Tải bản đầy đủ

Pháp luật về bồi thường tài sản trên đất và thực tiễn thi hành tại huyện sóc sơn hà nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

DƯƠNG VĂN PHONG

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG TÀI SẢN TRÊN ĐẤT
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI HUYỆN SÓC SƠN – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

DƯƠNG VĂN PHONG


PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG TÀI SẢN TRÊN ĐẤT
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI HUYỆN SÓC SƠN – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số

: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN QUANG HUY

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.

Tác giả luận văn

Dương Văn Phong


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy Phó hiệu
trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội, Tiến sĩ Trần Quang Huy đã định hướng, tận
tình chỉ bảo cũng như góp ý và sửa chữa cho những thiếu sót của tác giả trong suốt
quá trình thực hiện đề tài này.
Tác giả xin gửi lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo Trường Đại học Luật Hà
Nội nói chung và các thầy, cô giáo trong Tổ bộ môn Luật Đất đai nói riêng đã giúp
tác giả có một hành trang vô cùng quý giá để có thể bước đi vững chắc trên con
đường của chính mình.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Tài nguyên - Môi trường
huyện Sóc Sơn, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Sóc Sơn, Trung tâm
Phát triển quỹ đất huyện Sóc Sơn, các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ,


khích lệ và giúp đỡ tác giả có thêm nhiều thông tin đa chiều trong quá trình hoàn
thành đề tài này.
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2017
Tác giả luận văn

Dương Văn Phong


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT

NGHĨA CỦA TỪ VIẾT TẮT

GPMB

Giải phóng mặt bằng

UBND

Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG, BIỂU

STT
Bảng 1

TÊN BẢNG, BIỂU
Bồi thường nhà, công trình trên đất tại huyện Sóc Sơn

TRANG
44

giai đoạn 2014-2016
Bảng 2

Bồi thường nhà, công trình trên đất trong dự án đầu tư

45

Khu liên hợp xử lý chất thải Sóc Sơn (Đợt 11)
Bảng 3

Bồi thường đối với cây trồng tại huyện Sóc Sơn giai

47

đoạn 2014 - 2016
Bảng 4

Bồi thường cây cối khi nhà nước thu hồi đất, chủ hộ

47

Đặng Văn Đáp, Thửa 7B -Tờ bản đồ số 1
Bảng 5

Bồi thường đối với vật nuôi tại huyện Sóc Sơn giai

48

đoạn 2014 - 2016
Bảng 6

Bồi thường chi phí di chuyển tại huyện Sóc Sơn giai

49

đoạn 2014 - 2016
Bảng 7

Bồi thường di chuyển mồ mả tại huyện Sóc Sơn giai
đoạn 2014 - 2016

50


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ............................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................. 4
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn ..................................... 5
3.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 5
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn...................................................................... 5
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ................................ 6
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 6
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ......................................................... 7
7. Kết cấu của luận văn............................................................................................ 7
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
BỒI THƯỜNG TÀI SẢN TRÊN ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT............. 8
1.1. Một số vấn đề chung về thu hồi đất................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm thu hồi đất..................................................................................... 8
1.1.2. Cơ sở của việc thu hồi đất .............................................................................. 9
1.1.3. Sự cần thiết của việc thu hồi đất................................................................... 11
1.2. Một số vấn đề chung về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất . 12
1.2.1. Khái niệm về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất .............. 12
1.2.2. Cơ sở của việc bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất ............ 15
1.3. Một số vấn đề chung về pháp luật bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu
hồi đất ................................................................................................................... 18
1.3.1. Khái niệm pháp luật về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất18
1.3.2. Nguyên tắc bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất ................. 21
1.3.3. Sự cần thiết khách quan của pháp luật về bồi thường tài sản trên đất ........... 22
1.3.4. Lược sử hình thành và phát triển pháp luật về bồi thường tài sản trên đất .... 24


Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG TÀI SẢN TRÊN
ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP
LUẬT TẠI HUYỆN SÓC SƠN - HÀ NỘI ............................................................ 29
2.1. Thực trạng pháp luật về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất . 29
2.1.1. Phạm vi áp dụng bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất ......... 29
2.1.2. Đối tượng áp dụng bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất ...... 30
2.1.3. Điều kiện áp dụng bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất....... 31
2.1.4. Một số trường hợp được bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất .
.......................................................................................................................... 32
2.1.4.1. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu
hồi đất ................................................................................................................... 32
2.1.4.2. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất .............. 38
2.1.4.3. Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất ............................ 40
2.1.4.4. Bồi thường di chuyển mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất ............................ 41
2.1.5. Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc bồi thường tài sản trên đất khi Nhà
nước thu hồi đất ..................................................................................................... 42
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi
đất tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội.............................................................................. 43
2.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây
dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội ...................... 43
2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với cây trồng, vật
nuôi khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội .................................... 46
2.2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước
thu hồi đất tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội .................................................................. 49
2.2.4. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường di chuyển mồ mả khi Nhà nước
thu hồi đất tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội .................................................................. 50
2.2.5. Những kết quả đạt được ............................................................................... 51
2.2.6. Những bất cập, hạn chế còn tồn tại .............................................................. 54
2.2.7. Nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chế .............................................. 60


