Tải bản đầy đủ

Thực trạng pháp luật về phá sản doanh nghiệp và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về phá sản doanh nghiệp ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LONG VŨ QUỲNH PHƢƠNG

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM
THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LONG VŨ QUỲNH PHƢƠNG

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM
THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Kinh tế
: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thị Hồng Vân

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Long Vũ Quỳnh Phƣơng


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………..

1



1.
2.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài……………………………..
Tình hình nghiên cứu đề tài……………………………………………

1
2

3.
4.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn…………………........ 3
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn…………………........ 3

5.
6.
7.

Phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn………........ 3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn………………………….. 4
Bố cục của luận văn…………….………………………………………. 4

CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT
PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP………………….……………………………… 5
1.1. Khái niệm phá sản……………………….……………………………... 5
Một số vấn đề chung về pháp luật phá sản doanh nghiệp …………...
Khái niệm pháp luật phá sản doanh nghiệp……………………………
Nội dung của pháp luật phá sản …………...…………………………...
Vai trò của pháp luật phá sản doanh nghiệp …………………………..
Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật phá sản
doanh nghiệp…………………………………………………………….
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH
NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM………….…………...

7
7
9
11

2.1. Thực trạng pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay…..
2.1.1. Đối tượng áp dụng……………………………………………………….
2.1.2. Lý do doanh nghiệp phá sản.....................................................................
2.1.3. Chủ thể có quyền và nghĩa vụ yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh
nghiệp……………………………………………………………………………
2.1.4. Thẩm quyền thụ lý và giải quyết yêu cầu phá sản...…………………...
2.1.5. Quản lý và xử lý tài sản trong giải quyết phá sản………………………
2.1.6. Trình tự, thủ tục phá sản doanh nghiệp………………………………..

16
16
17

1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.2.4.

2.2.

13
16

18
20
21
32

Thực trạng thực hiện pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt
Nam...……………………………………………………………………. 49


2.2.1. Kết quả áp dụng Luật phá sản năm 2014 và một số nhận xét, đánh giá 49
về thực trạng thi hành pháp luật phá sản...........................................................
2.2.2. Khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật về phá sản doanh 51
nghiệp và nguyên nhân…………………………………………………………
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM
ĐẢM BẢO THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM…………………………………………….. 59
3.1. Một số phƣơng hƣớng nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật
về phá sản doanh nghiệp………………………………………………………. 59
3.2. Giải pháp nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về phá sản
doanh nghiệp…………………………………………………………………… 59
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phá sản doanh nghiệp………………… 60
3.2.2. Tổ chức thực hiện Luật phá sản năm 2014……………………………..

70

KẾT LUẬN…………………………………………………………………….. 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Phá sản là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, nó hiện hữu
như một sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên của nền
kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận luôn là mục đích hàng đầu của mỗi
doanh nghiệp đồng thời cũng là động lực thúc đẩy họ lao vào quá trình cạnh tranh
nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Dưới tác động của quy luật cạnh tranh, một số doanh
nghiệp vươn lên chiếm lĩnh thị trường, ngược lại, một số doanh nghiệp yếu kém,
không đủ sức cạnh tranh, sản xuất kinh doanh ngưng trệ, mất khả năng chi trả các
nghĩa vụ tài chính của mình và dẫn đến tình trạng phá sản. Phá sản là một giải pháp
hữu hiệu trong việc “cơ cấu lại” nền kinh tế, tuy nhiên nó cũng kéo theo những hậu
quả nhất định, gây xáo trộn việc phát triển kinh doanh và ảnh hưởng đến đời sống,
việc làm của người lao động. Chính vì vậy, pháp luật phá sản là một chế định không
thể thiếu nhằm duy trì môi trường kinh doanh ổn định.
Pháp luật phá sản của Việt Nam đã trải qua quá trình dài hình thành và phát
triển. Từ những quy định ban đầu trong Luật doanh nghiệp năm 1990 đến sự ra đời
của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật phá sản năm 2004 và mới nhất là
Luật phá sản năm 2014. Trong suốt quá trình phát triển ấy, pháp luật phá sản không
ngừng được xây dựng, hoàn thiện và đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên môi
trường pháp lý an toàn, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình giải
quyết yêu cầu phá sản.
Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII, Luật phá sản năm 2014 đã chính thức
được thông qua ngày 19/06/2014, bao gồm 9 chương, 133 điều và có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01/01/2015 đồng thời thay thế cho Luật phá sản năm 2004. Tiếp
thu có chọn lọc pháp luật phá sản của một số nước trên thế giới, khắc phục hạn chế
của luật cũ, Luật phá sản năm 2014 đã có những thay đổi cơ bản phù hợp với yêu
cầu thực tiễn, tạo điều kiện cho việc giải quyết các vụ việc phá sản một cách công
bằng, hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay, Luật phá sản năm 2014 mới chỉ đi vào thực
hiện trong thời gian ngắn nên việc áp dụng vào thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc,
có thể kể đến như việc áp dụng các quy định về Quản tài viên, các quy định về quản
lý và xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, các quy định về thủ
tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp… chưa thực sự hiệu quả do các quy định luật
này vẫn còn một vài hạn chế cần hoàn thiện.


