Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến dịch vụ y tế cho phụ nữ người dao về khía cạnh văn hóa xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn

Bễ GIAO DUC VA AO TAO
AI HOC THAI NGUYấN

PHAM HNG HAI

NGHIÊN CứU một số yếu tố liên quan đến dịch vụ
y tế cho phụ nữ ngời dao về khía cạnh văn hoá xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn

LUậN án tiến sĩ y
học

THAI NGUYấN - 2011


Bễ GIAO DUC VA AO TAO
AI HOC THAI NGUYấN

PHAM HNG HAI

NGHIÊN CứU một số yếu tố liên quan đến dịch vụ
y tế cho phụ nữ ngời dao về khía cạnh văn hoá xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn


CHUYấN NGANH: Vấ SINH XA HễI HOC VA Tễ CHC Y Tấ
MA Sễ: 62 72 73 15
LUN AN TIấN S Y HOC
Ngi hng dõn khoa hoc:
1. GS.TS. Pham Huy Dung
2. GS.TS. Hoang Khai Lõp

THAI NGUYấN - 2011


Bễ GIAO DUC VA AO TAO

NGHIÊN CứU một số yếu tố liên quan đến dịch
vụ
y tế cho phụ nữ ngời dao về khía cạnh văn hoá xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn

LUậN án tiến sĩ y
học

THAI NGUYấN - 2011


Bễ GIAO DUC VA AO TAO

NGHIÊN CứU một số yếu tố liên quan đến dịch
vụ
y tế cho phụ nữ ngời dao về khía cạnh văn hoá xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn

CHUYấN NGANH: Vấ SINH XA HễI HOC VA Tễ CHC Y Tấ
MA Sễ: 62 72 73 15
LUN AN TIấN S Y HOC
Ngi hng dõn khoa hoc:
1.
2.

THAI NGUYấN - 2011


1



ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe của phụ nữ va trẻ em la những vấn đề quan tâm hang đầu của
các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Phụ nữ la cốt lõi của sự phát
triển kinh tế xã hội. Sức khỏe va cuộc sống của phụ nữ có ý nghĩa quan trọng
đối với gia đình, bản thân va cộng đồng. Hơn thế nữa, đời sống va sức khỏe
phụ nữ la yếu tố cơ bản va có ảnh hưởng trực tiếp tới thế hệ tương lai [4].
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng va Nha nước ta
đã có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống cho đồng bao các dân
tộc sống ở vùng sâu, vùng xa cũng như đẩy mạnh sự phát triển của miền núi.
Trong đó, sức khoẻ của phụ nữ người dân tộc cang la vấn đề đáng quan tâm
trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân khu vực miền núi, dân tộc ít
người. Chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ đến nay đã đạt được nhiều thanh tựu
rất quan trọng, nhiều chỉ số cơ bản liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản
đã đạt va vượt mục tiêu đề ra [9], [11], [13], [24]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực miền núi vẫn còn thấp
hơn rất nhiều so với các khu vực khác của cả nước [12], [24], [65], [66]. Mức
sống thấp, trình độ dân trí chưa được nâng cao, hệ thống giao thông đi lại khó
khăn, điều kiện chăm sóc y tế còn thiếu thốn... la những vấn đề đang đòi hỏi
cần phải có sự đầu tư hơn nữa của Chính phủ cho các dân tộc sống ở những
vùng khó khăn nay, trong đó có tỉnh Bắc Kạn.
Bắc Kạn la một tỉnh miền núi, vùng cao. Theo niên giám thống kê 2009
[8], Bắc Kạn có 295.296 người. Trên địa ban tỉnh có 23 dân tộc, đông nhất la
dân tộc Tay chiếm 54,3%; dân tộc Kinh chiếm 13,3%; dân tộc Dao chiếm
16,5%; dân tộc Nùng (5,4%) va các dân tộc khác.
Huyện Bạch Thông la một trong những huyện mang đầy đủ những nét
đặc trưng của tỉnh Bắc Kạn. Huyện Bạch Thông gồm 1 thị trấn va 16 xã. Tại
đây, người Dao sống tập trung ở một số xã vùng cao như: xã Đôn Phong,


2

Dương Phong, Cao Sơn… Bên cạnh những tiến bộ đáng kể thì nơi đây vẫn
còn tồn tại nhiều các tập quán văn hoá lạc hậu có ảnh hưởng không tốt đến
sức khoẻ đặc biệt la sức khoẻ phụ nữ va trẻ em như: Bói cúng ma khi ốm đau,
tự mua thuốc chữa bệnh, đẻ ở nha không có nhân viên y tế giúp, kiêng khem
khi sinh đẻ, tâm lý muốn sinh nhiều con… Đồng thời, hệ thống chăm sóc y tế
vừa thiếu, vừa yếu chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người
dân. Khoảng cách xa trạm y tế, đường giao thông khó khăn, thiếu phương tiện
thông tin liên lạc, kém hiểu biết… cũng phần nao ảnh hưởng đến việc tiếp cận
va sử dụng dịch vụ y tế của người dân.
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu va đánh giá từng khía cạnh về
tình trạng sức khỏe, bệnh tật của người dân tộc thiểu số [2], [5], [9], [11],
nhưng chưa có công trình nao nghiên cứu một cách hệ thống về những yếu tố
liên quan đến dịch vụ y tế cho người Dao nói chung va cho phụ nữ người Dao
nói riêng trên một số khía cạnh văn hoá - xã hội. Việc phân tích những ảnh
hưởng của các yếu tố văn hóa, xã hội đến dịch vụ y tế của người Dao nói
chung va của phụ nữ người Dao nói riêng la thực sự cần thiết nhằm góp phần
tìm ra giải pháp bảo vệ va chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ dân tộc thiểu số.
Chính vì vậy, đề tai nay được tiến hanh nhằm các mục tiêu:
1. Mô tả va phân tích nhu cầu, thực trạng cung cấp va sử dụng dịch vụ y
tế của phụ nữ người Dao trên một số khía cạnh văn hoá, dân tộc va xã hội tại
một số xã thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến cung cấp va sử dụng dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ ba mẹ hiện có tại địa phương.