Chương 3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG TÀI SẢN TRÊN ĐẤT
VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG TÀI SẢN TRÊN ĐẤT TẠI HUYỆN SÓC SƠN - HÀ NỘI.................. 63
3.1. Hoàn thiện pháp luật về bồi thường tài sản trên đất ......................................... 63
3.1.1. Những yêu cầu phải đạt được trong quy định pháp luật về bồi thường tài sản
trên đất .................................................................................................................. 63
3.1.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về bồi thường tài sản trên đất ....................... 65
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường tài sản trên đất tại
huyện Sóc Sơn - Hà Nội ........................................................................................ 71
3.2.1. Đẩy mạnh tính công khai và minh bạch khi thực hiện pháp luật về bồi thường
tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất ................................................................ 71
3.2.2. Bổ sung, hoàn thiện và ban hành kịp thời các văn bản quy định về bồi thường
giải phóng mặt bằng .............................................................................................. 71
3.2.3. Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đất đai cho người dân............ 72
3.2.4. Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư .................................................................................................................. 72
3.2.5. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình
thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục bồi thường tài sản trên đất.................... 73
3.2.6. Lắng nghe ý kiến của nhân dân .................................................................... 74
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sóc Sơn là huyện ngoại thành phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, có trung tâm là
thị trấn Sóc Sơn cách trung tâm thành phố Hà Nội 35 km theo quốc lộ 3A Hà Nội Thái Nguyên. Huyện Sóc Sơn có diện tích lớn nhất so với các huyện ngoại thành
khác của Hà Nội với diện tích đất tự nhiên 306,5 km2 , trong đó: đất sản xuất nông
nghiệp là 13.559 ha, đất lâm nghiệp là 4.557 ha. Toàn huyện có 25 xã, 1 thị trấn
được chia thành 3 khu vực: 9 xã đồi gò, 8 xã vùng trũng và 8 xã vùng giữa. Dân số
của huyện trên 32 vạn người.1
Trước đây, Sóc Sơn là huyện có kinh tế phát triển chậm của Thành phố Hà
Nội, đời sống nhân dân gặp không ít khó khăn. Những năm gần đây, kinh tế của
huyện đã phát triển một cách ổn định, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh từ
nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ (64% - 24,4% - 11,6%) sang công nghiệp dịch vụ - nông nghiệp (41,4% - 33,5% - 25,1%)2; kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật và
xã hội đã được chú trọng đầu tư, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, tỷ
lệ đói nghèo giảm một cách đáng kể, góp phần ổn định an ninh chính trị, an toàn xã
hội trên địa bàn huyện.
Về tổng quan quy hoạch chung, huyện Sóc Sơn đã được Ủy ban nhân dân
Thành phố Hà Nội phê duyệt Quy hoạch chung tỷ lệ 1/10.000 định hướng đến năm
2030, với tính chất cơ bản là: Thương mại - dịch vụ, công nghiệp, du lịch, giáo dục
- đào tạo, nông nghiệp sinh thái, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng; hướng
tới một huyện phát triển xứng tầm là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, là đầu
mối giao thông quan trọng của Quốc gia, của Vùng và Thủ đô Hà Nội.
Với vị trí, vai trò là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, đầu mối giao
thông quan trọng ở phía bắc của Thủ đô Hà Nội với nhiều tuyến đường giao thông
quan trọng như: Quốc lộ 2; Quốc lộ 3; Quốc lộ 18, đường Bắc Thăng Long Nội Bài,
Quốc lộ 3 mới Hà Nội - Thái Nguyên, đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai,… Để khai

1

“Giới thiệu huyện Sóc Sơn”, Cổng thông tin điện tử huyện Sóc Sơn, tại địa chỉ:
http://socson.hanoi.gov.vn/gioi-thieu-huyen, truy cập ngày 08/5/2017.
2
Cổng giao tiếp điện tử Hà Nôi, tại địa chỉ: https://hanoi.gov.vn, truy cập ngày 08/5/2017.