2
Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật phá sản hiện hành và
đánh giá khả năng áp dụng vào thực tiễn của các quy định này đã trở thành một yêu
cầu cần thiết. Từ những đánh giá đó, chúng ta sẽ rút ra ưu nhược điểm và đề ra các biện
pháp cần thiết để Luật Phá sản 2014 sớm được áp dụng có hiệu quả vào thực tế.
Đây cũng là lý do tiên quyết để tác giả lựa chọn đề tài “Thực trạng pháp luật về
phá sản doanh nghiệp và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về
phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật phá sản có vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ là một bộ phận
cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam mà nó còn góp phần điều chỉnh, cân bằng
nền kinh tế. Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về phá sản cũng như
pháp luật phá sản như: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng các quy định
của Luật phá sản về thủ tục phá sản” của TS. Nguyễn Văn Dũng năm 2004; Cuốn
“Pháp luật phá sản của Việt Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ, xuất bản năm
2005; “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật
kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ Tư pháp năm 2009; “Phá sản doanh nghiệp- Một
số vấn đề lý luận về thực tiễn” của Nguyễn Tấn Hơn năm 2005; “Thực trạng pháp
luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam”
tháng 11/2008- chủ biên PGS.TS Dương Đăng Huệ;“Tìm hiểu pháp luật phá sản”
của Tòa án nhân dân tối cao tháng 4/2010;…
Kể từ khi được ban hành đến nay, Luật phá sản năm 2014, với những sự thay
đổi về nội dung đã nhận được sự quan tâm lớn, những nghiên cứu về các quy định
mới của Luật phá sản năm 2014 có thể kể đến như: “Luật phá sản năm 2014- Bước
phát triển của pháp luật phá sản Việt Nam” của Quách Thị Thu Hương, luận văn
thạc sĩ luật học năm 2015; “Thủ tục phá sản theo Luật phá sản năm 2014” của Vũ
Huy Hoàng, luận văn thạc sĩ luật học năm 2015; “Quản tài viên, doanh nghiệp
quản lý, thanh lý tài sản theo quy định của Luật phá sản năm 2014” của Phạm Thị
Lệ Hằng, luận văn thạc sĩ luật học năm 2015; “Quy định về giao dịch vô hiệu trong
pháp luật phá sản Việt Nam” của Lê Đức Thìn, luận văn thạc sĩ luật học năm
2015;…
Tuy nhiên, bởi vì Luật phá sản năm 2014 mới ra đời nên tính đến thời điểm
hiện tại chưa có nhiều công trình nghiên cứu về các quy định của pháp luật phá sản
hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật phá sản vào việc giải quyết
yêu cầu phá sản. Đây cũng là lý do để tác giả lựa chọn đề tài kể trên.


3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu của luận văn là tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề lý luận, những
quy định của pháp luật phá sản hiện hành và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về
phá sản doanh nghiệp. Từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế và đề ra các phương
hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các quy định của pháp luật phá sản doanh
nghiệp ở Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về pháp luật phá sản như: khái
niệm, nội dung, vai trò và quá trình hình thành phát triển của pháp luật phá sản
doanh nghiệp.
Thứ hai, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật phá sản doanh
nghiệp và thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật phá sản doanh nghiệp; rút
ra những hạn chế trong các quy định pháp luật và trong quá trình áp dụng các quy
định này.
Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện
có hiệu quả pháp luật về phá sản doanh nghiệp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
Luật phá sản năm 2014 trong mối quan hệ so sánh với các quy định của luật phá sản
thời kỳ trước và thực tiễn áp dụng các quy định này trong thực tế.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn đi sâu nghiên cứu, phân tích những nội dung
cơ bản về phá sản doanh nghiệp của Luật phá sản năm 2014 và các văn bản pháp luật
liên quan, đồng thời luận văn chỉ đề cập đến thực trạng áp dụng pháp luật mà không
đề cập đến toàn bộ quá trình thực hiện pháp luật phá sản và chỉ giới hạn trong thời
gian từ khi Luật Phá sản năm 2014 có hiệu lực cho đến ngày 31/05/2017.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, các phương pháp được vận dụng để giải
quyết các vấn đề trong luận văn gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch để triển khai nghiên
cứu các quy định của pháp luật phá sản doanh nghiệp.
- Phương pháp xã hội học, thống kê để thu thập số liệu về tình hình áp dụng
pháp luật phá sản doanh nghiệp.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu để đánh giá, nghiên cứu mô hình pháp luật
phá sản của Việt Nam với pháp luật phá sản các nước trên thế giới, từ đó học hỏi


4
các kinh nghiệm trong việc lập pháp của các quốc gia tiên tiến. Đồng thời phương
pháp so sánh được sử dụng để làm nổi bật sự khác biệt giữa luật phá sản doanh
nghiệp ở các thời kỳ, góp phần đánh giá, rút kinh nghiệm và tìm hướng xây dựng
pháp luật phá sản ngày một hoàn thiện hơn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu các quy định của pháp luật phá
sản dựa trên tính ứng dụng thực tiễn và đã đạt được những kết quả nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa và giải quyết được một số vấn đề lý luận cơ bản về phá sản và
pháp luật phá sản;
- Phân tích các quy định của pháp luật phá sản hiện hành dựa trên mối tương
quan so sánh với Luật phá sản doanh nghiệp 1993 và Luật phá sản năm 2004; đánh
giá khả năng áp dụng của các quy định của pháp luật phá sản hiện hành trong thực
tiễn; chỉ ra những điểm hạn chế của các quy định này và nguyên nhân của những
hạn chế đó;
- Đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Luật phá sản năm 2014;
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 03 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về phá sản và pháp luật phá sản doanh
nghiệp.
Chương 2: Thực trạng về pháp luật phá sản doanh nghiệp và thực tiễn áp
dụng ở Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật
phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam.


5
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm phá sản
Theo nhiều nhà nghiên cứu, thuật ngữ phá sản bắt nguồn từ chữ “Banca
Rotta” trong tiếng La Mã, có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy” đi cùng với câu chuyện kể
rằng: Thời đó, các thương gia của một thành phố thường họp nhau lại và người nào
mất khả năng thanh toán nợ thì cũng mất luôn quyền tham gia các đại hội thương
gia và chiếc ghế ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường1. Cho đến nay,
“Banca Rotta” được sử dụng như một thuật ngữ về phá sản ở nhiều quốc gia (trong
tiếng Anh là “Bankrupcy”, trong tiếng Pháp là “Banqueroute”…).
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, phá sản là tình trạng một công ti, xí
nghiệp gặp khó khăn về tài chính hay bị thua lỗ, hoặc khi thanh lí xí nghiệp không
bảo đảm thanh toán đủ tổng số các khoản nợ đến hạn2.
Thuật ngữ phá sản đã được du nhập vào Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.
Trước đó, trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, phá sản bị coi là một hiện tượng
xấu, thể hiện sự trì trệ, yếu kém của nền kinh tế và thường bị chối bỏ. Các cơ quan
cấp trên thường sẽ bù lỗ bằng ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp thua lỗ
hoặc đình chỉ hoạt động của doanh nghiệp thua lỗ. Cho đến khi chuyển sang nền
kinh tế thị trường, phá sản mới được nhìn nhận dưới một con mắt khác.
Luật công ty năm 1990 đã bước đầu đề cập đến khái niệm “doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản”. Theo đó, tại Điều 24 Luật Công ty năm 1990: “Công ty gặp
khó khăn thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số các
tài sản của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn là công ty
lâm vào tình trạng phá sản”. Tuy nhiên khái niệm này chưa thể hiện được đầy đủ
bản chất của phá sản. Bởi lẽ có nhiều doanh nghiệp mặc dù tổng số tài sản hiện có
không đủ thanh toán tổng số nợ nhưng không bị coi là lâm vào tình trạng phá sản do
chủ nợ xóa nợ, hoãn nợ, mua nợ…
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã quy định cụ thể hơn về doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tại Điều 2: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh
1

