểm toán nhà nước đã từng bước thực hiện kiểm toán các dự án
BOT và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên do mới bắt đầu thực hiện
nên còn tồn tại một số khó khăn trong quá trình thực hiện, cho nên yêu cầu cấp thiết
đặt ra là cần nghiên cứu để nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán của các dự án
BOT giao thông của Kiểm toán nhà nước nói chung và Kiểm toán nhà nước khu
vực IV nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công
trình phân tích thực trạng công tác kiểm toán của Kiểm toán nhà nước khu vực IV.
Luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm toán các dự
án đầu tư theo hình thức BOT dự án giao thông đường bộ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng công tác kiểm toán các dự án
BOT giao thông tại Kiểm toán Nhà nước khu vực IV. Tập trng đánh giá chất lượng
kiểm toán trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán. Chủ thể tham
gia trực tiếp kiểm toán là Kiểm toán nhà nước khu vực IV.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác kiểm toán của Kiểm toán nhà nước khu vực IV trong 05
năm (2010 - 2015).


2

5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và kết hợp phương
pháp chuyên gia để thực hiện luận văn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kıểm toán và chất lượng công tác kıểm
toán các dự án đầu tư theo hình thức BOT dự án gıao thông đường
bộ
Chương 2: Thực trạng công tác kıểm toán tạı một số dự án đầu tư xây dựng
theo hình thức BOT của KTNN Khu vực IV.
Chương 3: Gıảı pháp nâng cao chất lượng công tác kıểm toán chı đầu tư xây
dựng cơ bản trong các cuộc kıểm toán các dự án đầu tư theo hình
thức BOT dự án gıao thông đường bộ


3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN VÀ CHẤT
LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TOÁN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH
THỨC BOT DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. Cơ sở lý luận chung về kıểm toán
1.1.1. Khái niệm về Kiểm toán & Kiểm toán nhà nước
- Kiểm toán: Là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ
năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định
lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa
các thông tin này với các chuẩn mực được xây dựng [8].
Các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền: Là các kiểm toán viên (chủ thể của
quá trình kiểm toán) là người có đủ khả năng để hiểu các chuẩn mực đã sử dụng và
phải có đủ thẩm quyền đối với đối tượng được kiểm toán để có thể thu thập được
đầy đủ các bằng chứng thích hợp làm cơ sở chỉ ra các ý kiến kết luận khi có báo cáo
kết quả kiểm toán.
Thu thập và đánh giá các bằng chứng: Bằng chứng kiểm toán được hiểu một
cách chung nhất là mọi kiểm toán viên đã thu thập để xác định mức độ tương quan
và phù hợp giữa các thông tin có thể định hướng của một đơn vị với các chuẩn mực
đã được thiết lập. Qúa trình kiểm toán thực chất là quá trình kiểm toán viên sử dụng
các phương pháp, các kỹ thuật kiểm toán để thu thập và xét đoán các bằng chứng
kiểm toán cho mục đích trên.
Các thông tin đã được định lượng và các chuẩn mực đã được xây dựng: Các
thông tin có thể đinh lượng và dưới nhiều hình thức khác nhau. Những thông tin
này có thể tài chính và không tài chính.
Các chuẩn mực được xây dựng và sử dụng trong kiểm toán là cơ sở để đánh
giá các thông tin đã kiểm tra. Thông thường các chuẩn mực khác nhau cũng có thể
là các quy định nội bộ của ngành, địa phương hay đơn vị. Ví dụ đối với kiểm toán
Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành thì chuẩn mực đang được áp dụng là Chuẩn
mực số 1000- Ban hành kèm theo Thông tư số 67/2015/TT-BTC ngày 08 tháng 5
năm 2015 của Bộ Tài chính [1].
Đơn vị được kiểm toán: Có thể là một tổ chức kinh tế, một đơn vị hành chính
sự nghiệp có tư cách pháp nhân. Trong một số trường hợp cá biệt có thể là một xí


