Tải bản đầy đủ

Pháp luật đấu giá hàng hóa – thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG ĐỨC ANH

PHÁP LUẬT ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA – THỰC TRẠNG
ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI


HOÀNG ĐỨC ANH

PHÁP LUẬT ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA – THỰC TRẠNG
ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quý Trọng

HÀ NỘI - NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo
chính xác, tin cậy và trung thực. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi
tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan và phù hợp với thực tiễn hiện nay
ở Việt Nam. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hoàng Đức Anh


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS:

Bộ luật dân sự

LTM:

Luật thương mại


LĐGTS:

Luật đấu giá tài sản


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ......................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ............................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài ..........................................................................3
6. Những điểm mới của Luận văn.................................................................................4
7. Kết cấu của Luận văn................................................................................................ 4
CHƢƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA VÀ
PHÁP LUẬT ĐẦU GIÁ HÀNG HÓA .....................................................................5
1.1. Khái quát chung về đấu giá hàng hóa ................................................................ 5
1.1.1. Nhận diện về đấu giá hàng hóa ...........................................................................5
1.1.1.1. Khái niệm đấu giá hàng hóa ............................................................................5
1.1.1.2. Đặc điểm của đấu giá hàng hóa. ......................................................................6
1.1.1.3. Các phương thức và hình thức đấu giá. ...........................................................8
1.1.2. Phân biệt giữa đấu giá hàng hóa với đấu thầu hàng hóa, dịch vụ và đấu giá
dịch vụ .........................................................................................................................11
1.1.2.1. Đấu giá hàng hóa với đấu thầu hàng hóa, dịch vụ .........................................11
1.1.2.2. Đấu giá hàng hóa với đấu giá dịch vụ............................................................ 13
1.2. Khái quát về pháp luật đấu giá hàng hóa ........................................................14
1.2.1. Khái niệm về pháp luật đấu giá hàng hóa .........................................................14
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về đấu giá hàng hóa ........................................17
1.2.3. Vai trò của pháp luật đấu giá hàng hóa ............................................................. 22
CHƢƠNG 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA Ở VIỆT
NAM ........................................................................................................................... 27
2.1. Các quy định của pháp luật về đấu giá hàng hóa ...........................................27
2.1.1. Nguyên tắc đấu giá hàng hóa ............................................................................27
2.1.2. Chủ thể tham gia đấu giá hàng hóa ...................................................................30


2.1.3. Đối tượng của đấu giá hàng hóa .......................................................................36
2.1.4. Quy định về trình tự, thủ tục đấu giá hàng hoá.................................................36
2.1.4.1. Giao kết hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá ....................................36
2.1.4.2. Xác định giá khởi điểm của hàng hoá ............................................................ 37
2.1.4.3. Thông báo, niêm yết, trưng bày hàng hoá đấu giá .........................................38
2.1.4.4. Đăng ký tham gia đấu giá hàng hoá ............................................................... 40
2.1.4.5. Trình tự cuộc đấu giá hàng hoá .....................................................................42
2.1.5. Thực hiện hợp đồng đấu giá hàng hoá .............................................................. 46
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu giá hàng hóa ở Việt Nam hiện nay .....49
2.2.1. Những kết quả đạt được ....................................................................................49
2.2.2. Những bất cập và hạn chế .................................................................................55
2.2.3. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế ........................................................64
2.2.3.1. Nguyên nhân khách quan ...............................................................................64
2.2.3.2. Nguyên nhân chủ quan ..................................................................................70
CHƢƠNG 3.NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM ............................................................ 72
3.1. Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá hàng hóa .............72
3.1.1. Bảo đảm tính kế thừa giá trị của pháp luật hiện hành, đồng thời tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm của quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập. ...................................72
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật bán đấu giá đặt trong hoàn thiện toàn bộ hệ thống pháp
luật chung. ...................................................................................................................73
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật bán đấu giá hàng hóa phải đảm bảo sự quản lý có hiệu
quả của Nhà nước. ......................................................................................................74
3.1.4. Xác định rõ bộ tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về đấu giá
hàng hóa. .....................................................................................................................76
3.2. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu giá hàng hóa trong điều kiện
hội nhập quốc tế ........................................................................................................78
3.2.1. Các giải pháp chung về hoàn thiện pháp luật đấu giá hàng hóa. ......................78
3.2.1.1. Hoàn thiện pháp luật về trình tự, thủ tục đấu giá hàng hóa. .......................... 78
3.2.1.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tài chính liên quan đến hoạt động
đấu giá hàng hoá .........................................................................................................82


3.2.1.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng pháp luật về đấu giá
hàng hóa và rà soát, ban hành các văn bản hướng dẫn để các tổ chức đấu giá hàng
hóa hoạt động hiệu quả. .............................................................................................. 83
3.2.1.4. Hoàn thiện các quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động
đấu giá hàng hoá. ........................................................................................................84
3.2.2. Các giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật đấu giá hàng hóa. ......................85
3.2.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về người tổ chức đấu giá, người bán
hàng và đấu giá viên ...................................................................................................85
3.2.2.2. Quy định rõ trách nhiệm hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu hàng hóa
thông qua mua bán đấu giá. ........................................................................................87
3.2.2.3. Công khai rộng rãi quy trình, đơn giản hóa thủ tục và mở rộng các hình thức
đấu giá trong thời gian tới. .......................................................................................... 87
KẾT LUẬN ................................................................................................................89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển nền kinh tế thị trường, với sự đa dạng các thành phần kinh tế, đa
dạng hình thức sở hữu và loại hình doanh nghiệp đã thúc đẩy các giao dịch dân sự,
thương mại trở nên phong phú, trong đó có các hình thức như: Đấu giá tài sản, đấu
giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ, cho thuê hàng hóa…
Để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh
phát triển, đáp ứng yêu cầu của hoạt động thương mại ngày càng đa dạng, hàng loạt
các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình bán đấu giá
được ban hành như: Bộ luật dân sự (năm 1995; 2005; 2015); Luật Thương mại (năm
1997; 2005); Nghị định số 86 – CP năm 1996 của Chính phủ về việc ban hành Quy
chế bán đấu giá tài sản; Nghị định số 05/NĐ-CP năm 2005 của Chính Phủ về bán
đấu giá tài sản; Thông tư số 03/2005/TT - BTP ngày 05/5/2005 của Bộ Tư pháp
hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05 về Bán đấu giá tài sản, Nghị định số
17/2010/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 06/12/2010
quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17; BLDS 2015 và LĐGTS
2016, Nghị định 62/2017/NĐ-CP hướng dẫn LĐGTS… Các văn bản này ra đời góp
phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ đấu giá hàng
hóa, bảo vệ tài sản của Nhà nước và công dân, hạn chế vi phạm pháp luật của các
chủ thể, đồng thời, góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh thương mại lành
mạnh.
Tuy nhiên, đấu giá hàng hóa ở Việt Nam là một hoạt động khá mới mẻ và
ngày càng phát triển không ngừng cả về loại hình và phương thức thực hiện. Trong
những năm gần đây đã xuất hiện nhiều loại hình đấu giá mới với các loại hàng hóa
đặc thù như: Đấu giá biển số xe, đấu giá thuê bao di động, đấu giá đồ cổ, đấu giá
giấy tờ có giá như cổ phiếu… và đặc biệt hơn là đấu giá quyền sử dụng đất. Cùng với
đó cũng xuất hiện thêm các hình thức đấu giá rất khác biệt như: đấu giá qua Internet,
đấu giá qua điện thoại, đấu giá qua truyền hình…. Những hoạt động này thể hiện đặc
thù của Việt Nam - một nền kinh tế thị trường mới mẻ, non trẻ. Chính vì vậy, trên
thực tế việc xác định quyền và nghĩa vụ, vấn đề giải quyết tranh chấp, quản lý rủi ro
trong đấu giá là rất phức tạp. Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy mặc dù có nhiều tiến
bộ song các quy định của pháp luật về đấu giá hàng hóa - kể cả những văn bản mới
có hiệu lực như LĐGTS 2016 cũng vẫn còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, chưa minh
bạch dẫn đến việc hiểu và áp dụng không thống nhất, do đó chưa đáp ứng được đòi
hỏi của thực tiễn đời sống kinh tế,