Nguyễn Tuấn Hơn (1995), Phá sản doanh nghiệp, một số vấn đề thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, tr.9.
Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2003),Từ điển bách khoa Việt Nam 3,
NXB. Từ điển bách khoa.
2


6
sau khi áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán
nợ đến hạn”. Như vậy, theo Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, chỉ có thể áp
dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp thua lỗ đã áp dụng các biện pháp phục
hồi mà vẫn không có khả năng thanh toán nợ đến hạn. Việc quy định cụ thể điều
kiện để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã biến mục đích quan
trọng của luật phá sản là giúp đỡ, phục hồi doanh nghiệp thua lỗ không đạt được.
Thay vào đó, việc áp dụng thủ tục phá sản lại đi vào việc xử lý tài sản của doanh
nghiệp thua lỗ. Bởi lẽ, nếu đợi đến khi doanh nghiệp có đầy đủ các dấu hiệu xác
định là lâm vào tình trạng phá sản như trên để mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản thì doanh nghiệp đã không còn một chút cơ hội nào trong việc phục hồi
lại doanh nghiệp, việc mở thủ tục phá sản lúc bấy giờ chỉ là để thanh lý tài sản của
doanh nghiệp.
Luật phá sản năm 2004 đã định nghĩa về tình trạng phá sản theo một cách
khác với Luật Công ty năm 1990 cũng như Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993.
Theo đó, tại Điều 3 Luật phá sản năm 2004 quy định rằng: “Doanh nghiệp, hợp tác
xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu
thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Định nghĩa về tình trạng phá sản trong Luật
phá sản năm 2004 không còn đề cập đến lý do, nguyên nhân của hiện tượng mất khả
năng thanh toán, cũng không quy định việc bắt buộc phải áp dụng các biện pháp tài
chính cần thiết nhằm khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh
nghiệp thua lỗ như Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993. Cách thức xác định tình
trạng phá sản cũng không dựa vào một con số nợ cụ thể mà doanh nghiệp không có
khả năng thanh toán như một số nước trên thế giới.3 Từ quy định này, một doanh
nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi có đủ các dấu hiệu pháp lý sau: (i)
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn; (ii) Doanh nghiệp bị
chủ nợ yêu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Luật phá sản năm 2014 khi xác nhận tình hình tài chính bi đát của doanh
nghiệp không còn sử dụng thuật ngữ “lâm vào tình trạng phá sản” mà thay vào đó là
thuật ngữ “mất khả năng thanh toán”. Theo đó, Luật phá sản năm 2014 xác định
tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp dựa trên tiêu chí định lượng:
“Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày
3

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, NXB
Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.411.


7
đến hạn thanh toán”. Bên cạnh đó, lần đầu tiên Luật phá sản năm 2014 đã đưa ra
định nghĩa mang tính pháp lý về phá sản tại khoản 2 Điều 4: “Phá sản là tình trạng
của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra
quyết định tuyên bố phá sản”. Luật phá sản năm 2014 đã hoàn thiện quy định về
pháp luật phá sản khi đưa ra được khái niệm pháp lý về phá sản và tình trạng mất
khả năng thanh toán của doanh nghiệp.4
Như vậy, về mặt pháp lý, khái niệm “phá sản” có thể được hiểu như sau:
Thứ nhất, phá sản là tình trạng doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán và
bị cơ quan Nhà nước ra quyết định tuyên bố phá sản. Hậu quả của quyết định này là
việc chấm dứt sự hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ hai, phá sản là thủ tục pháp lý để doanh nghiệp giải quyết tình trạng mất
khả năng thanh toán nợ đến hạn của mình. Thủ tục này được quy định bởi Luật phá
sản và pháp luật liên quan, được tiến hành khi doanh nghiệp đó có những dấu hiệu
lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, quá trình thực hiện có thể đem đến kết
quả doanh nghiệp được phục hồi hoặc doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, ngừng
hoạt động…
1.2. Một số vấn đề chung về pháp luật phá sản doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm pháp luật phá sản doanh nghiệp
Pháp luật phá sản là một bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam.
Pháp luật phá sản là toàn bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, quy
định về điều kiện mở thủ tục phá sản; điều kiện tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp
tác xã; quy định trình tự, thủ tục giải quyết và yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như
thi hành quyết định tuyên bố phá sản; quy định về địa vị pháp lý và mối quan hệ
giữa các chủ thể tham gia tố tụng phá sản và các vấn đề khác phát sinh liên quan
đến giải quyết phá sản.
Giáo trình Luật Thương Mại Việt Nam, tập I- Đại học Luật Hà Nội năm
2017 có đưa ra định nghĩa về pháp luật phá sản như sau: “Pháp luật phá sản có thể
hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp,
hợp tác xã”.

4

Dương Kim Thế Nguyên (2017), Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến luật phá sản
2004, tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/02/12/khi-niem-ph-san-thu-tuc-php-san-v-nhung
-lin-he-den-luat-ph-san-nam-2014/ ngày truy cập 12/2/2017.


