Tải bản đầy đủ

Quản lý chất thải rắn trên địa bàn quận 6 tphcm

LỜI MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môi trường Việt Nam đã chịu những sự tác động bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế
với quá trình công nghệ hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa và gia tăng khai thác tài nguyên
thiên nhiên do đó môi trường ngày càng có vị trí quan trọng.
Dân số Việt Nam liên tục tăng.Năm 2016 dân số việt nam đạt khoảng 90 triệu
người và dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng. Dân số tăng kéo theo nhu cầu cuộc sống sinh
hoạt sẽ tăng từ đó lượng chất thải và đặc biệt chất thải rắn sẽ tăng theo.
Dân số tăng khiến tốc độ đô thị hóa nhanh tạo ra nhiều lợi thế về kinh tế và cũng
dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường sống và không bền vững lượng chất thải rắn
phát sinh tại đô thị và các khu công nghiệp ngày càng nhiều và phức tạp.
Chất thải rắn là một vấn đề bức xúc gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường và
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người.
Mỗi ngày đều phát sinh ra lượng chất thải lớn ,tỷ lệ các chất trong rác thải lại
không ổn định rất biến động theo mỗi địa điểm thu gom rác.
Số lượng rác phụ thuộc vào mức sống. cách tiêu dùng của người dân ở mỗi đô
thị. Tính trung bình , tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ chiếm 45%- 60% tổng ượng
chất thải, tỷ lệ thành phần ni- long, chất dẻo chiếm 6-16% , độ ẩm trung bình rác
chiếm khoảng 46% - 52%. Chất thải rắn gồm rất nhiều loại trong đó một số loại cực
nguy hại với môi trường và sức khỏe con người:
Một số chất thải công nghiệp đặc biệt nguy hại, là thách thức lớn đối với công tác

quản lý môi trường đô thị, nhất là nhựng khu đô thị có nhiều khu công nghiệp như là
Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương , theo báo cáo cục môi
trường tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh chủ yếu nhiều ở ba vùng
trọng điểm cả nước khoảng 113,118 tấn năm 2013.


Theo nhiều địa phương có nhiều loại rác thải khác nhau, phát thải ra môi trường
một cách tùy tiện trong các cơ sở công nghiệp mà không hề có sự quản lý của các cơ
quan chức năng có thẩm quyền.
Chất thải y tế là những chất thải chủ yếu ở dạng rắn, không có tính chất dạng rắn
và lỏng, là chất thải nguy hại bậc nhất và quá trình phân hủy rất phức tạp và khó khăn.
Nếu không có biện pháp quản ý, ngăn chặn hiệu quả hợp ý thì đây sẽ à nguồn lây lan
các mầm bệnh gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường. Theo kết quả
khảo sát của bộ y tế năm 2013 thì khoảng 33% bệnh viện không có hệ thống xử lý chất
thải rắn y tế.
Chất thải rắn đô thị : Các khu đô thị tuy chỉ chiếm 24% dân số của cả nước,
nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (gần bằng 50% tổng lượng
chất thải của cả nước). Nguyên nhân chính là do số dân tập trung cao, nhu cầu tiêu
dùng lớn, hoạt động thương mại đa dạng và tốc độ đô thị hoá cao. Chất thải ở đô thị
thường có những thành phần nguy hại lớn, như các loại pin, dung môi sử dụng trong
gia đình và chất thải không phân huỷ như nhựa, kim loại và thuỷ tinh.
khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ
các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam 50% lượng chất thải công
nghiệp của Việt Nam phát sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, 30% còn
lại phát sinh ở vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ gần 1.500 làng nghề (tập
trung chủ yếu ở các vùng nông thôn miền Bắc) thải ra 774.000 tấn chất thải công
nghiệp mỗi năm.
Theo thống kê, lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả
nước.
Hiện nay việc thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp vẫn ở tình
trạng chưa đáp ứng nhu cầu, đây là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước, không
khí, đất , vệ sinh đô thị và ảnh hướng xấu đến cảnh quan đô thị sức khỏe cộng đồng.


2. Mục đích của đề tài : Thiết kế hệ thống quản lý chất thải
rắn quận 6, TpHCM quy hoạch từ 2016 – 2036.
Quận 6 có chợ đầu mối Bình Tây là 1 trong những trung tâm buôn bán của cả
nước, thế mạnh quận 6 là thương mại, dịch vụ; trong đó chủ yếu là buôn bán, trao đổi
sản phẩm với các tỉnh miền tây, phần đông dân số là dân lao động, nhiều người Hoa có


nhiều kinh nghiệm, nhạy bén trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
Với chính sách thúc đẩy kinh tế, đầu tư phát triển đô thị đã nâng cao đời sống
người dân, góp phần cho kinh tế phát triển
Bên cạnh đó còn có những thách thức lớn về môi trường.
Trong những năm qua quận 6, thành phố hồ chính minh phối hợp với các ban
ngành, các cấp có liên quan xây dựng các giải pháp để giải quyết vấn đề rác thải. tổ
chức chỉ đạo việc thu gom vận chuyển xử lý rác thải ở địa bàn quận nhưng cũng gặp
một số khó khăn, thách thức như chi phí hạn hẹp, vấn đề ý thức của người dân về môi
trường chưa cao nên gặp nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường, khó khăn
trong việc thu gom vận chuyển, xử lý rác thải, khó khăn trong việc triển khai thực
hiện…
Quy hoạch quản lý chất thải rắn rất cần thiết hiện nay và trong tương lai với quận
6 và cả Thành Phố Hồ Chí Minh.
Từ thực trạng này tôi đã chọn đề tài nghiên cứu này nhằm làm tiền đề cho việc
quy hoạch , cải tiến hệ thống thu gom sau này.
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích và đánh giá hệ thống thu gom chất thải rắn trên địa bàn quận 6
Dự đoán lượng rác phát sinh đến năm 2036.


