Tải bản đầy đủ

Thực trạng pháp luật về sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN HẢI TRIỀU

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học.
TS. NGUYỄN MINH HẰNG

HÀ NỘI – NĂM 2017



MỤC LỤC
Mục

Nội dung
PHẦN MỞ ĐẦU

Số
trang
5

1 Tính cấp thiết của đề tài

5

2 Tình hình nghiên cứu

6

3 Mục tiêu nghiên cứu

8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

9

6 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn

9

Kết cấu của luận văn

10

NỘI DUNG



11

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬ
DỤNG VỐN TẠI CÁC DNNN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU
CHỈNH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TẠI CÁC
DNNN Ở VIỆT NAM

11

1.1 Khái quát về sử dụng vốn tại các DNNN ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm DNNN và vốn tại DNNN

11
11

a Khái niệm, đặc điểm DNNN

11

b Khái niệm, đặc điểm vốn tại DNNN

19

1.1.2 Một số vấn đề lý luận về sử dụng vốn tại DNNN

22

a Khái niệm sử dụng vốn tại DNNN

22

b Tính tất yếu của việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước
đầu tư tại các doanh nghiệp

23

1.2 Khái quát về pháp luật điều chỉnh hoạt sử dụng vốn tại
các DNNN

24

1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn
tại các DNNN

24

1.2.2 Các bộ phận cấu thành pháp luật điều chỉnh hoạt động sử
dụng vốn tại các DNNN

25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

31

1


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÁC DNNN VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT

33

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của hệ thống
pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn tại các
DNNN ở Việt Nam

33

2.1.1 Giai đoạn trước năm 2015

33

2.1.2 Giai đoạn sau năm 2015

34

2.2 Đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động vốn
tại các DNNN ở Việt Nam

35

2.2.1 Nguyên tắc sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các DNNN

36

2.2.2 Các quy định về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của đại
diện chủ sở nhà nước trong quá trình sử dụng vốn tại các
DNNN

38

2.2.3 Các quy định về giám sát tài chính các DNNN

42

2.2.4 Quy định về đánh giá hiệu quả hoạt động sử dụng vốn
của DNNN

52

2.3 Đề xuất hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động sử
dụng vốn tại các DNNN ở Việt Nam

58

2.3.1 Yêu cầu cơ bản đối với pháp luật điều chỉnh hoạt động
sử dụng vốn của các DNNN ở Việt Nam

58

2.3.2 Những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật điều
chỉnh hoạt động sử dụng vốn tại các DNNN ở Việt Nam

60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

71

KẾT LUẬN

73

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: luận văn là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn
Minh Hằng. Các số liệu, kết luận được trình bày trong luận văn là trung
thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Tác giả hoàn toàn chịu trách
nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn./.

Xác nhận của Giảng viên

Tác giả

hướng dẫn

Nguyễn Hải Triều

3


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn TS.
Nguyễn Minh Hằng- người Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất
tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Sau
Đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện
luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các thành viên trong đại gia đình đã động
viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu
và hoàn thành bài luận văn của mình.

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Những năm qua, cùng với việc phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động của doanh nghiệp nói chung và DNNN
nói riêng đã phát sinh những yêu cầu quản lý mới như việc không dàn trải
mà tập trung vào các ngành then chốt, các địa bàn gắn với kinh tế an ninh quốc phòng tạo động lực phát triển cho xã hội đảm bảo an ninh quốc
phòng; cơ cấu lại vốn nhà nước đầu tư tại DNNN bằng biện pháp tổng thể,
phù hợp với kế hoạch và tình hình kinh tế - xã hội; vai trò, trách nhiệm của
đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các hoạt động đầu tư của DNNN
cũng như việc bảo đảm quyền, trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ và các cơ quan quản lý trên cơ sở sự phân công, phân cấp từ
khâu quyết định đầu tư, quản lý, sử dụng vốn, tài sản đến khâu kiểm tra,
giám sát, đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN; đặc
biệt là quyền giám sát của Quốc hội và các chủ thể liên quan khác. Các nội
dung này đã được Luật hóa tại các quy định pháp luật hiện hành.
Tuy nhiên, thực tiễn quản lý hoạt động đầu tư vốn nhà nước vào
kinh doanh sau khi chuyển đổi DNNN sang áp dụng chung theo Luật
Doanh nghiệp năm 2005 đã bộc lộ một số tồn tại hạn chế. Theo thống kê
chưa đầy đủ, Nhà nước đang đầu tư vốn tại hơn 1.000 Doanh nghiệp,
trong đó 781 doanh nghiệp nhà nước (sau đây gọi tắt là DNNN) và 248
Doanh nghiệp có cổ phần của Nhà nước. Tổng tài sản của các DNNN
khoảng hơn 3,1 triệu tỷ đồng, hệ số vốn sở hữu khoảng 40%1. Tuy có quy
1

