Tải bản đầy đủ

Pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TẠ THỊ VÂN ANH

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TẠ THỊ VÂN ANH


PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Đất đai
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thu Thủy

HÀ NỘI – NĂM 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Phạm Thu
Thủy, giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi
nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo,
Khoa Sau Đại học, các thầy cô trong tổ Bộ môn Luật đất đai, khoa Pháp luật Kinh
tế, trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến
thức quý báu trong suốt quãng thời gian học tập sau đại học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã tạo điều kiện thuận
lợi và ủng hộ tôi hoàn thành luận văn này.
Do kiến thức của bản thân và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên luận
văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng
góp quý báu của các thầy, các cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn./.
Hà Nội, ngày 08 tháng 8 năm 2017
Học viên

Tạ Thị Vân Anh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi,
có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ Giảng viên hướng dẫn là TS. Phạm Thu Thủy.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn
đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.


Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2017
Tác giả Luận văn
Tạ Thị Vân Anh


BÀNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ Luật Dân sự
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

:
:

BLDS
GCNQSDĐ

Hội đồng nhân dân
Trung ương
Ủy ban nhân dân

:
:
:

HĐND

UBND


MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

6

1.1.

6

Lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại đất nông nghiệp

6

1.1.2. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

9

1.1.3. Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

11

1.1.4. Quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

12

1.2.

13

Pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1.2.1. Khái niệm pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1.2.2. Cơ sở xác lập quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở
Việt Nam
1.2.3. Nội dung pháp luật điều chỉnh về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ
gia đình, cá nhân
1.3. Quá trình phát triển của pháp luật đất đai về quyền sử dụng đất nông nghiệp
của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam
1.3.1. Thời kỳ từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975

13
15
19
20
20

1.3.2. Thời kỳ từ năm 1975 – năm 1992
1.3.3. Thời kỳ từ năm 1993 – năm 2003
1.3.3. Thời kỳ từ năm 2003 – hiện nay

22
23
24

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

26

2.1.
2.2.

Quy định của pháp luật đất đai về quyền được giao đất, cho thuê đất nông
nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân
Quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, hạn mức giao
đất, cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân

26
28

2.2.1. Thời hạn sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

28

2.2.2. Hạn mức giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân

30

2.3.

Quy định của pháp luật đất đai về quyền được cấp GCNQSDĐ nông
nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân

36


2.4.

Quy định của pháp luật đất đai về quyền chuyển quyền sử dụng đất nông
nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

39

2.4.1. Quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

40

2.4.2. Quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

43

2.4.3. Quyền tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

44

2.4.4. Quyền thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

45

2.4.5. Quyền được góp vốn quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

45

2.5.

Quyền thực hiện các hoạt động khác liên quan đến đất nông nghiệp của hộ
gia đình, cá nhân

46

2.5.1. Quyền cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

46

2.5.2. Quyền chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

47

2.5.3. Quyền thế chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

48

2.6.

Quy định của pháp luật đất đai về nghĩa vụ tài chính đối với việc sử dụng
đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

2.6.1. Tiền sử dụng đất là tiền thuê đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
2.6.2. Thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất
nông nghiệp
2.6.3 Các nghĩa vụ tài chính khác của hộ gia đình, cá nhân khi sử dụng đất nông nghiệp
2.7.

49
49
51
55

Quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

58

2.7.1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp

59

2.7.2. Quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đối với hộ
gia đình, cá nhân

60

2.7.3. Quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đối với hộ gia
đình, cá nhân

62


CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
3.1.

Tình hình thực hiện quy định pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp

của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam hiện nay

66

66

3.1.1. Những kết quả đạt được

66

3.1.2. Những điểm hạn chế

71

3.2. Hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về
quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
3.2.1. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
3.2.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý đất nông nghiệp ở
Việt Nam
KẾT LUẬN

81
81
86
92


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thực tế đã chứng minh đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với đời sống
con người. Đất đai là địa bàn sống mà thiếu nó ta không thể tồn tại và phát triển sự sống. Nó
là tài sản đặc biệt của quốc gia, là nguồn nội lực quan trọng và nguồn vốn to lớn của đất
nước. Đất còn được coi là tài sản và có thể được định giá trên thị trường, được trao đổi, được
thừa kế hoặc tặng cho, thế chấp… Đất đai là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển kinh
tế nhất là đối với ngành nông nghiệp, là tư liệu sản xuất chủ yếu, có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng quyết định tính đa dạng, quy mô và hiệu quả của sản phẩm nông nghiệp.
Ở nước ta, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế then chốt và ảnh hưởng lớn đến khu
vực kinh tế nông thôn. Lịch sử phát triển của dân tộc ta từ xưa đến nay cho thấy sự phát
triển hưng thịnh của đất nước nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng một phần
rất lớn phụ thuộc vào chính sách ruộng đất của Nhà nước. Ý thức được tầm quan trọng
đặc biệt của đất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến việc đề ra những
chủ trương, chính sách đối với đất nông nghiệp để phù hợp với từng giai đoạn phát triển
và thu được nhiều thành quả. Trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, chính sách và pháp luật đất đai liên quan đến đất nông
nghiệp luôn được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để giải quyết những vấn đề phát sinh trong
quan hệ sử dụng đất trên thực tiễn nhằm khai thác và sử dụng hợp lý đất nông nghiệp,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp với tư liệu sản xuất không thể
thiếu là đất nông nghiệp khiến việc xây dựng chế định pháp lý về đất nông nghiệp được
quan tâm đặc biệt thì thực trạng sử dụng đất nông nghiệp hiện nay cũng đang tồn tại
nhiều bất cập, đòi hỏi sự quan tâm đến việc sử dụng sao cho hiệu quả loại đất này. Hiện
nay, đất nông nghiệp ngày càng suy giảm nhanh chóng do phải thu hồi nhiều diện tích đất
phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ sản xuất công nghiệp, xây dựng đô thị hay vì
nhiều mục đích khác nhau. Mặt khác nhiều năm gần đây hiện tượng biến đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trường, các thảm hoạ thiên tai luôn đe doạ đến diện tích đất đai và ảnh hưởng
nghiêm trọng đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia. Vì vậy, vấn đề sử dụng có hiệu
quả đất nông nghiệp là rất cấp bách và cần thiết.
Hộ gia đình, cá nhân là chủ thể sử dụng đất cơ bản, chiếm số lượng lớn trong các
chủ thể tham gia các quan hệ liên quan đến đất nông nghiệp, đồng thời hiện đang chiếm
giữ, khai thác và sử dụng diện tích lớn đất nông nghiệp. Để đảm bảo nguồn tài nguyên
đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng được khai thác, sử dụng hợp lý, pháp luật
đã quan tâm xây dựng quy định về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá
nhân. Thực tế chính sách pháp luật về đất nông nghiệp trong thời gian qua đã đạt được
những thành tựu không nhỏ: Đất nông nghiệp đã được Nhà nước giao, cho thuê tới các