Đề xuất các giải pháp phù hợp hơn đối với hệ thống thu gom chất thải rắn quận 6
tới năm 2036.
3. Nội dung đề tài:
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên , kinh tế- xã hội khu vực.
Giới thiệu hệ thống thu gom đang được áp dụng tại khu vực.
Hiện trạng thách thức.
Tính toán hệ thống thu gom tới năm 2036.
Đề xuất một số giải pháp.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu.
Phương pháp này sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu của tác giả đi trước, cũng
như việc thu thập tài liệu, số liệu tại các cơ quan , ban ngành, tham khảo trên web, các
loại sách báo, tạp chí.
Chúng em đã tiến hành thu thập tài liệu và số liệu liên quan đến chất thải rắn, hệ
thống thu gom chất thải rắn của quận 6 tại các cơ quan,: Sở tài nguyên và môi trường
TP.HCM, công ty TNHH MTV Dịch Vụ Công Ích Quận 6.
-Phương pháp tổng hợp thống kê:
Tài liệu, số liệu thông tin thu thập đều rời rạc, lộn xộn vì thế phải thống kê, chọn
lọc và xâu chuổi thành một thể thống nhất, ngắn gọn mà phản ánh đầy đủ thông tin
lien quan đề tài.
-Phương pháp phân tích đánh giá:
Từ những tài liệu đã tổng hợp và xâu chuỗi cần có sự thống nhất, ngắn gọn mà
phản ánh đầy đủ thông tin lien quan đến đề tài.


-Phương pháp khảo sát thực địa.
Phương pháp nhằm kiểm tra tính chính xác những thông tin , số liệu đã thu thập
được. Đồng thời xem xét, đánh giá được thực tế vấn đề nghiên cứu trong thời điểm
hiện tại nhằm đưa ra những thông tin , nhận định mới, xác thực hơn
Sinh viên sử dụng phương pháp này để khảo sát địa điểm thu gom CTR như
TTC, điểm hẹn, BCL,…
-Phỏng vấn chuyên gia
Cũng như lĩnh vực khác, hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó có công tác quản
lý chất thải rắn muốn đạt được hiểu quả cao không chỉ đòi hỏi các nhà quản lý phải
nắm vững lý thuyết và kinh nghiệm thực tế. Do đó việc tham khảo và lấy ý kiến đóng
góp cho đề tài từ những người làm công tác môi trường đã có nhiều kinh nghiệm, các
nhà chuyên môn rất cần thiết. Đề tài nhận được nhiều ý kiến đóng góp mang ý nghĩa
khoa học cao và ý nghĩa thực tiễn lớn của giáo viên hướng dẫn, các cán bộ ở phòng kế
hoạch công ty DVCI quận 6

5. Phạm vi đề tài:
Chất thải rắn phát sinh từ các hộ gia đình, công ty trên địa bàn quận 6.
Phạm vi nghiên cứu các đối tượng thuộc địa bàn phường 1 đến phường 14 quận 6.

6. Ý nghĩa đề tài
-

Đề tài cung cấp một số cơ sở khoa học phục vụ cho việc cải thiện công tác thu gom,

-

vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn quận 6.
Đề tài còn cung cấp các giải pháp thực tiễn giúp cho các nhà quản lý quận 6 quản lý
chất thải rắn từ đây đến năm 2036.


CHƯƠNG 1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ QUẬN 6
1.1. ĐỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1 Địa lý
Quận 6 nằm về phía Tây Nam thành phố Hồ Chí Minh:
Bắc giáp với quận Tân Phú và Quận 11 có ranh giới dọc theo rạch Lò Gốm, Đại
lộ Hồng Bàng.
Đông giáp với quận 5, có ranh giới dọc theo đường Nguyễn Thị Nhỏ, qua bến xe
Chợ Lớn, đường Ngô Nhân Tịnh.
Nam giáp với quận 8 , có ranh giới kênh Bến Nghé ( bến Trần Văn Kiểu cũ )
Tây giáp với Quận Bình Tân,có ranh giới là đường An Dương Vương.
Diện tích quận là 7,14 km2 ( chiếm 0.34% so với toàn thành phố), với dân số
241.902 người, toàn quận có 14 phường ( gồm 49.870 hộ, trong đó có khoàng
5000 hộ sống trong các khu nhà lụp xụp dọc các kênh bị ô nhiễm nặng, thiếu cơ
sở hạ tầng ).


Hình 1.1 Bản đồ hành chính quận 6
1.1.2 Khí hậu
Nằm trong khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh nên quận 6 có những đặc trưng của
Thành Phố. Phân theo 2 mùa rõ rệt: là mùa khô và mùa mưa.