8
Pháp luật phá sản là một chế định đặc thù bởi lẽ nó vừa chứa đựng các quy
phạm của pháp luật nội dung vừa chứa đựng các quy phạm của pháp luật hình thức.
Với tư cách là pháp luật nội dung, pháp luật phá sản điều chỉnh quan hệ tài sản giữa
chủ nợ và con nợ. Với tư cách là pháp luật hình thức, pháp luật phá sản điều chỉnh
quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chủ nợ, con nợ và những
người có liên quan. Cụ thể:
a) Quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ
Quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ được hình thành trước khi có yêu cầu
mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên quan hệ này chỉ trở thành quan hệ pháp luật phá sản
khi có yêu cầu mở thủ tục phá sản bởi từ thời điểm có yêu cầu mở thủ tục phá sản,
pháp luật phá sản mới chính thức điều chỉnh quan hệ này.
Chủ thể của quan hệ tài sản này là chủ nợ và con nợ. Chủ nợ là cá nhân, cơ
quan, tổ chức có quyền yêu cầu con nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao
gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm.
Còn con nợ chính là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn.
Khách thể của quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là tài sản của doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản bao gồm tài sản hiện có và tài sản nợ.
Nội dung của quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ chính là các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ tài sản này.
b) Quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các đương sự
Quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các đương sự
được phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp.
Chủ thể của quan hệ tố tụng này bao gồm: các đương sự (chủ nợ, con nợ và
những người có liên quan như người lao động, cổ đông công ty cổ phần, thành viên
công ty hợp danh…), cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết yêu cầu
phá sản doanh nghiệp (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành
án dân sự) và quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Khách thể của quan hệ tố tụng này chính là quá trình giải quyết yêu cầu phá
sản doanh nghiệp.
Nội dung của quan hệ tố tụng này là các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các
đương sự trước Nhà nước hoặc là các hành vi tố tụng của các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
Như vậy, pháp luật phá sản điều chỉnh hai nhóm quan hệ xã hội: (i) Quan hệ
tài sản giữa chủ nợ và con nợ, (ii) Quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm


9
quyền và các đương sự. Mặc dù hai nhóm quan hệ này có những tính chất khác
nhau nhưng giữa chúng tồn tại mối quan hệ mật thiết với nhau (quan hệ tài sản là cơ
sở để hình thành quan hệ tố tụng và quan hệ tố tụng nhằm bảo vệ quan hệ tài sản).
Chính vì vậy, chúng được thống nhất điều chỉnh trong một chế định là pháp luật phá
sản.5
1.2.2. Nội dung của pháp luật phá sản
1.2.2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến nội dung của pháp luật phá sản
Thứ nhất, nội dung của pháp luật phá sản bị quyết định bởi tính chất của nền
kinh tế.
Hệ thống pháp luật được hình thành và xây dựng để phục vụ cho sự phát
triển của nền kinh tế và bản thân nó luôn luôn bị chi phối bởi hoàn cảnh kinh tế xã
hội cụ thể của từng nước. Nếu như trong nền kinh tế kế hoạch hóa, các vấn đề về
phá sản hay chống cạnh tranh không được đặt ra bởi mọi hoạt động kinh tế đều chịu
sự điều tiết của Nhà nước theo kế hoạch đã định ra, không có cạnh tranh nên không
có phá sản thì trong nền kinh tế thị trường, dưới sự tác động của quy luật cạnh
tranh, doanh nghiệp nào làm ăn hiệu quả sẽ tồn tại, doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ
sẽ bị loại bỏ nên pháp luật phá sản ra đời như một nhu cầu tất yếu để giải quyết yêu
cầu phá sản của doanh nghiệp.
Thứ hai, nội dung của pháp luật phá sản chịu ảnh hưởng của trình độ phát
triển của nền kinh tế.
Tính chất của nền kinh tế quyết định sự ra đời của pháp luật phá sản còn
trình độ phát triển của chính nền kinh tế đó quyết định sự khác nhau trong pháp luật
về phá sản của các nước. Điều này có thể giải thích vì sao cùng là nền kinh tế thị
trường nhưng pháp luật phá sản của Mỹ lại không giống pháp luật phá sản của
Pháp, cùng là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nhưng pháp luật phá sản của
Trung Quốc lại khác với pháp luật phá sản của Việt Nam.
Thứ ba, nội dung của pháp luật phá sản phụ thuộc vào khả năng làm chủ của
doanh nghiệp trong việc giải quyết phá sản.
Ở những nước phát triển, thương nhân là những người có trình độ hiểu biết
cao về pháp luật cũng như kiến thức kinh doanh nên hội nghị chủ nợ có vai trò rất
quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề phá sản. Trong khi ở nước ta, khả năng
tự quyết của các thương nhân còn thấp nên họ không thể tự giải quyết các vấn đề
5

Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam tập I, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.
446, 447.


10
phát sinh, Tòa án phải can thiệp rất nhiều thì mới giải quyết được vụ việc phá sản.
Vì vậy, pháp luật phá sản nước ta được xây dựng với vị trí của Tòa án như một
nhân vật trung tâm, có vai trò quyết định.
Thứ tư, nội dung của pháp luật phá sản chịu sự tác động của xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế.
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa là một xu thế đang diễn ra
mạnh mẽ. Do đó, việc xây dựng pháp luật phá sản không chỉ cần phù hợp với tình
hình phát triển kinh tế xã hội trong nước mà còn phải hướng tới và phù hợp với xu
thế hội nhập kinh tế toàn cầu.
1.2.2.2. Nội dung pháp luật phá sản
Nội dung của pháp luật phá sản nói chung là tổng thể các quy phạm pháp luật
bao gồm đạo luật (Luật Phá sản); các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định,
Quyết định, Nghị quyết, Thông tư) và các văn bản pháp luật liên quan (Luật dân sự,
Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại,…). Nó điều chỉnh trình tự mở thủ tục phá
sản, thủ tục phục hồi doanh nghiệp, thủ tục tuyên bố phá sản, thu hồi tài sản và
thanh toán theo một thứ tự nhất định cho các chủ nợ.
Pháp luật phá sản là một hệ thống mở, luôn xoay chuyển, vận động cho phù
hợp với các đặc điểm, yêu cầu của nền kinh tế ở mỗi quốc gia. Tương tự luật phá
sản của các nước trên thế giới, nội dung pháp luật phá sản Việt Nam tập trung ghi
nhận những vấn đề quan trọng như: đối tượng áp dụng pháp luật phá sản, lí do phá
sản, cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản, thủ tục giải quyết yêu cầu
phá sản.
- Đối tượng áp dụng của Luật Phá sản: Theo Điều 2 Luật phá sản năm 2014,
đối tượng áp dụng của Luật này là: “Doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”. Như vậy, Luật phá
sản năm 2014 chỉ áp dụng đối với: (i) doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp năm 2014; (ii) hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt
động theo Luật Hợp tác xã năm 2012.
- Lí do phá sản: Pháp luật phá sản Việt Nam xác định lý do dẫn đến phá sản
doanh nghiệp là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong
thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản: Theo Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân năm 2014 và Luật phá sản năm 2014, thẩm quyền giải quyết yêu cầu
phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc về Tòa án nhân dân địa phương dựa trên các