2

thác, phát huy tiềm năng của địa phương, huyện Sóc Sơn đã thực hiện khá nhiều các
dự án, đòi hỏi phải giải phóng một diện tích lớn mặt bằng để thực hiện các dự án
này. Theo đó, thu hồi đất và thực hiện bồi thường tài sản trên đất ở Sóc Sơn là
nhiệm vụ quan trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều đối tượng mà chịu sự tác
động nhiều nhất và trực tiếp nhất là người dân lao động. Một khi công các này
không được đảm bảo sẽ dễ phát sinh những vấn đề nhạy cảm liên quan tới các yếu
tố kinh tế, chính trị, xã hội.
Việc thu hồi đất không đơn giản chỉ là việc làm chấm dứt quyền sử dụng đất
của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với một diện tích đất nhất định mà còn để lại
những hậu quả về kinh tế - xã hội cần kịp thời giải quyết nhằm duy trì sự ổn định
chính trị - xã hội. Thực tế cho thấy đây là một công việc khó khăn, phức tạp và
thường phát sinh tranh chấp, khiếu kiện về đất đai. Bởi lẽ, nó “đụng chạm” trực
tiếp đến những lợi ích thiết thực không chỉ của người sử dụng đất mà còn của Nhà
nước, của xã hội và lợi ích của các doanh nghiệp, chủ đầu tư. Chỉ khi nào giải quyết
hài hòa lợi ích của các chủ thế này thì việc thu hồi đất mới không tiềm ẩn nguy cơ
khiếu kiện, tranh chấp kéo dài gây mất ổn định chính trị - xã hội. Dẫu vậy, không
phải trong bất kì trường hợp thu hồi đất nào, Nhà nước, người sử dụng đất và các
nhà đầu tư cũng tìm được tiếng nói chung, bởi người bị thu hồi đất chịu ảnh hưởng
nặng nề nhất từ việc thu hồi đất, họ là người bị mất đất, mất tài sản trên đất, đời
sống gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn, vv…
Luật Đất đai 2013 được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/07/2014 đã đạt
nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai
phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phục vụ mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an
ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường…
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và ở Sóc Sơn nói
riêng còn một số hạn chế, nhất là trong các thủ tục bồi thường về tài sản trên đất khi
Nhà nước thu hồi đất. Nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành
nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; việc thu hồi đất trong đó có
công tác bồi thường nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực


3

nhiều; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp; lợi
ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương
xứng…Việc thu hồi đất tràn lan, bồi thường không thỏa đáng nảy sinh nhiều khiếu
kiện nhất là các dự án đầu tư để kinh doanh, hạn chế tính chủ động và sự tích cực
tham gia của chủ đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai dự án.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên là do đất đai có nguồn gốc
rất phức tạp; chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ, đến nay, chủ trương,
chính sách, pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; việc
thể chế hoá còn chậm, chưa thật đồng bộ. Tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách,
pháp luật về đất đai chưa tốt; công tác tuyên truyền, giáo dục và quán triệt các chủ
trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn kém hiệu quả. Ý thức chấp hành pháp
luật về đất đai của một bộ phận nhân dân còn hạn chế. Việc thanh tra, kiểm tra,
giám sát và xử lý các hành vi sai phạm chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả giải quyết
khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn thấp. Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ
cán bộ về quản lý đất đai còn không ít hạn chế, yếu kém; một bộ phận còn lợi dụng
chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng.
Thống kê số liệu cho thấy, tình hình khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực
đất đai chiếm gần 70% các loại khiếu kiện, đa phần là khiếu kiện về giá bồi thường
đất đai3. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải có sự đánh giá một cách toàn diện
cả về lý luận và thực tiễn thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bồi thường tài sản
trên đất.
Từ những lý do đó, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài:“Pháp luật về bồi
thường tài sản trên đất và thực tiễn thi hành tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội” nhằm
nghiên cứu thực tế công tác thu hồi đất tại một địa bàn cụ thể của Thủ đô. Qua đề
tài, tác giả mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ để công tác bồi
thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất được cải thiện tốt hơn.

3

Trần Văn Duy (2016), “Thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất nông nghiệp
của nông dân”, tại địa chỉ: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phapluat.aspx?ItemID=291, truy cập ngày 08/5/2017.


4

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là nội dung đã được nghiên
cứu và bàn thảo rất nhiều, nhất là trong những năm gần đây, khi nước ta đẩy mạnh
hoạt động đầu tư xây dựng để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an
ninh, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng với những công trình hiện đại, tập trung
phát triển hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.
Dưới góc độ tổng thể có Bài nghiên cứu “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu
hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng và những vướng mắc nảy sinh trong
quá trình áp dụng” của Nguyễn Thị Nga năm 2010, Luận án Thạc sĩ Luật học của
Nguyễn Tiến Dũng năm 2011 với đề tài “Giải quyết khiếu nại hành chính về bồi
thường giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án trên địa bàn thành phố Nam
Định”, Luận án Thạc sĩ Luật học của Trần Cao Hải Yến, Khoa Luật, Đại học Quốc
Gia Hà Nội, Hà Nội năm 2014 với đề tài “Thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ
khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận án Thạc sĩ Luật học
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh với đề tài “Pháp luật về bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh”, Bài
viết “Vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất” của Lê Thị
Nhung năm 2015,v.v…
Đi vào chi tiết nội dung có các đề tài như: “Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư
người có đất bị thu hồi trong giải phóng mặt bằng – Thực trạng và giải pháp hoàn
thiện” Luận văn Thạc sĩ Luật học của Đỗ Phương Linh năm 2013; Bài nghiên cứu
“Kinh nghiệm từ thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết án hành chính liên quan
đến thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Quảng Ninh” của Vũ Đức Thành năm 2013; Bài nghiên cứu “Khiếu nại liên quan
đến việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng – Thực trạng và giải pháp”
của Lên Văn Trung, Trần Đăng Vinh năm 2014; Bài nghiên cứu “Trình tự, thủ tục
thu hồi đất và giải phóng mặt bằng theo Luật đất đai năm 2014” của Nguyễn
Quang Tuyến, Nguyễn Vĩnh Diện năm 2015; Cuốn sách “Pháp luật về định giá đất
trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam” do Doãn Hồng Nhung (Chủ
biên) xuất bản năm 2014,v.v…