2

chủ thểsử dụng, quản lý tiết kiệm, hiệu quả; Quyền của người sử dụng đất được mở rộng
tạo tâm lý yên tâm sản xuất, sử dụng đất thêm hiệu quả; Đảm bảo được công bằng, ổn
định cơ bản tình hình chính trị, kinh tế, xã hội… Bên cạnh những điểm tiến bộ vẫn còn
tồn tại không ít những hạn chế trong quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất nông
nghiệp của hộ gia đình cá nhân, trong việc quy định về hạn mức giao đất, thời hạn sử
dụng đất; thu hồi và hỗ trợ bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp…cùng nhiều
vấn đề có liên quan khác. Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp cần phải có
những điều chỉnh sao cho phù hợp với yêu cầu của tình hình thực tế, khắc phục những
hạn chế để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh việc sử dụng đất
còn tồn tại nhiều bất cập như hiện nay.
Xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của đất nông nghiệp trong mọi mặt của
đời sống xã hội, tác động tới nhiều chủ thể khác nhau trong đó có hộ gia đình, cá nhân; từ
thực tế sử dụng đất còn nhiều bất cập cũng như quy định của pháp luật điều chỉnh còn tồn
tại những kẽ hở, tác giả luận văn xin lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quyền sử dụng đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân”. Với đề tài này, luận văn mong muốn góp phần
phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của
chủ thể cụ thể là hộ gia đình, cá nhân. Từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện, khắc
phục những hạn chế, phát huy những điểm tích cực trong quy định pháp luật về quyền sử
dụng đất nông nghiệp. Trên cơ sở đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
trong bối cảnh tình hình sử dụng đất còn tồn tại nhiều bất cập như hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vai trò quan trọng của đất nông nghiệp mà những vấn đề pháp lý liên
quan đến loại đất này đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến những
cuốn sách chuyên khảo đã được xuất bản nghiên cứu về chính sách đất nông nghiệp như:
“Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay” – PGS.TS. Trần Thị Minh Châu chủ
biên (Nxb. Chính trị Quốc gia, năm 2007); cuốn“Chính sách đất đai nông nghiệp ở Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới: Thực trạng và những vấn đề đặt ra” – Ths. Nguyễn Mạnh
Tuân (Khoa Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2003-2004); Trung tâm nghiên cứu
nông nghiệp quốc tế của Australia có dự án về “Phát triển nông nghiệp và chính sách đất
đai ở Việt Nam”, Shally P.Marsh, T.Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng biên tập, năm 2007.
Về các đề tài luận văn, luận án nghiên cứu liên quan đến các chế định của pháp luật
đất nông nghiệp có thể kể đến: Luận án tiến sĩ luật học của thầy Nguyễn Quang Tuyến
(năm 2003): “Địa vị pháp lý người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự, thương mại về
đất đai” nghiên cứu về các quy định của pháp luật, địa vị của người sử dụng đất nói chung;
Luận án tiến sĩ Luật học của cô Phạm Thu Thủy (năm 2014): “Pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp” nghiên cứu các chế định pháp lý liên quan đến vấn đề
thu hồi đất nông nghiệp trong sự so sánh giữa Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm


3

2013 sắp có hiệu lực… Luận văn thạc sĩ: “Chế định pháp luật về quyền sử dụng đất nông
nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Thái Anh Hùng
(Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 1998) mặc dù ; “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại Nghệ An”,
Hoàng Thị Thu Trang (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012)… Nhìn chung các đề tài
nghiên cứu thường đi sâu vào vấn đề cụ thể có liên quan đến chế định pháp lý về đất nông
nghiệp, ít nghiên cứu theo cách tiếp cận từ quyền của chủ thể cụ thể sử dụng đất.
Bên cạnh đó, trong những năm qua cũng có nhiều bài nghiên cứu, bài báo về vấn
đề đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp. Có thể kể đến: “Chính sách đất
nông nghiệp ở Việt Nam” – Trần Thị Minh Châu (Tạp chí Cộng sản, TƯ Đảng cộng sản
Việt Nam, số 824 – 06/2011); “Hoàn thiện quy định của Luật đất đai năm 2003 về thời
hạn sử dụng đất nông nghiệp” – Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Ngọc Minh (Tạp chí
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 09/2012); “Pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp” – Lê Ngọc Thạnh (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư Pháp,
Số 04/2013); “Về hạn mức đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân theo dự thảo
Luật đất đai sửa đổi” – Nguyễn Thị Kiều Oanh (Tạp chí Khoa học pháp lý, trường Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Đặc san 01/2013)…
Mặc dù có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về đất nông nghiệp nói chung
cũng như những vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến loại đất này tuy nhiên lại chưa có công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề pháp lý đất nông nghiệp dưới góc độ quyền
của chủ thể sử dụng đất, mà cụ thể là hộ gia đình, cá nhân. Các công trình nghiên cứu về
các chế định pháp luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp nêu trên là nguồn tài liệu quý
giá để tác giả tham khảo, kế thừa trong công trình nghiên cứu của mình. Xuất phát từ tình
hình nghiên cứu kể trên có thể thấy đề tài tìm hiểu quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ
gia đình, cá nhân đảm bảo được tính mới khi tiếp cận vấn đề dưới góc độ chủ thể, từ đó
làm rõ các vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của chủ thể sử dụng đất nông nghiệp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định liên quan đến
chế độ pháp lý về quyền sử dụng đất nông nghiệp của nhóm chủ thể hộ gia đình, cá nhân.
Các nội dung chủ yếu được khai thác phân tích đánh giá như: quy định của pháp luật về
giao đất, cho thuê đất nông nghiệp; về cấp GCNQSDĐ nông nghiệp cho hộ gia đình cá
nhân; quy định về quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho, chuyển đổi, thừa kế, góp
vốn… quyền sử dụng đất, các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, cũng như vấn đề
thu hồi đất nông nghiệp khi tham gia quan hệ sử dụng đất.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp lý về
quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên cơ sở các quy định của pháp
luật đất đai hiện hành và có sự đối chiếu so sánh với pháp luật đất đai qua các thời kỳ.
Trong đó đi sâu phân tích, đánh giá và đưa ra những giải pháp liên quan đến quyền sử dụng