3

Chương 1

TỔNG QUAN TAI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Định nghĩa văn hóa
Văn hóa la khái niệm mang nội ham rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất va tinh thần của con người. Do
vị trí của văn hoá trong đời sống nên văn hoá đã được nhiều người quan tâm
nghiên cứu va đưa ra hang trăm định nghĩa về văn hoá [3], [40], [44], [47].
Văn hóa trong tiếng Hán được hiểu la những hình xăm trên cơ thể, qua
đó người khác nhìn vao để nhận biết va phân biệt mình với người khác, biểu
thị sự quy nhập vao thần linh va các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm
lĩnh quyền lực siêu nhiên.
Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng
Việt (culture trong tiếng Anh va tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức,...) có
nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere la colo, colui, cultus với hai
nghĩa: (1) giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu cúng.
Trong cuộc sống hang ngay, văn hóa thường được hiểu la văn học, nghệ
thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh... Các “trung tâm văn hóa” có ở
khắp nơi chính la cách hiểu nay. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa la
cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử va cả đức tin, tri
thức...Vì thế chúng ta nói một người nao đó la văn hóa cao, có văn hóa, văn
hóa thấp hoặc vô văn hóa.
Trong nhân loại học va xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến
theo một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn la một bộ phận
trong đời sống con người. Văn hóa không chỉ la những gì liên quan đến tinh
thần ma bao gồm cả vật chất.
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau [40]:
“Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về
tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người


4

trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống,
phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.
Tóm lại, văn hoá gắn bó hữu cơ với con người, la sản phẩm hoạt động
của con người hay nói cách khác: Văn hoá vừa la vật chất, vừa la tinh thần,
vừa mang tính chất xã hội lại vừa có tư cách cá nhân. Chúng ta cũng có thể
hiểu một khía cạnh của văn hóa đó la những phong tục, tập quán, thói quen,
nếp sống của con người được hình thanh, tồn tại va phát triển trong đời sống
của con người. Các thanh tố của văn hoá bao gồm 9 nội dung cơ bản: Ngôn
ngữ, ăn uống, ở, mặc, tín ngưỡng, lễ hội, văn nghệ dân gian, tri thức dân gian
va các phong tục tập quán khác (ma chay, cưới xin, vao nha mới, chữa bệnh,
dòng họ, gia đình...) [40].
1.1.2. Khái niệm phong tục tập quán
Phong tục, tập quán la một khái niệm phức tạp, theo từ điển tiếng Việt
thì phong tục tập quán được định nghĩa [84]: “Những thói quen đã được mọi
người tuân thủ tại một địa phương trong một hoàn cảnh bắt buộc phải chấp
nhận lề thói ấy như một phần luật pháp của địa phương”. Như vậy, phong tục,
tập quán thực chất la những qui tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh
nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toan thể dân cư trong một cộng đồng tự
quản (lang, xã, khu vực). Các qui tắc nay được sử dụng để điều chỉnh các
quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân va gia đình nói riêng mang tính
tộc người hoặc mang tính khu vực.
“Tục lệ” la những tập quán có tính chất xã hội được nêu lên thanh nghi
thức, có thể lệ, có tiêu chuẩn bắt buộc, truyền miệng hay thanh văn, được dư
luận xã hội rộng rãi thừa nhận, ủng hộ, bảo vệ va yêu cầu mọi người tuân thủ
[31].
1.1.3. Khái niệm dân tộc, quốc gia dân tộc, dân tộc thiểu số
Trong tiếng Việt cũng như trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc trên thế
giới, thuật ngữ dân tộc va thuật ngữ Quốc gia dân tộc chỉ rõ hai khái niệm,
hai phạm trù riêng biệt. Quốc gia dân tộc mang tính lãnh thổ, chính trị, Nha
nước; còn dân tộc lại mang tính lịch sử cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa tự nhiên.
Một quốc gia có thể có một hay nhiều dân tộc sinh sống. Trái lại, một dân tộc
cũng có thể phân bố trên lãnh thổ nhiều quốc gia [79].


5

Việt Nam la một nước có nhiều dân tộc. Theo từ điển tiếng Việt, dân tộc
được định nghĩa: “Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một
lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn
hoá và tính cách” [74].
Thuật ngữ dân tộc thiểu số, dân tộc ít người, dân tộc dân số ít la dựa trên
sự so sánh tỷ lệ dân số của từng dân tộc trong mỗi nước để gọi. Ở Việt Nam,
tộc người Việt (dân tộc Kinh) chiếm 82,6% dân số cả nước. Trừ dân tộc Kinh,
các dân tộc còn lại được coi la dân tộc thiểu số.
1.1.4. Một số thuật ngữ khác
Dịch vụ [81]: Dịch vụ được hiểu la những thứ tương tự như hang hóa
nhưng phi vật chất, gồm các tính chất sau:
- Tính đồng thời: Sản xuất va tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời;
- Tính không thể tách rời: Sản xuất va tiêu dùng dịch vụ không thể tách
rời. Thiếu mặt nay thì sẽ không có mặt kia;
- Tính chất không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất;
- Vô hình: Không có hình hai rõ rệt. Không thể thấy trước khi tiêu dùng;
- Không lưu trữ được: Không lập kho để lưu trữ như hang hóa được.
Dịch vụ y tế [93]: Dịch vụ y tế la một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất,
dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như
khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân va gia đình.
1.2. Một số đặc điểm văn hóa - xã hội dân tộc Dao liên quan đến sức
khoẻ
1.2.1. Ngôn ngữ
Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao. Ngôn ngữ giao tiếp khá
thống nhất giữa các nhóm Dao. Do ngôn ngữ văn chương mượn chữ Hán cấu
tạo sắp xếp lại va gần như khác hẳn với ngôn ngữ giao tiếp nên số lượng
người thông thạo ngôn ngữ văn chương không nhiều [78]. Do đặc thù về ngôn
ngữ, nên trong quá trình giao tiếp các cán bộ y tế gặp rất nhiều khó khăn do
bất đồng ngôn ngữ.


6

1.2.2. Nhà ở
Nha ở của người Dao có 3 loại khác nhau: nha san; nha nửa san nửa đất
va nha đất (nha trệt) nhưng chủ yếu la nha trệt. Nha người Dao thường lam
mái thấp, ít cửa sổ nên trong nha luôn ẩm thấp, thiếu lưu thông không khí
va bị thiếu ánh sáng. Hơn nữa do tập quán nên trong nha người Dao thường có
2 đến
3 bếp đun. Việc đun nấu trong nha gây ô nhiễm môi trường không khí dễ lam
cho các bệnh đường hô hấp phát triển, đặc biệt la nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em.
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Học (2004) [41] về mô hình bệnh tật trẻ
em dân tộc Dao cho thấy: Nhóm bệnh đường hô hấp chiếm 29,4% xếp thứ tư
sau nhóm bệnh về nội tiết - dinh dưỡng - chuyển hoá (45,3%), nhiễm khuẩn
nhiễm ký sinh trùng (33,3%), bệnh đường tiêu hoá (32,3%).
Người Dao không chú trọng lam công trình phụ va nha tắm. Đại đa số
các hộ người Dao không sử dụng hố xí va nha tắm. Không sử dụng hố xí cũng
la một tập quán của một số dân tộc thiểu số khác ở khu vực miền núi.
1.2.3. Ăn, uống
Lương thực chính của người Dao la gạo tẻ va gạo nếp. Thức ăn chủ yếu
la các loại rau rừng va rau tự trồng. Sau khi đẻ, sản phụ được nấu ăn riêng,
thức ăn chủ yếu la thịt ga, thịt lợn được nấu với các loại thuốc nam có tác
dụng nhanh khỏe người, giúp sản phụ có nhiều sữa để nuôi con.
Uống: Thức uống của người Dao trong sinh hoạt hang ngay la nước chè.
Một số loại lá cây có vị thơm mát, dễ uống dùng để chữa bệnh gan, thận, tim
hoặc bổ máu cũng được người Dao chế biến va sử dụng. Loại đồ uống phổ
biến nữa la rượu được ủ bằng men lá. Hầu hết các gia đình người Dao đều
biết nấu rượu va cất giữ rượu. Báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia năm
2001 - 2002 của Bộ Y tế [17] cho thấy: Tỷ lệ uống rượu vùng Tây Bắc, Đông
Bắc va Tây Nguyên cao hơn vùng đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên chưa có
nghiên cứu về tỷ lệ lạm dụng rượu va nghiện rượu được tính chung cho cả
nước.
1.2.4. Tục lệ sinh đẻ và nuôi con
Trước đây, khi sinh con người phụ nữ thường đẻ tại nha va phải tự đỡ đẻ,
rốn trẻ được cắt bằng nứa, khi đẻ khó thì chỉ biết mời thầy cúng về cúng
bái...