Mùa mưa: gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 10 , lượng
mưa trung bình năm từ 1300 – 1950 mm.
Mùa khô: gió mùa Đông Bắc (biến tính) thổi từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau, lượng mưa hầu như không đáng kể, chiếm từ 3,2% - 6,7% lượng
mưa cả năm.
Nhiệt độ trung bình 27 oC, tháng 4 có nhiệt độ cao nhất 29 oC, tháng 12 có
nhiệt độ thấp nhất 25.5 oC. Biên độ nhiệt thấp nhất 3.5 oC. Đặc điểm về nhiệt
độ không khí ở thành phố khá ổn định, phù hợp với quy luật biến thiên trong
năm của nhiệt độ vùng nhiệt đới.
1.1.3 Lượng mưa
Nằm trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh nên quận 6 cũng có những nét
đặc trưng thành phố, có lượng mưa trung bình 1800mm. Khoảng 90% lượng
mưa hằng năm diễn ra trong suốt đợt gió mùa Tây Nam.
1.1.4 Địa Hình
Diện tích quận là 7,14 km2 ( chiếm 0,34% so với toàn thành phố),
Diện tích các phường không đồng đều nhau, phường 10 có diện tích lớn
nhất là 1,54 km2. Phường 4 có diện tích nhỏ nhất là 0,21 km2.
Cao độ quận 6 thấp hơn các quận nội thành khác, với độ cao trung bình
+1m trên mực nước biển, tại khu trũng nhất cũng chỉ là 0,5m. Khu vực này
thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi triều cường.
1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI.
1.2.1 Đặc điểm kinh tế:
Quận 6 có chợ đầu mối Bình Tây là một trong những tâm buôn bán của cả
nước, thế mạnh quận 6 là thương mại, dịch vụ, trong đó chủ yếu là buôn bán,
trao đổi sản phẩm với các tỉnh miền tây, bên cạnh đó với phần đông là dân lao
động, có đông người Hoa có nhiều kinh nghiệm, nhạy bén trong sản xuất - kinh
doanh, phát triển mạnh về sản xuất tiểu thủ công nghiệp.


Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “thương mại - dịch vụ - công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp” đã được Đảng bộ Quận 6 xác định từ nhiệm kỳ
VII ( 1996-2000), qua đó đã tạo sự chuyển biến rõ nét, tíc cực trong phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương giai đoạn 2000- 2010.
Có thể nói, trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế nêu trên, thông qua
việc triển khai thực hiện các giải pháp cụ thể, Quận 6 đã phát huy nội lực, thu
hút vốn đầu tư trong và ngoài nước cho sự nghiêp phát triển kinh tế - xã hội tại
địa phương.
Đặc biệt trong nhiệm kỳ IX (2005-2010), Quận 6 đã tiếp tục đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “thương mại - dịch vụ - công nghiệp tiểu thủ công nghiệp”, đẩy mạnh thực hiện đề án “Các giải pháp phát huy nội
lực, thu hút đầu tư, chuyển dịch kinh tế”, phát triển vững chắc các ngành công
nghiệp thực phẩm, cao su - nhựa, cơ khí, chế tạo máy, giày da, dệt may... với tốc
độ tăng bình quân hàng năm là 17,55%. Nhiều doanh nghiệp thuộc ngành công
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, hóa mỹ phẩm, luyện kim, chế biến thực
phẩm, thuộc da, dệt nhuộm, đông lạnh thủy hải sản...đã từng bước đổi mới công
nghệ tiên tiến, hoạt động rất hiệu quả như Công ty cổ phần gạch Đồng Tâm,
Công ty bút bi Thiên Long, Công ty hóa mỹ phẩm Mỹ Hảo, nhà máy Lưới thép
Bình Tây, Công ty liên doanh Cát Tường, Lĩnh vực dịch vụ - thương mại không
ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động, tổng doanh thu tăng dần hàng năm (năm
2011 đạt 60.430,322 tỷ đồng, tăng 27,22% so cùng kỳ năm 2010) với sự chủ
động và nỗ lực cao của hệ thống chợ, các siêu thị, Trung tâm thương mại, Hợp
tác xã vận tải, doanh nghiệp dịch vụ du lịch, hơn 82 Chi nhánh - Văn phòng giao
dịch, 61 nhà hàng, khách sạn đạt tiêu chuẩn tại Quận. Kim ngạch xuất nhập khẩu
cũng tăng cao (năm 2011 đạt 498,290 triệu USD, tăng 18,2% so cùng kỳ năm
2010; nhập khẩu đạt 218,5 triệu USD, tăng 20,5% so cùng kỳ năm 2010.