4

đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên các phương diện: quyền năng chủ thể (quyền
chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế…), các quy định pháp luật về giao đất, cho
thuê đất nông nghiệp, hoạt động cấp GCNQSDĐ, việc bảo đảm quyền lợi cho hộ gia đình
cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp...được quy định tại Luật Đất đai năm 2013
và các văn bản hướng dẫn thi hành. Từ đó đề cập đến thực trạng các quy định pháp luật từ
khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực đến nay, đồng thời đề xuất những giải pháp, kiến nghị
nhằm phát huy hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật vào thực tiễn.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Đề tài hướng đến việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá những quy định của pháp
luật liên quan đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân:
Thứ nhất, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đất nông nghiệp, quyền sử dụng đất, quyền
sử dụng nông nghiệp nói chung và quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá
nhân nói riêng.
Thứ hai, nghiên cứu một cách hệ thống các quy định của pháp luật về quyền sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trong các văn bản pháp luật đất đai và các
luật khác. Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật đất đai liên quan đến quyền sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân xuyên suốt trong tiến trình phát triển để
chỉ ra những điểm tích cực tiến bộ, rút ra những hạn chế.
Thứ ba, qua việc phân tích đánh giá các quy định của pháp luật đất đai, luận văn
đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật, đồng thời đưa ra những giải pháp, hướng hoàn thiện
những hạn chế còn tồn tại trong quy định của pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.
5. Phương pháp nghiên cứu luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên
cứu:Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin;Phương pháp luận giải, phương pháp phân tích, phương pháp lịch
sử…được sử dụng trong Chương I khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận và
khái quát chung về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân;Phương pháp
phân tích dữ liệu, phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu…được sử dụng
trong Chương II khi nghiên cứu quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá
nhân;Phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp… được sử
dụng trong chương III khi đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp
luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và tăng cường cơ chế
quản lý thực thi của cơ quan Nhà nước.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Luận
văn là sự đóng góp mới mẻ vào hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học những vấn


5

đề pháp lý về quyền sử dụng đất nông nghiệp, làm rõ hệ thống lý luận, những vấn đề
pháp lý cơ bản về đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá
nhân. Từ đó có những nhận thức mới để sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp trong hoạt
động khai thác, nhất là trong điều kiện hội nhập hiện nay. Trên thực tế, bằng những đánh
giá, kiến nghị, luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo để xây dựng, triển khai những kế
hoạch tăng cường hiệu quả thực thi các quy định pháp luật trên thực tế.Qua phân tích
thực trạng của vấn đề pháp lý và thực tiễn trong việc sử dụng đất nông nghiệp tạo cơ sở
xây dựng chính sách pháp luật, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đồng
thời nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác sử dụng đất nông nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng các từ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp và pháp luật về
quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.
Chương 2: Quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.


6

CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
1.1. Lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại đất nông nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm đất nông nghiệp
Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người,
là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh
tế, xã hội. Dù đóng vai trò nền tảng cơ bản hay bổ trợ thì mọi ngành kinh tế cũng như
hoạt động sống của con người đều phụ thuộc vào đất đai. Có rất nhiều định nghĩa về đất
đã được thừa nhận trong hệ thống tri thức chung của loài người. Theo Từ điển Oxford
Advanced Learner’s Dictionary có định nghĩa: Đất (land) “là phần rắn khô của bề mặt
trái đất, đối lập với nước”1. Từ điển Webster’s New World Dictionary định nghĩa đất
(land): “(1) phần rắn của bề mặt trái đất không bị bao phủ bởi nước; (2) phần cụ thể của
bề mặt trái đất; (3) đất, nước, vùng…cư dân của vùng, người của một quốc gia; (4) mặt
đất hoặc phần rắn xét ở khía cạnh tính chất, địa điểm tọa lạc; (5) đất xem xét dưới góc
độ tài sản…”2. Ở Việt Nam, khái niệm đất được ghi nhận trong Từ điển Bách khoa Việt
Nam I , theo đó: “đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ trái đất, tương đối tơi xốp do các loại
đá phong hóa ra, độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được. Đất được hình thành do tác
dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ. Đất có độ phì nhiêu ít hay
nhiều và bao gồm các thành phần chất rắn, chất lỏng (dung dịch đất), chất khí và sinh
vật (động, thực vật, vi sinh vật) […]. Trong nông, lâm nghiệp, đất được phân hạng thành
các loại theo khả năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ đất: đất rừng, đất trồng cây hàng năm,
cây lâu năm, đất chăn thả, đất thổ cư, đất chuyên dùng (giao thông, xây dựng, thủy lợi,
du lịch…)”3. Mỗi ngành khoa học lạicó cách tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa về
đất đai. Đối với ngành khoa học nghiên cứu thổ nhưỡng, đất đai được tiếp cận với tư cách
là đối tượng nghiên cứu nhằm làm rõ quá trình hình thành, quy luật phân bố các loại đất
trên địa cầu cùng những đặc tính khác nhau của các loại đất.Đối với ngành luật, đất đai là
đối tượng được tiếp cận trên cơ sở nghiên cứu vàquy định những quyền và nghĩa vụ quản
lý, sử dụng đất của các chủ thể.
Đất nông nghiệplà một trong những loại đất khá phổ biến và thích hợp cho một số
ngành kinh tế đặc thù, cụ thể là ngành nông nghiệp. Theo Từ điển Oxford English
Dictionarythì “đất nông nghiệp” (Agricultural land) được hiểu là: “một loại đất dành
1

Oxford University Press (2015), Oxford Advanced Leaner’s Dictionary, Nxb Oxford University Press, tr. 661.
Michael E. Agnes (1996), Webster’s New World Dictionary, Nxb Macmillan, tr. 756.
3
Hội đồng biên soạn từ điển quốc gia Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam I, Nxb Trung tâm biên
soạn từ điển quốc gia Việt Nam, Hà Nội.
2