11
nguyên tắc: theo trụ sở chính, theo nơi đăng ký kinh doanh và theo tính chất phức
tạp của vụ việc.
- Thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản: Luật phá sản năm 2014 quy định thủ
tục phá sản gồm hai thủ tục chính là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và thủ
tục tuyên bố phá sản. Thanh lí tài sản được thực hiện sau khi có quyết định tuyên bố
doanh nghiệp phá sản chứ không còn là một thủ tục riêng biệt được tiến hành trước
khi ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản. Đối với doanh nghiệp mất khả
năng thanh toán nợ, không nhất thiết phải thực hiện lần lượt hai thủ tục này để được
phá sản.6
1.2.3. Vai trò của pháp luật phá sản doanh nghiệp
Pháp luật phá sản không chỉ là một chế định giải quyết việc thoát khỏi
thương trường của các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ mà nó còn mang
tinh thần nhân đạo khi buộc các bên liên quan tìm cách giúp đỡ doanh nghiệp mang
nợ và chỉ tuyên bố phá sản khi việc cứu giúp doanh nghiệp đó không đạt được kết
quả. Pháp luật phá sản đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt
Nam nói chung và trong nền kinh tế thị trường của nước ta nói riêng.
1.2.3.1. Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích của chủ nợ
Một doanh nghiệp khi khủng hoảng tài chính, phải đóng cửa sẽ khiến nhà
đầu tư có nguy cơ không thu hồi được nợ. Về lý luận cũng như thực tiễn, trong các
đối tượng có liên quan đến tình trạng phá sản của doanh nghiệp, chủ nợ là những
người có quyền lợi bị ảnh hưởng trực tiếp và có nguy cơ bị thiệt hại lớn nhất. Pháp
luật phá sản được xây dựng trước hết là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ nợ. Việc ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ trong pháp
luật phá sản đã góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, giúp các doanh nghiệp mạnh
dạn hơn khi tham gia vào thị trường kinh doanh.
Pháp luật phá sản của Việt Nam đã rất coi trọng việc bảo vệ quyền lợi cho
các chủ nợ, thể hiện qua các quy định pháp luật như quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản, quyền tham gia Hội nghị chủ nợ, quyền thông qua phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định sau
khi Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì doanh nghiệp con nợ phải tiến hành
mọi hoạt động kinh doanh dưới sự giám sát kiểm tra của Thẩm phán và quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, hay con nợ bị cấm, bị hạn chế một số
6

Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), tlđd chú thích 5, tr. 448- 450.


12
hoạt động nhất định. Những quy định này là để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp
mắc nợ, từ đó đảm bảo tài sản thanh toán nợ cho các chủ nợ. Với các thủ tục pháp
lý được quy định trong luật phá sản, quyền lợi của tất cả các chủ nợ sẽ được đặt lên
bàn cân, được xem xét một cách bình đẳng và công bằng nhất.
1.2.3.2. Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích của con nợ
Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích của con nợ thể hiện ở những quy
định như: ấn định thời điểm ngừng trả nợ và ngừng tính lãi đối với các khoản nợ;
tạo điều kiện để con nợ thượng lượng với chủ nợ nhằm xóa nợ, giảm nợ, mua nợ;
ngăn chặn những hành vi bất hợp pháp xâm hại quyền lợi của con nợ từ phía chủ
nợ; con nợ được tạo điều kiện áp dụng các biện pháp phục hồi hoạt động kinh
doanh; trường hợp con nợ không thể phục hồi, việc thanh lý tài sản được tiến hành
theo quy định nhằm chấm dứt quan hệ nợ nần với các chủ nợ, mà trong điều kiện áp
dụng thủ tục thông thường như đòi nợ, con nợ khó có thể được giải thoát.
Việc áp dụng Luật phá sản là một cơ hội để con nợ có thể được phục hồi,
hoặc xấu nhất là rút khỏi thương trường với mức thiệt hại nhỏ nhất. Bảo vệ quyền
và lợi ích của con nợ thể hiện tính nhân đạo, tính nhân văn của pháp luật phá sản.
1.2.3.3. Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của người lao động
Vấn đề về đời sống, công ăn việc làm của người lao động sau khi doanh
nghiệp phá sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bởi vậy, việc bảo vệ quyền lợi của
người lao động cần được đặc biệt quan tâm. Nếu doanh nghiệp thực hiện thành công
các biện pháp phục hồi thì sẽ không phải ngừng hoạt động vì vậy mà người lao
động cũng thoát khỏi tình trạng thất nghiệp. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp không trả
được lương cho người lao động, cũng không còn khả năng khôi phục hoạt động kinh
doanh thì pháp luật phá sản cũng quy định cho phép người lao động có quyền được nộp
đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp để đảm bảo quyền đòi nợ của
mình.
Pháp luật phá sản đã đưa ra các quy định nhằm bảo vệ lợi ích của người lao
động như: người lao động có quyền cử đại diện tham gia bảo vệ lợi ích của mình;
tiền lương và các khoản lợi ích chính đáng khác của người lao động được ưu tiên
thanh toán trước các khoản nợ khác; người lao động được tạo điều kiện thuận lợi để
tìm việc làm mới sau khi doanh nghiệp bị phá sản.
1.2.3.4. Pháp luật phá sản giúp đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Khi doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn tìm cách
thu hồi nợ càng nhiều càng tốt, nên dễ gây ra sự tuỳ tiện áp dụng các biện pháp, kể


13
cả những biện pháp bất hợp pháp giữa họ với nhau. Vì vậy mà sẽ dẫn đến sự mất
trật tự và không công bằng. Pháp luật phá sản quy định những nguyên tắc, căn cứ,
thủ tục để giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề nảy sinh khi doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản. Bằng việc giải quyết thỏa đáng lợi ích của các chủ thể
có liên quan, hạn chế những bất đồng, mâu thuẫn giữa họ, pháp luật phá sản góp
phần bảo vệ trật tự, kỷ cương trong nền kinh tế và toàn xã hội.
1.2.3.5.