2

Từ những bất cập trên, yêu cầu đặt ra là cần nghiên cứu một cách hệ thống,
toàn diện làm cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh pháp luật về đấu giá
hàng hóa ở Việt Nam để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, tác giả đã lựa chọn
và thực hiện đề tài “Pháp luật đấu giá hàng hóa - Thực trạng áp dụng và giải pháp
hoàn thiện” làm Luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá hàng hóa luôn được các cơ quan quản lý
nhà nước và nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm. Từ năm 2007 trở về trước, pháp luật
về đấu giá hàng hóa ở Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện
mà dường như chỉ được đề cập hoặc nêu rải rác ở một số bài báo, tạp chí, luận văn.
Các công trình này chỉ nghiên cứu ở các khía cạnh, giác độ khác nhau hoặc phản ánh
tình hình, cụ thể như: Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Đặng Thanh Hoa về “Một
số vấn đề về hoạt động bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự” năm 2002; Luận
văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Úy về “Pháp luật về Bán đấu giá tài sản
ở Việt Nam” năm 2003; Bài “Vấn đề xã hội hoá bán đấu giá tài sản ở Việt Nam”
của tác giả Tô Hoài Nam, trong Số chuyên đề về Bán đấu giá tài sản trong thi hành
án dân sự 2004; Bài “Một số ý kiến về hình thức bán đấu giá tài sản” của tác giả
Nguyễn Quang Quý, trong Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11/2005; Bài “Hoạt
động bán đấu giá tài sản - Thực tiễn và triển vọng” của tác giả Đỗ Khắc Trung và
bài “Một số bất cập của pháp luật về bán đấu giá tài sản” của tác giả Nguyễn Văn
Mạnh, trong số chuyên đề Bán đấu giá tài sản tháng 10/2006 của Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật; Bài “Những bất cập trong các quy định về bán đấu giá tài sản” của tác
giả Nguyễn Văn Phương, trong Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2008. Đề tài khoa
học cấp Bộ “Hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản nhằm thúc đẩy thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của tác giả Võ Đình Toàn,
Bộ Tư pháp năm 2011.
Tuy nhiên, luận văn và các bài viết trên mới chủ yếu đề cập đấu giá tài sản
theo pháp luật dân sự mà chưa đề cập đến việc đấu giá hàng hóa trong pháp Luật
thương mại. Năm 2007, tác giả Nguyễn Mạnh Cường đã nghiên cứu về “Đấu giá
hàng hóa theo pháp LTM” dưới hình thức luận văn thạc sĩ nhưng trong khuôn khổ
của một luận văn thạc sĩ việc nghiên cứu mới chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản về
đấu giá hàng hóa, mới nêu được những nét mới về trình tự, thủ tục đấu giá hàng hóa
theo quy định của LTM mà chưa nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận, thực tiễn đấu giá
hàng hóa. Đặc biệt, chưa một công trình nghiên cứu nào được công bố phân tích về
đấu giá hàng hóa trong bối cảnh LĐGTS mới được thông qua và về cơ bản có hiệu


3

lực vào ngày 01/07/2017 vừa qua. Do vậy, đây là Luận văn Thạc sỹ đầu tiên nghiên
cứu nhằm làm rõ cả những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật đấu giá hàng hóa
ở Việt Nam trong bối cảnh pháp lý mới để tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện
hiệu quả pháp luật về đấu giá hàng hóa trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm rõ căn cứ lý luận và thực
trạng áp dụng pháp luật về đấu giá hàng hóa. Trên cơ sở đó làm sáng tỏ những kết
quả, bất caaph hay hạn chế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó về đấu giá
hàng hóa. Qua đó xác định những yếu cầu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về đấu giá ở Việt Nam.
Từ mục đích nêu trên, Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể
sau đây:
- Nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của đấu giá hàng hóa;
- Phân tích nội dung, vai trò của pháp luật đấu giá hàng hóa, từ đó làm rõ cơ
sở lý luận của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật đấu giá hàng hóa trong thời gian tới;
- Phân tích và đánh giá một cách sâu sắc thực trạng pháp luật hiện hành của
Việt Nam về đấu giá hàng hóa, từ đó nêu bật những bất cập, hạn chế của pháp luật
đấu giá hàng hóa và việc thực thi pháp luật đấu giá hàng hóa ở Việt Nam trong thời
gian qua. Đây là cơ sở thực tiễn của Luận văn trong việc hoàn thiện pháp luật đấu giá
hàng hóa ở Việt Nam.
- Yêu cầu và những giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu giá hàng hóa.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn. Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là
các quy định của pháp luật hiện hành về đấu giá hàng hóa; thực trạng pháp luật và
thực tiễn áp dụng về đấu giá hàng hóa tại Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ,
tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định tại Luật Thương mại năm 2005 về
đấu giá hàng hóa như nguyên tắc đấu giá, chủ thể, đối tượng, trình tực thủ tục đấu giá
hàng hóa và các văn bản pháp luật có liên quan.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Luận văn còn được thực hiện
trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp
đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