Thu ngân sách nhà nước hàng năm đều tăng. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ IX
(2005-2010) tổng thu ngân sách nước tăng bình quân hàng năm 13,98%, thu
ngân sách địa phương cũng tăng bình quân hàng năm 10,41%. Riêng trong năm
2011, tuy còn những khó khăn chung, song thu ngân sách nhà nước cũng đạt
719,522 tỷ đồng, bằng 113,36 % kế hoạch năm, tăng 16,71% so cùng kỳ năm
2010. Thu ngân sách địa phương đạt 480,306 tỷ đồng, bằng 128,32 % so kế
hoạch năm, tăng 8,76% so cùng kỳ năm 2010.
Điều này cho thấy, kinh tế của Quận 6 ở những năm 2009- 2011 tuy có
chịu sự tác động trước những khó khăn chung của Thành phố và cả nước, song
vẫn đảm bảo tăng trưởng so với kế hoạch năm và tăng so với cùng kỳ năm 2010.
Góp phần vào thành tích đó, tại Quận 6 xuất hiện những mô hình, những đơn vị
điển hình tiên tiến về sản xuất kinh doanh như Công ty cổ phần dược phẩm
OPC, Công ty cổ phần nhựa Bình Minh, Công ty cổ phần SX-TM nhựa Hiệp
Thành, Công ty TNHH sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên, Công ty cổ phần CNTM đầu tư Phú Lâm, Công ty TNHH may thêu Thuận Phương, Công ty cổ phần
thực phẩm Bình Tây, Công ty TNHH Tường Phát.
1.2.2 Phát triển đô thị - Xây Dựng
Về phát triển đô thị, trong những nhiệm kỳ qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ
2005-2010, Quận đã tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cấp, cải tạo, mở rộng
20 tuyến đường giao thông chính cùng với các đường hẻm, đường trong khu dân
cư mới với tổng chiều dài 36.793 mét.
Các cầu Đặng Nguyên Cẩn, cầu Ông Buông 1 và 2, kênh Lò Gốm cũng
được nâng cấp và mở rộng cùng với việc nâng cấp, cải tạo hệ thống bưu chính
viễn thông, điện lực, nguồn nước sinh hoạt... Nhiều khu nhà lụp xụp, nhà ổ
chuột, nhà ven kênh trước đây nay được di dời, bố trí tái định cư theo dự án
nâng cấp đô thị thành phần số 4 “Cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa - Lò
Gốm” thuộc tiểu dự án nâng cấp đô thị thành phố trên địa bàn Quận 6; nhiều khu


vực đã được quy hoạch, đổi mới cảnh quan kiến trúc theo hướng hiện đại, thông
thoáng và sạch đẹp như khu dân cư Bình Phú, khu nhà ở Him Lam, khu nhà ở
của cán bộ chiến sĩ Đài ra - đa, Chung cư hẻm 336 Nguyễn Văn Luông, Chung
cư 242 Bà Hom, các khu tái định cư phường 10, phường 11... Có thể nói về đầu
tư hạ tầng cơ sở, Quận 6 đã tạo được bước chuyển lớn, làm thay đổi diện mạo
một quận nghèo vùng ven trước đây nay trở thành một quận có cảnh quan văn
minh, hiện đại, góp phần vào việc xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh,
hiện đại.
Về đầu tư xây dựng cơ bản, trong những nhiệm kỳ qua, việc đầu tư xây
dựng cơ bản luôn được Quận 6 tập trung nhằm làm thay đổi diện mạo của Quận
6, nâng mức sống, sinh hoạt của người dân.
Riêng trong nhiệm kỳ IX, tổng mức đầu tư đạt... và trong năm 2011, năm
đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận lần thứ X (2010-2015), tổng
mức đầu tư ước đạt 1.421,014 tỷ đồng; trong đó vốn ngân sách tập trung Thành
phố là 1.363,225 tỷ đồng, bằng 160,71% kế hoạch; vốn ngân sách phân cấp
Thành phố là 10,562 tỷ đồng, đạt 100 % kế hoạch năm, vốn hoán chuyển cơ sở
là 11,110 tỷ đồng, đạt 100 % kế hoạch năm và vốn ngân sách Quận là 36,117 tỷ
đồng, đạt 100 % kế hoạch năm.
Hoàn thành đưa vào sử dụng trường THPT Nguyễn Tất Thành, trường Tiểu
học Phú Định, trường Mầm non Rạng Đông 10, khu vui chơi thiếu nhi (giai
đoạn 1), Trung tâm bồi dưỡng chính trị Quận 6, lắp đặt trang thiết bị Bệnh viện
Quận, nâng cấp mở rộng diện tích sử dụng trường THCS Lam Sơn, trường
THCS Bình Tây, hẻm 178 Hậu Giang.
1.2.3 Giao Thông:
Quận 6 có hệ thống giao thông nối liền trung tâm quận 5,11,8, Tân phú,
Bình Tân. Cón những xuyên quận nên rất thuận lợi cho việc giao thông, thương


mai dịch vụ. Đây là yếu tố cơ bản dẫn đến sự hình thành các chợ lớn và khu
thương mại dọc theo những trục đường chính.
1.2.4 Dân số:
Quận 6 có tổng diện tích tự nhiên là 7,14 km2, chiếm 0.34% diện tích tự
nhiên của toàn thành phố. Dân số hiện nay của quận 6 là 252.811 người ( thời
diểm tổng điều tra dân số tháng 4 năm 2011), mật độ dân số bình quân 35.408
người „km2, trong đó nữ chiếm 53%. Địa bàn quận 6 được chia thành 14
phường ( phường 01 – phường 14 với 74 khu phố và 1311 tổ dân phố); thành
phần dân tộc, người kinh chiếm 73,31%, người hoa chiếm 26,10%, còn lại là
người chăm, khơ-me, Tày, Nùng.
1.2.5 Giáo dục – Y tế:
Quận 6 có hệ thống giáo dục nhìn chung đáp ứng được nhu cầu của quận.
Trường học thuộc quận gồm các khối:
Bảng 1.1 Số lượng các trường học trong quận 6
STT
1
2
3
4
5
6