5

Nội dung pháp luật về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất –
nội dung trọng tâm của luận văn - cũng đã có tác giả quan tâm nhưng mới dừng lại
ở cấp độ Khóa luận tốt nghiệp (Đề tài “Những vấn đề pháp lý về bồi thường tài sản
trên đất khi nhà nước thu hồi đất và những vấn đề thực tiễn đặt ra”, Khóa luận tốt
nghiệp, Trần Thị Thắm, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội 2015). Tuy nhiên,
nghiên cứu về thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường tài sản trên đất và thực tiễn
thi hành tại địa bàn huyện Sóc Sơn – Hà Nội thì là một đề tài hoàn toàn mới, chưa
có tác giả nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến hoạt động bồi
thường thiệt hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất, cụ thể như sau:
+ Phân tích và làm rõ các khái niệm về thu hồi đất, khái niệm về tài sản trên
đất và bản chất của việc bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất.
+ Những nguyên tắc chi phối, tác động đến hoạt động bồi thường tài sản trên
đất khi Nhà nước thu hồi đất và ý nghĩa của việc bồi thường đối với người có đất bị
thu hồi.
+ Phân tích các quy định pháp luật đất đai hiện hành để làm rõ chế độ pháp
lý về hoạt động bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như các trường hợp thu hồi đất
và chính sách giá bồi thường.
+ Phân tích một số thực trạng nổi bật trong hoạt động bồi thường thu hồi đất
trong thời gian qua, từ đó đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt
hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên thực tế để đưa ra các giải pháp
hoàn thiện pháp luật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về bồi thường tài sản trên đất khi nhà nước thu hồi đất là chính
sách rất quan trọng của Nhà nước nhằm đền bù, hỗ trợ những thiệt hại cho người sử
dụng đất bị thu hồi đất. Theo quy định của pháp luật đất đai, khi tiến hành thu hồi
đất của người sử dụng đất, Nhà nước phải xem xét đến quyền được bồi thường, hỗ
trợ của người có đất bị thu hồi. Tùy từng trường hợp thu hồi đất cụ thể, người sử


6

dụng đất có thể được bồi thường về đất, về tài sản, được hỗ trợ di chuyển chỗ ở,
chuyển đổi nghề nghiệp hoặc hỗ trợ tái định cư… Tuy nhiên, do thời gian nghiên
cứu có hạn và giới hạn số lượng trang viết, tác giả chỉ đi sâu phân tích trường hợp
bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn áp
dụng pháp luật về bồi thường tài sản trên đất tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội từ năm
2013 đến 2016 mà không đi vào bồi thường về đất, các biện pháp hỗ trợ và tái định
cư… Mặt khác, dưới góc độ là một luận văn chuyên ngành luật kinh tế, tác giả chủ
yếu nghiên cứu và phân tích hiện tượng dưới góc độ pháp lý và cụ thể là các quy
định của pháp luật đất đai.
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài mà tác giả đã lựa chọn, mục tiêu tổng quát của luận văn là hướng
tới việc nhìn nhận đánh giá một cách khách quan và toàn diện việc thực hiện các
quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại tài sản trên đất tại địa bàn quận huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Qua đó hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai, hạn
chế tối đa những bất cấp còn tồn tại, đảm bảo hài hòa quyền lợi của các bên trong
quan hệ bồi thường.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề chủ yếu:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về bồi thường thiệt hại về tài sản
trên đất khi Nhà nước thu hồi đất, từ đó rút ra được bản chất của hiện tượng này;
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành và liên hệ thực tiễn thi hành tại
huyện Sóc Sơn - Hà Nội, chỉ ra những vấn đề còn vướng mắc khi thực hiện chính
sách bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Đưa ra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
để luận giải vấn đề như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, sử dụng
các phương pháp phân tích, đánh giá chứng minh, so sánh khi nghiên cứu về các


7

quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng thực hiện công tác bồi thường thiệt
hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên thực tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu đề tài này phần nào làm sáng tỏ các hệ thống khái niệm đồng
thời góp phần xây dựng, hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các
quy định về bảo đảm quyền lợi cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất.
Ở một mức độ nhất định, luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho một số cơ quan khi xây dựng, hoạch định chính sách và pháp luật về bồi
thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất. Kết quả nghiên cứu này có thể
được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy tại các trường học
và cho các tổ chức, cá nhân muốn tìm hiểu, quan tâm đến lĩnh vực pháp luật về bồi
thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất.
7. Kết cấu của luận văn
Với mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, ngoài phần mở
đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về bồi thường và pháp luật về bồi thường tài
sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước
thu hồi đất và thực tiễn thi hành pháp luật tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường tài sản trên đất và giải pháp
nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường tài sản trên đất tại huyện Sóc
Sơn - Hà Nội.