4

Để giải quyết những vấn đề đặt ra, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống hóa, lôgic và lịch sử.
Phương pháp so sánh luật học được sử dụng để tham khảo kinh nghiệm về pháp luật
điều chỉnh quan hệ đấu giá thương mại ở trong nước và nước ngoài. Phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê, hệ thống hoá, lôgic và lịch sử để làm rõ các quy định của
pháp luật từ trước tới nay về quy trình tổ chức đấu giá hàng hóa, chỉ ra những bất cập
của pháp luật và đề xuất hướng giải pháp khắc phục.
6. Những điểm mới của Luận văn
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về
pháp luật đấu giá hàng hóa trong thương mại như khái niệm, nội dung và vai trò của
đấu giá hàng hóa.
- Luận văn tập trung phân tích, đánh giá khách quan và toàn diện thực trạng
pháp luật đấu giá hàng hóa. Trên cơ sở đó chỉ rõ những kết quả cũng như bất cập,
hạn chế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó trong hoạt động đấu giá hàng
hóa.
- Luận văn đã làm rõ những yêu cầu đề ra, đánh giá mức độ hoàn thiện pháp
luật về đấu giá hàng hóa, phương hướng và các giải pháp để hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh quan hệ đấu giá hàng hóa ở Việt Nam trong
bối cảnh pháp lý mới – sự ra đời và có hiệu lực của LĐGTS năm 2016.
- Luận văn còn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích trong các cơ sở đào tạo
pháp luật kinh tế và pháp luật dân sự.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 3
Chương nội dung:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về đấu giá hàng hóa và pháp luật đầu giá
hàng hóa
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về đấu giá hàng hóa tại Việt Nam
- Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu giá
hàng hóa ở Việt Nam.


5

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT
ĐẦU GIÁ HÀNG HÓA
1.1. Khái quát chung về đấu giá hàng hóa
1.1.1. Nhận diện về đấu giá hàng hóa
1.1.1.1. Khái niệm đấu giá hàng hóa
Dưới góc độ pháp lý, đấu giá hàng hóa được hiểu là phương thức tổ chức
mua bán hàng hóa công khai có nhiều người cùng tham gia trả giá và người nào trả
giá cao nhất là người mua được hàng hóa đó. Với cách hiểu này, đấu giá hàng hóa
đã được hiểu là một chế định pháp luật dân sự - thương mại bao gồm các quy phạm
pháp luật về đấu giá. Các quy phạm này quy định về nguyên tắc, hình thức, điều
kiện, trình tự, thủ tục, nội dung đấu giá…. thông qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên tham gia quan hệ.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, dấu giá hàng hóa được hiểu là một quan hệ
pháp luật dân sự và thương mại, bao gồm khách thể, chủ thể và nội dung của quan
hệ. Chủ thể của quan hệ đấu giá chính là những người tham gia quan hệ đó bao gồm:
người có hàng hoá, người bán đấu giá, người điều hành đấu giá và người mua hàng
hoá... Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các bên tham gia quan hệ
hướng tới như: Quyền sở hữu đối với hàng hóa của bên mua; Quyền hưởng (sở hữu)
giá trị vật chất (chủ yếu là tiền) bán hàng của bên bán; Quyền hưởng thù lao dịch vụ
bán đấu giá của bên tổ chức đấu giá, điều hành đấu giá; Quyền hưởng thù lao và chi
phí giám định hàng hóa của giám định viên… Khi tham gia quan hệ, lợi ích của các
bên chỉ đạt được khi các bên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình để thỏa mãn yêu
cầu của bên kia. Muốn thực hiện tốt nghĩa vụ của các bên thì phải xác định rõ quyền
và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ nghĩa vụ. Vì vậy, nội dung của quan hệ
pháp luật về đấu giá hàng hóa là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
trong quan hệ này.
Dưới góc độ hình thức tồn tại, đấu giá hàng hóa còn được hiểu là một hợp
đồng dân sự, thương mại. Đấu giá hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó,
bên bán chuyển giao hàng hóa và chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua, còn bên
mua có quyền nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Là hợp đồng mua bán nên hợp
đồng đấu giá cũng mang bản chất của hợp đồng mua bán nói chung, đó là hợp đồng
ưng thuận, hợp đồng song vụ và có đền bù. Tuy nhiên, hợp đồng mua bán đấu giá có
những nét đặc thù riêng khác với hợp đồng mua bán thông thường ở đặc điểm và bản
chất của nó.


6

Như vậy, có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về đấu giá hàng hóa
nhưng tất cả các quan điểm, khái niệm đó đều xác định bản chất của đấu giá, đó là:
Phương thức mua bán công khai có nhiều người tham gia trả giá. Từ kết quả nghiên
cứu, tác giả cho rằng: “Đấu giá hàng hóa là một hình thức mua bán đặc biệt, theo đó
người mua tự trả giá dựa trên giá khởi điểm do bên bán đưa ra. Người nào trả giá
cao nhất sẽ được quyền mua hàng hoá đấu giá. Đấu giá được tổ chức công khai theo
những nguyên tắc và trình tự, thủ tục nhất định”.
1.1.1.2. Đặc điểm của đấu giá hàng hóa.
Thứ nhất, đấu giá hàng hóa là hoạt động bán hàng đặc thù. Hoạt động đấu
giá hàng hóa có những đặc thù riêng nhất định thể hiện bản chất của nó bao gồm:
Một là, đấu giá hàng hóa mang tính cạnh tranh, công khai, lành mạnh. Đối
với mua bán hàng hóa qua đấu giá, phiên bán đấu giá thường được thông báo công
khai để thu hút đông đảo người tham gia trả giá. Số người tham gia trả giá thường
lớn hơn số người cần mua. Chính bởi vậy, mức độ cạnh tranh trong trả giá rất cao.
Tất cả những người tham gia đấu giá đều muốn mua được hàng hóa, bởi vậy họ sẽ
nâng giá của hàng hóa lên mức cao nhất có thể. Để đảm bảo tính cạnh tranh lành
mạnh, chính những người tham gia sẽ cùng nhau trả giá và giám sát quá trình đấu giá
để bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách tốt nhất.
Hai là, đấu giá hàng hóa là hoạt động bán hàng thông qua trung gian . Trong
quan hệ đấu giá hàng hóa, trừ trường hợp người bán đấu giá (người có hàng hóa) tự
mình tổ chức đấu giá, các trường hợp khác, ngoài bên bán, bên mua còn có sự tham
gia của trung gian là người làm dịch vụ đấu giá. Người làm dịch vụ đấu giá là những
tổ chức được người bán hàng hóa ủy quyền tiến hành việc bán đấu giá, trong đó: (i)
Mối quan hệ giữa người có hàng hóa và người bán đấu giá là mối quan hệ đại diện
được xác lập thông qua hợp đồng ủy quyền. Theo đó, bên bán đấu giá sẽ nhân danh
người bán hàng hóa trong phạm vi ủy quyền; (ii) Mối quan hệ giữa người bán đấu giá
và người mua hàng hóa là quan hệ giữa người được ủy quyền với người thứ ba
(người mua hàng hóa). Người bán đấu giá là người được ủy quyền và đại diện cho
người có hàng hóa trong việc xác lập giao dịch với người mua hàng hóa. Giao dịch
này được xác lập sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người có hàng hóa và
người mua hàng hóa.
Hình thức pháp lý của quan hệ đấu giá có thể được thiết lập dưới một dạng rất
đặc biệt là hợp đồng ủy quyền bán đấu giá và văn bản bán đấu giá hàng hóa. Hợp
đồng ủy quyền bán đấu giá được xác lập giữa người có hàng hóa và người tổ chức
bán đấu giá. Nó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy quyền


