Tải bản đầy đủ

tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng CS VN

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN


CHỦ ĐỀ: TỔNG BÍ THƯ TRƯỜNG CHINH


DANH SÁCH:
1.
2.
3.
4.

Phạm Khải Hoàn
Trần Thị Thảo May
Trần Thị Hồng Thắm
Nguyễn Diễm Thục Vy

MỤC LỤC
1. Lời dẫn...............................................................................................................3
2. Tiểu sử...............................................................................................................3

3. HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG.................................................................................4
Tuổi trẻ (1907-1927)............................................................................................4
Trưởng thành trong cách mạng (1927-1940)......................................................4
Chuẩn bị và tiến hành Cách mạng Tháng Tám thắng lợi (1941-1945).................4
Trong kháng chiến chống xâm lược Pháp (1946-1954).......................................5
Khôi phục miền Bắc và xây dựng đường lối cách mạng miền Nam (1954-1960) 5
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất tổ quốc
(1960-1975)..........................................................................................................6
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975-1982)......6
Công cuộc đổi mới (1982-1988)..........................................................................6
4. Tác phẩm ‘’Kháng chiến nhất định thắng lợi’’...................................................7
5. Báo cáo ‘’Bàn về Cách mạng Việt Nam’’_Trường Chinh tại đại hội Đảng-II
(2/1951)..................................................................................................................8
6. Khôi phục kinh tế và cải cách ruộng đất ở miền Bắc 1954-1960......................9
7. Cống hiến..........................................................................................................9


1.

Lời dẫn

“Tám mươi mốt năm tuổi đời, sáu mươi ba năm liên tục hoạt động cách mạng, Đồng
chí Trường - Chinh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất
tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam ta.” Đó là câu nói mà Hồ Chủ
tịch khi nhắc đến Tổng bí thư Trường Chinh.
Trong hoạt động và đấu tranh cách mạng, đồng chí luôn là người cộng sản kiên cường.
Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được giao trọng trách, đồng chí xứng đáng là
kiến trúc sư chiến lược – nhà tổ chức tài năng, nhà lãnh đạo chính trị kiệt xuất, nhà lý luận,
nhà văn hoá lớn, nhất là trong những bước ngoặt của cách mạng nước ta.
Ba lần được cử giữ chức Tổng Bí thư của Đảng và trong nhiều năm là người đứng đầu
Quốc hội và Nhà nước ta, đồng chí luôn giữ trọn phẩm chất chính trị kiên định của một trí
tuệ sáng tạo, là tấm gương nhân cách cao thượng và trong sáng của một nhà hoạt động chính
trị chuyên nghiệp, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và của dân tộc ta.

2.

Tiểu sử

Trường Chinh (1907–1988) là một chính khách Việt Nam. Ông đã giữ các chức vụ
quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam như Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt


Nam (là nhân vật duy nhất hai lần giữ chức Tổng Bí thư), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và
Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Ông còn là một nhà thơ với bút danh Sóng Hồng
Ông tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9 tháng 2 năm 1907, ở thôn Hành Thiện, xã
Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Cụ nội ông là cụ Đặng Xuân Bảng, đỗ
Tiến sĩ tam giáp đệ nhất danh năm 1856. Cha ông là cụ Đặng Xuân Viện, là một nhà nho
không thành đạt trong đường khoa bảng, là một thành viên trong nhóm Nam Việt đồng thiên
hội, là người biên soạn bộ Minh đô sử (gồm 100 quyển đóng thành sách).
Do truyền thống gia đình, được sự giáo dục của cha, từ nhỏ, ông đã làm quen với Tứ
thư, Ngũ kinh, thơ Đường và được đào tạo bài bản về văn hóa và lịch sử theo truyền thống
Nho học. Khi lớn lên, ông bắt đầu tiếp xúc Tây học và theo học bậc Thành chung tại Nam
Định.

3.

HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

NHỮNG CỘT MỐC QUAN TRỌNG:
Tuổi trẻ (1907-1927)


Ông bắt đầu tham gia hoạt động trong phong trào thanh niên học sinh yêu nước ở
Nam Định (1926) và được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1027), trước khi
lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng Thương mại Đông Dương.
Trưởng thành trong cách mạng (1927-1940)
Mùa hè năm 1928, Đặng Xuân Khu về quê nghỉ hè đã cùng anh là Đặng Xuân Thiều
ra tờ báo Dân cày. Cuối năm 1928, trở lại Hà Nội, Đặng Xuân Khu tiếp tục tham gia hoạt
động trong các tổ chức cộng sản và được phân công phụ trách biên tập tờ Búa Liềm – cơ
quan ngôn luận của Đảng lúc đó.Tháng 9-1929, Đặng Xuân Khu làm chủ bút tờ báo Người
sinh viên và cuối năm 1929, ông bỏ học để tham gia hoạt động cách mạng và từ đó trở thành
nhà cách mạng chuyên nghiệp, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những
ngày đầu thành lập.
Đầu năm 1940, do đòi hỏi của tình hình và trước việc các hầu hết các uỷ viên TW bị
địch bắt, Ban Chấp hành TW lâm thời đã cử ra Ban Thường vụ TW và chỉ định đồng chí
Đặng Xuân Khu làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng từ ngày 17-1-1940.
Chuẩn bị và tiến hành Cách mạng Tháng Tám thắng lợi (1941-1945)
Năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị
lần thứ VIII BCHTW (từ 10 đến 15-8-1941) đã thông qua nhiều quyết định quan trọng, trong
đó có việc bầu đồng chí Đặng Xuân Khu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Ngày 28-1-1945, với bút danh Trường - Chinh, Tổng Bí thư viết bài “Chúng ta học
được những gì trong cuộc đấu tranh võ trang ở Thái Nguyên” đăng trên số 10 báo Cờ Giải
phóng. Tháng 2-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đi công tác nước ngoài, công việc chỉ đạo chuẩn
bị khởi nghĩa do Tổng Bí thư Trường - Chinh chịu trách nhiệm. Đêm 9-3-1945, Nhật đảo
chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương, Thường vụ TW ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và
hành động của chúng ta”do Tổng Bí thư Trường - Chinh khởi thảo và hoàn thiện là những
mệnh lệnh hướng dẫn hành động cụ thể cho đảng bộ các địa phương, đã thổi bùng lên cao
trào chống Nhật, cứu nước.
Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, Thường vụ TW và lãnh tụ Hồ Chí
Minh quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc do Tổng Bí thư Trường - Chinh phụ
trách. Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi tại Hà Nội và sau đó là
Huế, Sài Gòn và các tỉnh, thành phố khác trong cả nước.
Trong kháng chiến chống xâm lược Pháp (1946-1954)
Đáp lới kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện chủ trương kháng chiến của TW
Đảng, đồng chí Trường - Chinh đã viết loạt bài dưới tiêu đề “ Kháng chiến nhất định thắng
lợi” xác định cuộc kháng chiến lâu dài, trải qua ba giai đoạn : phòng ngự, cầm cự và tổng
phản công.


Tình hình quốc tế những năm 1948-1949 có nhiều chuyển biến lớn, ảnh hưởng trực
tiếp đến cách mạng 3 nước Đông Dương. Tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ VI (11949), đồng chí Trường - Chinh trình bày báo cáo quan trọng “ Tích cực cầm cự và chuẩn bị
tổng phản công” và tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng (2-1950), đồng chí Trường Chinh sau khi trình bày báo cáo “Hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng
phản công” đã giải đáp những vấn đề : Làm thế nào để chuyển sang tổng phản công?, Bao
giờ tổng phản công? Và tổng phản công như thế nào?
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp từ 11 đến 19-2-1951, thay mặt
BCHTW, đồng chí Trường - Chinh đã trình bày Luận cương cách mạng Việt Nam. Tại Đại
hội này, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Trường - Chinh
được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam.
Khôi phục miền Bắc và xây dựng đường lối cách mạng miền Nam (1954-1960)
Đồng chí Trường - Chinh và một số đồng chí lãnh đạo khác được phân công trực tiếp
chỉ đạo tiến hành cải cách ruộng đất theo Cương lĩnh ruộng đất, Luật cải cách ruộng đất và
theo Nghị quyết Hội nghị TW6 khoá II, nhằm xoá bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của các
chủ đất, thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, quyền làm chủ nông thôn của nông dân
miền núi. Đồng thờI, thong qua đó tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.Tháng 4-1956, TW
Đảng phát hiện sai lầm của cải cách ruộng đất. Ngày 1-7-1956, trong thư gửi Hội nghị tổng
kết cải cách ruộng đất đợt 5, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cảI cách ruộng đất đã thu được
những “thắng lợi căn bản to lớn” nhưng “phạm sai lầm cũng không ít”. Hội nghị TW 10
khoá II(10- 1956) đã thông qua Nghị quyết tự phê bình của TW, đồng ý để đồng chí Trường
Chinh từ chức Tổng Bí thư. Hội nghị cũng thông qua kế hoạch sửa sai do đồng chí Trường
Trinh đích thân chỉ đạo thực hiện.
Trên cương vị là Tổng Bí thư Đến tháng 10-1956) và sau đó là Uỷ viên Bộ Chính trị,
Ban Bí thư TW Đảng , đồng chí Trưòng Chinh tiếp tục có những đóng góp to lớn vào việc
xây dựng đường lối đúng đắn để khôi phục và cải tạo kinh tế ở miền Bắc và thực hiện cách
mạng ở miền Nam.
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất tổ quốc (1960-1975)
Tháng 5-1-1960, Quốc Hội khoá II bầu đồng chí Trường - Chinh làm Chủ tịch Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội. Từ đó đồng chí liên tục được bầu làm Chủ tịch các khoá III (19641971), khoá IV (1971-1975), khoá V (1975-1976). Đồng chí Trường –Chinh đã có nhiều
đóng góp vào việc xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp và tổ chức bộ máy
nhà nước, tăng cường các hoạt động quốc tế, huy động và tổ chức quân dân cả nước đoàn kết
một lòng, phấn đấu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc,
củng cố miền Bắc về mọi mặt, đánh thắng các kiểu chiến tranh phá hoại miền Bắc của Đế
quốc Mỹ, dốc sức chi viện cho cách mạng miền Nam đến ngày toàn thắng, đồng thời tích
cực, chủ động chuẩn bị kế hoạch để tái thiết đất nước sau chiến tranh.


Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975-1982)
Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước VNDCCH và Hội đồng cố vấn Chính phủ cách
mạng lâm thời CH miền Nam Việt Nam quyết định lấy ngày 25-4-1976 là ngày Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội chung của cả nước (khoá VI). Đồng chí Trường - Chinh tiếp tục được Quốc
hội khoá VI bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến
pháp. Bản Hiến pháp nước CH XHCN Việt Nam , hiến pháp của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước đã được thông qua tại kỳ họp thứ VII (12-1980).
Nghị quyết TW 6 (khoá IV tháng 8-1979) là tín hiệu của sự đổi mới được nhân dân cả
nước đón nhận. trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đang diễn ra ở nông thôn, Ban Bí
thư TW dã ra Chỉ thị 100-CT/TW về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động
trong HTX nông nghiệp đánh dấu một mốc quan trọng về đổi mới tư duy kinh tế và chính
sách phát triển nông nghiệp của Đảng ta. Năm 1980-1981, đồng chí Trường - Chinh đã thực
hiện nhiều chuyến đi khảo sát thực tế ở Hải Phòng, Hải Hưng, Nam Định, Bến Tre, Tiền
Giang.
Công cuộc đổi mới (1982-1988)
Từ năm 1983-1985, cùng với việc thành lập nhóm nghiên cứu kinh tế xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng chí Trường - Chinh đã bố trí một chương trình
khảo sát rất chặt chẽ,hợp lý ở các địa phương trên cả ba miền miền đất nước : Đắc Lắk, Gia
Lai-Kon Tum, TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Đồng Nai, Vũng Tàu-Côn Đảo, Long An, Nghĩa
Bình, Quảng Nam-Đà Nẵng, An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hà Sơn Bình, Thanh Hoá,
Nghệ Tĩnh …Kết quả các chuyến đi khảo sát được đưa ra thảo luận, xem xét kịp thời tại các
Hội nghị TW 6 (7-1984), TW 7 (12-1984), TW 8 (6-1985), TW 9 (12-1985) và từ đó, đường
lối đổi mới toàn diện đất nước từng bước hình thành ngày một rõ nét.
Giữa lúc toàn Đảng, toàn dân đang ra sức tháo gỡ khó khăn, khắc phục cuộc khủng
hoảng kinh tế - xã hội và khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội lần thứ VI của Đảng thì
ngày 10-7-1986, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời. Ngày 14-7-1986, Ban Chấp hành
Trung ương họp phiên đặc biệt bầu đồng chí Trường - Chinh làm Tổng Bí thư Đảng cộng sản
Việt Nam. Nhận rõ trách nhiệm trên cương vị mới, đồng chí Trường – Chinh làm hết sức
mình chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng thật sự là Đại hội của đổi mới.
Báo cáo chính trị do đồng chí Trường - Chinh trình bày đã nhấn mạnh với tinh thần
tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật,cần phân tích một cách sâu sắc những
khuyết điểm sai lầm để trên cơ sở đó mà đề ra chủ trương biện pháp kiên quyết thực tế để
đưa cách mạng nước ta tiếp tục vững bước tiến lên.Đối với đất nước ta, đổi mới càng là yêu
cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn.
Đồng chí Trường - Chinh cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ đề nghị với
Đại hội không tham gia ứng cử vì lý do sức khoẻ. Đại hội đã tuyên dương công trạng to lớn