7

Những năm gần đây, việc sinh đẻ của người Dao đã có nhiều thay đổi, phụ nữ
khi có thai đã đi khám thai va đến trạm y tế để đẻ. Tai biến sản khoa, tỷ lệ chết
ở trẻ sơ sinh... đã được hạn chế tối đa, dân số người Dao tăng lên rõ rệt.
Sau khi sinh sản phụ được chăm sóc chu đáo, họ thường được ăn cháo
gạo nếp nấu với thịt ga, nghệ hoặc cháo nấu với xương lợn va đu đủ hoặc
cháo gạo nếp nấu với trứng va đu đủ. Sản phụ ăn như vậy trong khoảng mười
ngay, sau đó ăn cơm nóng với trứng luộc, canh đu đủ, rau ngải cứu, đậu tương
hầm, canh gừng. Người Dao không cho sản phụ ăn thức ăn nguội, thịt chua,
hoa quả chua, rau cải... vì họ quan niệm rằng ăn những thứ đó sẽ lam người
mẹ mất sữa va lam cho con mắc một số bệnh [39].
1.2.5. Tín ngưỡng liên quan đến bệnh tật
Người Dao quan niệm khi hồn đầy đủ trong cơ thể thì con người khỏe
mạnh. Nếu hồn ở vị trí nao đó vắng thì sẽ gây ốm đau ở chỗ đó. Hồn chính ma
vắng thì con người sẽ bị bệnh nặng, nguy hiểm đến tính mạng, thậm chí bị
chết. Nguyên nhân sự vắng mặt của hồn la do chúng “mải chơi” hoặc bị
các thần thánh bắt không trở về nơi trú ngụ của mình trong cơ thể. Để tránh
hậu quả xấu, người ta phải mời thầy cúng lam mâm lễ gọi hồn trở về hoặc
chuộc hồn.
1.2.6. Phong tục tập quán
Tục cúng ma [31]: Khi ốm đau, người Dao thường bói ma. Bói ra thứ ma
nao thì cúng thứ ma đó. Họ thường dùng đồng xu treo vao sợi dây, khi gọi
đến tên con ma nao ma thấy đồng xu “động đậy” thì cúng con ma đó.
Cúng tổ tiên: Người Dao quan niệm tổ tiên cũng la ma, duy có loại ma
nay được coi la ma phúc thần luôn phù hộ, giúp đỡ con cháu trong đời sống
sinh hoạt, chăm lo sức khoẻ con cháu.
Trước đây, mỗi khi ốm đau, người Dao thường chỉ lam lễ cúng, ít tin vao
việc dùng thuốc va cán bộ y tế. Mặt khác, các thầy thuốc dân gian thường
kiêm luôn cả nghề cúng bái nên việc chữa bệnh bao gồm cả dùng thuốc va
cúng bái. Ngay nay, mỗi khi có ốm đau, người Dao đã đến cơ sở y tế để chữa
bệnh. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cúng bái, đặc biệt la những trường hợp
bệnh hiểm nghèo.


8

1.2.7. Một số kiêng kỵ
Kiêng kỵ khi có thai [31]: Khi có thai, người phụ nữ kiêng các công việc
nặng nhọc, kiêng bước qua dây thừng buộc trâu, bò, ngựa (vì họ cho rằng sau
nay đứa trẻ sẽ bị trang hoa quấn cổ va khó đẻ), không được đánh rắn (vì sợ sẽ
đau đẻ quằn quại như rắn bò), kiêng ăn thịt ga rừng (vì sợ sau nay đứa trẻ sẽ
chạy nhảy nhiều), không ăn nhộng ong (vì sợ sau nay đứa trẻ chỉ thích ở nha,
không dám ra ngoai), kiêng các thức uống từ cây có gai (vì quan niệm cây đó
sẽ lam cho đứa trẻ bị mụn nhọt, ngứa ngáy)...
Kiêng kỵ sau khi sinh: Sau khi sinh, sản phụ kiêng ăn các món ăn nguội,
các loại thịt chua, hoa quả chua, các loại rau có nhiều nước như rau cải, bắp
cải... vì quan niệm rằng ăn những thức ăn đó không tốt sẽ gây ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe người mẹ va con, có thể la nguyên nhân gây mất sữa hoặc lam
cho đứa trẻ chê bú sữa mẹ. Kiêng bế con đến chỗ khác trong nha nhất la nơi
đặt ban thờ tổ tiên va khu tiếp khách của nam giới. Kiêng đến gia đình người
khác vì sợ mang theo những thứ “không sạch sẽ” sẽ lam ảnh hưởng đến gia
đình họ. Kiêng người lạ đến nha, cho nên dấu hiệu để nhận biết khi trong nha
có người đẻ la người Dao thường treo canh lá hoặc hoa chuối rừng trước cửa.
Những kiêng kỵ có lợi cho sức khỏe ba mẹ va trẻ em [39].
Khi có thai được 3 - 4 tháng, phụ nữ người Dao chủ động kiêng sinh
hoạt vợ chồng để thai nhi được lanh lặn, tránh tổn thương cho thai va sảy thai.
Trong thời kỳ mang thai, mỗi khi ra khỏi nha, thai phụ phải đội nón vì họ
cho rằng Ngọc Hoang nhìn thấy “người bẩn’’ sẽ trị tội va lam sảy thai. Khi đi
trên đường không được bước qua thừng trâu, chạc ngựa.
Khi có thai người phụ nữ phải kiêng ăn tất cả các loại thịt ôi, thiu va
kiêng ăn nhộng ong, nhộng tằm.
Sau đẻ sản phụ ăn cơm nóng với trứng luộc, canh gừng, uống nước lá
thuốc rồi ăn cơm nếp với thịt ga, thịt lợn.
Khi nha có người sinh đẻ họ dùng lá cây cai trước cửa để cảnh báo người
lạ không được vao.