7

bán đấu giá hàng hóa. Còn văn bản bán đấu giá thực chất là hợp đồng mua bán hàng
hóa được xác lập giữa các bên liên quan (người có hàng hóa, người mua hàng hóa và
người tổ chức bán đấu giá). Văn bản này là cơ sở pháp lý để xác lập quyền và nghĩa
vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa, đồng thời là căn cứ để xác lập
quyền sở hữu của người mua đối với hàng hóa bán đấu giá.
Ba là, đối tượng của đấu giá hàng hóa là những loại hàng hóa có đặc thù về
giá trị hoặc giá trị sử dụng. Thông thường, chỉ những hàng hóa có đặc thù về giá trị
cũng như giá trị sử dụng mới được người có hàng hóa cân nhắc để lựa chọn bán theo
phương thức đấu giá. Những hàng hóa được đem đấu giá là loại hàng hóa khó xác
định giá trị thực của nó như các loại hàng hóa khác. Do vậy, người bán hàng hóa chỉ
đưa ra mức giá cơ bản (giá khởi điểm) để người mua tham khảo giá, còn giá bán thực
tế do những người tham dự cuộc đấu giá xác định trên cơ sở sự cạnh tranh giá với
nhau. Giá bán thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá mà người bán đưa ra ban đầu.
Thứ hai, đấu giá hàng hóa là một phương thức kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi bên tham gia quan hệ mua bán hàng hóa
đều vì mục tiêu lợi nhuận. Khác với mua bán tài sản thông thường, chủ thể trong
hoạt động mua bán hàng hóa chính là thương nhân hoặc các cá nhân có đăng ký kinh
doanh. Những chủ thể này tham gia quan hệ với mục tiêu thu lợi nhuận. Mục đích
mua bán hàng hóa của họ không phải để sử dụng mà là mua đi bán lại sinh lời. Do
vậy, hành vi mua bán hàng hóa chính là một hoạt động đầu tư, kinh doanh của các
chủ thể trong quan hệ kinh tế, thương mại. Trong đấu giá hang hóa: Người tổ chức
đấu giá, người điều hành đấu giá là người đứng ra tổ chức, điều hành các cuộc đấu
giá của cá nhân, tổ chức để thu phí dịch vụ; người bán hàng muốn hàng hóa của
mình thông qua đấu giá sẽ được giá cao nhất; người mua hàng hóa thông qua việc trả
giá hàng hóa đấu giá sẽ mua được hàng hóa theo đúng kế hoạch của mình đưa ra là
mua được hàng hóa rẻ, chất lượng và có thể sinh lời.
Thứ ba, phương thức và hình thức đấu giá hàng hóa rất đa dạng.
Tùy thuộc vào đối tượng hàng hóa, mục đích và điều kiện tổ chức đấu giá mà
đấu giá hàng hóa có thể được thực hiện theo nhiều cách thức khác nhau như đấu giá
theo phương thức trả giá lên, đấu giá theo phương thức đặt giá xuống, phương thức
đấu giá ngược, đấu giá kiểu nhượng quyền, tổ hợp.
Hình thức đấu giá hàng hoá có thể trực tiếp bằng lời nói, bằng bỏ phiếu, thông
qua mạng Internet hoặc các hình thức khác. Trong thực tế, khi tổ chức đấu giá hàng
hóa sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề mà mỗi hình thức đấu giá có những ưu, nhược điểm
khác nhau.


8

1.1.1.3. Các phương thức và hình thức đấu giá.
- Các phương thức đấu giá.
Một là, đấu giá theo phương thức trả giá lên được bắt nguồn từ nước Anh.
Phương thức này được áp dụng để bán đấu giá đối với tất cả các loại hàng hóa, từ
những thứ có thể định giá chính xác đến những thứ không thể định giá chính xác như
các tác phẩm nghệ thuật, quyền sáng chế…. Đây là hình thức đấu giá phổ biến nhất
được áp dụng nhiều tại các nước trên thế giới. Tại các cuộc đấu giá, nhân viên điều
hành nêu giá khởi điểm của lô hàng hay tài sản bán đấu giá. Mức giá khởi điểm này
là mức giá được định bởi các chuyên gia, được sự nhất trí của người bán trên cơ sở
đánh giá giá trị hàng hóa. Giá khởi điểm được tính tương đối sát với giá trị của hàng
hóa để chỉ cần vượt qua (hoặc bằng giá nếu có sự đồng ý của người bán) là có thể
bán được. Tuy nhiên, sự định giá này cũng chỉ mang tính tương đối vì cũng có khi
hàng hóa đem bán là những thứ rất khó xác định như các tác phẩm nghệ thuật, đồ cổ,
giấy tờ có giá…. Tại cuộc đấu giá, những người tham gia sẽ trả giá nâng dần lên theo
từng mức nhất định. Người điều hành đấu giá thông báo công khai về giá đã trả của
những người tham gia đấu giá hàng hoá bằng cách nhắc lại ba lần một cách rõ ràng,
chính xác bằng lời nói giá đã trả cao nhất, mỗi lần cách nhau ba mươi giây. Người
điều hành đấu giá chỉ được công bố người mua được hàng hoá đấu giá nếu sau ba lần
nhắc lại giá người đó đã trả mà không có người nào trả giá cao hơn. Trường hợp giá
trả cao nhất được công bố thấp hơn so với giá khởi điểm thì cuộc đấu giá hàng hoá
coi như không thành.
Ở nước ta hiện nay, phương thức trả giá lên được áp dụng phổ biến và thông
dụng nhất. Hầu hết các văn bản đấu giá đều quy định phương thức này cho các cuộc
đấu giá là tài sản và hàng hoá.
Hai là, đấu giá theo phương thức đặt giá xuống. Phương thức đấu giá này bắt
nguồn từ Hà Lan, vào đầu thế kỷ XV. Thông thường phương thức đấu giá này
thường được sử dụng để bán các hàng hóa có giới hạn tồn tại, có nghĩa là các hàng
hóa nhanh hỏng như bán đấu giá hoa ở Hà Lan, bán cá tại Anh, thị trường tín dụng ở
Rumani, trao đổi ngoại thương ở Bolivia, Jamaica, Zambia.
Phương thức đấu giá này thường được tổ chức bởi các nhà tổ chức đấu giá lớn
và nhiều kinh nghiệm. Trong cuộc đấu giá theo phương thức này, giá khởi điểm
thường được đưa ra rất cao, không người nào mua nổi. Tiếp theo, mức giá này được
giảm dần với một mức định trước. Mức định trước này có thể hiểu là một mức giá
định trước, một mức thời gian định trước và tùy theo cuộc đấu giá khác nhau mà các
mức quy định này khác nhau. Người tổ chức đấu giá đưa ra giá và chờ người tham