7

cho ngành sản xuất nông nghiệp, sử dụng có hệ thống và kiểm soát các hoạt động sản
xuất nông nghiệp, đặc biệt là chăn nuôi gia súc và sản xuất cây trồng. Nó thường đồng
nghĩa với đất canh tác hoặc đất trồng trọt…”4. Còn theo quan niệm truyền thống của
người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, cây hoa màu
(ngô, khoai, sắn…) và những loại cây được coi là lương thực. Tuy nhiên trên thực tế, việc
sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa
màu mà còn dùng vào những mục đích khác5.Như vậy, thuật ngữ đất nông nghiệp có thể
hiểu là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm
nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng.
Tiếp cận dưới phương diện pháp luật, pháp luật đất đai nước ta qua các thời kỳ
cũngcó những định nghĩa về đất nông nghiệp. Theo quy định tại Điều 42 Luật Đất đai
năm 1993 đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông
nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp.Việc xác định đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật căn cứ vào tiêu
chí mục đích sử dụng chủ yếu.Điều 2 Nghị định số 64/CP năm 1993 quy định: “Đất nông
nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân vào mục đích sản xuất nông nghiệp bao gồm đất
nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất có mặt nước
nuôi trồng thủy sản...”. Có thể thấy khái niệm này không bao quát hết các loại đất sử
dụng vào mục đích nông nghiệp. Chính vì vậy Luật Đất đai năm 2003 ra đời hay sau đó
là Luật đất đai năm 2013 đã mở rộng nội hàm khái niệm đất nông nghiệp, phân loại đất
thành ba nhóm căn cứ vào mục đích sử dụng đất.
1.1.1.2. Đặc điểm đất nông nghiệp
Thứ nhất, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu.Tính chất là
một loại tư liệu sản xuất đặc biệt thể hiện ở chỗ đây là tư liệu sản xuất không thể thay thế
được của một số ngành nông – lâm nghiệp, là cơ sở tự nhiên và tiền đềcho mọi quá trình
sản xuất. Đất nông nghiệp vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động. Trong một
số trường hợp đất là đối tượng lao động mà con người phải sử dụng tư liệu lao động để
tác động tạo ra sản phẩm. Chính sự kết hợp của đối tượng lao động là tư liệu lao động
làm cho đất nông nghiệp trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt. Đất nông nghiệp cũng mang
đặc điểm của đất đai nói chung là tư liệu sản xuất chủ yếu, cơ bản nhất bởi xây dựng và
phát triển hoạt động sản xuất nào cũng phải dựa trên nền tảng là đất.
Thứ hai, đất nông nghiệp có vị trí cố định, không thể di chuyển. Đất đai nói
chung và đất nông nghiệp nói riêng là tài nguyên thiên nhiên có vị trí cố định. Trong khi
các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển linh hoạt dựa trên nhu cầu sản xuất thì loại tư
liệu đặc biệt này thì không. Chính bởi vị trí cố định của nó nên tính chất của đất nông
nghiệp gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng, gắn với sự chi phối
4
5

Oxford University Press (2012), The Oxford English Dictionary, Nxb. Oxford University.
Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, tr.331.


8

đặc thù của khí hậu, địa hình, độ màu…của từng vùng mà từ đó có những điều kiện để
phát triển riêng từng loại cây trồng, vật nuôi. Có thể nói tính chất của từng loại đất nông nghiệp
quyết định đến địnhhướng phát triển loại sản phẩm nông nghiệp riêng của từng khu vực.
Thứ ba, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của sức
lao động con người. Đất nông nghiệp vốn là sản phẩm của tự nhiên, nó xuất hiện và tồn
tại ngoài ý muốn của con người. Đất nông nghiệp được hình thành do những quá trình
biến đổi của tự nhiên và do con người tiến hành khai phá, đưa vào sử dụng. Tuy nhiên
qua một quá trình lịch sử lâu dài, sự lao động của con người qua nhiều thế hệ đã được kết
tinh vào đất nông nghiệp. Do đó, ngày nay đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên,
vừa là sản phẩm của lao động.
Thứ tư, đất nông nghiệp có chất lượng không đồng đều. Đất nông nghiệp không
đồng nhất về chất lượng do sự khác nhau giữa các yếu tố dinh dưỡng là kết quảcủa quá
trình hình thành đất và quá trình canh tác của con người. Chính vì vậy, phụ thuộc vào đặc
tính vốn có của đất mà con người có thể cải tạo để định hướng phát triển một số loại cây
trồng, vật nuôi phù hợp với từng loại đất nhằm đạt hiệu quả kinh tế. Chính bởi tính chất
không đồng đều về chất lượng đất nông nghiệp khác nhau mà hình thành những vùng
nông nghiệp chuyên canh khác nhau.
1.1.1.3. Phân loại đất nông nghiệp
Theo quan niệm ở Việt Nam, đất nông nghiệp được chia thành các loại như: 1)
Đất sản xuất nông nghiệp: sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, gồm đất trồng
cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm. 2) Đất lâm nghiệp: đất có rừng tự nhiên hoặc
rừng trồng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới. Theo loại rừng lâm
nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. 3) Đất nuôi
trồng thuỷ sản: sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thủy sản, gồm đất nuôi trồng
nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt. 4) Đất làm muối: đất các ruộng để sử
dụng sản xuất muối. 5)Đất nông nghiệp khác: đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà
kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức
trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm…, đất
để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, xây dựng cơ sở ươm tạo cây
giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản,
công cụ sản xuất nông nghiệp...6
Tiếp cận việc phân loại đất có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các quy
phạm pháp luật về chế độ pháp lý đối với từng loại đất. Trước Luật Đất đai năm 1987,
các văn bản pháp luật quy định chế độ pháp lý ở nước ta chia đất đai thành 4 loại: đất
nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất chuyên dùng và đất khác. Căn cứ vào mục đích sử dụng
của các loại đất, Luật Đất đai năm 1987 quy định đất đai được phân thành 5 loại: đất
6

Tổng cục thống kê (2011), Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn – Thông tin
chi tiết về khái niệm, nội dung phương pháp tính chỉ tiêu diện tích đất nông nghiệp.