Theo Quang Nam, Giám sát tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước: Quản chặt việc kinh doanh vốn,
đăng trên http://thuonghieucongluan.com.vn/giam-sat-tai-chinh-doi-voi-doanh-nghiep-nha-nuoc-quanchat-viec-kinh-doanh-von-a31872.html

5


mô vốn lớn, nhưng theo báo cáo của Chính phủ, tính đến hết năm tài chính
2016, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, Tổng công ty đã lên tới
1.567.000 tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2015. Đặc biệt, khối chủ đạo của
nền kinh tế này cũng có sự chủ đạo trong tổng nợ vay nước ngoài của nền
kinh tế – “đóng góp” cho mức tăng nợ công thực tế đáng kể, mặc dù trên
sổ sách, nợ công của Việt Nam không được tính bao gồm nợ của khối
DNNN do chính phủ bảo lãnh2. Như vậy, các DNNN ở Việt Nam hiện nay
đang trong tình trạng “nợ vay tràn lan”.
Trong thực trạng nêu trên, có thể khẳng định việc nghiên cứu về
“Thực trạng pháp luật về sử dụng vốn tại các DNNN” được xác định là
cấp thiết
2. Tình hình nghiên cứu

Nhìn nhận một cách tổng quan thì “Thực trạng pháp luật về sử dụng
vốn tại các DNNN” là vấn đề đã được một số tổ chức, cơ quan, nhà khoa
học, chuyên gia… đề cập, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể:
(i) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2009 “Chính sách và cơ
chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp giai đoạn đến 2020”, đây là
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Bộ tài chính do PGS.TS Nguyễn
Đăng Nam làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã đề cập đến chính sách quản lý
vốn nhà nước tại các doanh nghiệp dưới góc độ quản lý nhà nước, trong đó
có một số bình luận, đánh giá liên quan đến pháp luật về sử dụng vốn tại
các DNNN. Những nghiên cứu trong đề tài đã cho thấy được những nội
dung cơ bản của chính sách và cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh
nghiệp ở Việt Nam.

2

Theo Nam Phương Nguyễn, Giám sát tài chính của DNNN: Đã có câu trả lời, đăng trên
http://enternews.vn/giam-sat-tai-chinh-cua-dnnn-da-co-cau-tra-loi-93995.html

6


(ii) Luận án tiến sĩ “Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với
Tổng công ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam”
của Tác giả Nguyễn Xuân Nam. Đây là công trình nghiên cứu khá chuyên
sâu về thực trạng sử dụng vốn và tài sản của Tổng công ty 91. Đồng thời,
nghiên cứu cũng đã chỉ ra các giải pháp nhằm giúp Tổng công ty 91 phát
triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam. Tuy nhiên, với việc
xác định phạm vi nghiên cứu gắn liền với hoạt động của Tổng công ty 91,
công trình nghiên cứu này chưa cho thấy được bức tranh toàn cảnh về hoạt
động sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp ở Việt Nam và giải pháp
hoàn thiện pháp luật cho toàn hệ thống.
(iii) Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư
tại doanh nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thanh Hòa. Luận án
đã tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh
nghiệp dưới góc độ của chủ sở hữu nhà nước ở các khía cạnh: Cơ chế đầu
tư, cơ chế sử dụng vốn, cơ chế phân chia lợi ích kinh tế, cơ chế giám sát và
thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, luận án vẫn chưa nhìn
nhận về các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các
doanh nghiệp nhà nước và có các giải pháp đứng trên góc độ pháp lý.
Ngoài ra còn có các nghiên cứu, bài viết, hội thảo khoa học về sử
dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho
Việt Nam đăng trên các báo, tạp chí kinh tế khác. Tuy nhiên, các công
trình nghiên cứu nói trên mới chỉ đề cập tới cơ chế sử dụng vốn nhà nước
tại doanh nghiệp, chưa tập trung phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả
sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước, phân tích các quy định pháp
luật hiện hành (giai đoạn 2015 đến nay) điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn
nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước.
3. Mục tiêu nghiên cứu