9

gia đấu giá đồng ý. Nếu không có ai đồng ý thì người điều hành đấu giá sẽ giảm giá
theo mức đã định và hỏi lại những người tham gia trả giá. Mức giá cứ giảm dần cho
đến khi một người mua xác nhận hàng hóa đấu giá là của họ trong trường hợp họ
đồng ý giá mà người điều hành đấu giá đưa ra. Đối với phương thức đấu giá này, thời
gian diễn ra cuộc đấu giá rất ngắn, mọi người tham gia cuộc đấu giá thường im lặng
để chờ đến mức giá mà họ có thể quyết định mua. Điều này hoàn toàn ngược lại với
không khí cạnh tranh sôi nổi của đấu giá theo phương thức đấu giá lên. Tính cạnh
tranh trong phương thức đấu giá này là cạnh tranh ngầm giữa những người tham gia
đấu giá muốn sở hữu hàng hóa. Mức giá càng giảm thì người tham gia đấu giá càng
muốn mua và tính cạnh tranh ngày càng tăng.
Hiện nay, LTM năm 2005 (khoản 2 Điều 185) và LĐGTS năm 2016 (khoản 2
Điều 40) đều quy định cả hai phương thức đấu giá hàng hoá là trả giá lên và đặt giá
xuống sẽ giúp tổ chức đấu giá và người có hàng hoá thoả thuận lựa chọn phương
thức phù hợp với mục đích và với từng loại hàng hoá bán đấu giá. Trong thực tiễn,
có những loại hàng hoá được đưa ra bán đấu giá với mục tiêu trước tiên là phải bán
được hàng hoá, sau đó mới đến mục tiêu bán hàng hoá với giá tốt nhất. Trong trường
hợp này, đấu giá theo phương thức đặt giá xuống sẽ đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Ngoài hai phương thức đấu giá cơ bản là trả giá lên và phương thức đặt giá
xuống như trên thì hiện nay còn tồn tại một số phương thức đấu giá khác như: phương
thức đấu giá ngược được áp dụng đối với các cuộc đấu giá trực tuyến; phương thức
đấu giá nhượng quyền là phương thức đấu giá dài vô hạn định, dành cho những sản
phẩm có thể được tái bản (như bản thu âm, phần mềm, sáng tác, công thức làm
thuốc, nước hoa, rượu…)1; phương thức đấu giá kiểu tổ hợp2
- Về hình thức đấu giá hàng hóa.
Hình thức đấu giá hàng hoá có thể trực tiếp bằng lời nói, bằng bỏ phiếu, thông
qua mạng Internet hoặc các hình thức khác. Trong thực tế, khi tổ chức đấu giá hàng
hóa sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề mà mỗi hình thức đấu giá có những ưu, nhược điểm
khác nhau:
+ Đấu giá trực tiếp bằng lời nói là hình thức mà trong phiên đấu giá, nhân
viên điều hành đấu giá dùng lời nói của mình để đưa ra giá khởi điểm. Người mua sẽ
đặt giá cũng bằng lời nói hoặc bằng việc làm dấu hiệu để người điều hành đấu giá
biết. Đấu giá trực tiếp bằng lời nói là hình thức được áp dụng rộng rãi nhất trong các
1
2

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5u_gi%C3%A
http://worldcup.nld.com.vn/175342p0c1002/ban-dau-gia-lan-2-khach-san-tan-da-tphcm.htm.


10

hình thức bán đấu giá hàng hóa. Tuy nhiên, những cuộc đấu giá áp dụng hình thức
này nếu có nhiều người tham gia thì rất khó điều hành. Bởi vì, sau khi người đầu tiên
trả giá thì có thể có hàng loạt người trả giá cùng một lúc. Điều này dẫn đến người
điều hành đấu giá không xác định được ai sẽ là người được trả giá kế tiếp, gây ra tình
trạng mất trật tự trong cuộc đấu giá. Mặt khác, áp dụng hình thức đấu giá này có thể
phát sinh tiêu cực khi mà người tổ chức đấu giá sắp xếp thứ tự người tham gia đấu
giá có lợi cho người mua trong trường hợp người mua móc ngoặc với người tổ chức
đấu giá.
+ Đấu giá bằng bỏ phiếu là hình thức đấu giá mà việc trả giá của người mua
không được thể hiện bằng lời nói hoặc làm dấu hiệu mà người tham gia đấu giá phải
trả giá bằng hình thức viết vào phiếu do người tổ chức đấu giá cung cấp. Nhân viên
điều hành sẽ thông báo mức giá khởi điểm của hàng hoá và những người tham gia trả
giá trên cơ sở mức giá khởi điểm đó. Sau khi những người tham gia đã trả giá bằng
cách bỏ vào hòm phiếu đã được quy định thì nhân viên điều hành cuộc bán đấu giá tổ
chức mở hòm phiếu kiểm tra và thông báo người trúng giá là người trả giá cao nhất
và duy nhất. Hình thức này áp dụng phù hợp với những cuộc đấu giá có số lượng
người đăng ký tham gia đấu giá nhiều như đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có
thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất và đấu giá cổ phần… Ưu điểm của hình thức
đấu giá này là làm hạn chế được tình trạng chạy đua của những người tham gia đấu
giá trong việc nâng giá của hàng hoá lên quá cao so với giá trị thực của hàng hoá, vì
mỗi người mua sẽ không biết mức giá mà người mua khác trả trong mỗi lần trả giá.
Do đó, những tiêu cực trong đấu giá bằng hình thức này khó thực hiện, tránh được
hiện tượng móc ngoặc hoặc gây rối, mất trật tự trong cuộc đấu giá. Tuy nhiên, nhược
điểm của hình thức đấu giá này là thủ tục phức tạp và mất nhiều thời gian hơn so với
đấu giá bằng lời nói. Không khí của cuộc đấu giá cũng không sôi động. Sự cạnh
tranh của những người tham gia đấu giá cũng không quyết liệt như đấu giá bằng lời
nói.
+ Đấu giá thông qua mạng Internet (Đấu giá trực tuyến) là hình thức đấu giá
hàng hóa hiện đại. Hình thức này không ràng buộc thời gian, không gian. Các sản
phẩm đấu giá thường được liệt kê trên mạng một vài ngày (thường là từ 1 đến 5
ngày, tuỳ theo chiến lược của người bán hàng hoá) để người mua có thời gian tìm
hiểu, xem xét, quyết định và trả giá. Giá trị của hàng hoá sẽ được nâng lên theo số
lượng người tham gia trả giá. Đấu giá trực tuyến không ràng buộc về địa lý, nghĩa là
những người bán hàng hoá và những người tham gia đấu giá có thể tham gia đấu giá
ở bất kỳ nơi nào có truy cập Internet. Điều này làm cho các cuộc đấu giá thêm gần