8

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
BỒI THƯỜNG TÀI SẢN TRÊN ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Một số vấn đề chung về thu hồi đất
1.1.1. Khái niệm thu hồi đất
Ngược lại với giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý làm hình
thành một quan hệ pháp luật đất đai thì thu hồi đất là biện pháp pháp lý làm chấm
dứt quan hệ pháp luật đất đai. Biện pháp này thể hiện quyền lực Nhà nước trong tư
cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Vì vậy, để thực thi nội dung
này, quyền lực Nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã
hội đồng thời lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai. Thu hồi đất
phải được hiểu dưới các khía cạnh sau đây:
- Là một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm
chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng;
- Quyết định hành chính thể hiện quyền lực Nhà nước nhằm thực thi nội
dung của quản lý Nhà nước về đất đai;
- Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện
pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của
người sử dụng4.
Nếu xem xét dưới góc độ sở hữu, chủ sở hữu muốn đòi lại tài sản của mình
phải thương lượng trực tiếp với người đang nắm giữ tài sản. Nếu người đang nắm
giữ không tự nguyện trả lại tài sản, chủ sở hữu tài sản có quyền khởi kiện ra Tòa án
để giải quyết. Lúc này, bằng một bản án, Tòa án sẽ yêu cầu người nắm giữ tài sản
phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu. Tuy nhiên trong quan hệ thu hồi đất, vì “Đất
đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài
nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”5.

4

Trần Quang Huy (chủ biên, 2016), Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb.Công an Nhân dân.
5
Điều 53 Hiến pháp năm 2013.


9

Do đó, Nhà nước thực hiện quyền đại diện để tiến hành quản lý thông qua một
quyết định hành chính có giá trị bắt buộc thi hành đối với người bị thu hồi đất và là
cơ sở làm chấm dứt tư cách chủ thể của người sử dụng đất. Lúc này, Nhà nước sử
dụng quyền lực của mình để bắt buộc người sử dụng đất phải trả lại quyền sử dụng
đất chứ không thông qua một cơ quan trung gian giống như quan hệ đòi lại tài sản
thông thường.
Khi so sánh thu hồi đất với trưng mua tài sản chúng ta nhận thấy, cả hai hoạt
động này đều được tiến hành thông qua quyết định hành chính của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền buộc phải trao trả lại tài sản quyền sử dụng đất cho Nhà nước
và đều là căn cứ làm chấm dứt quyền của chủ thể đối với tài sản. Dù hệ quả pháp lý
của hai hoạt động này cùng làm chấm dứt quyền sử dụng đất của chủ thể sử dụng
đất, tuy nhiên, căn cứ phát sinh chúng hoàn toàn khác nhau. Hoạt động trưng mua
chỉ được thực hiện khi phát sinh các tình huống khẩn cấp, ảnh hưởng đến an ninh
quốc gia, còn việc thu hồi đất lại xuất phát từ ý chí của Nhà nước hoặc từ nguyên
nhân của người sử dụng đất.
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định
thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc
thu lại của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai6 và hậu quả của thu hồi
đất xét về mặt pháp lý sẽ làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân sử dụng mảnh đất.
1.1.2. Cơ sở của việc thu hồi đất
Đất đai là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia Việt Nam, được
hình thành, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân
tộc. Trải qua nhiều thế hệ, từ đời xa xưa cho đến nay, nhân dân ta đã bỏ ra biết bao
công sức khai phá, cải tạo đất, cũng như hy sinh xương máu để gìn giữ từng tấc đất
của quốc gia. Vì vậy, đất đai phải thuộc sở hữu chung của toàn dân, không thể thuộc
về bất cứ một cá nhân, tổ chức nào.

6

Khoản 11 Điều 3 Luật đất đai 2013.