Cấp học
Mầm non
Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Đại học, cao đẳng
Trung tâm dạy nghề

Số trường
16
16
9
3
1
2

Toàn quận có 1 bệnh viện,
1 nha học đường, 1 phòng
khám, 1 đội y tế dự phòng, 14
trạm y tế phường và 1 trung tâm

BVBMSKTE – KHHGĐ.
Trên toàn quận có 478 cơ sở y tế tư nhân, gồm : phòng mạch, phòng nha
khoa, nhà hộ sinh, nhà thuốc tây, đông dược, sản xuất đông dược...
Trong đó, có 313 cơ sở đang lần lượt ký hợp đồng, khối lượng thu gom ước
chừng 100-120 kg/ngày. Trên cơ sở phối hợp tốt giữa công ty Dịch vụ công ích
quận thực hiện ký hợp đồng đối với các cơ sở y tế tư nhân ngày càng nhiều hơn.


Công tác thu gom chất thải y tế tại công ty Dịch vụ công ích quận 6 được
giao cho công nhân chuyên trách. Thời gian lấy rác được tiến hành cả ngày lẫn
đêm.


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN CHẤT THẢI RẮN
2.1. KHÁI NIỆM VỀ CHẤT THẢI RẮN:
2.1.1 Chất thải rắn là gì?
Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các
hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt
động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…). Trong đó quan trọng nhất là
các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống.
2.1.2 Các nguồn phát sinh:
Các dạng chất thải phát sinh từ những nguồn khác nhau được trình bày tóm tắt
trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Các dạng chất thải phát sinh từ những nguồn khác nhau.
Nguồn phát sinh
Khu dân cư

Nơi phát sinh
Các dạng chất thải rắn
Hộ gia đình, biệt thự, chung Thực phẩm dư thừa, bao


bì hàng hoá (bằng giấy,
gỗ, vải, da, cao su, PE,
PP, thiếc, nhôm, thủy
tinh…), tro, đồ dùng điện
tử, vật dụng hư hỏng (đồ
gia dụng, bóng đèn, đồ
nhựa, thủy tinh…), chất
thải độc hại như chất tẩy


rửa (bột giặt, chất tẩy
trắng…), thuốc diệt côn
trùng, nước xịt phòng
bám trên rác thải.
Nhà kho, nhà hàng, chợ, Giấy, nhựa, thực phẩm

Khu thương mại

khách sạn, nhà trọ, các trạm thừa, thủy tinh, kim loại,
sửa chữa, bảo hành và dịch chất thải nguy hại.
Cơ quan, công sở

vụ.
Trường học, bệnh viện, văn Giấy, nhựa, thực phẩm
phòng cơ quan chính phủ.

Công

trình

thừa, thủy tinh, kim loại,

chất thải nguy hại
xây Khu nhà xây dựng mới, sửa Xà bần, sắt thép vụn, vôi

dựng

chữa nâng cấp mở rộng đường vữa, gạch vỡ, bê tông,
phố, cao ốc, san nền xây gỗ, ống dẫn.

dựng.
Dịch vụ công cộng Hoạt động dọn rác vệ sinh Giấy, nilon, vỏ bao gói,
đô thị

đường phố, công viên, khu vui thực phẩm thừa, lá cây,

Khu công nghiệp

chơi, giải trí, bùn cống rãnh.
cành cây, bùn cống rãnh.
Công nghiệp xây dựng, chế Chất thải do quá trình
tạo, công nghiệp nặng, nhẹ, sản xuất công nghiệp,

Nông nghiệp

lọc dầu, hoá chất, nhiệt điện.
phế liệu.
Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn Lá cây, cành cây, xác gia
cây ăn quả, nông trại.

súc, thức ăn gia súc thừa
hay hư hỏng, rơm rạ,
chất thải nguy hại như
thuốc sát trùng, phân
bón, thuốc trừ sâu được
thải ra cùng với bao bì
đựng hoá chất đó.


(Nguồn: Integrated Solid Waste Management, McGRAW-HILL 1993)
2.1.3.Phân loại chất thải rắn đô thị:
Theo vị trí hình thành: phân biệt chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên
đường phố, chợ….
Theo thành phần hóa học và vật lý: phân biệt theo các thành phần hữu cơ,
vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại….
Theo bản chất nguồn tạo thành:
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến hoạt động sống của
con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học,
các trung tâm dịch vụ, thương mại. Gồm:
Chất thải thực phẩm: các phần thừa thãi, không ăn được sinh ra trong khâu
chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn….
Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực
sinh hoạt của dân cư.
Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: vật chất còn lại trong quá trình
đốt củi, than, rơm rạ, lá cây… ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí
nghiệp.
Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon,
vỏ bao gói.
Chất thải nông nghiệp: vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp
như rơm, cây trồng, chăn nuôi, bao bì đựng phân bón và hóa chất bảo vệ thực
vật.
Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp
gồm:


Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các
nhà máy nhiệt điện;
Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất;
- Các phế thải trong quá trình công nghệ;
- Bao bì đóng gói sản phẩm;
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do
các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình.
Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất
sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất
thải nhiễm khuẩn, lây lan… có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe con người, động vật
và cây cỏ.
Chất thải từ các nhà máy xử lý: chất thải rắn từ hệ thống xử lý nước cấp, nước
thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp.
Chất thải y tế nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một
trong các tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy
hại tới môi trường và sức khỏe của cộng đồng. Các nguồn phát sinh ra chất thải
bệnh viện bao gồm:






Các loại bông băng, gạc, nẹp dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật;
Các loại kim tiêm, ống tiêm;
Các chi cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ;
Chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân;
Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thủy ngân, arsen,

xianua….
• Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện.
Các chất thải nguy hại nông nghiệp: là các loại phân hóa học, các loại
thuốc bảo vệ thực vật.
2.1.4. Thành phần của CTR:
Thành phần của CTR mô tả các thành phần riêng biệt mà từ đó tạo nên các
dòng chất thải, mối quan hệ giữa các thành phần này được biểu diễn theo % khối


lượng. Thành phần CTR có thể là thành phần riêng biệt hoặc thành phần hóa
học.
Bảng 2.2: Thành phần CTR từ nhiều nguồn khác nhau.
S
T

Thành phần

T
1

Rác thực phẩm

Phần trăm khối lượng (%)
Nhà hàng
Hộ gia đình Nhà trường
Khách sạn

Rác chợ

61,0 - 96,6

23,5 - 75,

79,5 - 100,0

20,2 – 100

1,0 - 19,7

1,5 - 27,5

0 - 2,8

0 - 11,4

0 - 4,6

0

0-0,5

0 - 4,9

0

0

0

0 - 10,1

0 - 10,8

3,5 - 18,9

0 - 6,0

0 - 7,6

0

0

0

0 - 7,6

2

Giấy

3

Carton

4

Vỏ sò, ốc, cua

5

Nhựa

6

Tre, rơm rạ

7

Thủy tinh

0 - 25,0

1,3 - 2,5

0 - 1,0

0 - 4,9

8

Nilon

0 - 36,6

8,5 - 34,4

0 - 5,3

0 - 6,5

9

Gỗ

0 - 7,2

0 - 20,2

0

0 - 5,3

10

Lon đồ hộp

0 - 10,2

0 - 4,0

0 - 1,5

0 - 2,1

11

Tro

0

0

0

0 - 2,3

12

Vải

0 - 14,2

1,0 - 3,8

0

0,5 - 8,1

13

Da

0

0 - 4,2

0

0-1,6

14

Sành sứ

0 - 10,5

0

0 - 1,3

0 - 1,5

15

Cao su mềm

0

0

0

0 - 5,6

16

Cao su cứng

0 - 2,8

0

0

0 - 4,2

17

Kim loại màu

0 - 3,3

0

0

0 - 5,9

18

Xà bần

0 - 9,3

0

0

0 - 4,0


S
T
T
19

Thành phần

Phần trăm khối lượng (%)
Nhà hàng
Hộ gia đình Nhà trường
Khách sạn

Styrofoam

0 - 1,3

1,0 - 2,0

0 - 2,1

Rác chợ
0 - 6,3

(Nguồn: CITENCO – CENTEMA, 2002)
Bảng 2.2: Cho ta thấy trong thành phần riêng biệt của CTRSH, chất thải thực
phẩm chiểm tỷ lệ cao nhất, kế đến là giấy, nylon, nhựa,…, tro và da có giá trị
thấp nhất.
Bảng 2.3: Hàm lượng C, H, O, N trong CTR.
S
T

Tính theo phần trăm trọng lượng khô
Thành phần

T

Carbon

Hydro

Oxy

Nitơ

Tro

Lưu
huỳnh

1

Thực phẩm

48.00

6.40

37.50

2.60

5.00

0.40

2

Giấy

3.50

6.0

44.00

0.30

6.00

0.20

3

Carton

4.40

5.90

44.60

0.30

5.00

0.20

4

Plastic

60.00

7.20

22.80

-

10.00

-

5

Vải

55.00

6.60

31.20

4.60

2.45

0.15

6

Cao su

78.00

10.00

-

2.00

10.00

-

7

Da

60.00

8.00

11.6

10.0

10.00

0.40

8

Rác làm vườn

47.80

6.00

38.0

3.40

4.50

0.30

9

Gỗ

49.50

6.00

42.7

0.20

1.50

0.10

10

Bụi, tro, gạch

26.30

3.00

2.00

0.50

68.00

0.20

(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự, 2001)
Bảng 2.3 cho thấy, thành phần C là cao nhất, tùy theo mỗi loại CTR mà
thành phần của nó cũng thay đổi. Thành phần này được sử dụng để xác định
nhiệt lượng của CTR.


2.1.5 Tính chất của chất thải rắn:
Dễ nổ (N): Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ
do kết quả của phản ứng hoá học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát),
tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường
xung quanh.
Dễ cháy (C): bao gồm
+ Chất thải lỏng dễ cháy: là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng
chứa chất rắn hòa tan hoặc lơ lửng có nhiệt độ cháy không quá 555oC.
+ Chất thải rắn dễ cháy: là các chất rắn có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc
phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển.
+ Chất thải có khả năng tự bốc cháy: là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên
trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không
khí và có khả năng bắt lửa.
Ăn mòn (AM): Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thương
nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc hoặc trong trường hợp rò rỉ sẽ phá
huỷ các loại vật liệu, hàng hoá và phương tiện vận chuyển. Thông thường đó là
các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2) hay
kiềm mạnh (pH lớn hơn hoặc bằng 12,5).
Oxi hoá (OH): Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy
hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần
đốt cháy các chất đó.
Gây nhiễm trùng (NT): Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố được cho
là gây bệnh cho con người và động vật.
Có độc tính (Đ): bao gồm
+ Độc tính cấp: Các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng
hoặc có hại cho sức khỏe qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da.