9

nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư; đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng. Sau
này, tại Điều 11 Luật Đất đai năm 1993 quy định đất đai được chia thành 6 loại: đất nông
nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư nông thôn; đất đô thị; đất chuyên dùng và đất
chưa sử dụng. Cách phân loại này vừa dựa vào tiêu chí mục đích sử dụng chủ yếu, vừa
căn cứ vào địa bàn sử dụng đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây cho khó khăn
cho công tác quản lý đất đai. Để khắc phục hạn chế đó, Luật Đất đai năm 2003 đã chia
đất đai làm ba nhóm bao gồm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và
nhóm đất chưa sử dụng. Cách phân loại dựa trên tiêu chí duy nhất là mục đích sử dụng
chủ yếu của đất tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của
mình cũng như cho các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý đất đai. Kế thừa những
điểm tích cực đó, đến Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục dựa trên căn cứ phân loại này. Việc
sử dụng thuật ngữ “nhóm đất nông nghiệp” thay cho “đất nông nghiệp” thể hiện sự mở
rộng khái niệm của Luật Đất đai năm 2003 và năm 2013 so với các luật trước đó. Theo
đó thuật ngữ nhóm đất nông nghiệp đã bao hàm được đầy đủ các loại đất thuộc đất nông
nghiệp nói chung dựa trên sự đa dạng của mục đích sử dụng đất trong ngành nông
nghiệp. Khoản 1 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 đã quy định nhóm đất nông nghiệp bao
gồm các loại: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác;
Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất
nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác.
1.1.2. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam.
1.1.2.1. Ưu tiên bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp
Việc bảo vệ đất nông nghiệp từ đâu đã có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nền
sản xuất nông nghiệp, đặc biệt bảo vệ diện tích đất trồng lúa bởi nó có ý nghĩa lớn trong
việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Chính vì vậy không chỉ ở Việt Nam mà đây
trở thành xu hướng của các nước trên thế giới trong việc bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, duy
trì ở mức độ phù hợp để bảm đảo ngành nông nghiệp trong nước. Ở Việt Nam, việc bảo
vệ đất nông nghiệp, phát triển quỹ đất nông nghiệp gắn liền với vấn đề an ninh lương
thực trong nhiều năm qua đã được Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm, mang
tínhchiến lược phát triển bền vững của quốc gia. Nguyên tắc này được thể chế hóa trong
các quy định của pháp luật đất đai và cụ thể là Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, Nhà
nước hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang sử dụng với mục
đích khác; ưu tiên hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được Nhà nước
giao đất nông nghiệp trong hạn mức thì không phải nộp tiền sử dụng đất; không được tùy
tiện mở rộng khu dân cư trên đất nông nghiệp, hạn chế việc lập mới trên diện tích đất
trồng lúa; Nhà nước thực hiện chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ gia
đình, cá nhân, tổ chức khai hoang, phục hóa, lấn biển,... để mở rộng diện tích đất nông
nghiệp. Những quan điểm này đều được thể hiện ở các điều luật cụ thể trong Luật Đất đai
năm 2013, thể hiện sự khuyến khích phát triển quỹ đất nông nghiệp bằng những chính


10

sách ưu đãi về quyền sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính khi sử dụng đất,… Đồng thời cũng
đưa ra những quy định thể hiện sự ràng buộc chặt chẽ nhằm hạn chế việc sử dụng lãng
phí, làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
1.1.2.2. Sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, hiệu quả, tiết kiệm, bền vững
Sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp được hiểu là người sử dụng đất có thể chuyển
đổi việc sử dụng đất canh tác vào nhiều mục đích sản xuất nông nghiệpkhác nhau sao cho
phù hợp với điều kiện và cơ hội sản xuất nhằm đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, vật nuôi và
sử dụng đất áp dụng công nghệ sản xuất thích hợp. Việc sử dụng linh hoạt không đồng
nhất với việc sử dụng đất nông nghiệp trái với mục đích được giao mà chỉ sử dụng linh
hoạt trong hoạt động sản xuất nông nghiệp.Việc sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt có ý
nghĩa quan trọng trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển như hiện nay. Bởi nó cho
phép hộ nông dân có thể điều chỉnh phù hợp với những biến động của thị trường về giá
cả, xu hướng tiêu dùng, nhu cầu tiêu thụ… Từ đó có điều kiện tiết kiệm chi phí, giảm tổn
thất và tăng thu nhập, giảm bớt rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Đất đai với quốc gia
nào cũng vậy đều là nguồn tài nguyên có hạn, đặc biệt trong tiến trình công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước như ở Việt Nam hiện nay thì việc sử dụng đất nông nghiệp còn
phải đảm bảo hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở Nhà nước có chính sách sử dụng đất đai đúng
đắn, bảo đảm cho người nông dân có đất để sản xuất. Việc sử dụng tài nguyên đất hiệu
quả, tiết kiệm, hợp lý có ý nghĩa quan trọng và nó càng cần thiết hơn đối với đất nông
nghiệp xuất phát từ ý nghĩa của loại đất này cũng như thực trạng sử dụng đất có nhiều
biến động đáng lo ngại trong thời gian qua. Chính vì vậy việc đưa ra nguyên tắc này là
hợp lý cho thấy sự quan tâm đúng đắn của Nhà nước trong việc sử dụng hợp lý đất nông
nghiệp ở Việt Nam.
1.1.3. Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp
Trong quá trình phát triển, mỗi quốc gia đều quan tâm đến việc xác lập hình thức
sở hữu đất đai, vấn đề quản lý và sử dụng đất. Nói đến “quyền sử dụng” thường gợi ta
nghĩ đến một trong ba quyền năng của chủ sở hữu tài sản bên cạnh quyền chiếm hữu và
quyền định đoạt. Quyền sử dụng có thể hiểu là quyền khai thác công dụng và được hưởng
hoa lợi, lợi tức từ một tài sản. Theo quan niệm của các nước, đặc biệt là các nước theo hệ
thống châu Âu lục địa, thì quyền sử dụng là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu7.
Xét về khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp thoả mãn các
nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ thể sử dụng trong quá trình sử dụng đất.
Ở mỗi nước do điều kiện, hoàn cảnh khác nhau mà cóhình thức sở hữu đất đai và
phương thức sử dụng đất khác nhau. Ở Anh, đất đai thuộc sở hữu của Nữ hoàng và Nữ
hoàng cho dân thuê sử dụng, người sử dụng đất có các quyền năng đối với đất đai (trong
đó có quyền được chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Ở Trung Quốc, đất đai thuộc sở
7

PGS. TS. Trần Thị Cúc, ThS. Nguyễn Phúc Thiện (2015), Bảo đảm thực thi quyền sử dụng đất nông nghiệp
trong quá trình hội nhập quốc tế, Dân chủ và Pháp luật.


