Tải bản đầy đủ

Tri thức bản địa của người Mnông ở huyện Lắk trong việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Luận án tiến sĩ)

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH XUÂN

TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK
TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH XUÂN


TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK
TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Ngành: Văn hóa dân gian
Mã số: 9 22 9041

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS. Ngô Đức Thịnh
2. PGS.TS. Phạm Quỳnh Phương

Hà Nội - 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu đã sử dụng trong luận án là trung thực. Những
kết luận nêu trong luận án chưa được công bố ở bất kỳ công
trình khoa học nào.
Tác giả luận án

Lê Thị Thanh Xuân


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án “Tri thức bản địa của người Mnông ở huyện Lắk
trong việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên” là một hành
trình dài của sự tìm tòi, nghiên cứu và học hỏi không ngừng. Tôi xin bày tỏ sự biết
ơn đến các cá nhân và tập thể sau:
Trước tiên, tôi xin tri ân sâu sắc đến hai giáo viên hướng dẫn của tôi là
GS.TS. Ngô Đức Thịnh và PGS.TS. Phạm Quỳnh Phương. GS.TS Ngô Đức Thịnh
là người đã hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn thạc sỹ, sau đó không quản ngại tiếp
tục nhận hướng dẫn tôi làm Luận án tiến sỹ. Hai giáo viên hướng dẫn đã đóng góp
những ý kiến quan trọng trong lúc thực hiện và hoàn thành luận án.
Cảm ơn tập thể các nhà khoa học đã và đang công tác tại Viện Nghiên cứu
Văn hóa thuộc Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Khoa Văn hóa học-Học
viện Khoa học Xã hội luôn tận tình hỗ trợ tôi về mặt học thuật, phương pháp nghiên
cứu trong suốt thời gian tôi theo học Thạc sỹ và làm nghiên cứu sinh.


Các nhà khoa học ở các viện nghiên cứu, các cơ quan đã có những ý kiến
đóng góp xác đáng cho cho bản dự thảo luận án để tôi có thể bổ sung, hoàn thiện
luận án.
Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk, trường Trung cấp sư phạm Mầm
non Đắk Lắk đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể theo đuổi và hoàn thành chương
trình nghiên cứu sinh.
Đặc biệt, tôi không thể hoàn thành luận án nếu thiếu sự cộng tác, giúp đỡ của
các già làng, bà con, họ hàng ở các bon làng của người Mnông; cán bộ của các thôn,
các xã và lãnh đạo UBND huyện Lắk, các sở ban ngành của tỉnh Đắk Lắk.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn, những người đồng
nghiệp đã luôn động viên, hỗ trợ để tôi có thêm động lực tiếp tục nghiên cứu. Và
đặc biệt, tôi cảm ơn sâu sắc đến gia đình tôi, nhất là bố mẹ tôi đã luôn ở bên, tạo
điều kiện về thời gian, là chỗ dựa về mặt tinh thần và vật chất để tôi có thể đi trọn
con đường nghiên cứu của mình.
Tôi vô cùng cảm kích và một lần nữa bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đối với
tất cả!
Hà Nội, tháng 2 năm 2019


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ....................................................... 10
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................ 10
1.2. Cơ sở lý thuyết ................................................................................................... 23
1.3. Khái quát địa bàn nghiên cứu ............................................................................ 37
Chương 2: TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK,
TỈNH ĐẮK LẮK TRONG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG ................. 50
2.1. Nhận thức luận/Thế giới quan của người Mnông về tự nhiên ........................... 50
2.2. Luật tục với việc quản lý xã hội và bảo vệ đất rừng .......................................... 55
2.3. Kỹ thuật canh tác phù hợp với môi trường sinh thái ......................................... 80
2.4. Nghi lễ củng cố niềm tin, sự tôn trọng đối với tự nhiên .................................... 85
Chương 3: TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK,
TỈNH ĐẮK LẮK TRONG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NƯỚC .......................... 96
3.1. Vai trò của nước trong đời sống của người Mnông ........................................... 96
3.2. Xác lập quyền sở hữu nguồn nước .................................................................. 100
3.3. Vai trò chỉ huy của “Rnoh Rnut” trong việc hướng dẫn dân làng chặn dòng
bắt cá tập thể ........................................................................................................... 101
3.4. Tri thức bản địa trong bảo vệ nguồn nước ....................................................... 102
3.5. Một số nghi lễ liên quan đến nguồn nước........................................................ 108
Chương 4: NGUYÊN NHÂN SỰ BIẾN ĐỔI, CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA
NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK ..................................... 112
4.1. Sự biến đổi của tri thức bản địa về quản lý, sử dụng đất rừng và nước .......... 112
4.2. Các nhân tố tác động đến sự biến đổi của tri thức bản địa của người Mnông. 130
4.3. Những thách thức trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của tri thức bản địa
trong bối cảnh hiện nay ........................................................................................... 137
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 142
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ......................................................................... 145
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 146