+ Độc tính từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng
từ từ hoặc mãn tính, kể cả gây ung thư do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua
da.
+ Độc tính sinh thái (ĐS): Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập
tức hoặc từ từ đối với môi trường, thông qua tích luỹ sinh học và (hay) tác hại
đến các hệ sinh vật.
2.2. TỐC ĐỘ PHÁP SINH CHẤT THẢI RẮN:
Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về phát
triển kinh tế - xã hội. Từ năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bình quân đạt
trên 7%/năm. Năm 2005, tốc độ này đạt 8,43%, là mức tăng trưởng cao nhất
trong vòng 9 năm qua. Cuối năm 2005, dân số Việt Nam là 83.119.900 người
tăng 5,48 triệu người, trong đó tỉ lệ dân số thành thị 26,97%; tương ứng tỉ lệ dân
số nông thôn là 73,03%. Đến năm 2010, dân số thành thị lên tới 30,4 triệu
người, chiếm 33% dân số và dự báo đến năm 2020 là 46 triệu người, chiếm 45%
dân số cả nước.
Tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về
kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy
giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững. Lượng chất thải rắn
phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức
tạp.
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại
IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên
đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng,
các chợ và kinh doanh là chủ yếu. Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các
cơ sở y tế. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở


các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng
chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị.
Bảng 2.4: Lượng CTR phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007.
Lượng CTRSH bình
ST
T

Lượng CTRSH đô thị phát sinh

quân trên đầu người
Loại đô thị
Đặc biệt
Loại I
Loại II
Loại III
Loại VI

(kg/người/ngày)
Tấn/ngày
Tấn/năm
1
0,84
8.000
2.920.000
2
0,96
1.885
688.025
3
0,72
3.433
1.253.045
4
0,73
3.738
1.364.370
5
0,65
626
228.490
Tổng
6.453.930
(Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương.)
2.2.1 Phương pháp dùng xác định khối lượng CTR:
Xác định khối lượng CTR phát sinh và được thu gom là một trong những
điểm quan trọng của việc quản lý CTR. Các số liệu đánh giá thu thập về tổng
khối lượng chất thải phát sinh cũng như khối lượng CTR được sử dụng nhằm:
- Hoạch định và đánh giá kết quả của quá trình thu hồi, tái sinh tái chế.
- Thiết kế các phương tiện vận chuyển, thiết bị vận chuyển, xử lý CTR.
2.2.1.1 Đo thể tích và khối lượng:
Trong phương pháp này cả khối lượng hoặc thể tích của CTR đều được
dùng để đo đạc lượng CTR. Tuy nhiên phương pháp đo thể tích thường có sự sai
số cao.
Để tránh nhầm lẫn lượng CTR nên được biễu diễn dưới dạng khối lượng,
khối lượng là thông số biễu diễn chính xác nhất lượng CTR vì có thể cân trực
tiếp mà không cần kể đến mức độ nén ép. Biễu diễn bằng khối lượng cũng cẩn


thiết trong tính toán vận chuyển vì lượng chất thải được phép chuyên chở trên
đường thường quy định bởi giới hạn khối lượng hơn là thể tích.
2.2.1.2 Phương pháp đếm tải:
Phương pháp này dựa vào xe thu gom, đặc điểm và tính chất của nguồn
chất thải tương ứng (loại chất thải, thể tích ưóc lượng) được ghi nhận trong một
thời gian dài. Khối lượng chất thải phát sinh trong thời gian khảo sát (gọi là khối
lượng đơn vị) sẽ được tính toán bằng cách sử dng các số liệu thu thập được tại
khu vực nghiên cứu trên và các số liệu đã biết.
2.2.1.3 Phương pháp cân bằng vật chất:
Đây là phương pháp cho kết quả chính xác nhất, thực hiện cho các nguồn
phát sinh riêng lẻ như các hộ gia đình, khu thương mại, các khu công nghiệp.
Phương pháp này sẽ cho những dữ liệu đáng tin cậy cho chương trình quản lý
CTR.
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ phát sinh CTR:
2.2.3.1 Ảnh hưởng của việc giảm thiểu và tái sinh chất thải tại nguồn:
Có thể nói việc giảm chất thải tại nguồn là phương pháp hiệu quả nhất
nhằm làm giảm số lượng CTR, giảm chi phí phân loại và các tác động bất lợi do
chúng gây ra đối với môi trường.
Giảm thiểu chất thải tại nguồn phát sinh có thể thực hiện qua các bước như
thiết kế, sản xuất và đóng gói sản phẩm sao cho lượng chất thải ra chiếm một
lượng nhỏ nhất, thể tích vật liệu sử dụng ít nhất và thời gian sử dụng của sản
phẩm dài nhất. Việc giảm thiểu chất thải có thể xảy ra ở mọi nơi như các hộ gia
đình, các khu thương mại, các khu công nghiệp thông qua khuynh hướng tìm
kiếm và mua những sản phẩm hữu dụng và việc có thể tái sử dụng sản phẩm đó.
Nhưng trên thực tế hiện nay thì thiểu chất thải tại nguồn chưa được thực hiện
một cách nghiêm ngặt và đồng bộ nên không ưóc tính được ảnh hưởng của công
tác thiểu chất thải tại nguồn tới việc phát sinh chất thải. Tuy nhiên nó đã trở