11

hữu nhà nước, gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong đó toàn bộ đất đai thành thị
thuộc về sở hữu nhà nước; đất nông thôn và ngoại ô thành phố một bộ phận thuộc sở hữu
tập thể. Ở Việt Nam, nước ta thừa nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong khi các
nước khác trên thế giới ngoài một số nước tồn tại song song sở hữu Nhà nước và sở hữu
tập thể về đất đai thì đa phần đều thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân về đất đai.
Nghiên cứu về khái niệm “quyền sử dụng đất”, khoa học pháp lý nước ta tiếp cận
trên hai phương diện: chủ quan và khách quan.
Thứ nhất, khái niệm “quyền sử dụng đất” được tiếp cận trên phương diện
chủ quan. Theo phương diện này, quyền sử dụng đất là quyền năng của người sử dụng
đất trong việc khai thác, sử dụng các thuộc tính có ích của đất để đem lại một lợi ích vật
chất nhất định và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Từ điển Luật học do Viện Khoa học
pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn quan niệm: “Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể
được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được nhà nước
giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho từ những chủ thể có quyền sử
dụng;…”. Giáo trình Luật Đất đai – Trường Đại học Luật Hà Nội có định nghĩa: “Quyền
sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…”. Như vậy, xét trên phương diện chủ quan,
quyền sử dụng đất là một quyền năng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng nhằm khai thác các
thuộc tính có ích của đất đai và mang lại lợi ích vật chất nhất định cho họ. Theo phương
diện này, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thỏa mãn các nhu cầu và
mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng.
Thứ hai, khái niệm “quyền sử dụng đất” được tiếp cận trên phương diện
khách quan. Quyền sử dụng đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai, bao
gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất. Xét trên phương diện này, quyền sử dụng
đất với tư cách là một chế định pháp luật bao gồm các quy định làm căn cứ phát sinh,
thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất. Pháp luật có các quy định về giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất và các quy định về cấp GCNQSDĐ; giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp, xử lý vi phạm pháp luật về quyền sử dụng đất…
Như vậy, quyền sử dụng đất được quan niệm trên hai phương diện. Theo phương
diện chủ quan, đây là quyền của người sử dụng đất được khai thác các thuộc tính của đất
đai để mang lại cho mình một lợi ích vật chất nhất định. Theo phương diện khách quan,
quyền sử dụng đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai gồm tổng hợp các
quy phạm pháp luật quy định và bảo vệ quyền sử dụng đất của các chủ thể.Nói tóm lại,
quyền sử dụng đất được hiểu là những quyền năng sử dụng đất cụ thể, được Nhà nước
thừa nhận và đảm bảo thực hiện đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất.


12

Từ việc tiếp cận khái niệm chung về quyền sử dụng đất, ta có thể hiểu về quyền sử
dụng đất nông nghiệp trên hai phương diện chủ quan và khách quan. Xét trên phương
diện chủ quan, quyền sử dụng đất nông nghiệp được hiểu là quyền của một tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân (người sử dụng đất) được chiếm hữu, sử dụng một diện tích đất nhất
định nhằm khai thác công năng có ích của đất vào mục đích nông nghiệp.Xét trên phương
diện khách quan, quyền sử dụng đất nông nghiệp được hiểu là một chế định pháp luật đất
đai gồm tổng hợp các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp nhằm sử dụng đúng
mục đích, hiệu quả, tiết kiệm. Như vậy, quyền sử dụng đất nông nghiệp không đơn thuần
chỉ là quyền của người sử dụng đất khai thác các thuộc tính có ích của đất trong sản xuất
nông nghiệp nhằm tạo ra của cải, vật chất cho xã hội, tiếp cận trên phương diện pháp lý,
quyền sử dụng đất nông nghiệp trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của
người sử dụng đất, được phép tham gia các giao dịch mang tính chất dân sự, thương mại
trên thị trường, được thừa kế cho các đối tượng được hưởng thừa kế theo quy định, được
sử dụng như một phương tiện bảo đảm trong quan hệ vay vốn, bảo lãnh đối với các tổ
chức tín dụng, và được sử dụng như một loại tài sản góp vốn. Như vậy,quyền sử dụng đất
nông nghiệp là những quyền năng sử dụng đất nông nghiệp cụ thể, được Nhà nước thừa
nhận và đảm bảo thực hiện đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất.
1.1.4. Quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Tìm hiểu về quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với một chủ thể cụ thể thì vấn đề
cơ bản cần hiểu về chủ thể đó. Vậy hộ gia đình là gì? Từ điển Tiếng Việt không có khái
niệm hộ gia đình mà chỉ có khái niệm gia đình, được hiểu là “tập hợp người cùng sống
chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân
và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”. Theo định nghĩa của Từ điển
Cambridge thì hộ gia đình (household) là: “…một nhóm người, thường là một gia đình,
những người sống cùng nhau”8. Bách khoa toàn thư về Luật Hoa Kỳ định nghĩa hộ gia
đình là “các cá nhân trong một gia đình và cùng chung sống dưới cùng một mái nhà; cá
nhân cùng cư trú tại một vị trí; Trong đó, tất cả những thành viên chịu sự kiểm soát của
một người chủ hộ”9. Hộ gia đình ở Việt Nam thường được nhắc đến như một thuật ngữ
pháp lý mà không được định nghĩa như một từ vựng thông thường. Còn cá nhân được Từ
điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa là: “…một sinh vật (cơ thể sống) như
con người, có các năng lực và thuộc tính tạo thành nhân vị tính (personhood). Khái niệm
nhân vị tính được các tác giả định nghĩa khác nhau trong các chuyên ngành và các nền
văn hóa khác nhau…”. Còn theo Từ điển British Dictionary định nghĩa cá nhân: “trên
phương diện xã hội học: đó là một con người cá nhân, đặc biệt là liên quan đến các mối
quan hệ xã hội và các mẫu hành vi được điều chỉnh bởi văn hoá. Theo quan điểm Triết
8
9

Cambridge University, Cambridge Advanced Learner’s Dictionary & Thesaurus, Nxb. Cambridge University Press.
The Gale Group (2008), Bách khoa toàn thư về Luật Hòa Kỳ: West's Encyclopedia of American Law – Tập 2