10

Ngay từ Hiến pháp năm 1980 đã khẳng định toàn bộ đất đai đều thuộc sở
hữu toàn dân7. Tuy nhiên, toàn dân là một thuật ngữ mang tính trừu tượng. Toàn
dân với tư cách là chủ sở hữu nhưng không thể trực tiếp thực hiện quyền sở hữu của
mình đối với đất đai mà phải thông qua Nhà nước với tư cách là người đại diện cho
toàn dân, thay mặt toàn dân thực hiện quyền sở hữu.
Nhà nước với những đặc trưng vốn có của mình, là thiết chế trung tâm của hệ
thống chính trị, là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực của mình dưới hình
thức dân chủ đại diện. Vì vậy, Nhà nước là thiết chế đại diện cho nhân dân (chủ sở
hữu duy nhất đối với đất đai ở nước ta) thực hiện quyền chủ sở hữu đối với đất đai.
Nhà nước có chức năng quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Vì vậy, Nhà nước cũng có chức năng thống nhất quản lý về đất đai. Điều này có ý
nghĩa hết sức quan trọng, tuy nhiên Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu về đất
đai nhưng lại không trực tiếp sử dụng đất đai mà thông qua các chủ thể sử dụng đất.
Sở dĩ, nước ta không thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai là vì trong điều kiện
nước ta hiện nay có nguy cơ dẫn đến một số hệ lụy mà chúng ta không mong muốn.
Một là, trong điều kiện nước ta đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, đô
thị hóa, việc thiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tư
cho phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vì, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đòi hỏi
chuyển một diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp.
Sở hữu tư nhân đất đai sẽ đặt nhà đầu tư vào chỗ nếu muốn thu hồi đất thì thỏa
thuận với quá nhiều người dân, chỉ một người không đồng ý với phương án chung
là kế hoạch đầu tư khó triển khai thực hiện.
Hai là, sở hữu tư nhân đất đai sẽ dẫn đến kết quả tập trung đất đai trong tay
một số người có nhiều tiền, dẫn đến có người sở hữu quá nhiều đất, người không có
đất. Mặt khác với sở hữu tư nhân đất đai, người sở hữu đất có quyền đối xử với đất
7

Điều 19 Hiến pháp năm 1980 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên
nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục
vụ lợi ích công cộng; hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đê
điều và công trình thuỷ lợi quan trọng; cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát
thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở văn hoá và xã hội cùng các
tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân.


11

như đối với tài sản riêng, có quyền mua bán, chuyển nhượng, bỏ hoang không sử
dụng, cũng như chuyển mục đích sử dụng gây lãng phí đất đai và khó khăn cho
công tác quản lí.
Ba là, trong chế độ sở hữu tư nhân đất đai, đành rằng Nhà nước có thể giữ lại
quyền quy hoạch mục đích sử dụng từng thửa đất và ràng buộc chủ đất thực hiện
một số quy định vì môi trường sống chung, nhưng không ai có quyền ngăn cản
người chủ đất sử dụng đất theo ý họ, vì đất là tài sản riêng của họ. Lý do này còn
khiến đất đai có xu hướng được sử dụng không hiệu quả, không vì mục đích sinh
tồn của đa số dân cư.
Chính vì thế, để tránh những hệ lụy trên, khi là chủ sở hữu đối với đất đai,
Nhà nước có quyền xem xét và đưa ra những điều kiện để tiến hành trao và công
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho các chủ thể thông qua hoạt động giao đất, cho
thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người đang sử dụng đất hay
nhận quyền từ người sử dụng đất hợp pháp khác. Người sử dụng đất chỉ được sử
dụng một diện tích đất nhất định trong thời hạn nhất định theo quy định của pháp
luật. Do vậy, khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất hoặc khi người sử dụng đất
không có nhu cầu hoặc có những hành vi không phù hợp với yêu cầu mà Nhà nựớc
đặt ra thì Nhà nước tiến hành thu lại quyền sử dụng đất đó. Đây là một hoạt động
thể hiện quyền đại diện đối với đất đai của Nhà nước và chỉ có duy nhất Nhà nước
mới có quyền thực hiện quyền năng này.
1.1.3. Sự cần thiết của việc thu hồi đất
Thu hồi đất là một trong những hoạt động có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến
nhiều giai tầng trong xã hội mà trong đó chủ thể có đất bị thu hồi là đối tượng chịu
sự tác động nhiều nhất và trực tiếp nhất. Đa phần những người bị thu hồi đất phải
gánh chịu những tổn thất nhất định từ việc bị mất quyền sử dụng đất và những lợi
ích gắn liền với việc sử dụng đất đó. Đối với người dân để có được mảnh đất mưu
sinh họ phải trải qua quá trình lao động vất vả, họ phải dốc cả công sức và tiền của
để có được. Do vậy, việc quy định bồi thường thiệt hại khi Nhà nước nước thu hồi
đất cho người có đất bị thu hồi đã góp phần bù đắp lại những thiệt hại mà họ phải
gánh chịu và tạo cơ sở pháp lý quan trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của