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP: Chính phủ
DL: Dương lịch
DTTS: Dân tộc thiểu số
Ha: Hecta
Kg: Kilô gram
KH: Kế hoạch
KHKT: Khoa học kỹ thuật
NCS: Nghiên cứu sinh
NQ: Nghị quyết
PCCR: Phòng chống cháy rừng
PL: Phật lịch
Pl: Phụ lục
PTBV: Phát triển bền vững
QLBVR: Quản lý bảo vệ rừng
Sđd: Sách đã dẫn
TW: Trung ương
UBND: Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Phân loại đất trong canh tác lúa rẫy ................................................ 65
Bảng 2.2: Một số loại cây, lá chữa bệnh (nhóm Gar ở xã Krông Nô) ............. 72
Bảng 2.3: Một số loại cây, lá chữa bệnh (nhóm Rlâm ở buôn Lê) .................. 72
Bảng 2.4: Một số loại cây, lá chữa bệnh (nhóm Gar ở bon Ji Yôk) ................ 73
Bảng 4.1: Mục đích khai thác lâm sản của người Mnông ............................. 124


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Lắk tọa lạc phía Đông Nam của tỉnh Đắk Lắk, vốn là vùng đất được
thiên nhiên ưu đãi khi ban tặng dãy núi Chư Yang Sin, rừng Nam Ka hùng vĩ, hồ
Lắk thơ mộng như tấm gương lớn cho những ngọn núi duyên dáng nghiêng mình
soi bóng. Từ chính không gian hiền hòa và thơ mộng ấy, người Mnông đã tích lũy
cho mình tri thức về môi trường sinh thái mang đặc trưng văn hóa tộc người. Chính
nhờ tri thức ấy mà rừng đầu nguồn được bảo vệ, quan hệ cộng đồng được cố kết,
các thực hành văn hóa luôn hướng đến việc đảm bảo cho sự phát triển bền vững của
cộng đồng “chỉ lấy từ rừng đủ dùng, không hề lãng phí” [45].
Người Mnông là một trong những dân tộc sinh sống lâu đời trên Cao nguyên
Đắk Lắk. “Chúng tôi ăn rừng” là cách mà người Mnông nói về hoạt động canh tác
lúa rẫy của mình. Không phải ngẫu nhiên mà người Mnông chọn động từ “ăn” để
nói về cách mà họ canh tác trên các khoảnh rừng, cách mà họ lấy các sản vật từ
rừng để duy trì sự sống. Vì rừng chính là nơi họ sinh ra, là nơi họ kiếm sống, rừng
cũng là nơi chở che mọi tai họa và đưa họ về với tổ tiên. Đất và làng cũng được cắt
ra từ rừng. Sự linh thiêng, huyền bí, dồi dào về nguồn sống của rừng đã tạo nên
“văn hóa rừng”. Hay nói đúng hơn, rừng chính là môi trường góp phần tạo nên tri
thức bản địa và văn hóa của người Mnông.
Tuy nhiên, hiện nay, trong bối cảnh xã hội chuyển đổi, đời sống của người
Mnông đang hàng ngày, hàng giờ đối diện với rất nhiều thách thức như: sự tác động
của nền kinh tế thị trường; ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; suy giảm nguồn tài
nguyên rừng và sự thay đổi quyền quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên; áp lực
về tăng dân số cơ học dẫn đến nhu cầu đất ở, đất sản xuất trở thành vấn đề cấp
thiết đối chính quyền địa phương và người dân địa phương; sự giao lưu, tiếp biến
về văn hóa, sự thâm nhập của tôn giáo mới…đã làm cho kho tàng tri thức bản
địa và văn hóa tộc người dần mai một và nhiều tri thức đã ra đi mãi mãi; điều
này đã tác động sâu sắc đến mối quan hệ sinh thái hài hòa giữa con người và tự
nhiên, tổn hại đến môi trường.
Bên cạnh những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với tri thức bản địa được đề cập ở
trên, dưới góc độ lý luận về tri thức bản địa, cho thấy, ở Việt Nam, nghiên cứu về tri
thức bản địa đã được chú ý từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX và ngày càng có nhiều
nghiên cứu quan tâm đề cập đến vai trò của tri thức này, nhất là trong khía cạnh