9

Người Dao ít khi mắng, chửi, đánh đập con cái, không thích nói to tiếng
vì sợ hồn vía trẻ nhỏ bị thất lạc sẽ ốm đau.
Những kiêng kỵ bất lợi cho sức khỏe ba mẹ va trẻ em [39]:
Phụ nữ người Dao Thanh y không muốn ai hỏi tới chuyện họ có thai, nên
khi mang thai họ thường giấu giếm. Các cô dâu mới về nha chồng rất giữ ý
kiêng khem trong ăn, uống song vẫn phải cáng đáng mọi công việc nên sức
khỏe dễ suy giảm, ảnh hưởng đến phát triển của thai nhi.
1.2.8. Tri thức y học dân gian
Trong nhiều cộng đồng dân tộc ở miền núi, ngoai các dạng thuốc truyền
thống thường gặp như thuốc sắc, rượu thuốc, cao thuốc để uống, thuốc đắp bó
gẫy xương... còn có thuốc tắm của người Dao. Đó la một dạng đặc trưng về
cách sử dụng cây cỏ lam thuốc để chăm sóc sức khoẻ va chữa bệnh đã có từ
rất xa xưa, một nét đẹp văn hoá y học gia truyền trong cộng đồng các dân tộc
ở Việt Nam. Thuốc tắm (tiếng Dao gọi la Đìa dảo xin) không chỉ của người
Dao đỏ ở Bắc Kạn ma còn la dạng thuốc của các nhóm người Dao khác ở Việt
Nam. Trong cộng đồng người Dao, hầu hết các thanh viên trong mỗi hộ gia
đình đều biết cây thuốc tắm. Tuy nhiên, phụ nữ người Dao thường biết nhiều
hơn, biết rõ nơi mọc của chúng va cách khai thác bền vững nguồn tai nguyên
để còn có thể sử dụng lâu dai.
Theo Trần Văn Ơn [58], nghiên cứu điều tra về bai thuốc tắm của người
Dao thì bai thuốc tắm của người Dao đỏ ở Sa Pa gồm nhiều loại cây hơn so
với bai thuốc của các nhóm người Dao khác, từ 10 đến 120 loai, trong đó có
khoảng 5-10 cây thuốc được coi la quan trọng nhất.
Phần lớn phụ nữ người Dao đều biết lấy cây thuốc nam để điều trị các
bệnh thông thường, còn bệnh nặng phải nhờ tới thầy lang chuyên nghiệp.
Người Dao có tập quán chữa bệnh đến đâu lấy thuốc đến đấy, ít khi lấy thuốc
dự trữ. Kinh nghiệm chữa một số bệnh thông thường của người Dao:
+ Chữa bệnh cảm cúm: Lấy lá rau ngải, lá cam, lá chanh, lá bưởi, lá tre
đun sôi rồi cho người ốm xông ra được nhiều mồ hôi la khỏi hoặc lấy lá tía tô
(mía đang sa) rửa sạch cho vao nước nóng uống vai lần la khỏi.


10

+ Chữa bệnh bị sốt cao: Dùng lá chanh vò ra hoa nước cho người bệnh
uống một vai lần la hạ sốt.
+ Chữa bệnh chướng hơi đầy bụng: Lấy củ canh chì đòi cho vao rượu
ngâm uống vai lần la khỏi. Loại rượu nay uống chữa khỏi bệnh đái dắt.
+ Chữa bệnh đau xương khớp: Lấy cây thanh thảo (bùng leo), lá cây dâu
tằm (phong lốm mòm) đem giã nhỏ trộn với nước vo gạo, rang lửa cho ấm lên
rồi đắp vao chỗ đau.
+ Người bị ngã gãy xương: Dùng lá va thân cây “Tồm bùng lao tòn” va
cây tầm gửi mọc trên cây tre. Hai thứ nay giã nhỏ trộn với nước vo gạo va
rang qua lửa cho ấm lên rồi đắp vao chỗ xương gãy. Trước khi đắp phải nắn
lại chỗ xương bị gãy cho thẳng va dùng nẹp bằng cây mía đỏ (tăm tía xi). Mỗi
ngay thay thuốc 1 lần, khoảng 10 hôm la đỡ đau, khoảng 1 tháng sẽ liền
xương.
+ Chữa bệnh đau thận: Lấy cây tầm gửi mọc trên cây gạo hoặc cây dâu,
cây môn gai (hậu giang gim), cây “choang xi”, tất cả đem thái nhỏ, sắc nước
uống. Sau đó lấy thêm 2 loại lá cây “mắc nai nòm” va “mắc phường nòm”,
giã nhỏ ngâm vao nước vo gạo, rang nóng bọc vao mảnh vải sát vao chỗ phù.
Ngay sát 2 lần, sát từ trên xuống dưới.
+ Chữa rắn cắn: Lấy lá cây khoai môn nhai nát đắp vao chỗ rắn cắn sẽ
khỏi. Ngoai ra, họ dùng lá “tụp bầy” vò nhau, bọc vao mảnh vải hơ nóng trên
lửa xoa vao chỗ rắn cắn va đắp vao chỗ rắn cắn vai lần la khỏi.
+ Chữa rết cắn: Lấy củ cây “tộp rùi” giã nhỏ rồi cho vao lá dong (lòm)
bọc lại hơ trên than hồng cho nóng lên rồi đắp vao chỗ rết cắn, cứ nguội lại
thay, cho đến khi không đau nữa thì thôi.
+ Để phòng bệnh va giữ gìn sức khoẻ hang ngay, người Dao có kinh
nghiệm la khi đi ra ngoai nắng phải đội mũ, đội khăn, đi giầy dép. Khi đông
về giá lạnh, trong nha thường xuyên đốt lửa va dùng nệm ấm khi ngủ.
1.3. Tình hình sức khỏe, sức khỏe sinh sản của phụ nữ
1.3.1. Đặc điểm cơ thể liên quan đến bệnh tật ở nữ giới
Cơ thể nữ giới được tạo hoá ban cho cấu tạo giải phẫu phù hợp với các
chức năng riêng của mình. Ngoai công tác xã hội, người phụ nữ còn la trung