11

gũi và giảm chi phí tham dự một cuộc đấu giá. Đồng thời cũng làm tăng số lượng các
sản phẩm hàng hoá (có nhiều người bán hàng hoá) và số lượng người tham gia đấu
giá. Hàng hoá không cần phải đưa đến sàn đấu giá nên giảm được chi phí, giảm được
mức giá khởi điểm. Hơn nữa, đấu giá thông qua mạng Internet còn làm tăng sức
mạnh của tương tác xã hội. Những người tham gia đấu giá trong quá trình đấu giá
thường chờ đợi, hi vọng là mình sẽ thắng sau khi trả giá hàng hoá. Nhiều người tham
gia đấu giá qua mạng như một thú vui và sự đam mê. Họ tham gia đặt giá chủ yếu để
“chơi trò chơi”, khám phá các mối quan hệ xã hội chứ không chỉ muốn giành được
món hàng. Chính vì vậy, ngoài tác dụng hình thành và thúc đẩy quan hệ mua bán,
đấu giá thông qua mạng Internet còn có tác dụng làm tăng sự tương tác, thúc đẩy các
mối quan hệ xã hội. Thêm vào đó, hình thức này giúp chi phí dịch vụ ít, tiện lợi, giúp
cho người bán hàng bán được nhiều hàng hoá hơn và thu được lợi nhuận nhanh hơn.
Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhiều bất tiện, đó là việc không có gì ràng buộc
người tham gia đấu giá. Do vậy, nhiều người tham gia đấu giá trả giá rất cao, rồi
không mua hàng hóa. Ngoài ra, một số người tham gia đấu giá dùng những tên ảo
tham gia để phá cuộc đấu giá giúp họ mua được hàng hóa chất lượng nhưng giá rẻ.
Ngoài các hình thức đấu giá nêu trên, pháp luật hiện hành còn cho phép người
có hàng hoá bán đấu giá và người tổ chức đấu giá thoả thuận các hình thức đấu giá
khác. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động đấu giá hiện nay, các tổ chức đấu giá không có
sự lựa chọn linh hoạt các hình thức đấu giá cho phù hợp với từng loại hàng hoá để
bán đấu giá thu được hiệu quả cao, mà chủ yếu chỉ chọn hình thức đấu giá trực tiếp
bằng lời nói và phương thức trả giá lên để đảm bảo sự an toàn và tránh rủi ro khi tổ
chức đấu giá.
Từ những đặc thù trên, chúng ta có thể nhận thấy so với các phương thức bán
hàng khác, đấu giá hàng hóa đem lại lợi ích cho cả người bán hàng và người mua
hàng. Nó tạo cơ hội bình đẳng cho những người mua hàng cùng tham gia trả giá, qua
đó xác định được một mức giá cạnh tranh có lợi nhất cho người bán hàng. Nhờ việc
tổ chức đấu giá mà hàng hóa đem bán sẽ đến tay những người mua có tiềm năng và
hiểu đúng giá trị của hàng hóa nhất. Đấu giá còn tập trung được cung và cầu về các
loại hàng hóa vào một thời gian và một địa điểm nhất định, giúp cho người bán hàng
hóa, người tổ chức bán đấu giá và người mua hàng hóa xác lập quan hệ mua bán hàng
hóa được diễn ra nhanh chóng, thuận tiện.
1.1.2. Phân biệt giữa đấu giá hàng hóa với đấu thầu hàng hóa, dịch vụ và đấu giá
dịch vụ
1.1.2.1. Đấu giá hàng hóa với đấu thầu hàng hóa, dịch vụ


12

Việc phân biệt giữa đấu giá hàng hóa và đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là cần
thiết bởi lẽ đây là hai hoạt động thương mại, kinh tế khác nhau có nhiều điểm tương
đồng dễ bị nhầm lẫn khi lựa chọn luật áp dụng. Trong quan hệ mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ, hoạt động đấu giá hàng hoá và đấu thầu hàng hóa, dịch vụ ngoài
những điểm giống nhau là cùng có mục đích nhằm công khai, minh bạch, cạnh tranh
về giá cả, để đảm bảo quyền và lợi ích của chủ sở hữu, của Nhà nước, của công dân
và các tổ chức thì còn có những điểm khác biệt cơ bản như sau:
Một là, về bản chất: Đấu giá hàng hóa là một hợp đồng mua bán hàng hóa
công khai có nhiều người cùng tham gia trả giá và người trả giá cao nhất là người
mua được hàng hóa. Đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là một tiến trình mua bán hàng hóa,
dịch vụ theo một quy chế riêng biệt nhằm chọn được nhà cung cấp đáp ứng được yêu
cầu của bên mua để ký kết và thực hiện hợp đồng. Nếu đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là
một hình thức công khai để lựa chọn người bán hàng, người cung ứng dịch vụ, thì
đấu giá hàng hóa là hình thức công khai để lựa chọn người mua hàng.
Hai là, về chủ thể: Trong đấu giá hàng hóa thì chủ thể tham gia thông thường
bao gồm 3 bên là người bán hàng hóa, người tổ chức đấu giá (bên trung gian) và
người mua. Còn các chủ thể trong đấu thầu hàng hóa, dịch vụ chỉ bao gồm có hai bên
là bên mời thầu và bên tham gia đấu thầu (bên dự thầu), nghĩa là không có bên trung
gian. Ngoài ra, trong đấu giá hàng hóa thì chủ sở hữu hàng hóa hoặc người có quyền
bán hàng hóa chủ động đưa hàng hóa ra đấu giá thì trong đấu thầu hàng hóa, dịch vụ,
bên có hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ lại là người tham gia đấu thầu dựa trên sự
mời thầu của bên không có hàng hóa, dịch vụ (bên này chỉ có nhu cầu mua hàng hóa
hoặc sử dụng dịch vụ tốt nhất với giá hợp lý nhất mà thôi).
Ba là, về đối tượng: Nếu đối tượng của đấu giá hàng hóa chỉ là hàng hóa được
phép lưu thông trong giao dịch dân sự, thương mại thì đấu thầu được tiến hành với cả
hàng hóa hoặc dịch vụ (như đấu thầu xây dựng, đấu thầu tư vấn dự án, đấu thầu lắp
đặt trang thiết bị…). Chính vì vậy, nếu trong đấu giá, bên bán hàng hóa chỉ quan tâm
đến giá cả và người nào trả giá cao nhất sẽ trúng đấu giá thì đối với đấu thầu hàng
hóa, dịch vụ, bên mời thầu ngoài giá cả thì còn quan tâm, xem xét nhiều hơn đến
trình độ kỹ thuật, khả năng, uy tín, công nghệ, bản quyền, tài chính…của bên dự thầu
để lựa chọn chủ thể trúng thầu.
Bốn là, về phương thức: Trong đấu giá hàng hoá có hai phương thức đấu giá
chính là phương thức trả giá lên và phương thức đặt giá xuống. Còn đấu thầu hàng
hóa, dịch vụ có hai phương thức là đấu thầu rộng rãi nghĩa là không hạn chế số lượng
các bên dự thầu và thông báo công khai các điều kiện dự thầu trên các phương tiện