12

người có đất bị thu hồi. Theo đó “người bị thu hồi đất, bị thiệt hại về tài sản gắn
liền với đất bị thu hồi được bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định
cư”8. Đồng thời pháp luật đất đai còn đưa ra những quy định làm cơ sở để xác định
tiền bồi thường, giải quyết tranh chấp phát sinh.
Với nhu cầu phát triển kinh tế xã - hội hiện nay thì hoạt động thu hồi đất và
đi kèm với nó là bồi thường tài sản trên đất là một yêu cầu tất yếu khách quan, phù
hợp với việc phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người sử dụng đất. Vì thế,
chính sách bồi thường thiệt hại, trong đó có bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất
cho người có đất bị thu hồi là một mảng hết sức quan trọng và cần thiết góp phần
đảm bảo một cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất. Một khung pháp lý hoàn chỉnh
về bồi thường thiệt hại sẽ phát huy tác dụng tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của người dân.
1.2. Một số vấn đề chung về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi
đất
1.2.1. Khái niệm về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Khái niệm tài sản
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì “Tài sản là vật và lợi ích vật
chất khác thuộc quyền của chủ thể”. Còn theo hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá
Việt Nam thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”9.
Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015:“Tài sản bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá (như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu…) và các quyền tài sản (như
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi
nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với
phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng …)”.
Như vậy, từ các cách định nghĩa trên đều có thể thấy được điểm chung đó là:
tài sản bao gồm vật, lợi ích vật chất khác (tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài
sản…) của các chủ thể.
8

Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
9
Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam, Tiêu chuẩn số 12, Phân loại tài sản (Ban hành kèm
theo Quyết định số 219/2008/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).


13

Pháp luật dân sự cũng như trong thẩm định giá đều chia tài sản thành tài sản
là bất động sản và tài sản là động sản. Bất động sản là các tài sản không di dời
được, bao gồm: đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các
tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất
đai và các tài sản khác theo quy định của pháp luật. Còn tài sản là động sản thì bao
gồm những tài sản không phải là bất động sản.
Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn sẽ chỉ đề cập đến một số tài sản thuộc
nhóm bất động sản như: Nhà ở, công trình xây dựng; cây trồng, vật nuôi; mồ mả.
- Khái niệm tài sản trên đất
Hiện nay pháp luật chưa có bất kì định nghĩa chính thức về tài sản trên đất.
Nhưng trên thực tế, pháp luật đã thừa nhận một cách rất rõ ràng việc bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất, qua đó đã quy định các loại tài sản trên đất.
Tài sản trên đất là những tài sản hữu hình, có hình thái vật chất tồn tại trên
mặt đất bao gồm tài sản di dời được (tài sản là động sản) và tài sản không di dời
được (tài sản là bất động sản) như: Nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi
và một số tài sản khác. Đây cũng là những loại tài sản được đề cập nhiều nhất trong
chế định bồi thường ở phạm vi luận văn này.
- Khái niệm về bồi thường
Theo từ điển Tiếng Việt “bồi thường” là “đền bù những tổn hại gây ra”10.
Trong đời sống hàng ngày “bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong
trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách
nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
Trong lĩnh vực pháp luật thì “bồi thường” được sử dụng trong trường hợp
một chủ thể này có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể kia.
Trong phạm vi Luật Đất đai, vấn đề bồi thường có một số điểm khác biệt so
với một số ngành như Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Lao động. Dưới đây là đặc
trưng để phân biệt bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với việc bồi thường oan sai
trong lĩnh vực pháp luật hình sự:

10

Nguyễn Như Ý (chủ biên, 2001), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 79.


14

Thứ nhất, nguyên nhân bồi thường trong lĩnh vực đất đai thường do hành vi
hành chính, quyết định hành chính của cơ quan nhà nước. Trong khi đó bồi thường
oan sai trong Luật Hình sự là do hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra oan
sai;
Thứ hai, về nội dung của lỗi, trong Luật Đất đai 2013 bồi thường không do
lỗi của người sử dụng đất bị thu hồi đất khi Nhà nước có nhu cầu về đất, cần sử
dụng đất vào quy hoạch liên quan đến diện tích đất đó. Trong khi đó, lỗi trong lĩnh
vực Luật Hình sự là do lỗi hay hành vi vi phạm pháp luật của người tiến hành tố
tụng gây ra;
Thứ ba, nguyên tắc bồi thường trong lĩnh vực đất đai là người có đất bị thu
hồi được bồi thường khi thỏa măn các điều kiện của luật định. Trong khi đó nguyên
tắc bồi thường oan sai trong lĩnh vực Luật Hình sự bao gồm bồi thường thiệt hại về
vật chất và thiệt hại về tinh thần. Việc bồi thường được dựa trên cơ sở thương lượng
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người bị oan sai;
Thứ tư, chủ thể bồi thường trong lĩnh đất đai là cơ quan nhà nước được Nhà
nước giao nhiệm vụ chi trả bồi thường cho người bị thu hồi đất. Trong khi đó, chủ
thể trong việc bồi thường oan sai là cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng
có hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến oan sai.
Thứ năm, kinh phí bồi thường trong lĩnh vực đất đai từ ngân sách nhà nước
còn kinh phí bồi thường trong lĩnh vực hình sự cũng từ ngân sách nhà nước nhưng
người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra oan sai do lỗi của mình
phải có nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào phạm vi bồi thường thì người thuộc đối tượng bị nhà nước thu
hồi đất được bồi thường các chi phí: bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài
sản trên đất. Bồi thường về đất, bao gồm các trường hợp bồi thường đối với đất
nông nghiệp (Điều 77, Điều 78 Luật Đất đai 2013); bồi thường đối với đất ở (Điều
79 Luật Đất đai 2013); bồi thường đối với đất phi nông nghiệp khác (Điều 80, Điều
81 Luật Đất đai 2013).Bồi thường về thiệt hại về tài sản trên đất, bao gồm bồi
thường thiệt hại đối với vật nuôi, cây trồng, hoa màu trên đất (Điều 90 Luật Đất đai
2013); bồi thường thiệt hại đối với nhà ở, công trình xây dựng trên đất (Điều 89