1


quản lý môi trường. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về tri thức bản địa ở Việt
Nam bị ảnh hưởng bởi mục đích nghiên cứu phục vụ cho điều tra, sưu tầm, tìm hiểu
văn hóa các dân tộc thiểu số dưới góc độ dân tộc học, hoặc chỉ lựa chọn những vấn
đề phù hợp với mục đích của các dự án bảo tồn đa dạng sinh học, dự án phát triển
kinh tế, xã hội, phục vụ cho việc xây dựng chính sách về quản lý và bảo vệ tài
nguyên…nên tiếp cận khái niệm tri thức bản địa như một bản chất ít thay đổi, tập
trung trên một số khía cạnh như: gọi tên và phân loại động thực vật, quản lý tài
nguyên thiên nhiên qua luật tục, sưu tầm, tìm hiểu phong tục tập quán, sưu tầm luật
tục, văn học dân gian…Thế giới nhận thức luận chưa được quan tâm đúng mức,
trong khi chính thế giới quan là yếu tố có sự ảnh hưởng, chi phối toàn bộ các thực
hành văn hóa của cộng đồng. Chính vì cách tiếp cận tri thức bản địa như trên, các
nhà nghiên cứu ở Việt Nam ít quan tâm đến mối tương tác giữa yếu tố kỹ thuật và
phi kỹ thuật hay nói cách khác ít quan tâm mối quan hệ giữa tri thức bản địa và các
thành tố khác của văn hóa. Thậm chí, vẫn còn những nghiên cứu xem tri thức bản
địa là những phong tục tập quán lạc hậu cần loại bỏ…chính cách hiểu về tri thức
bản địa như trên đã bỏ qua việc nhìn nhận tri thức này trong mối quan hệ qua lại với
thế giới quan, vũ trụ quan, với vấn đề tâm linh, tín ngưỡng, dẫn đến việc xây dựng
một số chính sách về văn hóa, về phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc
thiểu số chưa chú ý đến vai trò của tri thức bản địa trong đời sống văn hóa của cộng
đồng. Trong khi các nhà nhân học hiện nay xem “tri thức bản địa cần phải được
hiểu như một hệ thống hoặc thế giới quan hoàn chỉnh gồm cả hiểu biết về tôn giáo,
tín ngưỡng, lễ nghi và các khía cạnh của tri thức bản địa” [70, tr.1].
Qua nghiên cứu tri thức bản địa của người Mnông về quản lý các nguồn tài
nguyên đất, rừng và nguồn nước, luận án sẽ tìm hiểu cách mà người Mnông sử dụng
vũ trụ quan của sự hòa hợp nhằm thể hiện sự tôn trọng tự nhiên, tôn trọng thần linh
như thế nào? Trong luận án này, tri thức bản địa sẽ được nhìn nhận trong mối liên
hệ với bối cảnh văn hóa của người Mnông nói chung và trong sự mai một của hệ
thống tri thức này nói riêng; bổ khuyết cách hiểu, cách tiếp cận tri thức bản địa còn
nhiều khoảng trống ở Việt Nam. Trên cơ sở nhìn nhận tri thức bản địa là một chỉnh
thể nguyên hợp, không tách rời các thành tố cấu thành tri thức này, không tách rời
yếu tố kỹ thuật và phi kỹ thuật, quan tâm đến cơ sở hình thành của tri thức bản địa,
tìm hiểu tác động của nhận thức luận đến sinh kế bền vững của tộc người Mnông.
Tìm hiểu hệ thống tri thức bản địa của người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk

2


giúp chúng ta hiểu biết hơn về kho tàng văn hóa của đồng bào Mnông, hiểu biết hơn
về cách mà họ ứng xử với môi trường tự nhiên để bàn luận về vai trò của tri thức
bản địa trong đời sống văn hóa tộc người và những vấn đề đặt ra khi kho tàng tri
thức này bị mai một và dần biến mất.
Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của tri thức bản địa đối với văn hóa một tộc
người và sự phát triển bền vững nên tôi chọn đề tài “Tri thức bản địa của người Mnông ở
huyện Lắk trong việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên” để làm Luận
án Tiến sĩ, chuyên ngành Văn hóa dân gian.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc giới thiệu một cách hệ
thống và toàn diện về tri thức bản địa của người Mnông góp phần làm sáng tỏ đặc
trưng văn hoá của người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk; đồng thời nhìn ra quá
trình vận động của kho tàng tri thức bản địa của người Mnông trong bối cảnh xã hội
chuyển đổi hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhận diện một cách hệ thống kho tàng tri thức bản địa Mnông ở huyện Lắk,
tỉnh Đắk Lắk về quản lý và sử dụng tài nguyên.
Chỉ ra quá trình biến đổi và các nhân tố gây biến đổi tri thức bản địa của
người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk từ sau 1975 đến nay.
Bàn luận về những vấn đề đặt ra liên quan đến tri thức bản địa và sự biến đổi
tri thức bản địa của người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk trong bối cảnh xã hội
chuyển đổi hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kho tàng tri thức bản địa liên quan tới
quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của người Mnông tại huyện Lắk, tỉnh
Đắk Lắk.
3.2. Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Tri thức bản địa là một vấn đề rất rộng song, trong luận án này chúng tôi chỉ
tập trung nghiên cứu sâu tri thức bản địa trong quản lý và sử dụng tài nguyên thiên
nhiên bao gồm đất rừng, nguồn nước trên các khía cạnh: xem xét sự phù hợp của kỹ
thuật canh tác với môi trường sinh thái; tập trung nhìn nhận cách quản lý, phân phối

3


tài nguyên qua các thiết chế (luật tục, kiêng kị) với vai trò là bà đỡ cho việc bảo vệ
tài nguyên. Đề tài đặc biệt quan tâm đến nhận thức luận của người Mnông đối với
tài nguyên thiên nhiên thông qua thế giới quan, tín ngưỡng và nghi lễ. Trên cơ sở
đó, chúng tôi xem xét những nguyên nhân, các chiều tác động làm biến đổi tri thức
bản địa. Đặc biệt quan tâm đến chiều tác động của chính sách nhà nước đối với
truyền thống quản lý tài nguyên đất rừng và nguồn nước, nên các văn bản của nhà
nước cũng được tiếp cận giới hạn trong phạm vi những nội dung liên quan đến
quyền sở hữu và quản lý tài nguyên.
3.3. Phạm vi địa bàn nghiên cứu
Huyện Lắk của tỉnh Đắk Lắk là địa bàn khảo sát chính của chúng tôi vì đây
là nơi sinh sống lâu đời của người Mnông với dân số chiếm 63 % dân số toàn
huyện. Nơi đây có địa hình cảnh quan đồi núi xen lẫn các vùng trũng tạo nên sự đa
dạng về địa hình, do đó tri thức bản địa của các nhóm Mnông cũng chịu ảnh hưởng
của môi trường sinh thái nên có những đặc trưng khác nhau. Nhóm Gar cư trú trên
núi cao nổi tiếng với việc “ăn rừng”, nhóm Rlâm cư trú tại các vùng trũng lại thuần
thục với việc sử dụng đàn trâu vào canh tác lúa nước. Hiện nay, không gian xã hội
của người Mnông đã bị tác động, thay đổi khá nhiều, rừng không còn là không gian
bao chiếm, diện tích ruộng lúa bị thu hẹp do tăng dân số và bố trí dân cư xen cài, sự
tiếp nhận kỹ thuật canh tác mới, các thiết chế văn hóa, xã hội thay đổi, du lịch trở
thành nguồn thu nhập cho một bộ phận người dân, sự tác động của chính sách đối
với tài nguyên, sự thâm nhập sâu của các tôn giáo mới…đã làm thay đổi tập quán
ứng xử của người Mnông đối với tài nguyên cũng như việc bảo lưu các yếu tố văn
hóa truyền thống. Trước bối cảnh không ngừng thay đổi và nhiều chiều tác động đối
với các làng của người Mnông, chúng tôi chọn 11 làng để khảo sát gồm:
Buôn Lê (uôn Dlei), buôn Jun (uôn Jun) (Thị trấn Liên Sơn) là làng của
nhóm Rlâm, cư trú ở vùng trũng ven hồ Lắk, canh tác lúa nước, hiện nay có một bộ
phận cư dân tham gia làm du lịch.
Bon Yuk La (xã Đắk Liêng) là làng cư trú trên núi cao, canh tác lúa rẫy,
chịu tác động của chính sách định canh định cư của Nhà nước đã chuyển cư
xuống vùng đất thấp ven thị trấn Lắk, chuyển sang canh tác lúa nước và trồng
các cây công nghiệp.
Bon Ba Yang, R’chai A, Phi Dih Ja (xã Krông Nô); bon Liêng Ké, bon
Tlông, bon Ji Yôk (xã Đắk Phơi), là các làng thuộc nhóm Gar, cư trú trên núi cao,