thành yếu tố quan trọng cần được nhà nước và người dân quan tâm để giảm
lượng chất thải trong tương lai.
2.2.3.2 Ảnh hưởng của luật pháp:
Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự phát sinh khối lượng CTR là sự
ban hành các luật lệ, quy định liên quan tới việc sử dụng các vật liệu và đổ bỏ
phế thải... ví dụ như quy định các loại vật liệu làm thùng chứa và bao bì, quy
định về việc sử dụng túi vải, túi giấy thay cho túi nilon… chính các quy định
này khuyến khích việc mua bán và sử dụng lại các loại chai, lọ chứa.
2.2.3.3 Ý thức người dân:
Khối lượng CTR phát sinh sẽ giảm đáng kể nếu người dân bằng lòng và sẵn
sàng thay đổi ý muốn cá nhân, tập quán và cách sống cách duy trì bảo vệ tài
nguyên nguyên thiên nhiên đồng thời giảm gánh nặng về kinh tế, điều này có ý
nghĩa quan trọng trong công tác quản lý CTR. Chương trình giáo dục thường
xuyên là cơ sở dẫn đến sự thay đổi thái độ của công chúng.
2.2.3.4 Sự thay đổi theo mùa:
Vào các mùa lễ tết và giáng sinh, đây là mùa mà nhu cầu tiêu dùng của con
người gia tăng kéo theo lượng CTR ra môi trường cũng tăng theo.
Ngoài ra lượng CTRSH còn phụ thuộc vào thời tiết như mùa hè ở các nước
ôn đới CTR thực phẩm chứa nhiều rau và trái cây.
2.2.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường:
2.2.4.1 Ô nhiễm môi trường nước:
Theo Chi cục bảo vệ Môi trường (Sở Tài nguyên - Môi trường thành phố
Hồ Chí Minh), hiện mỗi ngày có trên 1.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ
dân và các cơ sở sản xuất bị xả xuống các dòng kênh, con sông trên địa bàn
thành phố gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
CTR nặng lắng xuống đáy làm tắc đường lưu thông của nước, CTR nhỏ,
nhẹ lơ lửng làm đục nguồn nước. CTR có kích thước lớn như giấy vụn, túi


nilông nổi lên trên mặt nước làm giảm bề mặt trao đổi oxi giữa nước và không
khí. Chất hữu cơ trong nước bị phân hủy nhanh tạo các sản phẩm trung gian và
các sản phẩm phân hủy bốc mùi hôi thối.
2.2.4.2 Ô nhiễm môi trường đất:
Nước rò rỉ từ các bãi CTR mang nhiều chất ô nhiễm và độc hại khi không
được kiểm soát xâm nhập khe đất gây hại cho hệ sinh vật trong đất và cản trở sự
tuần hoàn vật chất trong đất gây ô nhiễm đất. Thành phần các kim loại nặng, vi
khuẩn, plastic trong nước CTR gây độc cho cây trồng và động vật đất.
2.2.4.3 Ô nhiễm môi trường không khí:
Bụi phát thải vào không khí trong quá trình lưu trữ, vận chuyển CTR gây ô
nhiễm không khí. CTR có thành phần sinh học dễ phân hủy cùng với điều kiện
khí hậu có nhiệt độ và độ ẩm cao nên sau một thời gian ngắn chúng bị phân huỷ
hiếu khí và kị khí sinh ra các chất độc hại và có mùi hôi khó chịu như CO 2, CO,
H2S, CH4, NH3… ngay từ khâu thu gom đến bãi chôn lấp. Khí Mêtan có thể gây
cháy nổ nên CTR cũng là nguồn phát sinh chất thải thứ cấp nguy hại.
2.2.4.4 Ảnh hưởng đến cảnh quan và sức khỏe con người:
Phá hủy cảnh quan môi trường: CTR không được thu gom nằm tại các con
hẻm, khu phố… gây nên những hình ảnh không đẹp cho các đô thị, đặc biệt là
các đô thị du lịch. Bên cạnh đó, các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh gây rò rỉ và
phát tán mùi hôi tạo nên hình ảnh không tốt về cảnh quan đô thị.
Gây hại cho sinh vật và con người: trong chất thải rắn sinh hoạt có chứa
khá nhiều vi khuẩn, nấm… nếu phát tán trong không khí, nguồn nước sẽ ảnh
hướng đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn hay hô hấp.
Tóm lại: Chất thải rắn là nguồn ô nhiễm toàn diện đến môi trường sống:
nước, đất, không khí. Các chất hữu cơ khó phân hủy, kim loại nặng... trong chất
thải sẽ thấm vào đất, nước làm nguồn nước mặt, nước ngầm đều bị nhiễm độc,
không dùng được.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×