7


(i) Làm rõ một số vấn đề lý luận về DNNN và hoạt động sử dụng
vốn tại các DNNN.
(ii) Đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn
tại các DNNN
(iii) Đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hạn chế những bất cập
trong pháp luật điều chỉnh hoạt sử dụng vốn tại các DNNN góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNN trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật, hoạt
động áp dụng pháp luật về sử dụng vốn tại các DNNN tại Việt Nam. Trên
cơ sở đó đưa ra những phương hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại các DNNN trong thời gian tới.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về bản
chất DNNN, các quy định có liên quan đến sử dụng vốn tại các DNNN,
tìm hiểu thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn tại các
DNNN để đưa ra những kiến nghị đổi mới pháp luật về sử dụng vốn tại
các DNNN trên cơ sở các tài liệu thu thập được về DNNN trong giai đoạn
từ 2000 - đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng qua
các kỳ Đại hội và chính sách, pháp luật của Nhà nước về Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa và về vấn đề sử dụng vốn tại các DNNN, đề tài tập
trung nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh

8


các khía cạnh pháp lý của hoạt động sử dụng vốn tại các DNNN.
Để đạt được các mục tiêu của đề tài đặt ra, tác giả sử dụng nhiều
cách tiếp cận dưới những góc độ khác nhau về pháp luật sử dụng vốn tại
các DNNN trên cơ sở phương pháp phân tích định tính và định lượng.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như nghiên cứu tổng
hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch.
6. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn
Hiện nay, đứng trước thực trạng sử dụng vốn tại các DNNN còn
nhiều bất cập, rắc rối và thiếu minh bạch, công khai, luận văn này ra đời
có đóng góp và một số ý nghĩa sau:
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về DNNN và sử dụng

vốn tại các DNNN.
- Đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn

tại các DNNN.
- Đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hạn chế những bất cập

trong pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn tại các DNNN đồng thời
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNN trong thời gian tới.
- Với kết quả đạt được, luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên

cứu học tập và giảng dạy, những giải pháp có thể được tham khảo trong
việc thực thi và ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động sử
dụng vốn tại các DNNN ở Việt Nam
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 2 chương:

9


Chương 1. Những vấn đề lý luận về sử dụng vốn tại các DNNN và
pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn tại các DNNN ở Việt Nam
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động sử
dụng vốn tại các DNNN và đề xuất hoàn thiện pháp luật

10


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÁC
DNNN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG
VỐN TẠI CÁC DNNN Ở VIỆT NAM
1.1

Khái quát về sử dụng vốn tại các DNNN ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm DNNN và vốn tại DNNN
a. Khái niệm, đặc điểm DNNN
Theo các góc độ tiếp cận khác nhau, hiện nay có nhiều quan điểm
khác nhau về DNNN.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sở hữu toàn dân là tư
tưởng chi phối, DNNN đóng vai trò then chốt trong mọi lĩnh vực của nền
kinh tế quốc dân. Theo đó, DNNN được xác định là tổ chức kinh tế thuộc
sở hữu nhà nước/công hữu, và được điều hành, kiểm soát về mọi phương
diện bởi nhà nước3.
Đồng quan điểm trên, Ngân hàng Thế giới định nghĩa về DNNN như
sau: “DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay quyền kiểm soát
thuộc về chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc
bán hàng hoá và dịch vụ”4
Theo lý thuyết kinh tế thị trường, DNNN là một tổ chức được sử
dụng để chỉ một tổ chức sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà giá trị của chúng
không thuộc về các chủ sở hữu cá nhân mà thuộc về xã hội5
3

Theo Nguyễn Mạnh Quân, Tái cấu trúc DNNN – một số vấn đề về nguyên tắc và phương pháp tiếp cận,
Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 193 tháng 7/2013, trang 29

4

Ngân hàng thế giới (1999), Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới: Giới quan chức
trong kinh doanh, ý nghĩa kinh tế và chính trị của sở hữu nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang
28

5

Rees Ray (1989), Public Enterprise Economics, 2nd Ed., Philip Allan, Deddington, Oxford, trang 1

11


Ở Việt Nam, DNNN có lịch sử tồn tại khá lâu đời và hiện đang giữ
vai trò chủ đạo trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về DNNN cũng có
những đặc thù và thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh.
Thuật ngữ DNNN được sử dụng chính thức trong Nghị định
338/HĐBT ngày 20/11/1991 ban hành Quy chế về thành lập và giải thể
DNNN, theo đó DNNN được định nghĩa là những tổ chức kinh doanh do
nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ6 . Luật DNNN số 39-L/CTN đưa ra định
nghĩa cụ thể hơn, theo đó DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư
vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động
công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao7.
Cũng theo Luật DNNN số 39-L/CTN, DNNN nước tồn tại dưới các hình
thức: doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của
tổng công ty8.
Năm 2003, với sự ra đời của Luật DNNN số 14/2003/QH11 khái
niệm DNNN đã có sự thay đổi căn bản. Cụ thể, Theo Điều 1 Luật DNNN
2003, DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ
hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công
ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Như vậy, so
với khái niệm “DNNN” theo Luật DNNN 1995, khái niệm DNNN theo
Luật DNNN 2003 có một số thay đổi như sau: (i) Khái niệm DNNN trong
Luật 2003 có nội dung rộng hơn, DNNN bao gồm cả DNNN nắm cổ phần
hay có phần góp vốn chi phối; (ii) DNNN được tổ chức theo nhiều loại hình
hơn, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
6