11

tâm của gia đình về mọi mặt. Những yếu tố đó liên quan không ít đến người
phụ nữ, nhiều khi la nguyên nhân dẫn tới tình trạng sức khoẻ yếu ở cộng đồng
nữ giới, nhất la phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, trong thời kỳ mang thai va nuôi con
nhỏ [30], [59], [75], [76].
Tỷ lệ mắc bệnh nói chung ở nữ giới cao hơn nam giới, cả bệnh cấp va
mạn tính, tỷ lệ chung la 2,5 bệnh/người [90], [100].
Về cơ cấu bệnh tật giữa nam va nữ, các kết quả nghiên cứu nước ngoai
va trong nước hầu như có sự tương đồng. Nam giới có xu hướng mắc các
bệnh hô hấp, tai mũi họng, bệnh tiêu hoá mạn tính va tai nạn nhiều hơn nữ
giới từ 1,3 đến 1,7 lần. Trong khi đó, nữ giới lại mắc các bệnh thuộc hệ sinh
dục, tiết niệu cao hơn đến 3 lần [34], [92], [107].
1.3.2. Sức khỏe sinh sản - nguy cơ bệnh tật cao nhất ở nữ giới
Sức khoẻ la một trong những điều kiện cơ bản để mang lại giá trị cuộc
sống cho con người [4], [6], [10]. Nói đến sức khoẻ phụ nữ la nói đến sức
khoẻ sinh sản, cho nên đầu tư cho sức khoẻ nói chung va sức khoẻ sinh sản
nói riêng cũng chính la đầu tư cho phát triển [14], [15], [16].
Nội dung của sức khoẻ sinh sản theo Chương trình hanh động Cairo bao
gồm [105]: Các biện pháp kế hoạch hoá gia đình; sức khoẻ vị thanh niên; dịch
vụ chăm sóc ba mẹ bao gồm chăm sóc trước trong va sau khi đẻ; phòng va
điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục, các bệnh lây truyền qua đường
tình dục; điều trị vô sinh; xử trí các vấn đề sức khoẻ phụ nữ như vấn đề phụ
khoa, giáo dục tình dục học cho cả nam va nữ.
Ở Việt Nam, chăm sóc sức khoẻ sinh sản được chi tiết hoá thanh 8 nội
dung [19] với các dịch vụ tương ứng: Thông tin, giáo dục, truyền thông va tư
vấn; lam mẹ an toan; kế hoạch hoá gia đình; nạo hút thai; sức khoẻ sinh sản vị
thanh niên; các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản bao gồm các bệnh lây
truyền qua đường tình dục (trong đó có HIV/AIDS); các bệnh ung thư sinh
sản, ung thư vú; vô sinh.


12

Sức khoẻ sinh sản nữ vị thành niên
Việt Nam la nước có tỷ trọng dân số vị thanh niên vao hang cao nhất
trong khu vực châu Á, tác động của nền kinh tế thị trường đã lam ảnh hưởng
đạo đức của một bộ phận thanh thiếu niên, không ít vị thanh niên sống buông
thả, ma một trong hanh động đáng báo động la hoạt động tình dục trước hôn
nhân va các hậu quả nghiêm trọng của nó [33], [51], [57], [82], [94].
Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá nguy cơ tử vong do thai sản ở phụ nữ tuổi
15 đến 19 cao gấp 2 lần so với người từ 20 đến 24. Còn những em gái tuổi 10
- 14 nếu có thai thì nguy cơ tử vong cao gấp 5 lần so với tuổi ngoai 20 [95],
[96].
Phụ nữ và nhiễm khuẩn đường sinh sản
Bệnh phụ khoa la bệnh của nữ giới, trong đó tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm
khuẩn đường sinh sản va bệnh lây truyền qua đường tình dục khá cao, đặc
biệt la ở những nước chậm hoặc đang phát triển [42].
Kết quả điều tra ở Thái Bình, Hải Phòng, Lâm Đồng, Hậu Giang (cũ), Ha
Sơn Bình (cũ), Ha Tuyên (cũ) cho thấy: Trong cơ cấu bệnh tật của nữ theo độ
tuổi, bệnh phụ khoa chiếm tỷ lệ cao nhất va tăng dần theo độ tuổi sinh sản, cao
nhất la ở độ tuổi 41 - 55, chiếm 60% [1].
Sự thiếu hụt kiến thức, thiếu hụt chăm sóc y tế, cũng như tình trạng mại
dâm hiện nay cũng la những yếu tố rất quan trọng để lam tăng tỷ suất của
bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (NKĐSS) [73].
Trên thế giới, NKĐSS hay gặp nhất la viêm âm đạo, rồi đến một số bệnh
lây qua đường tình dục như trichomonas, lậu, giang mai. Tỷ lệ NKĐSS cao
nhất la ở châu Mỹ La tinh, châu Phi va châu Á [90], [91].
Ở Việt Nam, các nhiễm khuẩn đường sinh sản thường gặp la: Tạp khuẩn
(44%), Candida (28,5%), Candida + tạp khuẩn (27,5%) [22], [23], [24], [30].


13

Phụ nữ và HIV/AIDS
Đại dịch HIV/AIDS gây nên những hậu quả nặng nề cho sức khoẻ cá
nhân, hạnh phúc gia đình va an toan xã hội. Từ ca bệnh đầu tiên phát hiện
năm 1990, đến nay trên thế giới đã có hơn 40 triệu người nhiễm HIV, trong
đó có 18,5 triệu người la phụ nữ [89], [99].
Ở Việt Nam, trong giai đoạn 2003 - 2005, mỗi năm có thêm 37.000
người mắc mới. Riêng năm 2005, đã phát hiện 13.731 ca mắc mới HIV, 2.861
ca bị AIDS va 1.673 ca chết do HIV/AIDS [8], [11], [25], [106].
Nạo phá thai và sức khoẻ phụ nữ
Bình quân cứ một phụ nữ ra khỏi độ tuổi sinh đẻ thì có 3 phụ nữ khác
bước vao độ tuổi nay [15], [87], [104]. Theo thống kê của Vụ Sức khoẻ sinh
sản Bộ Y tế năm 2005, tỷ lệ nạo hút thai trên tổng số đẻ trong cả nước la
20,8%; tỷ lệ tai biến do nạo hút thai la 1,4%. Các vùng có tỷ lệ cao la miền
núi phía Bắc, đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long [11], [27].
Sức khoẻ thai phụ và tình hình tai biến sản khoa
Tình trạng thiếu dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai: Thiếu năng lượng
trường diễn đối với thai phụ ở nước ta chiếm tới 30% [26]. Chất lượng va số
lượng khẩu phần của phụ nữ có thai nhìn chung chưa được cải thiện.
Tai biến sản khoa: La tai biến trước, trong khi sinh va ngay sau đẻ, rất
khó lường trước, xảy ra ngoai kiểm soát va gây tử vong cao [11], [51].
Theo thống kê của Vụ Sức khoẻ sinh sản Bộ Y tế năm 2004 [23], tỷ lệ
tai biến sản khoa còn khá cao. Cơ cấu tai biến la băng huyết, nhiễm trùng, sản
giật, vỡ tử cung va nạo phá thai.
Tử vong mẹ - nguy cơ hàng đầu của thai sản
Tỷ suất chết mẹ ở Việt Nam đã liên tục giảm. Theo số liệu của tổng cục
thống kê [22], tỷ suất nay đã giảm dần từ 130/100.000 trẻ đẻ ra sống năm
1992 xuống còn 95/100.000 (năm 2000), sau đó tiếp tục giảm đi còn
85/100.000 (năm 2002) va 80/100.000 (năm 2005).