4

nghiệp, một đơn vị thành viên không có tư cách pháp nhân.
Báo cáo kết quả: Tùy thuộc vào loại kiểm toán, các báo cáo có thể khác nhau
về bản chất, nội dung nhưng trong mọi trường hợp chúng đều phải thông tin cho
người đọc về mức độ tương quan và phù hợp giữa các thông tin đã kiểm ta và các
chuẩn mực đã được xây dựng.
- Kiểm toán nhà nước (KTNN) là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. KTNN có chức năng đánh giá, xác nhận kết luận
và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của KTNN
* Nhiệm vụ
- Quyết định kế hoạch kiểm toán hằng năm và báo cáo Quốc hội trước khi
thực hiện.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hằng năm và thực hiện nhiệm vụ kiểm
toán theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ.
- Xem xét, quyết định việc kiểm toán khi có đề nghị của Hội đồng dân tộc, các
Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan, tổ chức không có
trong kế hoạch kiểm toán năm của Kiểm toán nhà nước.
- Trình ý kiến của Kiểm toán nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định dự
toán ngân sách nhà nước, quyết định phân bổ ngân sách trung ương, quyết định chủ
trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia, phê chuẩn
quyết toán ngân sách nhà nước.
- Tham gia với các cơ quan của Quốc hội, của Chính phủ trong việc xem xét
về dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, phương
án điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước, phương án bố trí ngân sách cho chương
trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định và quyết
toán ngân sách nhà nước.
- Tham gia với các cơ quan của Quốc hội trong hoạt động giám sát việc thực
hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách, giám sát việc thực hiện ngân sách nhà
nước và chính sách tài chính khi có yêu cầu.


5

- Tham gia với các cơ quan của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan có thẩm
quyền trình dự án luật, pháp lệnh khi có yêu cầu trong việc xây dựng và thẩm tra
các dự án luật, pháp lệnh.
- Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm và kết quả thực hiện kết luận, kiến
nghị kiểm toán với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; gửi báo cáo tổng hợp kết
quả kiểm toán năm và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán cho Chủ tịch
nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc
hội; cung cấp kết quả kiểm toán cho Bộ Tài chính, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác theo quy định
của pháp luật.
- Giải trình về kết quả kiểm toán với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội
theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức công bố công khai báo cáo kiểm toán, báo cáo tổng hợp kết quả
kiểm toán năm và báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán theo quy
định tại Điều 50, Điều 51 của Luật Kiểm toán nhà nước 2015 và quy định khác của
pháp luật có liên quan [8].
- Tổ chức theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm
toán nhà nước.
- Chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan khác
của Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý những vụ việc có dấu hiệu của tội
phạm, vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân đã được phát hiện thông qua
hoạt động kiểm toán.
- Quản lý hồ sơ kiểm toán; giữ bí mật tài liệu, số liệu kế toán và thông tin về
hoạt động của đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước.
- Tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng, phát
triển nguồn nhân lực của Kiểm toán nhà nước.
- Tổ chức thi, cấp, thu hồi và quản lý chứng chỉ Kiểm toán viên nhà nước.
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về kiểm toán
nhà nước.
- Xây dựng và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Chiến lược phát
triển Kiểm toán nhà nước.


6

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
* Quyền hạn
- Trình dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước Quốc hội, Ủy
ban thường vụ Quốc hội theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp
đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin, tài liệu phục vụ cho việc kiểm toán.
- Yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của
Kiểm toán nhà nước đối với sai phạm trong báo cáo tài chính và sai phạm trong việc
chấp hành pháp luật; kiến nghị thực hiện biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt
động của đơn vị do Kiểm toán nhà nước phát hiện.
- Kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực
hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán về sai phạm trong báo cáo tài
chính và sai phạm trong việc chấp hành pháp luật; đề nghị xử lý theo quy định của
pháp luật những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời
kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
- Kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý những vi phạm pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân đã được làm rõ thông qua hoạt động kiểm toán.
- Đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động kiểm toán của Kiểm toán
nhà nước hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật cho Kiểm toán nhà nước và
Kiểm toán viên nhà nước.
- Trưng cầu giám định chuyên môn khi cần thiết.
- Được ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán cơ
quan, tổ chức quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; Kiểm toán nhà nước
chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu, tài liệu và kết luận, kiến nghị kiểm
toán do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện.
- Kiến nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ và cơ quan khác của Nhà nước sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và pháp luật.
áp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
1.1.3. Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong kiểm toán dự án BOT:
Cơ sở pháp lý kiểm toán các dự án BOT
Cơ sở pháp lý kiểm toán các dự án BOT chính là những quy định của pháp