Pháp luật phá sản giúp cơ cấu lại nền kinh tế

Việc tuyên bố phá sản các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ có tác dụng thiết thực
trong việc cảnh báo, răn đe các nhà đầu tư phải thận trọng trong việc lựa chọn
ngành nghề, hình thức, quy mô đầu tư cũng như tổ chức các hoạt động kinh doanh
của mình, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả. Thêm vào đó, pháp luật
phá sản là công cụ xoá bỏ các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tạo môi trường kinh
doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư hoạt động. Như vậy, pháp luật phá sản góp
phần cơ cấu lại nền kinh tế, tạo ra môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh - một yếu
tố không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.7
1.2.4. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật phá sản
doanh nghiệp
1.2.4.1. Pháp luật phá sản doanh nghiệp trước khi Luật phá sản doanh
nghiệp năm 1993 ra đời
Các chế định liên quan đến phá sản đã hiện hữu trong cổ luật Việt Nam, đặc
biệt là thời Lê (thế kỉ 15) và thời Nguyễn (thế kỉ 19). Tuy nhiên các chế định này
được quy định một cách rời rạc, lẻ tẻ, chưa tạo được một hệ thống hoàn chỉnh về
pháp luật phá sản. Pháp luật phá sản của Việt Nam chỉ thực sự được hình thành
dưới thời kì Pháp thuộc nhưng pháp luật phá sản lúc này áp dụng chủ yếu là ở miền
Nam và trên thực tế cũng rất ít được áp dụng. Thời đó, thuật ngữ “khánh tận” được
dùng thay nghĩa phá sản để chỉ tình trạng mất khả năng thanh toán của thương nhân.
Sau đó, các quy định về khánh tận, thanh toán tư pháp phá sản đã được ghi nhận
trong Bộ luật Thương mại Trung Phần năm 1942 và Bộ luật Thương mại miền Nam
Việt Nam năm 1973.
Sau năm 1975, trong khoảng 10 năm, thời kỳ Việt Nam thực hiện nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung, pháp luật phá sản không tồn tại trong hệ thống pháp luật
nước ta. Đến khi Đảng và Nhà nước ta bắt tay vào công cuộc đổi mới, xây dựng nền
7

Bùi Ngọc Cường (chủ biên, 2008), Giáo trình Luật thương mại (tập hai), NXB Giáo dục, Hà Nội ,tr. 121-122.


14
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, việc xây dựng hệ thống
pháp luật phá sản trở thành đòi hỏi khách quan và thiết yếu hơn bao giờ hết. Việc
quy định về “tình trạng phá sản” trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân
năm 1990 đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật phá sản Việt Nam.
1.2.4.2. Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993
Thời kỳ nước ta đổi mới cơ cấu kinh tế xã hội, chuyển từ nền kinh tế bao cấp
sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở ra những cơ hội phát triển mới,
nhiều doanh nghiệp được thành lập với sự cạnh tranh lẫn nhau. Cũng từ đây, quá
trình đào thải, chọn lọc tự nhiên được hình thành, những doanh nghiệp yếu kém,
hoạt động không hiệu quả buộc phải giải thể hoặc phá sản.
Trước tình hình này, Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 được ra đời. Đây
là văn bản pháp lý chính thức đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam điều chỉnh toàn bộ các quan hệ liên quan đến phá sản. Luật phá sản doanh
nghiệp năm 1993, bao gồm 6 chương, 52 điều, quy định chung về phá sản doanh
nghiệp. Trong thời kỳ này, pháp luật phá sản nước ta mang nhiều dấu ấn của nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, phản ảnh tư tưởng và chính sách cũ kỹ của nền kinh
tế trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới. Ngoài ra pháp luật phá sản giai đoạn
này được xây dựng chỉ đi sâu vào việc giải quyết tài sản của con nợ chứ không chú
trọng vào việc phục hồi doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản. Chính vì vậy
mà Luật phá sản doanh nghiệp 1993 có rất nhiều quy định thiếu tính khoa học, khó
áp dụng, xa rời thực tế. Mục đích đề ra ban đầu khi tiến hành xây dựng luật phá sản
không đạt được.
1.2.4.3. Luật phá sản năm 2004
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã bước đầu tạo được hành lang pháp
lý, giải quyết các vấn đề phá sản doanh nghiệp, bảo vệ trật tự kỷ cương trong lĩnh
vực kinh tế, tuy nhiên do trình độ, hiểu biết còn hạn chế nên luật phá sản giai đoạn
này còn nhiều bất cập. Luật phá sản năm 2004 với nhiều điểm tiến bộ đã được Quốc
hội thông qua ngày 15/06/2004 bao gồm 9 chương và 95 điều, thay thế Luật phá sản
doanh nghiệp năm 1993.
Luật phá sản năm 2004 đã khắc phục được nhiều vướng mắc, hạn chế của
Luật phá sản doanh nghiệp 1993 như: mở rộng đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, đơn giản hóa khái niệm tình trạng phá sản, thay đổi các quy
định về trình tự thủ tục tiến hành giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo hướng đa
dạng hóa, giảm bớt số lượng các cơ quan tham gia tiến hành thủ tục phá sản… Nhìn