13

thông tin đại chúng và đấu thầu hạn chế nghĩa là bên mời thầu chỉ mời một số bên có
điều kiện tốt nhất tham gia dự thầu. Trong đấu thầu không có quy định về trả giá lên hay
đặt giá xuống.
Năm là, về thông tin: Nội dung thông báo và niêm yết đấu giá hàng hoá được
thực hiện công khai, từ việc xác định thời gian, địa điểm; tên, địa chỉ của người tổ
chức đấu giá, người bán hàng; giá khởi điểm; các thông tin cần thiết liên quan đến
danh mục, số lượng, chất lượng hàng hoá; giá khởi điểm; địa điểm, thời gian đăng ký
mua hàng hoá... Trong đấu thầu hàng hóa, dịch vụ, bên mời thầu tổ chức tiếp nhận hồ
sơ thầu, vào sổ, niêm phong, quản lý và bảo đảm giữ bí mật hồ sơ dự thầu; các tổ
chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức đấu thầu và xét chọn nhà thầu phải giữ bí
mật thông tin liên quan trong suốt quá trình đấu thầu.
Sáu là, về điều kiện bảo đảm: Trong một số trường hợp, người tổ chức đấu
giá có thể yêu cầu người tham gia đấu giá nộp một khoản tiền đặt trước. Ngược lại,
trong đấu thầu, bên mời thầu có thể yêu cầu bên dự thầu nộp tiền đặt cọc, ký quỹ
hoặc bảo lãnh dự thầu khi nộp hồ sơ dự thầu.
Bảy là, về trình tự, thủ tục: Trong đấu giá hàng hoá thì người trả giá cao nhất
là người trúng đấu giá. Kết thúc phiên đấu giá thì hợp đồng mua bán được giao kết.
Còn đấu thầu, bên mời thầu tiến hành xét thầu theo trình tự như: nghiên cứu, đánh
giá chi tiết và xếp hạng các hồ sơ dự thầu đã được mở, căn cứ theo yêu cầu của hồ sơ
mời thầu và tiêu chuẩn đánh giá để lựa chọn thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu
cầu do bên mời thầu đặt ra để ký kết và thực hiện hợp đồng.
1.1.2.2. Đấu giá hàng hóa với đấu giá dịch vụ
Trên thực tế, có sự xuất hiện của một số hiện tượng mà người ta cho rằng đó
là “đấu giá dịch vụ” và thường xảy ra khi nhu cầu sử dụng dịch vụ tăng đột biến so
với khả năng cung cấp dịch vụ có hạn của chủ thể cung ứng dịch vụ. Chẳng hạn: Vào
ngày lễ tình nhân 14/2/2016, có rất nhiều đơn vị tổ chức sự kiện nhận được đề xuất
tổ chức sự kiện nhưng phần ca sỹ chỉ chấp nhận ca sỹ A. Ca sỹ đó thì chưa biết ký
hơp đồng dịch vụ với tổ chức sự kiện nào. Vì vậy, các công ty tổ chức tổ chức sự
kiện mong muốn thực hiện đấu giá dịch vụ của ca sỹ A để hát trong đêm sự kiện đó.
Rõ ràng, hành vi mong muốn trả giá của các công ty sự kiện rất giống với đấu giá,
nhưng đối tượng trả giá lại không phải là hàng hóa mà là một hoạt động giải trí (nghe
ca sỹ A hát).. Đây cũng không phải là đấu thầu vì trong đấu thầu, người được quyền
lựa chọn là bên sử dụng dịch vụ chứ không phải bên cung ứng dịch vụ. Pháp luật
Việt Nam hiện hành chưa giải quyết được vấn đề này vì không có quy định nên
không thể so sánh giữa đấu giá hàng hóa và “đấu giá dịch vụ” nhưng cũng không thể