Điều 1 Nghị định 388/HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991

7

Điều 1 Luật DNNN số 39-L/CTN

8

Điều 2 Luật DNNN số 39-L/CTN

12


Năm 2005, Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được ban hành,
thay thế cho Luật DNNN số 14/2003/QH11 và Luật doanh nghiệp số
13/1999/QH10, theo đó DNNN được định nghĩa là doanh nghiệp trong đó
nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Như vậy, so với Luật DNNN số
14/2003/QH11, hình thức tổ chức DNNN bị thu hẹp hơn, DNNN chỉ được
tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn;
các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật DNNN năm 2003
phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần9.
Năm 2014, với hướng tiếp cận “cởi trói” cho doanh nghiệp và tuân
theo các cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường là hạn chế sự can thiệp
của nhà nước10, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có những thay đổi căn
bản trong quy định về DNNN. Cụ thể, theo Luật doanh nghiệp 2014,
DNNN là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ11. Quy định
chỉ những doanh nghiệp nào do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì mới
được coi là DNNN đã hạn chế số lượng DNNN và mở rộng thành phần
doanh nghiệp không bị ràng buộc bởi “cơ chế nhà nước”. Với quy định này
các công ty lớn hoạt động trong lĩnh vực then chốt như dầu khí, vận tải
hàng không, hay các ngân hàng có sở hữu của nhà nước thấp hơn 100%
vốn điều lệ đều không còn là DNNN. Các doanh nghiệp này ngoài việc
tháo bỏ cái mác DNNN, cải tổ cơ chế quản lý điều hành, quản trị rủi ro thì
hoàn toàn có thể cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác
mà không có sự khác biệt nào. Ngoài ra, quy định về hình thức tổ chức của
DNNN cũng có sự thay đổi, theo đó DNNN chỉ được tổ chức dưới hình

9

Khoản 1 Điều 166 Luật doanh nghiệp 2005

10

Theo Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật trung ương, Pháp luật về Doanh nghiệp, Đặc san
Tuyên truyền pháp luật số 3/2015.

11

Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014

13


thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở
hữu.
Như vậy, dưới những góc độ tiếp cận, quan điểm khác nhau đã có
nhiều định nghĩa khác nhau về DNNN, tuy nhiên, dù được tiếp cận dưới
những góc độ nào thì DNNN của Việt Nam cũng được đặc trưng bởi những
khía cạnh sau:
(i) Nhà nước đầu tư vốn và thành lập DNNN theo một thủ tục đặc
biệt
Đối với các loại hình doanh nghiệp tư nhân (công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân), việc thành
lập doanh nghiệp được xác định là quyền của các tổ chức, cá nhân12. Theo
đó, các tổ chức, cá nhân trên cơ sở thỏa thuận hoặc dựa trên ý chí cá nhân
để đưa ra quyết định bỏ vốn để thành lập doanh nghiệp, đồng thời thực hiện
các thủ tục đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, các tổ
chức, cá nhân được quyền tự mình quyết định đầu tư vốn, thành lập doanh
nghiệp để thực hiện các hoạt động kinh doanh, cơ quan nhà nước chỉ cho
phép thành lập trên cơ sở đăng ký kinh doanh của các tổ chức, cá nhân.
Trong khi đó, DNNN được thành lập trên cơ sở Quyết định thành lập
của Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Mặt khác, nguồn đầu tư vốn điều lệ để thành lập DNNN và bổ sung vốn
điều lệ cho DNNN đang hoạt động từ các nguồn hình thành vốn nhà nước
tại doanh nghiệp13.Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm phê duyệt

12

Theo Khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh
nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

13

Khoản 3 Điều 22 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại Doanh
nghiệp.