13

học, cá nhân là một trạng thái tự ý thức hay lý trí con người…”. Từ điển Tiếng Việt có
định nghĩa cá nhân là một con người riêng lẻ và phân biệt với tập thể, cộng đồng xã hội.
Tuy nhiên định nghĩa cá nhân nếu được tiếp cận theo quan điểm của những lĩnh vực riêng
thì lại có những định nghĩa khác nhau.
Nói đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của chủ thể cụ thể là hộ gia đình, cá nhân,
xét trên phương diện chủ quan, quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
được hiểu là quyền của hộ gia đình, cá nhân trong việc chiếm hữu, sử dụng một diện tích
đất nhất định nhằm khai thác công năng có ích của đất vào mục đích nông nghiệp. Xét
trên phương diện khách quan, quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
được hiểu là một chế định pháp luật đất đai gồm tổng hợp các quy định pháp luật do Nhà
nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ sử dụng đất phát sinh trong quá trình sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nhằm hướng tới việc sử dụng đất đúng
mục đích, hiệu quả, tiết kiệm. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, quyền sử dụng đất nông
nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được hiểu là khả năng của hộ gia đình, cá nhân được
hưởng các quyền mà Nhà nước trao cho và đảm bảo thực hiện khi tham gia vào quan hệ
sử dụng đất nông nghiệp.
1.2. Pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1.2.1. Khái niệm pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình,
cá nhân
Xét trên phương diện pháp luật đất đai ở Việt Nam, hộ gia đình, cá nhân luôn
được xác lập địa vị pháp lý là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp được giao
đất sử dụng ổn định, lâu dài. Theo quy định tại BLDS năm 2005 xác định hộ gia đình là
chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên Bộ luật không đưa ra định nghĩa
cụ thể về hộ gia đình nhưng đã gián tiếp quy định tại Điều 106. Hộ gia đình được quan
niệm là chủ thể trong quan hệ pháp luật gồm các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ
huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng. Đến BLDS năm 2015 cũng không
đưa ra định nghĩa cụ thể về hộ gia đình mà được nhắc đến tại Khoản 29 Điều 3 Luật Đất
đai 2013 thì: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết
thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống
chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê
đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”
Bên cạnh hộ gia đình thì cá nhân cũng là một chủ thể trong quan hệ sử dụng đất
nông nghiệp. Khác với thành viên của hộ gia đình, chủ thể này có tư cách pháp lý độc
lập, được Nhà nước trực tiếp giao đất sử dụng và tự chịu trách nhiệm về hành vi của
mình. Trong khi đó thành viên của hộ gia đình là người đồng sử dụng đất đối với đất Nhà
nước giao cho hộ gia đình. Thành viên hộ gia đình liên đới chịu trách nhiệm đối với các
giao dịch dân sự trong sử dụng đất nông nghiệp do chủ hộ gia đình thực hiện. Để tham
gia quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp, hộ gia đình, cá nhân phải đảm bảo


14

những điều kiện: Thứ nhất, có sự tham gia vào quan hệ pháp luật đất nông nghiệp bằng
việc được Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất để sản xuất phát triển kinh tế. Thứ
hai, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai.
Năng lực pháp luật đất đai là khả năng chủ thể được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ
khi tham gia vào quan hệ sử dụng đất đai. Khả năng này chỉ có được khi thỏa mãn các
điều kiện do pháp luật quy định như: có GCNQSDĐ nông nghiệp; Hợp đồng cho thuê
quyền sử dụng đất nông nghiệp… Như vậy, trên thực tế năng lực pháp luật của hộ gia
đình, cá nhân xuất hiện khi Nhà nước cho phép và trao quyền sử dụng đất cho họ và buộc
người sử dụng đất chấp hành đúng pháp luật và làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước. Năng
lực hành vi đất đai là khả năng của một chủ thể bằng hành vi của mình tham gia vào quan
hệ pháp luật đất đai, có quyền và nghĩa vụ nhất định.
Nhà nước nào trên thế giới cũng sử dụng pháp luật làm công cụ để thực hiện
quyền năng quản lý xã hội. Hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia có sự khác biệt xuất
phát từ những điểm riêng trong nhận thức của nhà cầm quyền. Dù có những quan điểm
khác nhau trong tư tưởng thì nhìn chung bản chất pháp luật của mỗi quốc gia đều có sự
tương đồng. Pháp luật là hệ thống các quy định do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và
đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước và là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã
hội nhằm thiết lập và gìn giữ trật tự xã hội. Định nghĩa pháp luật về quyền sử dụng đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân: là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền ban hành, quy định các quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá
nhân khi được Nhà nước trao quyền sử dụng đất nông nghiệp và những vấn đề pháp lý
liên quan đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên cơ sở chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu.
Đất nông nghiệp có vị trí quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, đặc
biệt là ở Việt Nam khi mà tỉ lệ lớn dân cư vẫn sinh sống dựa vào các ngành nông
nghiệp.Việt Nam thừa nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện
chủ sở hữu, trao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
thông qua hoạt động giao đất, cho thuê đất để chủ thể này trực tiếp sử dụng, khai thác
hiệu quả các nguồn lợi từ loại đất này.Với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà
nước đã xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật với các quy định cụ thể về quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể được Nhà nước giao quyền sử dụng đất. Tùy thuộc vào từng
thời điểm lịch sử với những điều kiện cụ thể về kinh tế - xã hội mà Nhà nước có những
quy định phù hợp cho các chủ thể được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp khác nhau ở
mỗi giai đoạn. Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Việc
quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông nghiệp vừa phù hợp với sự
phát triển của kinh tế thị trường, vừa đảm bảo đúng định hướng chính trị cho thấy việc
hướng tới sự quản lý thống nhất của Nhà nước về đất nông nghiệp, khuyến khích các hộ


15

gia đình, cá nhân khai thác có hiệu quả, hợp lý đất nông nghiệp nhằm phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn là một yêu cầu mang tính khách quan. Có thể nói, tư tưởng xuyên suốt
của Đảng và Nhà nước từ khi mới thành lập là đảm bảo ruộng đất cho mọi người dân có
nhu cầu sản xuất nông nghiệp. Khi đất nước thống nhất, Nhà nước thực hiện chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai, giữ vững nguyên tắc đảm bảo cho người làm nông nghiệp phải
có đất để sản xuất. Điều này được ghi nhận trong các chế định pháp luật đất đai từ trước
năm 1975 và đến Luật đất đai năm 2013 hiện hành.Pháp luật về quyền sử dụng đất nông
nghiệp được coi là chế định có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật đất đai.
1.2.2. Cơ sở xác lập quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở
Việt Nam
1.2.2.1. Đường lối, chính sách của Đảng về giao đất cho hộ gia đình, cá nhân
sử dụng ổn định, lâu dài.
Xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn coi
việc phát triển nông nghiệp nông thôn là mối quan tâm hàng đầu. Vấn đề này luôn được
ghi nhận như một trong những quyết sách quan trọng tại các Văn kiện Đại hội Đảng và
Nghị quyết Ban chấp hành TƯ Đảng. Trong những Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành
TƯĐại hội Đảng lần II, III, Đảng ta đã đưa ra chủ trương phát triển hợp tác xã nông
nghiệp làm tiền đề để định hướng cải tạo xã hội chủ nghĩa. Việc thực hiện theo chủ
trương của Đảng đã gặt hái những thành quả nổi bật, thúc đẩy năng suất lao động và gia
tăng sản lượng nông nghiệp. Tuy nhiên trong thời gian dài thực hiện, cơ chế quản lý đã
bộc lộ những hạn chế khiến chính sách không còn đạt được những mục đích như ban đầu,
người dân không quan tâm đến ruộng đất canh táckhiến ruộng đất bị bỏ hoang ở nhiều
nơi. Nhận thấy những điểm hạn chế trong đường lối trên, Đảng ta đã có chủ trương thực
hiện chế độ khoán sản phẩm cho xã viên các hợp tác xã. Chủ trương này ra đời đã tạo sức
bật cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, chế độ khoán này chưa thực hiện
một cách triệt để nên vẫn chưa giải phóng được sức sản xuất của người lao động.
Nhận thức rõ việc duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sẽ cản trở sự
phát triển của đất nước khi cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, tại Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện
đất nước, đặt ra mục tiêu thực hiện ba chương trình lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu. Để thực hiện các mục tiêu này, các Hội nghị TƯ tiếp theo đã từng bước
khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, từng bước thực
hiện việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Hàng loạt nghị quyết,
chỉ thị của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp nói chung và xác định
vai trò của hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp nói
riêng đã lần lượt được ra đời với việc thực hiện giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định lâu dài; đồng thời mở rộng các quyền năng của người sử dụng đất (trong đó có quyền
thừa kế quyền sử dụng đất). Điều này được thể hiện tại những văn kiện của Đảng:


16

- Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp đã khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất
nông nghiệp và tiến hành giao khoán ruộng đất sản xuất. Bằng việc xác lập cơ chế khoán
đến từng hộ gia đình, lần đầu tiên hộ gia đình được giao quyền sử dụng ruộng đất của các
hợp tác xã để sử dụng ổn định. Đây là bước đột phá lớn nhất làm thay đổi cơ bản hình
thức tổ chức sản xuất nông nghiệp ở nước ta thời kỳ đổi mới.
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) đã ghi nhận: “Trên
cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất được giao cho nông dân sử dụng lâu
dài. Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề thừa kế, chuyển quyền sử dụng ruộng
đất”10. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Nghị quyết các Hội nghị TƯ tiếp theo,
đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị TƯ lần thứ 2 (khóa VII tháng 12 năm 1991) và Nghị quyết
Hội nghị TƯ lần thứ 5 (khóa VII, tháng 6/1992): “Ruộng đất được trao cho nông dân sử
dụng lâu dài. Nhà nước quy định bằng pháp luật việc thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất”.
- Vấn đề sử dụng đất ổn định, lâu dài và thừa kế quyền sử dụng đất của hộ gia
đình, cá nhân được ghi nhận trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến
năm 2000: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền
sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận…”11
- Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TƯ Đảng khóa XI năm 2003 ra Nghị quyết về tiếp
tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước đã chỉ rõ: “Người được giao quyền sử dụng đối với đất trồng cây hàng năm, nuôi
trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, được thực hiện
quyền thừa kế, quyền sử dụng đất theo pháp luật về thừa kế như các tài sản khác”12.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TƯ Đảng khóa XI năm 2012 đã
ghi nhận một trong những nội dung cần quan tâm, hoàn thiện trong chính sách pháp luật
đó là: “Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có
thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó
hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất…”.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ số 06/NQ-TW Ban chấp hành TƯ Đảng Khóa XII năm
2016 tiếp tục ghi nhận đường lối tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng
nông thôn mới, trong đó vai trò chủ chốt là tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển.
Như vậy, đường lối chính sách của Đảng đã cho thấy sự ghi nhận mang tính xuyên
suốt quan điểm giao ruộng đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài để tạo
điều kiện ổn định đời sống, phát triển sản xuất nông nghiệp với tư cách là đơn vị kinh tế

10

Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội,
tr.275.
11
Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội tr.343.
12
Đảng Cộng sản Việt Nam (2003),Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TƯ khóa IX về tiếp tục đổi mới
chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội, tr. 175.


17

tự chủ. Đây là những định hướng quan trọng để Nhà nước thể chế hóa thành các quy định
pháp luật, thừa nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của chủ thể là hộ gia đình, cá nhân.
1.2.2.2. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
Chế độ sở hữu đất đai là cơ sở thiết lập chế độ quản lý và sử dụng đất, quyết định
nội dung, tính chất, phạm vi quyền sử dụng đất và chi phối toàn bộ quá trình sử dụng đất.
Ở nước ta, mỗi giai đoạn lại tồn tại một chế độ sở hữu khác nhau về đất đai. Trong thời kì
phong kiến (trước Cách mạng tháng 8 năm 1945), các triều đại phong kiến thừa nhận sự
tồn tại của sở hữu công và sở hữu tư nhân về đất đai. Sở hữu công gồm sở hữu Nhà nước
và sở hữu làng xã. Vào thế kỉ XVIII, sở hữu tư nhân phát triển nhanh chóng và bao trùm.
Đó là kết quả của chính sách lộc điền, chính sách thưởng ruộng khi khai hoang cũng như
mua bán ruộng đất của triều đình phong kiến. Tuy nhiên, với tính chất tập quyền, Nhà
nước không ngừng xâm phạm, can thiệp, thậm chí tước đoạt ruộng đất thuộc sở hữu tư
nhân làm kìm hãm sự phát triển. Điển hình là chính sách cải cách ruộng đất của triều
Nguyễn, chia lại ruộng đất chọn Bình Định – nơi tư hữu hóa diễn ra triệt để với nông dân
làm địa bàn thực hiện. Theo đó những thôn ấp nào có ruộng tư điền cao hơn ruộng công
điều thì ruộng công để nguyên, ruộng tư cắt 50% sung công điều quan cấp.
Khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, chế độ thực dân tiếp tục duy trì sở hữu công
cộng (được xác lập đối với tài sản vắng chủ và vô chủ, lòng sông các con sông ở mức
nước chảy đầy bờ tự nhiên, bãi biển ở mức triều cao nhất)và sở hữu tư nhân về ruộng đất
(được tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất).Khi kháng chiến chống thực dân Pháp thắng
lợi, do điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nên Hiến pháp năm 1959 vẫn ghi nhận nhiều hình
thức sở hữu bao gồm Nhà nước (sở hữu toàn dân), sở hữu của hợp tác xã (sở hữu tập thể) và
sở hữu tư nhân (sở hữu của người lao động riêng lẻ, sở hữu của nhà tư sản dân tộc).
Kể từ Hiến pháp năm 1980 và các bản Hiến pháp sau này của nước ta đều ghi
nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Điều 17
Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên
trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do
Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn
hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác
mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”. Điều 53 Hiến pháp
năm 2013 ghi nhận: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng
biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài
sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà
nước tiến hành giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài để
sản xuất nông nghiệp theo hình thức không thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất có thu
tiền sử dụng đất. Chính sự đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã chi phối đến
quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân. Do đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×