vì nước, vì dân và nhất trí trao trách nhiệm cao cả cho đồng chí Trường - Chinh, Phạm Văn
Đồng, Lê Đức Thọ làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Ngày 30-9-1988, đồng chí Trường - Chinh làm việc với nhóm viết Hồi tưởng” đến 11
giờ. Đó là buổi làm việc cuối cùng của đồng chí cho Đảng và dân tộc . Đồng chí đã đột ngột
đi vào cõi vĩnh hằng.

4. Tác phẩm ‘’Kháng chiến nhất định thắng
lợi’’
Trong tác phẩm này, đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ mục đích cuộc kháng chiến là
giành độc lập và thống nhất cho đất nước. Nó tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân
dân cho nên nhiệm vụ chống phong kiến, thực hiện dân chủ và chính sách ruộng đất vẫn phải
đi liền với nhiệm vụ chống đế quốc, nhưng vì nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nóng bỏng và
cấp bách nhất cho nên yêu cầu dân chủ không thể đặt ngang hàng với yêu cầu độc lập dân
tộc, chính sách ruộng đất phải được thực hiện từng bước để phân hóa hàng ngũ phong kiến
và cô lập thực dân Pháp xâm lược.
Trong cuộc kháng chiến này, nhân dân Việt Nam vừa đấu tranh để tự cứu mình, vừa
đấu tranh cho hoà bình thế giới. Cho nên cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam là một
cuộc chiến tranh tiến bộ, vì tự do, độc lập, dân chủ và hoà bình”. Tác phẩm phân tích một
cách khoa học những chỗ mạnh và chỗ yếu của ta so với những chỗ mạnh và chỗ yếu của
địch, chỗ mạnh của ta đều là gốc, chỗ mạnh của địch đều là ngọn”.
Do đó, ta càng đánh càng mạnh, địch càng đánh càng yếu. Ta từ chỗ yếu hơn địch sẽ
tiến tới cân sức và mạnh hơn địch. Vì vậy phải đánh lâu dài. Muốn đánh lâu dài phải tự lực
cánh sinh, tự ta giúp ta rồi người mới giúp ta.
Cho nên phương châm chiến lược là kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực
cánh sinh. Sau khi phân tích cuộc kháng chiến lâu dài phải qua ba giai đoạn, tác phẩm giải
thích rõ đường lối kháng chiến về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá.
Tác phẩm chỉ rõ: mọi hoạt động văn hóa lúc này phải nhằm vào khẩu hiệu “Yêu nước
và căm thù giặc”.
Nhiệm vụ của mặt trận văn hóa kháng chiến là bằng mọi hình thức động viên toàn dân
tham gia chiến đấu, “làm cho nhân dân hiểu vì sao phải đánh, đánh để làm gì, làm thế nào để
thắng, đánh nhất định khổ, nhưng nhất định thắng lợi”.


5. Báo cáo ‘’Bàn về Cách mạng Việt
Nam’’_Trường Chinh tại đại hội Đảng-II
(2/1951)
Trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn của hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng
nước ta, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế
giới, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của đồng chí Trường Chinh đã trình bày trước
Đại hội toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, làm cho
nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, xoá bò hình thức bóc lột phong kiến, làm
cho người cày có ruộng, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ
chống phong kiến khăng khít với nhau.
Nhưng trọng tâm của cách mạng trong giai đoạn hiện tại là giải phóng dân tộc. Kẻ thù
trước mắt của cách mạng là chủ nghĩa đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai. Mũi nhọn của cách
mạng chủ yếu chĩa vào bọn đế quốc xâm lược. Nhiệm vụ phản phong kiến nhất định phải
làm đồng thời với nhiệm vụ phản đế, nhưng làm có kế hoạch, có từng bước, để vừa bồi
dưỡng và phát triển được lực lượng cách mạng của nhân dân, vừa giữ vững được khối đại
đoàn kết toàn dân để kháng chiến, nhằm mau tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, hoàn thành
giải phóng dân tộc.
Lực lượng cách mạng Việt Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai
cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản dân tộc.
Động lực của cách mạng Việt Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và
giai cấp tư sản, chủ yếu là công nhân và nông dân. Lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam
là giai cấp công nhân. Cuộc cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến do nhân dân
tiến hành, trong đó, công nông là động lực chủ yếu và do giai cấp công nhân lãnh đạo gọi là
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Căn cứ vào tình hình thế giới và tình hình trong nước, căn cứ vào nhiệm vụ và tính
chất của cách mạng nước ta, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam vạch ra 12 chính sách của
Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.


Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam đã bổ sung, hoàn chỉnh và phát triển 1ý luận của
Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến hành trong điều
kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến, trong thời đại mới quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội, ở một dân tộc có truyền thống kiên cường, bất khuất hàng nghìn năm
chống xâm lược. Nó là kim chi nam cho những chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng trong
cách mạng dân tộc dân chủ, và phương hướng phấn đấu cho toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

6. Khôi phục kinh tế và cải cách ruộng đất ở
miền Bắc 1954-1960.
Nông nghiệp: nông dân hăng hái khai khẩn ruộng đất bỏ hoang,bảo đảm cày cấy hết
ruộng đất vắng chủ,tăng thêm đàn trâu bò,sắm thêm nông cụ.Nhiều đập nước được sửa
chữa,nhiều công trình thủy nông mới được xây dựng,có tác dụng mở rộng diện tích tưới và
tiêu nước.
Công nghiệp: nhanh chóng khôi phục và mở rộng hầu hết các nhà máy xí nghiệp bị
phá hỏng,xây dựng thêm một số nhà máy mới như: cơ khí Hà Nội,diêm Thống Nhất,gỗ Cầu
Đuống,thuốc là Thăng Long,cá hộp Hải Phòng,chè Phú Thọ…Đến cuối năm 1957,miền Bắc
có 97 nhà máy,xí nghiệp lớn đo nhà nước quản lý
Thủ công nghiệp,thương nghiệp: nhanh chóng được khôi phục,bảo đảm cung cấp được
nhiều mặt hàng thiết yếu cho nhân dân và giải quyết phần nào việc làm cho người lao
động.Ngoại thương dần dần tập trung vào nhà nước.Đến cuối năm 1957,miền Bắc đã đặt
quan hệ buôn bán với 27 nước.
Giao thông vận tải: khôi phục 700km đường sắt,sửa chữa và làm mới hàng nghìn
kilomet đường ô tô,xây dưng lại và mở rộng thêm nhiều bến cảng:Hải Phòng,Hòn Gai,Cẩm
Phả,Bến Thủy.Đường hàng không dân dụng quốc tế được khai thông.
Văn hóa, giáo dục y tế: được đẩy mạnh.Hệ thống giáo dục phổ thông theo chương
trình 10 năm đã được khẳng định, một số trường đại học được thành lập, hơn một triệu người
được xóa mù chữ, hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được Nhà nước quan tâm
xây dựng. Nếp sống lành mạnh, giữ gìn vệ sinh được vận động thực hiện ở khắp mọi nơi.
Sai lầm:
Đấu tố tràn lan, thô bạo, đấu tố cả địa chủ kháng chiến, những người thuộc tầng lớp
trên có công với cách mạng, quy nhầm một số nông dân, cán bộ, đảng viên thành địa chủ.

7.

Cống hiến


Đánh giá về công lao của đồng chí Trường Chinh, Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá VI đã nêu: “Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại, trên cương vị là Tổng Bí thư của Đảng, từ năm 1941, cùng với Ban Chấp hành Trung
ương và Bộ Chính trị, đồng chí đã có nhiều quyết sách đúng đắn, sáng tạo, nhất là trong
những bước ngoặt của cách mạng, vai trò của đồng chí nổi bật là một trong những người
lãnh đạo kiệt xuất đã đưa cuộc Cách mạng tháng Tám đến thành công và đưa cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng”. Cống hiến đặc biệt quan trọng của
đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã đi vào tiềm thức của nhân dân ta chính là vì đồng chí
đã đặt nền móng cho công cuộc đổi mới. Cả cuộc đời vì cách mạng vì sự nghiệp giải phóng
dân tộc, hội đủ những cao quý của trí tuệ, tình cảm cách mạng cao đẹp của người chiến sĩ
cộng sản, của nhà lãnh đạo cách mạng của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin./.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×