14


vốn điều lệ và đầu tư đủ vốn điều lệ cho DNNN nhằm đảm bảo: (i) Không
thấp hơn mức vốn pháp định của ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh của DNNN theo quy định của pháp luật, (ii) Phù hợp với quy mô,
công suất thiết kế đối với ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của
DNNN, (iii) Phù hợp với chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển của doanh
nghiệp, phù hợp với ngành, nghề kinh doanh chính của DNNN được cấp có
thẩm quyền phê duyệt; và (iv) Phù hợp với phương án sản xuất, kinh doanh
của DNNN. Như vậy, DNNN chỉ được thành lập khi có quyết định thành
lập của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nguồn vốn để thành lập
DNNN do nhà nước đảm bảo từ các nguồn hình thành vốn nhà nước tại
doanh nghiệp (vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ
ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ
trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn khác được tại các DNNN)
(ii) Nhà nước sở hữu 100% vốn Điều lệ trong DNNN
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp được xác
định là DNNN khi tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà nước trong doanh
nghiệp đó là 100%. Trong khi đó, ở các nước trong khu vực như Thái Lan,
Indonesia… (những nước cũng còn nhiều DNNN tại các lĩnh vực quan
trọng như điện, nước, viễn thông, ngân hàng, hàng không…) những doanh
nghiệp mà nhà nước nắm giữ từ 20% trở lên đã được xác định là DNNN14.
Như vậy, việc xác định chỉ những doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ mới là DNNN được xem là đặc trưng của DNNN của Việt
Nam.

14

Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng Thư ký Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) https://www.ocs.com.vn/(X(1)S(m3ns2d00dcvvplgznuztntte))/newspages.aspx?catid=2021&mconid=138
6

15


(iii) Toàn bộ vốn và tài sản của DNNN thuộc sở hữu 100% của
nhà nước
DNNN do nhà nước đầu tư 100% vốn nên nó thuộc sở hữu nhà nước,
tài sản của DNNN là một bộ phận của tài sản nhà nước. DNNN sau khi
được thành lập là một chủ thể kinh doanh, DNNN được quản lý bởi các
“người đại diện”. Tuy nhiên, “người đại diện” không có quyền sở hữu đối
với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh
doanh trên cơ sở sở hữu của nhà nước. Nhà nước giao trách nhiệm quản lý
phần vốn cho “người đại diện”, “người đại diện” phải chịu trách nhiệm
trước nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà nhà nước giao.
(iv) DNNN do nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục
tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao.
Ở Việt Nam, nhà nước được xác định là chủ sở hữu duy nhất của
DNNN. nhà nước quản lý DNNN thông qua cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ. Bao gồm những nội dung: (i)
nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại DNNN
phù hợp với quy mô, tính chất, lĩnh vực hoạt động của từng doanh nghiệp
(ii) nhà nước quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ
chức trong DNNN như hội đồng thành viên, Tổng giám đốc...(iii) nhà nước
quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen
thưởng, kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như chủ tịch Hội
đồng thành viên, Chủ tịch công ty...; (iv) nhà nước quyết định dự án đầu tư,
xây dựng, mua, bán tài sản cố định của doanh nghiệp có giá trị trên 50%
vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính
năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định dự

16


án15; (v) nhà nước xem xét, phê duyệt dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp
với giá trị trên 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý
hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với
thời điểm quyết định dự án16 . Như vậy, nếu như người quản lý tại các
doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân có quyền linh hoạt đối phó với những
điều kiện thay đổi của thị trường, chủ động trong việc đưa ra các quyết
định liên quan đến việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh thì đối với
DNNN, sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của DNNN là rất lớn. Sự
can thiệp của nhà nước vào hoạt động của DNNN cũng điểm khác biệt giữa
DNNN của Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới. Lấy ví dụ từ
Singapore, Temasek Holdings là tập đoàn kinh tế nhà nước thuộc 100% sở
hữu của Chính Phủ. Với vai trò là chủ sở hữu, Chính phủ đảm bảo việc
thành lập và tổ chức Hội đồng quản trị có đủ năng lực, kinh nghiệm để định
hướng đầu tư đối với Temasek và đảm bảo tính chặt chẽ trong quá trình
đầu tư. Bộ Tài chính Singapore được giao nhiệm vụ làm đại diện chủ sở
hữu nhưng không thực hiện việc quản lý điều hành; không chỉ định thành
viên hội đồng quản trị của công ty.17 Bên cạnh đó, Chính phủ Singapore
cũng cam kết để Temasek hoạt động của theo nguyên tắc thương mại, tách
bạch hẳn với vai trò hoạch định chính sách gắn với lợi ích công và điều tiết
thị trường của Chính phủ. Chính phủ không tham gia trực tiếp vào các
quyết định đầu tư, các quyết định kinh doanh của công ty.18

15

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 24 Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh
tại doanh nghiệp 2014