14

Điều tra tử vong mẹ năm 2000 - 2001 do Vụ Sức khoẻ sinh sản - Bộ Y tế
hợp tác với WHO thực hiện ở 7 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái của Việt Nam cho
thấy tỷ suất chết mẹ ở 7 tỉnh nghiên cứu la 130/100.000 trẻ đẻ ra sống [103].
Theo Trần Thị Trung Chiến (2006) [29], có sự khác nhau về chết mẹ giữa
các vùng (269/100.000 ở vùng núi va trung du, 81/100.000 ở đồng bằng), giữa
dân tộc thiểu số va dân tộc Kinh (316 va 81/100.000), giữa nông thôn va
thanh thị (145 va 79/100.000). Nguyên nhân góp phần gây tử vong mẹ la do
chậm trễ đến cơ sở y tế (46,3%), chậm gửi lên tuyến trên do đường giao thông
đi lại khó khăn 41,3%; 40% do điều trị không kịp thời; ngoai ra còn do nhân
viên y tế thiếu năng lực chuyên môn, thiếu thuốc, thiếu trang thiết bị cần thiết...
Trên thế giới, các nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ chiếm 80%,
nguyên nhân gián tiếp chiếm 20% [101], [102].
Ung thư ở nữ giới
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế [24], thì tỷ lệ ung thư thường gặp ở
nữ la ung thư cổ tử cung chiếm 20,3%, ung thư vú (16,2%), ung thư dạ day
(10%), đại trực trang (8,3%), ung thư phổi (7,3%).
1.4. Nữ giơi trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
1.4.1. Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế Việt Nam
Ở Việt Nam, hệ thống y tế được chia thanh tuyến Trung ương, tuyến tỉnh
va tuyến y tế cơ sở, trong đó có y tế Nha nước va y tế tư nhân [55], [56].
Trạm y tế xã la đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp cận với nhân dân nằm trong
hệ thống y tế Nha nước. Điều tra Y tế Quốc gia 2001 - 2002 cho biết bình
quân mỗi xã có 4,34 CBYT; có 52,7% số xã có bác sỹ, 89% xã phường có nữ
hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi [17].
1.4.2. Hệ thống quản lý chăm sóc sức khoẻ ban đầu - công cụ đánh giá
tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
CBM - Community Based Monitoring (Giám sát dựa vao cộng đồng)
[20] được xem như la một phương pháp đánh giá khả năng tiếp cận va sử
dụng dịch vụ y tế. Mục tiêu chính của CBM la xác định xem nhu cầu chăm


15

sóc sức khoẻ đã được đáp ứng hay chưa, đáp ứng như thế nao, nguyên nhân
cản trở người sử dụng dịch vụ y tế va tồn tại của người cung ứng dịch vụ y tế
thông qua các chỉ số: Sẵn có  tiếp cận  sử dụng  sử dụng đủ  sử dụng
hiệu quả.
Đánh giá tương quan giữa tiếp cận va sử dụng DVYT bằng các biểu đồ,
xác định những vấn đề còn tồn tại dựa trên các chỉ số:
Đối tượng đích: La nhóm đối tượng ma nganh y tế hướng tới phục vụ.
Tỷ lệ sẵn có: La tỷ lệ những ngay ma trạm y tế có đầy đủ các điều kiện
cần thiết phục vụ cho chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Tỷ lệ tiếp cận: La tỷ lệ dân số trong xã có thể đến được trạm y tế trong
khoảng thời gian dưới một giờ bằng phương tiện sẵn có của mình.
Tỷ lệ sử dụng: La tỷ lệ số người có sử dụng DVYT dù chỉ một lần trong
kỳ theo dõi trên tổng số đối tượng.
Tỷ lệ sử dụng đầy đủ: La tỷ lệ số người được nhận đầy đủ các DVYT cần
thiết có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của họ.
1.4.3. Hệ thống tổ chức y tế tỉnh Bắc Kạn
Theo niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2009 [83], toan tỉnh có 8
bệnh viện (gồm 1 bệnh viện đa khoa tỉnh va 7 bệnh viện huyện), 10 phòng
khám đa khoa khu vực, 122 trạm y tế xã phường. Số cán bộ nganh y tế la 1.197
người, trong đó có 354 bác sỹ, 326 y sỹ, 517 y tá. Tỷ lệ trạm y tế xã có
bác sỹ la
59,01%; có nữ hộ sinh la 81,97%; hầu hết các xã đều có nhân viên y tế thôn
bản.
Theo niên giám thống kê y tế năm 2005 [21], tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ
va nữ hộ sinh của tỉnh Bắc Kạn thấp hơn cả nước nhưng cao hơn so với vùng
Tây Bắc va Tây Nguyên.
1.4.4. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
1.4.4.1. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ
Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ la sự cần thiết được CSSK theo các vấn đề
sức khoẻ của người dân. Chúng ta cần phân định giữa nhu cầu (need - sự cần
thiết) va cầu (demand - la thể hiện qua ý muốn chủ quan của người bệnh, phụ
thuộc vao sức


16

mua va khả năng chi trả). Quan điểm của Đảng va Nha nước ta trong CSSK
luôn gắn liền với nhu cầu chứ không gắn với sức mua [61]. Theo kết quả của
VNHS
2001 - 2002 [17], bình quân sẽ có 1,5 đợt ốm_người/năm lam ảnh hưởng tới
các hoạt động như đi học, đi lam.
1.4.4.2. Tiếp cận dịch vụ y tế
“Tiếp cận dịch vụ y tế” la khả năng ma người sử dụng dịch vụ y tế
(DVYT) khi cần có thể đến sử dụng DVYT tại nơi cung cấp. Tiếp cận bao
ham cả sự đánh giá, cách nhìn nhận DVYT trong tầm suy nghĩ của người dân
về loại dịch vụ qua các yếu tố không gian, thời gian, chi phí va chất lượng
dịch vụ y tế.
Tiếp cận DVYT phụ thuộc vao nhiều nhóm yếu tố nhưng có 4 nhóm yếu
tố cơ bản sau:
* Khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế: Được tính bằng thời gian đi từ nha
đến cơ sở y tế. Nếu thời gian nay trong vòng 60 phút đi bằng phương tiện
thông thường thì coi la tiếp cận được. Cách tính va đo lường nay hợp lý cho
mọi trường hợp. Nếu cang tốn ít thời gian để đến với cơ sở y tế thì tính tiếp
cận cang cao va ngược lại [70].
Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng (2007) [43] về chăm sóc sản khoa
thiết yếu tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy: Tỷ lệ tiếp cận trong chăm sóc trước va
sau sinh đạt 85,9%.
* Kinh tế: Yếu tố kinh tế có tác động rất lớn tới sự tiếp cận va sử dụng
dịch vụ y tế [32].
Nghiên cứu của Trương Việt Dũng tại 4 xã tỉnh Quảng Ninh [35] cho
thấy: 22% tự chữa lấy không mua thuốc, 20% đến bệnh viện huyện, 28% đến
thầy thuốc tư.
Theo báo cáo năm 2007 của đơn vị nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ cộng
đồng - Bộ Y tế [7]: Tỷ lệ người ốm không chữa gì la 2,7%; tự mua thuốc về
chữa 32,8%; đến trạm y tế xã 22,4%; đến y tế tư nhân 19,6%... Những hộ có
thu nhập thấp thì lựa chọn hình thức tự chữa la cao nhất (35,4%), hộ có thu