15
chung, Luật phá sản năm 2004 đã có những thay đổi lớn, đóng góp nhiều cho sự
thay đổi theo hướng tích cực của pháp luật phá sản đồng thời khẳng định vai trò là
một công cụ pháp lý quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
1.2.4.4. Luật phá sản năm 2014
Sau gần 10 năm áp dụng, Luật phá sản năm 2004 đã bộc lộ những hạn chế
như: một số quy định của Luật phá sản năm 2004 mâu thuẫn với các văn bản quy
phạm pháp luật khác, chưa tương thích với pháp luật quốc tế; một số quy định
không còn phù hợp với thực tiễn thi hành; một số quy định không đảm bảo được lợi
ích của các chủ thể tham gia vào thủ tục phá sản… Vì vậy, yêu cầu đặt ra lúc này là
cần ban hành một văn bản luật mới khắc phục được những điểm hạn chế của Luật
phá sản năm 2004. Ngày 19 tháng 06 năm 2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc Hội khóa
XIII đã chính thức thông qua Luật phá sản năm 2014.
Luật phá sản năm 2014 bao gồm 14 chương, 133 điều cho thấy bước tiến
đáng kể của Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về phá sản. Luật phá sản năm
2014 đi theo hướng mở rộng hơn các đối tượng có quyền nộp đơn xin yêu cầu tuyên
bố phá sản, mở rộng thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân cấp huyện,
bổ sung thêm nhiều quy định mới (quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản; thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng; phương án thương lượng giữa các bên
trước khi Tòa thụ lý đơn yêu cầu của chủ nợ…). Dù chỉ mới được áp dụng trong
thời gian ngắn tuy nhiên với những thay đổi này, Luật phá sản năm 2014 chắc chắn
sẽ tạo nên sự phát triển ngày một hoàn thiện hơn của pháp luật phá sản Việt Nam.
Tiểu kết Chƣơng 1
Trải qua quá trình dài phát triển, pháp luật phá sản của Việt Nam đã thay đổi
không ngừng và ngày một hoàn thiện. Để tiến hành nghiên cứu sâu hơn về những
thay đổi trong nội dung của pháp luật phá sản, bước đầu tiên là cần làm rõ những
vấn đề lý luận nền tảng của pháp luật phá sản.
Trong chương này, tác giả đã hệ thống hóa và cung cấp một cách tương đối
đầy đủ các vấn đề lý luận cơ bản về phá sản và pháp luật phá sản. Từ việc hiểu rõ
các khái niệm, nội dung và vai trò của pháp luật phá sản sẽ đặt nền móng cho việc
phân tích và làm rõ những ưu nhược điểm trong nội dung của pháp luật phá sản và
đánh giá đúng thực tiễn áp dụng pháp luật phá sản Việt Nam ở chương tiếp theo.


16
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Đối tượng áp dụng
Đây là một vấn đề quan trọng mà các quốc gia đều phải quan tâm đầu tiên
trong việc xây dựng pháp luật phá sản bởi vấn đề này sẽ xác định những chủ thể
nào trong xã hội có thể bị Tòa án áp dụng thủ tục phá sản. Hiện nay, vấn đề này
đang có sự khác nhau trong quy định của các quốc gia. Ở các nước tiên tiến, cơ sở
vật chất và trình độ pháp lý cao nên việc quy định đối tượng áp dụng được mở
rộng. Ngược lại với những nước kém phát triển, kiến thức pháp luật cũng như cơ
sở vật chất còn hạn chế, chưa đáp ứng được hết nhu cầu giải quyết phá sản thì đối
tượng áp dụng sẽ thu hẹp hơn.
Theo Luật phá sản của các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức,
Thuỵ Điển, Nhật Bản… thì phạm vi áp dụng thủ tục phá sản được mở rộng không
chỉ cho các thương nhân là pháp nhân, cá nhân kinh doanh mà còn cho cả cá nhân là
người tiêu dùng. Tuy nhiên thủ tục tiến hành tuyên bố phá sản đối với các doanh
nghiệp có những điểm khác biệt so với thủ tục giải quyết đối với cá nhân tiêu dùng.
Khác với quan điểm của các quốc gia phát triển kể trên, Luật phá sản năm
2014 của Việt Nam vẫn giữ nguyên quan điểm cũ, tức là chỉ áp dụng luật phá sản
đối với doanh nghiệp và hợp tác xã mà không tính đến các chủ thể kinh doanh
khác như cá nhân, hộ gia đình có đăng kí kinh doanh… Luật phá sản năm 2014
không mở rộng đối tượng áp dụng của luật phá sản vì các lý do: (i) Các đối tượng
là cá nhân, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác... không phải là các đối tượng phải
đăng ký vốn, không thực hiệt tốt chế độ kế toán, gây khó khăn khi thanh lý tài sản;
(ii) Đối với các trường đại học, các trường học ở các cấp khác theo luật giáo dục
thì việc đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể đối với các đối tượng này
do Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, vì khi giải quyết vấn đề
đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể đối với các đối tượng này còn
liên quan đến chính sách đối với học sinh, sinh viên; (iii) Đối với xí nghiệp hiện
nay tồn tại không nhiều và được quy định tại các văn bản dưới luật, trong thời
gian tới cần chuyển đổi mô hình xí nghiệp sang mô hình doanh nghiệp để thống


17
nhất quản lý.8 Với cách tiếp cận như vậy, Luật phá sản năm 2014 vẫn quay về với
các đối tượng áp dụng truyền thống, tức là các doanh nghiệp và hợp tác xã, tương
tự như Luật phá sản năm 2004.
Tuy nhiên, liệu việc thu hẹp đối tượng áp dụng của luật phá sản chỉ đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) có thực sự phù
hợp? Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế, nền kinh tế nước ta đang
ngày một phát triển vì vậy việc thu hẹp đối tượng áp dụng như kể trên chắc chắn
sẽ tạo nên một lỗ hổng pháp lý lớn đối với pháp luật phá sản. Trước mắt có thể do
trình độ pháp lý cũng như cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu nhưng trong
tương lai không xa, việc mở rộng đối tượng áp dụng của luật phá sản như các quốc
gia tiên tiến trên thế giới là điều cần phải thực hiện.
2.1.2. Lý do doanh nghiệp phá sản
Lý do duy nhất để xác định một doanh nghiệp phá sản là dựa trên việc
doanh nghiệp đó có mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn hay không. Mất
khả năng thanh toán là biểu hiện trực tiếp của việc mất cân đối trong thu và chi
của doanh nghiệp.
Luật phá sản năm 2014 tại khoản 1 Điều 4 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. Theo
đó, Luật phá sản năm 2014 không còn dùng khái niệm mang tính chất định tính là
“lâm vào tình trạng phá sản” của Luật phá sản năm 2004 mà thay vào đó là dùng
khái niệm mang tính chất định lượng là “mất khả năng thanh toán”. Có thể thấy,
doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Việc các nhà làm
luật điều chỉnh như trên đã làm cho khả năng mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp đến sớm hơn, các giải pháp phục hồi hoặc cho doanh nghiệp phá sản được
tiến hành sớm hơn, trong khi doanh nghiệp chưa đến mức kiệt quệ, bảo vệ có hiệu
quả quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mắc nợ và các chủ nợ, ngăn chặn
hiện tượng phá sản dây chuyền. Bên cạnh đó, quy định hiện hành vẫn dành một
khoảng thời gian 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn để doanh nghiệp tự giải
quyết những khó khăn về tài chính tạm thời, qua đó tạo thêm cơ hội để doanh
nghiệp thanh toán nợ và giảm áp lực nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía
8

Tờ trình Quốc hội về dự án Luật Phá sản (sửa đổi), Số 10/TTr-TANDTC, Tòa án nhân dân tối cao, ngày
25/10/2013.