16

Theo Điểm a Khoản 4 Điều 28 Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh
tại doanh nghiệp 2014

17

TS. Trần Tiến Cường, “Mô hình hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước: Kinh nghiệm của
Trung Quốc và Singapore và bài học tham khảo đối với Việt Nam”, 2013, Tr. 13-14

18

TS. Trần Thanh Hồng, “Kinh nghiệm quản lý và đầu tư vốn nhà nước của Temasek”, Trang thông tin
điện tử tổng hợp Ban Kinh tế trung ương

17


Không chỉ đặc biệt trong phương thức tổ chức quản lý, mục tiêu hoạt
động của DNNN ở Việt Nam cũng có đặc trưng riêng. Cụ thể, nếu như các
doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân mục tiêu hàng đầu của các doanh
nghiệp này là tối đa hóa lợi nhuận thì đối với các DNNN, lợi nhuận chỉ là
một trong các mục tiêu hướng tới, thậm chí trong nhiều trường hợp lợi
nhuận không được xem là mục tiêu thiết yếu của một nhóm các DNNN
hoạt động trong những lĩnh vực đặc thù. Mục tiêu hoạt động của mỗi
DNNN chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do nhà
nước giao. Nếu nhà nước giao cho DNNN nào thực hiện hoạt động kinh
doanh thì DNNN đó phải kinh doanh có hiệu quả, DNNN nào được giao
thực hiện hoạt động công ích thì DNNN đó phải thực hiện hoạt động công
ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội.
(v) Về lĩnh vực hoạt động của DNNN
Theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào
sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014, nhà nước thành lập các DNNN
hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực như: (i) Lĩnh vực cung ứng sản phẩm,
dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội (bao gồm: dịch vụ bưu chính công
ích; Xuất bản (không bao gồm lĩnh vực in và phát hành xuất bản phẩm);
Hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp theo quy định của pháp luật;
Quản lý, khai thác công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện;
Quản lý, khai thác, điều hành hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia,
đường sắt đô thị; bảo đảm an toàn bay; bảo đảm an toàn hàng hải; (ii)
Lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; (iii) Lĩnh vực độc quyền tự
nhiên (bao gồm: Hệ thống truyền tải điện quốc gia; nhà máy thủy điện có
quy mô lớn đa mục tiêu, nhà máy điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; In, đúc tiền và sản
xuất vàng miếng; Xổ số kiến thiết; DNNN có chức năng đầu tư kinh doanh

18


vốn nhà nước, mua bán và xử lý nợ phục vụ tái cơ cấu và hỗ trợ điều tiết,
ổn định kinh tế vĩ mô; (iv) Lĩnh vực yêu cầu ứng dụng công nghệ cao, đầu
tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền
kinh tế.
Như vậy, những lĩnh vực mà DNNN ở Việt Nam hoạt động là những
lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, góp phần định hướng, điều tiết, ổn định
kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, lĩnh vực hoạt động của các doanh
nghiệp thuộc sở hữu tư nhân lại đa phần là những lĩnh vực có khả năng
mang lại lợi nhuận cao mà không đòi hỏi quá nhiều về nguồn vốn đầu tư và
thời gian thu hồi vốn nhanh.
b. Khái niệm, đặc điểm vốn tại DNNN
Ở Việt Nam, khái niệm vốn nhà nước tại doanh nghiệp được ghi
nhận cụ thể tại Khoản 8 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư
vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014: “Vốn nhà nước tại doanh
nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ
ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ
trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn khác được nhà nước đầu tư tại
doanh nghiệp”. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành,
vốn nhà nước tại doanh nghiệp được đặc trưng bởi các nội dung sau:
Thứ nhất, về chủ sở hữu của vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp là nhà nước. Đây là đặc
điểm thể hiện sự khác biệt căn bản của vốn nhà nước tại doanh nghiệp với
vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác. Tính chất đặc biệt của chủ sở hữu nhà
nước được thể hiện ở những điểm sau: (i) Việc xác định tư cách chủ sở hữu