15

Luật Đất đai 2013); bồi thường thiệt hại đối với các loại tài sản khác(Điều 88, Điều
91, Điều 94 Luật Đất đai 2013).
- Khái niệm về bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại của người
sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Khi Nhà nước thu hồi đất, người có đất bị
thu hồi bắt buộc phải di chuyển đến nơi ăn ở mới, họ mất tư liệu sản xuất ổn định
của mình.
Như vậy việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trước hết là trách nhiệm
của Nhà nước nhằm đảm bảo chia sẻ lợi ích, bù đắp những tổn thất, thiệt hại về đất,
về những tài sản gắn liền với đất và cũng nhằm để ổn định đời sốngcho người sử
dụng đất có đất bị thu hồi.
Mặc dù Luật Đất đai 2013 chưa có định nghĩa về bồi thường tài sản trên đất
nhưng dựa trên khái niệm “bồi thường” ta có thể hiểu bồi thường tài sản trên đất
khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước bù đắp những tổn thất, thiệt hại; trả lại
giá trị tương đương đối với những tài sản trên đất (nhà ở, công trình xây dựng, cây
cối, vật nuôi,...) để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng11.
Tuy nhiên, vấn đề bồi thường trong lĩnh vực này rất nhạy cảm và vô cùng
phức tạp vì nó liên quan đến quyền lợi, lợi ích của người có đất bị thu hồi. Để việc
bồi thường đạt hiệu quả, tránh tình trạng khiếu kiện, khiếu nại kéo dài, quá trình bồi
thường thiệt hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất phải tuân thủ đúng các
quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Đồng thời phải cân đối,
kết hợp hài hòa các lợi ích giữa người dân bị thu hồi đất, Nhà nước và nhà đầu tư.
Việc bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất phải dân chủ,
công bằng, công khai.
1.2.2. Cơ sở của việc bồi thường tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

11

Trần Thị Thắm (2015), Những vấn đề pháp lý về bồi thường tài sản trên đất khi nhà nước thu hồi
đất và những vấn đề thực tiễn đặt ra, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 7.


16

Việc xác định thiệt hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất được hình
thành dựa trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, Hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản của Quốc gia, mọi văn
bản chuyên ngành khi xây dựng, sửa đổi, bổ sung đều phải phù hợp với tinh thần
chung của Hiến pháp. Chế định:“Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử
dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh;
phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công
khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật” 12đã khẳng định
quyền thu hồi đất thuộc về Nhà nước và nêu ra nguyên tắc thực hiện khi tiến hành
thu hồi phải công khai, minh bạch. Theo đó, việc Nhà nước thu hồi đất tất yếu sẽ
gây ảnh hưởng tới người dân, gây ra thiệt hại đối với người dân, đó là những người
có đất bị thu hồi.
Mặt khác, xuất phát từ quyền sở hữu tài sản của công dân:“Mọi người có
quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để danh, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư
liệu sản xuất13,…”, tài sản của công dân được bảo hộ theo Hiến pháp và pháp luật.
Tài sản trên đất là tài sản mà người dân tốn bao công sức, tiền của mới có được. Khi
Nhà nước thu hồi đất mặc dù để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng nhưng người dân có tài sản trên đất bị thiệt hại, ảnh
hưởng nghiêm trọng. Do đó, việc xác định thiệt hại làm căn cứ bồi thường sau đó là
việc làm phù hợp với chế định bảo hộ quyền sở hữu tài sản của công dân.
Thứ hai, xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta. Theo đó, mọi hoạt động
nhằm kiến thiết, xây dựng đất nước đều vì lợi ích của nhân dân, phục vụ cho nhân
dân. Tuy nhiên, việc thu hồi đất lại làm ảnh hưởng đến lợi ích của người dân, phần
nào đi ngược lại với bản chất vì dân. Do đó, để cân bằng mục tiêu, cần xác định
được đúng đắn mức độ thiệt hại khi tiến hành thu hồi đất, dựa trên số liệu đo đạc
thực tế, sự phân tích đánh giá khoa học để đảm bảo lợi ích chính đáng cho người
dân.

12
13

Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013.
Điều 32 Hiến pháp năm 2013.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×