7

luật về việc kiểm toán của Kiểm toán nhà nước đối với dự án BOT. Qua nghiên cứu
các quy định hiện hành của pháp luật, chúng tôi thấy có các quy định liên quan trực
tiếp đến kiểm toán dự án BOT như sau:
1. Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 [8]
Theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015: “Đối tượng kiểm toán
của Kiểm toán nhà nước là việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các
hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của
đơn vị được kiểm toán” (Điều 4); trong đó:
“Tài chính công bao gồm: Ngân sách nhà nước; dự trữ quốc gia; các quỹ tài
chính nhà nước ngoài ngân sách; tài chính của các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ
trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa công,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh phí, ngân quỹ nhà nước;
phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; các khoăn nợ công’ (Khoản 10, Điều 3).
“Tài sàn công bao gồm: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng săn;
nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời; tài nguyên thiên nhiên khác; tài sàn nhà nước tại
cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; tài sàn công được giao cho các doanh nghiệp
quàn lý và sử dụng; tài sàn dự trữ nhà nước; tài sàn thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ
lợi ích công cộng và các tài sàn khác do Nhà nước đầu tư, quàn lý thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quàn lý" (Khoản 11, Điều 3).
2. Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ vê đầu tư
xây dựng theo hình thức đối tác công tư [5]
Theo quy định của Nghị định số 15/2015/NĐ- CP ngày 14/02/2015 của Chính
phủ về đầu tư xây dựng theo hình thức đối tác công tư: “Đầu tư theo Hình thức đối
tác công tư (sau đây gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án
để thực hiện, quàn lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công’
(khoản 1 Điều 3). Hợp đồng dự án là Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển
giao (BOT), Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh ( BTO), Hợp đồng
Xây dựng - Chuyển giao (BT)... (khoản 2 Điều 3)


8

“Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng
BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được
quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất đính; hết thời hạn, nhà đầu tư
chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền" (Khoản 3, Điều
3). Về lĩnh vực đầu tư và phân loại dự án, khoản 1, Điều 4, Nghị định số
15/2015/NĐ-CP quy định: “Dự án xây dựng, cài tạo, vận hành, kinh doanh, quàn lý
công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp trang thiết bị hoặc dịch vụ công gồm: Công
trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tài và các dịch vụ có liên quan.".
Như vậy, để xem xét các dự án BOT có thuộc quyền kiểm toán của KTNN hay
không, cần phải làm rõ các dự án BOT mà cụ thể là các dự án xây dựng, cải tạo, vận
hành, kinh doanh, quản lý công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch
vụ có liên quan có thuộc phạm vi tài sản công theo quy định tại khoản 11 Điều 3
của Luật KTNN năm 2015 hay không?
Để trả lời câu hỏi nêu trên, cần phân tích làm rõ các khía cạnh pháp lý về (1)
Nội hàm của “Tài sản công”?; (2) Đầu tư công là gì? và (3) Đầu tư theo hình thức
đối tác công tư có phải là đầu tư công hay không?
Thứ nhất, về nội hàm của tài sàn công
Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác
và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Từ quy định trên đây của
Hiến pháp cho thấy tài sản công bao gồm hai nhóm:
Nhóm 1, bao gồm “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi
ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác”. Đây là những tài nguyên thiên
nhiên là những của cải vật chất (tài sản) có sẵn trong tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý;
Nhóm 2, các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý. Đây là những tài sản công
được hình thành do sự đầu tư, quản lý của Nhà nước.
Thứ hai, về đầu tư công
Theo quy định của Luật Đầu tư công năm 2014: “Đầu tư công là hoạt động
đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -


9

xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”.
Đầu tư công hình thành nên tài sản công theo quy định tại Điều 53 của Hiến pháp
năm 2013.
Thứ ba, đầu tư theo hình thức đối tác công tư là lĩnh vực đầu tư công
Theo quy định của Luật Đầu tư công năm 2014: “Đầu tư theo hình thức đối
tác công tư là đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quàn lý, vận hành dự
án kết cấu hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công' (khoản 16 Điều 3).
Đặc biệt, Điều 5 Luật Đầu tư công năm 2014 đã quy định:
“ Điều 5. Lĩnh vực đầu tư công
1. Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
2. Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
3. Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sàn phẩm, dịch vụ công ích.
4. Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công
tư’. Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 5 của Luật Đầu tư công năm 2014, đầu
tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư (trong đó
có dự án BOT) thuộc lĩnh vực đầu tư công.
Kết cấu hạ tầng được đầu tư thông qua hợp đồng BOT thực chất là tài sản do
Nhà nước đầu tư thông qua hợp đồng với nhà đầu tư; là tài sản thuộc sở hữu nhà
nước. Nhà đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo thời gian, chất lượng và chi phí
thỏa thuận. Để bù đắp chi phí trên, Nhà nước cho phép doanh nghiệp được thu phí
của tổ chức, cá nhân với mức thu và thời hạn nhất định. Việc thu phí hoàn vốn dự án
đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT được Nhà nước quản lý thống nhất theo quy
định tại Thông tư số 159/2013/TT-BTC ngày 14/11/2013 của Bộ Tài chính hướng
dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ hoàn vốn đầu tư xây
dựng đường bộ.
Kết luận: Căn cứ các quy định của pháp luật và từ sự phân tích trên đây, dự án
đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT là một lĩnh vực đầu tư công của Nhà nước.
Các tài sản hình thành từ các dự án này là tài sản công, việc quản lý, sử dụng tài sản
này là đối tượng kiểm toán của KTNN theo quy định của Hiến pháp và Luật Kiểm
toán nhà nước năm 2015 [8].


10

Thực trạng về minh bạch tài chính tại các dự án BOT
Chủ trương xã hội hóa đầu tư theo hình thức đối tác công tư (gọi tắt là PPP) là
một chủ trương đúng và phù hợp, trong đó hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh Chuyển giao (gọi tắt là BOT) được xã hội đón nhận và áp dụng trong thời gian vừa
qua đã tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế. Ngoài các ưu điểm của hình thức đầu tư này thì qua thời gian
nó cũng đã bộc lộ những hạn chế gây bức xúc trong xã hội. Vấn đề thiếu minh bạch
tài chính ở các dự án BOT là một trong những hạn chế đó.
Sự minh bạch về tài chính đòi hỏi ở suốt vòng đời dự án, từ khi lập dự án cho
đến khi chuyển giao dự án từ Nhà đầu tư cho cơ quan nhà nước. Thực trạng tính
minh bạch tài chính ở các dự án BOT thời gian vừa qua nổi lên những vấn đề sau:
* Thứ nhất về quản lý nhà nước:
+ Theo Nghị định 108/2009/NĐ-CP [6] của Chính Phủ thì việc lựa chọn các
nhà đầu tư dự án BOT trước tiên phải được tiến hành thông qua hình thức đấu thầu
lựa chọn nhà đầu tư nhưng thực tế hình thức đấu thầu rất hạn chế, chủ yếu là chỉ
định thầu. Thực trạng này hạn chế tính cạnh tranh, minh bạch hóa chi phí ở các dự
án. Nguyên nhân do nhiều yếu tố như do năng lực các nhà đầu tư còn hạn chế .hoặc
do lựa chọn dự án đưa vào danh mục BOT chưa phù hợp nên chưa hấp dẫn các nhà
đầu tư. hoặc các nhà đầu tư chưa thực sự tin tưởng vào sự minh bạch trong hoạt
động đấu thầu nên không nhiệt tình tham gia.
+ Thiếu cơ chế giám sát đảm bảo tính minh bạch: Xem xét các điều khoản
trong các hợp đồng BOT cho thấy, thiếu các điều khoản xác định cơ chế, chế tài,
giám sát hay xử phạt các hành vi vi phạm nhằm đảm bảo tính minh bạch về tài
chính, đảm bảo quyền lợi cho cộng đồng, người sử dụng dự án.
+ Các dự án BOT liên quan chặt chẽ tới vấn đề quản lý nhà nước và anh
hưởng lớn tới cộng đồng (người sử dụng dự án) nhưng thực chất không sử dụng vốn
nhà nước trong quá trình xây dựng (kể cả giai đoạn vận hành khai thác thì Nhà đầu
tư cũng đang khai thác dự án do họ quản lý, chưa bàn giao dự án) nên không thuộc
phạm vi điều chỉnh các quy định của pháp luật về tài chính công, từ đó việc kiểm
soát tài chính ở các dự án BOT có phần hạn chế.
Quá trình thực hiện một dự án BOT có 4 giai đoạn, gồm:
- Giai đoạn Chuẩn bị dự án: gồm các công tác lập báo cáo nghiên cứu khả thi,