17

nhập trung bình va cao thì đến bệnh viện (13,5% va 22%), đến trạm y tế xã
(22,5% va 16,8%).
Kết quả nghiên cứu theo dõi điểm ở một số tỉnh do Bộ Y tế tiến hanh
năm 2001 - 2002 [17] cho thấy: Ở miền Bắc số người nghèo bị ốm không
điều trị gì chiếm 40%; 32% không có tiền chữa.
Lê Thị Hồng Thơm (2006) [66] nghiên cứu về tiếp cận va sử dụng dịch
vụ y tế cho phụ nữ nông thôn cho kết quả: 48,6% phụ nữ chọn hình thức tự
chữa bệnh, sau đó đến y tế tư (22,9%), tiếp đến la trạm y tế xã (13,8%). Nhóm
phụ nữ nông thôn nghèo chọn hình thức tự chữa bệnh cao hơn so với nhóm
phụ nữ có thu nhập từ khá trở lên (55,7% so với 23,7%), ngược lại, nhóm phụ
nữ có thu nhập cao lựa chọn khám chữa bệnh tư (25,9%) cao hơn so với nhóm
có thu nhập thấp hơn (18,1%).
Nha nước cũng như nganh y tế rất quan tâm va đã có nhiều giải pháp về
chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa
thể giải quyết được căn nguyên của vấn đề [2], [4], [5].
* Dịch vụ y tế: Nhóm nay không đề cập đến giá dịch vụ đắt hay rẻ ma
chỉ đề cập đến tính sẵn có của các dịch vụ ma người dân cần, tính thường trực,
thời gian mở cửa thích hợp, thái độ của cán bộ y tế với bệnh nhân, chất lượng
dịch vụ ma người dân yêu cầu.
Nghiên cứu quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc trước sinh ở huyện Cần
Đước - Long An [62] cho thấy: Yếu tố sẵn có của phương tiện khám thai, viên
sắt, giấy thử albumin niệu... chưa đầy đủ (97%), trong khi đó tất cả phụ nữ
đều có khả năng tiếp cận với dịch vụ. Như vậy, tồn đọng của dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ cho phụ nữ có thai trước sinh ở địa phương nay chính la sử dụng
hiệu quả.
Báo cáo của sở Y tế tỉnh Thanh Hoá [63] về tính bao phủ của dịch vụ
chăm sóc trước sinh cho thấy yếu tố sẵn có chỉ đạt 86%, trong khi đó yếu tố
tiếp cận va sử dụng la 100%, tồn đọng của dịch vụ chăm sóc phụ nữ có thai
trước sinh vẫn la tỷ lệ sử dụng hiệu quả (66%).


18

* Văn hoá - xã hội: Trình độ hiểu biết của người ốm, người chủ gia đình
có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định xử lý khi bị ốm đau va thông qua đó ảnh
hưởng gián tiếp tới lựa chọn DVYT. Yếu tố văn hoá - xã hội còn chịu sự tác
động của phong tục tập quán: Cúng bái trừ ta ma, kiêng khem, đẻ tại nha,
ngại phải thổ lộ bệnh tật của mình với người khác…
1.4.4.3. Sử dụng dịch vụ y tế
Sử dụng DVYT la một quá trình tương tác của nhiều yếu tố. Hiện nay có
3 cách đề cập chính được sử dụng để xây dựng mô hình giải thích các mối quan
hệ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng DVYT của người dân: Kinh tế
học, nhân học va ứng xử xã hội trong chăm sóc sức khoẻ [86].
* Kinh tế học: Cách đề cập nay dựa trên nhận định rằng con người khi
phải lựa chọn một dịch vụ nao đó, phải luôn tuân theo các nguyên lý kinh tế
học nhằm đạt được lợi ích tối đa với mức chi phí có thể bỏ ra.
* Nhân học: Cơ sở của cách đề cập nay la sự lựa chọn cụ thể của người
dân được xem la kết quả của quá trình ra những quyết định nhiều bậc. Do vậy,
các mô hình phát triển từ cách đề cập nay còn có tên la mô hình lý thuyết
quyết định.
* Mô hình quyết định: Cách đề cập nay tập trung vao việc xem xét đồng
thời sự tác động của tập hợp các biến giải thích sự lựa chọn DVYT của người
dân.
1.4.4.4. Mối liên quan giữa yếu tố tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
Về mặt lý luận, hệ thống y tế được cấu thanh bởi những cơ sở cung cấp
DVYT, người sử dụng DVYT va hệ thống pháp lý cũng như môi trường, kinh
tế xã hội chi phối mối quan hệ giữa bên cung va bên cầu. Nếu bên cung thiếu
các nguồn lực cần thiết, tổ chức va quản lý dịch vụ chăm sóc sức khoẻ không
tốt sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp va ảnh hưởng đến sức khoẻ
cộng đồng. Nếu bên “cầu” không có nhu cầu đúng, không chấp nhận, không
sử dụng các DVYT ma bên “cung” sẵn sang cung cấp, có nghĩa la không
tham gia vao hệ thống y tế công cộng thì dẫn tới lãng phí nguồn lực va hiệu
quả các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng bị hạn chế.