18
chủ nợ. Quy định này thể hiện sự tiếp thu tích cực và phù hợp với kinh nghiệm lập
pháp của một số nước trên thế giới.9
Như vậy, có thể hiểu doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là tình trạng của
doanh nghiệp bị mất cân đối trong cán cân thu chi, doanh nghiệp không thực hiện
hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc ngừng các hoạt động thanh toán
đối với khoản nợ đến hạn trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật
kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có những đặc điểm cơ bản sau:
- Về khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không thanh toán được, đó là bất kỳ
khoản nợ nào: nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội, khoản nợ phát sinh từ hợp
đồng...
- Về cơ bản, mất khả năng thanh toán được hiểu theo nghĩa hẹp nhất là việc
doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán cho các khoản nợ đến hạn; tài sản của
doanh nghiệp không đủ để thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, khái niệm này hiểu theo
nghĩa rộng không chỉ là doanh nghiệp không còn tài sản để trả nợ mà cần phải được
hiểu theo góc độ khác: mặc dù doanh nghiệp còn tài sản để trả nợ nhưng đã không
thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho chủ nợ; doanh nghiệp còn tài sản nhưng
ngừng thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho các chủ nợ đối với các khoản nợ đến hạn.
- Khoản nợ được coi là mất khả năng thanh toán là khoản nợ mà doanh
nghiệp tạo ra từ hoạt động kinh doanh hợp pháp của mình.
Với định nghĩa rõ ràng và cụ thể của quy định về tình trạng mất khả năng
thanh toán như trên, Luật phá sản năm 2014 đã chứng tỏ được những thay đổi theo
hướng tích cực của mình, phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của thế giới. Ngoài ra,
với định nghĩa này, quyền lợi của chủ nợ sẽ được đảm bảo tối đa bởi để mở yêu cầu
mở thủ tục phá sản, chủ nợ không cần phải chứng minh đã có yêu cầu thanh toán
(văn bản đòi nợ, văn bản khất nợ...), chỉ cần xác định là có khoản nợ và đến thời
điểm Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp vẫn không thanh toán
là có thể mở thủ tục phá sản.
2.1.3. Chủ thể có quyền và nghĩa vụ yêu cầu mở thủ tục phá sản
Việc giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ được thực hiện trên cơ
sở có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gửi đến Tòa án có thẩm quyền của các chủ
9

Trần Thị Thu Hà, Đỗ Trung Hiếu (2017), Một số vấn đề về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản, Tạp chí dân chủ và pháp luật tại địa chỉ http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/
phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=179, ngày truy cập 13/06/2017.


19
thể theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 5 của Luật phá sản năm
2014, các chủ thể sau đây có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục
phá sản:
2.1.3.1. Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Chủ nợ
Xét về bản chất, cơ chế phá sản trước tiên nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ
nợ. Vì vậy Luật phá sản của hầu hết các nước đều coi chủ nợ là chủ thể số một có
quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ.
Luật phá sản năm 2014 quy định chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ
nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm:
(i) Chủ nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh
nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của
doanh nghiệp hoặc của người thứ ba (Khoản 5 Điều 4);
(ii) Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu
cầu doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng
tài sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn
khoản nợ đó (Khoản 6 Điều 4);
(iii) Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu
doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba (Khoản 4 Điều 4).
Trong các chủ nợ này, Luật phá sản chỉ quy định cho chủ nợ không có bảo
đảm hoặc có bảo đảm một phần được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
đối với doanh nghiệp khi nhận thấy doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản.
Các chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn xin mở thủ tục phá sản
vì khoản nợ của họ đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp liên quan hay
bảo lãnh của bên thứ ba.

Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở
ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở. Các chủ thể này có quyền nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện
nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh
nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở
lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục


20
phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông
sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có
quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh
toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định.

Thành viên Hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác
xã, thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán
2.1.3.2. Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ
phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ
sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng
thanh toán.
Sự hạn chế thành phần chủ thể có quyền hoặc nghĩa vụ yêu cầu giải quyết
phá sản là một trong những nguyên nhân làm giảm tính hiệu quả của Luật phá sản
năm 2004. Do vậy, Luật phá sản năm 2014 đã mở rộng đối tượng được phép yêu
cầu mở thủ tục phá sản với sáu nhóm chủ thể kể trên trong đó có các đối tượng mới
như công đoàn, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã..., tạo
điều kiện hết sức để thủ tục phá sản có thể được mở một cách nhanh gọn và việc xử
lý vấn đề phá sản của doanh nghiệp không gặp khó khăn.10
2.1.4. Thẩm quyền thụ lý và giải quyết yêu cầu phá sản
Theo thông lệ quốc tế, việc trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho Tòa án
cấp huyện hay Tòa án cấp tỉnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu là dựa
trên khả năng, năng lực của Tòa án có thể giải quyết tốt yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Các nước quy định khác nhau về vấn đề này. Một số nước như Cộng hòa Liên bang
Đức có Tòa Phá sản riêng, còn ở Cộng hòa Pháp thì trong trường hợp con nợ là
thương nhân thì thuộc thẩm quyền của Tòa Thương mại, các đối tượng khác thuộc
thẩm quyền của Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng…
Ở Việt Nam, thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp là Tòa án.
Theo Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố
10

Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo duc pháp luật trung ương (2014), “Pháp luật phá sản tại Việt Nam một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đặc san tuyên truyền pháp luật, số 9/2014, tr. 40.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×