19


phức tạp, khó xác định; (ii) Việc thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước
phải thực hiện thông qua các chủ thể được ủy quyền.
Thứ hai, về mục tiêu của chủ sở hữu đối với vốn nhà nước tại doanh
nghiệp
Nếu như đối với các nhà đầu tư (chủ sở hữu vốn) thông thường, vốn
dùng vào đầu tư, kinh doanh nhằm mục đích sinh lời thì vốn nhà nước tại
doanh nghiệp không chỉ có mục tiêu kinh tế mà còn có mục tiêu chính trị,
an ninh, văn hóa, xã hội. Cụ thể, theo Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng vốn
nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014, mục tiêu
đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệpbao gồm: (i) Thực
hiện định hướng, điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô mang tính chiến lược
trong từng thời kỳ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa; (ii) Đổi mới, nâng cao hiệu quả đầu tư,
quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (iii) Nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, chủ sở hữu
vốn nhà nước đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp gồm nhiều mục tiêu
khác nhau, chính vì vậy, tính mục tiêu trong việc đầu tư, sử dụng vốn, tài
sản nhà nước của chủ sở hữu nhà nước thường khó phân định rõ ràng.
Thứ ba, quy mô vốn nhà nước tại doanh nghiệp lớn, mang tính ổn
định cao, có khả năng chi phối lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Theo quy định tại Điều 5, Điều 1, Điều 16 Luật Quản lý, sử dụng
vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014, nhà
nước đầu tư vốn vào các doanh nghiệp theo nguyên tắc: (i) Đầu tư vốn nhà
nước để hình thành và duy trì doanh nghiệp ở những khâu, công đoạn then
chốt trong một số ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không
tham gia; (ii) Đầu tư vốn nhà nước để thành lập Doanh nghiệp cung ứng
sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, Doanh nghiệp hoạt động
20


trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, Doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên, Doanh nghiệp ứng dụng công
nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh
vực khác và nền kinh tế; (iii) Đầu tư bổ sung vốn nhà nước để tiếp tục duy
trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp của nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong trường hợp không thu hút được
các nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài đối với doanh nghiệp cung ứng các
sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; hoặc cần thiết phải duy trì
để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Như vậy, những lĩnh vực mà nhà nước đầu tư vốn đều là những lĩnh
vực đòi hỏi mức vốn đầu tư lớn, yêu cầu tính ổn định cao mà ít nhà đầu tư
tư nhân nào có thể đáp ứng được. Chính vì vậy, khác với vốn đầu tư của
các nhà đầu tư khác, vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có quy mô lớn
và mang tính ổn định cao hơn.

1.1.2 Một số vấn đề lý luận về sử dụng vốn tại DNNN
a. Khái niệm sử dụng vốn tại DNNN
Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, việc nhà nước
đầu tư vốn vào các DNNN là một lựa chọn hiệu quả giúp nhà nước khắc
phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, góp phần định hướng
sự phát triển của nền kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
trong các thành phần kinh tế. Đi đôi với việc nhà nước thực hiện đầu tư vốn
vào các DNNN, việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn nhà nước
đầu tư cũng trở thành xu thế tất yếu.
Sử dụng vốn tại các DNNN được hiểu là việc nhà nước, thông qua
hệ thống các cơ quan nhà nước– cơ quan đại diện chủ sở hữu – sử dụng các

21


phương thức, công cụ quản lý do nhà nước ban hành phù hợp với các chính
sách kinh tế - xã hội của Đảng để định hướng đầu tư, sử dụng và giám sát
việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại
các doanh nghiệp, đảm bảo các DNNN hoạt động theo đúng mục tiêu, định
hướng và nhiệm vụ mà nhà nước đã đặt ra.
Các yếu tố liên quan đến hoạt động sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại
các DNNN bao gồm: (i) Chủ thể: Chủ thể sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại
DNNN là Chính phủ. Về bản chất, nhà nước là chủ sở hữu của nguồn vốn
nhà nước đầu tư tại các DNNN, tuy nhiên, nhà nước không thể tự mình
quản lý nguồn vốn này mà phải thông qua Chính phủ. Chính phủ sẽ là chủ
thể thay mặt nhà nước thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước đầu
tư tại DNNN. Tuy nhiên, trên thực tế Chính phủ thường ủy quyền cho một
tổ chức hay một cơ quan làm đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại DNNN.
(ii) Khách thể: Khách thể của sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại DNNN là
các tổ chức kinh tế được nhà nước đầu tư 100% vốn vào hoạt động sản xuất
kinh doanh. (iii) Đối tượng: Đối tượng của sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại
DNNN là số vốn nhà nước đầu tư vào DNNN, là bản thân doanh nghiệp đó
và mở rộng hơn nữa là những tác động mà DNNN đó mang lại cho nền
kinh tế - xã hội.
b. Tính tất yếu của việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu
tư tại các doanh nghiệp
Thứ nhất, nhà nước đầu tư và là chủ sở hữu của nguồn vốn đầu tư tại
các doanh nghiệp, tuy nhiên, do khái niệm nhà nước là một khái niệm phức
hợp, là tổng hòa của các thể chế, quy định, vì vậy, có thể nói, nhà nước
không tự mình quản lý nguồn vốn này mà giao quyền cho một số cá nhân,
tổ chức để thực hiện việc quản lý này. Như vậy, về mặt lý luận, mặc dù
việc quản lý vốn nhà nước này vẫn dựa trên quyền lực nhà nước nhưng rõ
22