19

1.4.4.5. Tình hình sử dụng dịch vụ y tế ở nữ giới
Nghiên cứu của Bùi Thanh Tâm ở Thái Bình [64] cho thấy: Ở Thái Bình
hệ thống y tế của Nha nước mới chỉ thu hút được 54% các trường hợp ốm, có
44,9% chữa bệnh ở trạm y tế xã; 9,77% đến bệnh viện hoặc phòng khám đa
khoa khu vực; 23,13% tự chữa, còn 13,5% không chữa gì.
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế cơ bản giữa các nhóm thu nhập khác nhau
không giống nhau, người nghèo có xu hướng sử dụng dịch vụ trạm y tế xã
nhiều hơn các đối tượng khác, trong khi đó người giau có xu hướng sử dụng
dịch vụ tư nhiều hơn [67], [68], [70].
Ở các nước công nghiệp phát triển, nữ giới sử dụng dịch vụ y tế nhiều
hơn nam giới [77].
Ở Việt Nam, liên quan giới va sử dụng dịch vụ y tế còn rất ít tai liệu đề
cập đến. Tuy nhiên, có thể đoán biết rằng trong điều kiện kinh tế xã hội hiện
nay nhiều phụ nữ sống ở khu vực nông thôn miền núi khó có điều kiện tiếp
cận dịch vụ y tế có chất lượng.
Điều tra tỷ lệ sử dụng dịch vụ cơ bản hang năm (không kể bệnh viện)
trên đầu người theo giới va tuổi cho thấy: Ở mọi lứa tuổi, nữ giới đều sử dụng
dịch vụ y tế cao hơn nam giới [70].
Nghiên cứu của Trương Việt Dũng [34], [66] cho thấy: Nữ giới thường
mua thuốc tự chữa bệnh cao hơn nam giới (38,7% so với 25,2%). Trong khi
đó, nam giới có tỷ lệ đến bệnh viện cao hơn nữ giới (23,2% so với 18,1%).
Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh
Theo Tổ chức Y tế thế giới, tình hình chăm sóc trước va trong sinh của
phụ nữ ở các nước đang phát triển va các nước phát triển còn thấp so với nhu
cầu. Chỉ có một nửa phụ nữ 15 đến 49 tuổi ở Nam Á va các nước kém phát
triển được khám thai [90]. Trước Cairo (Hội nghị quốc tế về dân số va phát
triển tại Ai Cập), 43% phụ nữ không được khám thai, 15% các trường hợp đẻ
không được y tế hỗ trợ, 43% đẻ tại nha; 46,5% đẻ do ba đỡ dân gian hoặc y tế
thôn bản đỡ, chỉ có 9,2% đẻ do cán bộ tuyến huyện va tỉnh thực hiện. Sau
Cairo thì tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc thai sản đã có sự cải thiện, số


20

lần khám thai trung bình la 1,4; tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm uốn ván 2 lần
trong thai kỳ la 82,1%; tỷ lệ thai phụ đẻ tại nha la 50%, tỷ lệ đẻ được cán bộ y
tế hỗ trợ 88% [13], [97].
Các số liệu điều tra cho thấy việc sử dụng dịch vụ chăm sóc thai nghén
có chiều hướng gia tăng theo thời gian, nghĩa la tăng theo mức đời sống
chung, theo mức học thức va hiểu biết tăng dần ở phụ nữ trong tình hình phát
triển kinh tế xã hội chung của cả đất nước [67], [69], [70].
Điều tra y tế nhân khẩu học của Uỷ ban quốc gia dân số kế hoạch hoá gia
đình, Dự án dân số sức khoẻ gia đình cho thấy: 56% phụ nữ có thai đăng ký
chăm sóc trước sinh va số lần khám thai trung bình la 1,6; khoảng 1/3 số phụ
nữ sinh con tại nha [80].
Mặc dù tỷ lệ khám thai ở Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với các nước
công nghiệp va các nước thuộc Thái Bình Dương nhưng đã đạt gần tới mức
chung của thế giới. Tỷ lệ phụ nữ khi đẻ được người có chuyên môn hỗ trợ đã
đạt mức khá cao, cao hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển va các
nước kém phát triển, chỉ kém các nước công nghiệp [64], [98].
Theo Vụ Sức khỏe sinh sản Bộ Y tế, tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai
từ 3 lần trở lên trong cả nước đạt 87,9% ; tỷ lệ phụ nữ có thai tiêm phòng uốn
ván đủ 2 lần đạt 92% [23].
Dịch vụ chăm sóc trong và sau sinh
Chăm sóc sau sinh cũng quan trọng không kém trước sinh, nó giúp kiểm
tra sức khoẻ thai phụ, phát hiện ngăn ngừa va điều trị biến chứng sau sinh kịp
thời. Công tác nay không phụ thuộc các sản phụ, ma nó phụ thuộc hoan toan
vao người cung cấp dịch vụ y tế.
Theo báo cáo của Bộ Y tế: Tỷ lệ đẻ có chuyên môn trợ giúp năm 2004 cả
nước đạt 87,9%; cao nhất la đồng bằng sông Hồng (97%), sau đó la duyên hải
miền Trung, Đông Nam Bộ, thấp nhất la miền núi phía Bắc (73,1%) [23].
Cũng trong báo cáo nay, tình hình tử vong sản phụ còn cao, ma nguyên
nhân chính có liên quan đến cung cấp va sử dụng dịch vụ y tế. Có 90% trường
hợp tử vong mẹ la do thiếu hụt trong hệ thống chăm sóc sản phụ [23].


21

1.5. Công tác khám chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở
1.5.1. Một số nghiên cứu về khám chữa bệnh ở tuyến y tế cơ sở tại Việt
Nam
Theo nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới [12], [60]: Mức độ sử dụng
dịch vụ tại trạm y tế xã của chúng ta còn ở mức thấp va trung bình. Trong khi
đó, nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ của nhân dân la rất lớn.
Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế [9]: Cách xử trí của người dân khi bị
ốm rất khác nhau. Sự lựa chọn cao hơn cả la tự mua thuốc về chữa. Tỷ lệ nay
từ 50% đến 65% với các lý do sau: Bệnh nhẹ 62,23%, ở xa trạm y tế 11,3%.
Nhận xét của người dân về trạm y tế: Không đủ thuốc 65%, không có thuốc
16%, thuốc đắt 21%.
Nghiên cứu về khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK của các hộ gia đình
tại tuyến cơ sở ở 5 huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế (1020 hộ gia đình) cho
thấy [18]: Tỷ lệ tiếp cận y tế cơ sở (YTCS) la 31,8% va tỷ lệ đến trạm y tế
(TYT) để khám chữa bệnh (KCB) khi bị ốm của các hộ gia đình la 12,7%.
Cách lựa chọn KCB của các hộ gia đình khi có người ốm đến TYT la 13,1%,
bệnh viện huyện 15,6%, tự chữa la 18,3%, đến y tế tư nhân 38,9%, có 6,9%
hộ gia đình chữa bệnh bằng hình thức cúng bái. Nghiên cứu nay cũng cho
thấy: Người nghèo thường chọn thầy lang (gấp 3 lần) hoặc mua thuốc tự chữa
(gấp 2 lần so với người giau). Ngược lại, những người giau thường chọn y tế
tư nhân hoặc YTCS va đến bệnh viện. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn cơ
sở KCB la chuyên môn giỏi, thái độ phục vụ tốt va gần nha. Các lý do cản trở
người dân tiếp cận với YTCS la không tin tưởng vao trình độ chuyên môn của
cán bộ y tế, thiếu thuốc va phương tiện KCB, giờ mở cửa không thuận lợi.
Ngoai ra yếu tố kinh tế, phong tục tập quán cũng cản trở người dân tiếp cận
dịch vụ y tế.
1.5.2. Một số nghiên cứu ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Kết quả nghiên cứu của Dương Huy Liệu (1996) [46] về CSSKBĐ ở
nông thôn phía Bắc cho thấy: Tỷ lệ các xã có cơ sở y tế chiếm 93,93%, trong
đó chỉ có 24,2% cơ sở nha trạm được đánh giá la tốt.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×