11

lập, thẩm định và phê duyệt dự án;
- Giai đoạn thực hiện dự án: gồm các khâu lập thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ
thi công, dự toán, tổng dự toán và triển khai thi công.
- Giai đoạn kết thúc xây dựng: gồm công tác quyết toán, xác định thời gian
khai thác dự án.
- Giai đoạn khai thác: gồm công tác vận hành, khai thác dự án, bàn giao cơ
quan Nhà nước khi hết thời hạn.
Theo đánh giá, hiện các văn bản quản lý Nhà nước thực hiện theo chức năng
mới chỉ tập trung ở giai đoạn (1) - Chuẩn bị dự án và (3) - Kết thúc xây dựng. Ở
giai đoạn (2) và (4) là các giai đoạn do Nhà đầu tư trực tiếp quản lý, điều hành đang
thiếu đi các quy định nhằm đảm bảo tính minh bạch về tài chính (cụ thể được phân
tích ở phần liên quan đến Nhà đầu tư)
+ Việc mua lại các dự án BOT do Nhà đầu tư khai thác thiếu hiệu quả vì nhiều
lý do và nguyên nhân dẫn đến suy nghĩ nếu có lợi thì chủ đầu tư được hưởng, còn
thua lỗ thì Nhà nước sẽ gánh chịu.
* Thứ hai về phía các nhà đầu tư
Các Nhà đầu tư không tuân thủ một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của Hợp
đồng dự án, như không đảm bảo tỷ lệ vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp dự án trên
tổng vốn đầu tư dự án theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 108/2009/NĐ-CP của
Chính phủ để tham gia thực hiện dự án mặc dù tỷ lệ này được đánh giá là thấp, chưa
đảm bảo tính đối ứng. Do vậy việc triển khai các dự án lớn mới chỉ nói lên khả năng
việc huy động và chiếm dụng vốn ngân hàng, hơn là khả năng nguồn vốn tự có của
Nhà đầu tư. Nói cách khác là có hiện trạng các nhà đầu tư có chủ trương “tay không
bắt giặc” vì nguồn vốn từ chủ sở hữu là nguồn vốn cơ sở, đối ứng nhằm đảm bảo
tính cộng đồng trách nhiệm của Nhà đầu tư với đơn vị tài trợ vốn cũng như với Nhà
nước nhưng cũng không được các nhà đầu tư tự giác góp đủ. Lãnh đạo Ngân hàng
Nhà nước cũng thừa nhận rằng việc không đủ vốn chủ sở hữu theo đúng cam kết dễ
dẫn đến phải dừng dự án, đẩy rủi ro cho hệ thống Ngân hàng.
Do đặc thù dự án BOT nên ở giai đoạn thực hiện dự án các Nhà đầu tư hầu
như có toàn quyền quyết định, tác động lên những yếu tố hình thành nên giá thành
công trình và thời gian khai thác dự án sau này: được chủ động chọn hình thức đấu
thầu, chỉ định thầu, chủ động các điều khoản của hợp đồng như hình thức thực hiện