ràng, về mặt thực tế là có sự tách biệt giữa chủ thể sở hữu vốn và chủ thể
quản lý, sử dụng vốn nhà nước. Khi đã thuộc về hai đối tượng khác nhau,
mục tiêu của chủ thể sở hữu có thể sẽ không phù hợp với mục tiêu của chủ
thể trực tiếp quản lý vốn nhà nước. Do đó, khả năng người được nhà nước
giao nhiệm vụ đại diện nhà nước quản lý, sử dụng nguồn vốn nhà nước đầu
tư tại Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này vào những động cơ tư lợi,
không phù hợp với mục tiêu của chủ sở hữu – nhà nước là có thể xảy ra. Vì
vậy, cần phải tìm ra những phương thức để nhà nước (với vai trò là chủ sở
hữu vốn nhà nước) có thể thắt chặt hơn nữa sự quản lý đối với nguồn vốn
nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp nhằm đảm bảo vốn và tài sản của nhà
nước không bị xâm phạm vì những mục tiêu sai lệch trong quá trình hoạt
động kinh doanh, cũng như đảm bảo doanh nghiệp hoạt động theo đúng
mục tiêu nhà nước đề ra, góp phần nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước.
Thứ hai, nhà nước quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn
nhà nước cũng chính là thực hiện một phần vai trò quản lý nhà nước của
mình. nhà nước ban hành các chế độ tài chính đối với doanh nghiệp nhà
nước, theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các chế độ đó. Việc theo dõi,
kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước giúp cơ quan
quản lý nắm bắt được tình hình thực tế tại các doanh nghiệp, theo dõi tiến
trình thực hiện các văn bản. Từ đó thu thập thông tin để chỉnh sửa, bổ sung,
hoàn thiện các chính sách cho kịp thời, phù hợp với thực tế. Đồng thời
thông qua các hoạt động quản lý vốn đầu tư vào doanh nghiệp, nhà nước sẽ
thu thập được những thông tin chính xác để đánh giá đúng chất lượng kinh
doanh ở các doanh nghiệp nhà nước, đánh giá đúng nhu cầu khách quan
của thị trường cũng như xu thế phát triển ngắn hạn và dài hạn của nền kinh
tế. Trên cơ sở các thông tin chính xác và xác thực này, nhà nước thực hiện

23


đánh giá các tác động và có kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp,
vốn và lao động, hoàn thiện các khâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh
doanh nói riêng và sắp xếp, ổn định chiến lược phát triển chung của cả nền
kinh tế nói chung nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu xã hội.
(iii)

Thứ ba, tiếp cận ở góc độ đơn giản nhất, đối với các doanh

nghiệp có vốn nhà nước hoạt động kinh doanh, phần lợi nhuận sau thuế của
các doanh nghiệp này tương ứng với phần vốn đầu tư của Nhà nước sẽ
thuộc về nhà nước. Trên cơ sở các nguồn lợi thu được từ hoạt động của
doanh nghiệp có vốn nhà nước, nhà nước duy trì và tái sản xuất mở rộng
doanh nghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của xã hội, của nền kinh tế
mà nhà nước đã đặt ra. Do đó, để lợi nhuận sau thuế tại các doanh nghiệp
có vốn của nhà nước được tối đa hoá, nhà nước phải thực hiện một cách
hiệu quả việc quản lý phần vốn đầu tư nhằm làm cho phần vốn đó được sử
dụng một cách có hiệu quả, trên cở sở đó góp phần gia tăng lợi ích, đóng
góp vào sự phát triển, trước hết tại chính doanh nghiệp mà nhà nước có
phần vốn góp, sau đó là phục vụ cho sự phát triển tổng thể của nền kinh tế xã hội.
1.2 Khái quát về pháp luật điều chỉnh hoạt sử dụng vốn tại các
DNNN
1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn tại
các DNNN
Việc Nhà nước quản lý và sử dụng vốn tại các DNNN là một nhu cầu
tất yếu nhằm hỗ trợ nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội, khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường, đảm bảo công
bằng xã hội và thực hiện sử dụng nguồn lực của nhà nước một cách hiệu
quả nhất. Có thể nói, với vai trò đã được chứng minh rõ ràng trên thực tế
hoạt động của các DNNN đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội,
24


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×