4


nổi bật với truyền thống quản lý đất rừng, canh tác lúa rẫy. Nhưng hiện nay, các
làng này cũng được sắp xếp xuống vùng đất bằng phẳng, các tôn giáo mới xâm
nhập, tác động khá mạnh đến đời sống tinh thần của một bộ phận người dân. Nhưng
về cơ bản, các làng này vẫn còn duy trì nhiều yếu tố văn hóa truyền thống.
Uôn Diêu (xã Bông Krang), uôn Dâng Băc (xã Yang Tao) là 02 làng của nhóm
Rlâm, canh tác lúa nước, chịu sự tác động mạnh của tôn giáo mới (Tin Lành, Công
giáo), phần lớn văn hóa truyền thống được chuyển đổi sang đức tin và làm theo lời
chúa, nghi thức tôn giáo thay cho các nghi lễ truyền thống. Sự chuyển đổi diễn ra mạnh
mẽ ở các làng có cư dân tin theo đạo Tin Lành.
Để nghiên cứu có thêm tính thuyết phục, chúng tôi còn tiến hành điền dã tại
xã Đắk Rung, huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông); xã Đăm Rông, huyện Đăm Rông
(tỉnh Lâm Đồng), qua đó, có sự so sánh những tương đồng và dị biệt về tri thức bản
địa giữa các nhóm Mnông ở những địa phương khác nhau.
3.3. Phạm vi thời gian nghiên cứu
Luận án nghiên cứu tri thức bản địa của người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk
Lắk trong việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tiến trình
phát triển xã hội tộc người; nghĩa là các tri thức bản địa đã và đang tồn tại trong
nhận thức của cộng đồng người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi thời gian được trình bày làm hai giai đoạn, từ 1945 đến 1985 và từ
1986 đến nay. Vì từ 1945, ngoài sự ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc chiến tranh chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (chất độc hóa học làm ô nhiễm nguồn nước, tàn phá
rừng, dồn dân lập đồn điền, lập ấp chiến lược…) thì về cơ bản, quyền sở hữu tài
nguyên vẫn thuộc về cộng đồng, nhóm họ, các cá nhân tiến hành khai thác, sử dụng
tài nguyên theo sự phân phối của những người được cộng đồng tôn phong trong
làng, trong rừng. Người Mnông vẫn duy trì tập quán canh tác lúa rẫy và lúa nước
theo đúng truyền thống. Diện tích rừng và độ che phủ rừng đảm bảo cho cộng đồng
thực hiện quyền sở hữu và canh tác theo lối luân khoảnh khép kín. Ở giai đoạn này,
chúng tôi tập trung vào việc nhận diện những đặc trưng của tri thức bản địa của
người Mnông trong quản lý và sử dụng tài nguyên đất rừng và nguồn nước theo
truyền thống. Giai đoạn từ 1986 đến nay, Đảng, Nhà nước đã triển khai các chương
trình phát triển kinh tế-xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên. Ở huyện Lắk, các nông lâm trường, hợp tác xã nông nghiệp được thành
lập, diện tích đất khai hoang được mở rộng đã hình thành nên cánh đồng lúa buôn

5


Luận án đầy đủ ở file: Luận án Full














Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×