12

hợp đồng; chủng loại vật tư; giá thành sản phẩm; lựa chọn tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật; hình thức nghiệm thu, thanh toán;... và Nhà đầu tư thường phát huy các quyền
hạn của mình ở giai đoạn này nhằm khai thác hưởng lợi ích.
Giai đoạn kết thúc xây dựng: các cơ quan Thanh tra, kiểm toán, cơ quan thẩm
định, phê duyệt báo cáo quyết toán thực chất chỉ hậu kiểm trên hồ sơ hoàn công,
quyết toán đã được hoàn thiện. Một số dự án BOT đã đưa vào khai thác, sử dụng
thu phí nhưng chưa hoàn thành việc đầu tư, chậm trễ trong việc thực hiện quyết
toán do vậy sau khi dự án thu phí cơ quan nhà nước mới kiểm tra và quyết toán để
xác định tổng chi phí đầu tư sẽ không có nhiều ý nghĩa vì thực tế cho thấy qua thanh
tra, kiểm toán, tình trạng tăng sai lệch tổng mức đầu tư do sai vượt khối lượng, tính
sai lãi vay, chi phí dự phòng dẫn đến tăng tổng mức đầu tư so với thực tế ở nhiều dự
án. Ngoài ra vừa qua phát hiện tình trạng doanh nghiệp có dấu hiệu chưa minh bạch
doanh thu khai thác thực tế, vấn đề này Bộ Giao thông vận tải vừa triển khai thí
điểm các trạm thu phí không dừng nhằm đảm bảo việc thu phí minh bạch, tránh tiêu
cực, thất thoát tuy nhiên việc này cũng chưa được áp dụng rộng rãi. Xuất phát từ
yêu cầu cần có sự minh bạch trong việc tổ chức thực hiện các dự án theo hình thức
đối tác công tư nói chung và hình thức BOT nói riêng cùng mục tiêu chiến lược
phát triển KTNN đến năm 2020, việc kiểm toán các dự án BOT là thực sự cần thiết
nhằm cung cấp cho các nhà quản lý, các bên liên quan những thông tin minh bạch,
rõ ràng trong quá trình thực hiện dự án BOT, hạn chế việc thất thoát, lãng phí tài sản
công và đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên.
Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong kiểm toán dự án đầu tư xây dựng
theo hình thức BOT
* Vai trò của Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước:
- Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước xác nhận tính đúng đắn, trung
thực của báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách; đánh giá việc tuân thủ
pháp luật, tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền
và tài sản nhà nước.
- Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là một trong những căn cứ để:
+ Quốc hội sử dụng trong quá trình xem xét, quyết định dự toán ngân sách nhà
nước, quyết định phân bổ ngân sách trung ương, quyết định dự án và công trình
quan trọng quốc gia được đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước; xem xét, phê chuẩn


13

quyết toán ngân sách nhà nước và sử dụng trong hoạt động giám sát việc thực hiện
ngân sách nhà nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nghị quyết của Quốc hội
về ngân sách nhà nước, dự án và công trình quan trọng quốc gia, chương trình phát
triển kinh tế - xã hội, dự án và công trình xây dựng cơ bản quan trọng khác;
+ Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức, cơ quan khác của Nhà
nước sử dụng trong công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ của mình;
+ Hội đồng nhân dân sử dụng trong quá trình xem xét, quyết định dự toán,
phân bổ và giám sát ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa
phương;
+ Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra sử dụng trong
quá trình xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế, tài chính;
+ Đơn vị được kiểm toán phải thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán
Nhà nước đối với các sai phạm trong báo cáo tài chính và các sai phạm trong việc
tuân thủ pháp luật; thực hiện các biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt động của
đơn vị do Kiểm toán Nhà nước phát hiện và kiến nghị.
- Cơ quan, người có thẩm quyền sử dụng kết luận kiểm toán quyết định việc
chấp nhận kết luận kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về quyết định của mình.
- Kết luận kiểm toán đã được cơ quan, người có thẩm quyền chấp nhận có giá
trị bắt buộc thực hiện.


14

Một số kết quả của Kiểm toán nhà nước trong kiểm toán dự án đầu tư xây
dựng theo hình thức BOT:
Theo số liệu thống kê của KTNN, công tác kiểm toán các dự án đầu tư theo
hình thức BOT dự án giao thông đường bộ thời gian đã đạt được các kết quả đầy ấn
tượng, thể hiện chất lượng kiểm toán ngày càng được nâng cao
* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Một là, vẫn còn tình trạng nhiều đơn vị chỉ dựa trên số liệu thống kê của tư
vấn khảo sát trong 2 – 3 ngày để nội quy ra lưu lượng phương tiện 365 ngày, hoặc
căn cứ kết quả khảo sát lưu lượng phương tiện đã cũ của Tổng Cục đường bộ Việt
Nam.
Hai là, đến thời điểm hiện tại, hầu hết các dự án đều áp dụng hình thức chỉ
định nhà đầu tư và chỉ định nhà thầu thi công mà không thực hiện đấu thầu. Việc
xác định tổng mức vốn đầu tư của dự án còn sai sót, xác định tổng vốn đầu tư của
dự án bao gồm cả phần thuế GTGT được nhà nước hoàn lại.
Ba là, phần góp vốn chủ sở hữu cũng chưa đúng tỷ lệ cam kết. Do phải đi vay
nguồn vốn rất lớn, dẫn đến đội chi phí đầu tư lên cao, từ đó dẫn đến thời gian thu
phí kéo dài.
* Giai đoạn thực hiện dự án:
Vấn đề nghiệm thu, thanh toán cũng sải ra nhiều sai sót. Cụ thể, kết quả kiểm
toán các dự án BOT trong năm 2016 đã giảm trừ chi phí đầu tư thực hiện 1.150,46
tỷ đồng, sai khối lượng 180,37 tỷ đồng; sai định mức 41,64 tỷ đồng; sai đơn giá
143,17 tỷ đồng; sai khác hoặc chưa đủ điều kiện nghiệm thu, thanh toán tới 785,28
tỷ đồng.
Ngoài ra, một số vấn đề còn lại của các dự án BOT được Kiểm toán nhà nước
chỉ ra là tiến độ thi công chưa đảm bảo; chưa có cơ chế kiểm tra, kiểm soát quá
trình thu phí để xác định lưu lượng phương tiện giao thông thực tế qua trạm thu phí;
khoảng cách một số trạm thu phí không đảm bảo quy định tối thiểu 70km.
* Giai đoạn kết thúc xây dựng
Sau khi thực hiện kiểm toán 27 dự án BOT, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã
đề nghị giảm tổng cộng tới 100 năm thu phí. Giảm thời gian thu phí hoàn vốn của
các dự án từ 10 tháng đến 13 năm so với phương án tài chính ban đầu nhà đầu tư
đưa ra. Sau nhiều cuộc kiểm toán về các dự án BOT, phía KTNN đánh giá, việc


15

quản lý lĩnh vực này còn rất lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ, cách xác định một số chỉ tiêu
trong phương án tài chính chưa đảm bảo tính đúng đắn.
* Giai đoạn khai thác: Hầu hết các dự án BOT được kiểm toán trong giai đoạn
vừa qua đang trong quá trình khai thác để hoàn vốn, chưa thực hiện bàn giao cho
nhà nước nên KTNN chưa thực hiện kiểm toán giai đoạn này. Theo định hướng
trong thời gian tới sẽ kiểm toán việc công tác vận hành, khai thác dự án, bàn giao cơ
quan Nhà nước khi hết thời hạn thu phí
Thông qua kết quả kiểm toán, KTNN đã có một số kiến nghị, đề xuất với các
cơ quan quản lý nhằm tăng cường công tác quản lý dự án BOT
+ Tăng cường công tác quản lý của hệ thống cơ quan nhà nước trong quá trình
quản lý dự án BOT, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể, đảm bảo
được việc đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quá trình lập, thẩm định, đấu thầu,
phê duyệt và ký hợp đồng và thực hiện các dự án BOT;
+ Tăng cường công tác lựa chọn nhà thầu bằng hình thức đấu thầu rộng rãi,
hạn chế chỉ định thầu. Bên cạnh đó cũng cần quy định và ràng buộc nhà đầu tư phải
thực hiện theo các quy định của Nhà nước trong quá trình triển khai thực hiện dự án
BOT như các quy định về lựa chọn nhà thầu, quản lý chi phí, kiểm tra, giám sát, ...
nhằm tăng tính cạnh tranh và tiết giảm chi phí đầu tư dự án.
+ Xây dựng và ban hành hướng dẫn nội dung xây dựng phương án tài chính
dự án BOT, trong đó cần làm rõ cách xác định, căn cứ khoa học các chỉ tiêu kinh tế
trong phương án tài chính như: chỉ tiêu về tăng trưởng, chỉ tiêu về trượt giá, quy
định mức trần lãi vay, chỉ tiêu về chi phí quản lý, mức lợi nhuận nhà đầu tư,. đảm
bảo hài hòa lợi ích của Nhà đầu tư và của Nhà nước;
+ Các quy định định hướng triển khai dự án BOT bên cạnh việc đảm bảo các
quy định pháp lý, đảm bảo quyền lợi giữa các bên cần lưu ý tới các vấn đề xã hội
phát sinh khi triển khai trong thực tiễn như: lưu lượng xe; ô nhiễm môi trường, tiếng
ồn; hỗ trợ an ninh quốc phòng; thống nhất khoảng cách tối thiểu giữa các trạm thu
phí; mức thu phí từng khu vực, từng loại xe phù hợp với từng đối tượng là cá nhân,
tổ chức hoặc doanh nghiệp..
+ Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn công tác quyết toán dự án BOT
của nhà đầu tư, công tác thẩm tra phê duyệt và phê duyệt quyết toán dự án BOT
hoàn thành làm cơ sở cho việc xác định thời gian thu phí của nhà đầu tư.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×