14

phủ nhận hiện tượng này nó vẫn nảy sinh trong xã hội khi có sự đột biến về cung –
cầu dịch vụ, như: Đấu giá quyền sử dụng dịch vụ Karaoke, matxa, câu cá, đánh gôn,
tổ chức đám cưới, chăm sóc thú cưng… tại những lúc “cao điểm”…
1.2. Khái quát về pháp luật đấu giá hàng hóa
1.2.1. Khái niệm về pháp luật đấu giá hàng hóa
Dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, chính quyền thực dân đã ban hành luật Dân
sự, Thương sự tố Tụng, Bộ Luật Bắc Kì, Hoàng Việt Trung kỳ Hộ Luật quy định về
phát mại tài sản ở những năm 30 của thế kỉ XX. Đến năm 1972 ở Miền Nam Việt
Nam, chính quyền Sài Gòn ban hành Bộ luật dân sự và Thương sự tố tụng, Bộ
thương luật để bán đấu giá tài sản.
Sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước ta đã xóa bỏ hệ thống pháp luật của
chế độ cũ, từng bước xây dựng hệ thống pháp luật mới. Tuy nhiên các văn bản về
bán đấu giá tài sản mang tính chất đơn lẻ và được xử lý tùy thuộc vào tình hình cụ
thể mà không có tính hệ thống. Pháp luật về đấu giá hàng hóa thời kỳ này chỉ tập
trung chủ yếu vào việc xử lý hàng hóa thi hành án và các hàng hóa xử lý theo quyết
định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không có một khuôn khổ
pháp lý chung cho hoạt động đấu giá cho nên chỉ có hướng dẫn xử lý hàng hóa đấu
giá cho từng vụ việc cụ thể. Vì không có khuôn khổ pháp lý chung cho hoạt động
đấu giá nên cũng không hình thành các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp. Ngoài cơ
quan thi hành án, việc tổ chức đấu giá thường do các cơ quan hành chính thực hiện
theo cơ chế hội đồng liên ngành. Tổ chức đấu giá hàng hóa trong lĩnh vực dân sự,
thương mại thông thường hầu như không được pháp luật quan tâm đến.
Để khắc phục những bất cập trên, BLDS năm 1995 được ban hành, đã phần
nào giải quyết được thực trạng đấu giá hàng hóa ở nước ta. Bộ luật đã quy định tại
điểm III Mục I Chương II về việc mua bán hàng hóa, trong đó Bộ luật quy định về
hàng hóa đấu giá gồm: Hàng hóa đem đấu giá theo ý muốn của chủ sở hữu hoặc theo
pháp luật, hàng hóa chung đem đấu giá phải có sự đồng ý của các chủ sở hữu; trình
tự đấu giá hàng hóa như: Tổ chức đấu giá, thông báo, thực hiện bán đấu giá; tổ chức
đấu giá động sản, bất động sản... Để hướng dẫn cụ thể việc bán đấu giá theo Điều
454 BLDS năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 86 – CP năm 1996 về ban
hành Quy chế bán đấu giá tài sản. Và để thi hành Nghị định số 86 – CP năm 1996,
Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 399/PLDSKT ngày 07/4/1997 hướng dẫn một
số quy định về đấu giá hàng hóa.
Ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông qua Luật Thương mại. Luật Thương mại
năm 1997 được ban hành tạo cơ sở pháp lý để phát triển kinh tế hàng hóa nhiều


15

thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp
tác xã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân; phát triển hàng hoá và dịch vụ thương
mại trên các vùng của đất nước; mở rộng giao lưu thương mại với nước ngoài; góp
phần đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của
người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích hợp pháp của thương nhân, góp phần tích
lũy nhằm thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Luật Thương mại năm 1997 đã dành mục 8 Chương
II quy định về đấu giá hàng hoá, theo đó luật quy định thương nhân và pháp nhân có
đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được phép kinh doanh dịch vụ đấu giá hàng
hoá và trình tự, thủ tục đấu giá hàng hoá được thực hiện theo quy định của BLDS
năm 1995.
Mặc dù, BLDS và LTM ban hành đã điều chỉnh về đấu giá hàng hóa và có
những tiến bộ đáng kể so với thời kỳ trước. Đó là, đã có những quy định chung về
đấu giá, đã quy định về tự nguyện bán đấu giá, đã quy định cụ thể về chủ thể đấu giá,
đối tượng đấu giá, trình tự đấu giá... Tuy nhiên, khi áp dụng trên thực tế các quy định
này còn mang tính chất chung chung, khó hiểu, khó thực hiện, do vậy ngày
18/01/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP. Để hướng dẫn
thực thi Nghị định này, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2005/TT-BTP ngày
05/5/2005 hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05. Theo hai văn bản này,
thì hàng hóa được đấu giá bao gồm: Hàng hóa để thi hành án theo quy định của pháp
luật về thi hành án; hàng hóa là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu
sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; hàng
hóa đảm bảo theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm; hàng hóa thuộc sở
hữu của cá nhân, tổ chức có yêu cầu bán đấu giá hàng hóa; hàng hoá lưu giữ do
người vận chuyển đường biển, đường hàng không, đường bộ lưu giữ tại Việt Nam;
hàng hóa nhà nước phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật về quản lý hàng hóa
nhà nước.
Nghị định số 05/2005/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành điều chỉnh cụ thể về
hình thức bán hàng hóa công khai, về nguyên tắc, thủ tục đấu giá hàng hóa, tổ chức
đấu giá hàng hóa và quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu giá hàng hóa. Tuy
nhiên, vấn đề hạn chế là đấu giá hàng hóa theo Nghị định này chủ yếu là thông qua
Trung tâm bán đấu giá tài sản. Trung tâm được thành lập theo quyết định của Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chịu sự chỉ đạo, điều hành của
Uỷ ban nhân dân, cho nên các hàng hóa bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao


16

dịch bảo đảm và hàng hóa thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức có yêu cầu bán đấu giá
hàng hóa ít được đề nghị Trung tâm bán đấu giá bởi người bán ngại phải làm nhiều
thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, Nghị định số 05/NĐ-CP cũng có những hạn chế
nhất định khi quy định về trường hợp rút lại giá đã trả trong phiên đấu giá cũng như
vấn đề từ chối mua hàng hóa bán đấu giá. Quy định này dẫn đến trường hợp các bên
tham gia đấu giá thông đồng trong trả giá gây thiệt hại cho người có hàng hóa bán
cũng như những người tham gia đấu giá khác.
Nắm bắt được những khó khăn từ thực tiễn của việc đấu giá hàng hóa qua
Trung tâm bán đấu giá tài sản, ngày 14/6/2005, Quốc hội đã ban hành BLDS năm
2005 thay thế BLDS năm 1995 và LTM năm 2005 thay thế LTM năm 1997. Hai văn
bản mới này điều chỉnh các hoạt động, hành vi dân sự, thương mại trong điều kiện
Việt Nam gia nhập WTO trong đó chú trọng phát triển các hoạt động dân sự, thương
mại với nhiều hình thức đấu giá.
BLDS năm 2005 dành 4 điều (từ Điều 456 đến Điều 459) quy định việc cá
nhân, tổ chức tự bán đấu giá hàng hóa của mình hoặc thuê thương nhân kinh doanh
dịch vụ bán đấu giá tổ chức bán đấu giá cho mình. Thực tế hiện nay, các cá nhân, tổ
chức hoặc thương nhân tổ chức bán đấu giá hàng hoá cần được sự điều chỉnh thống
nhất và đồng bộ của pháp luật. BLDS năm 2005 cho phép tất cả các cá nhân, tổ chức
có quyền bán đấu giá hàng hóa của mình, không nhất thiết phải là cơ quan, tổ chức
do pháp luật quy định. Quy định này nhằm đồng bộ hoá với LTM 2005 có quy định
về đấu giá hàng hoá (một loại hình hoạt động thương mại). Trên cơ sở đó, Chính phủ
đã quy định cụ thể, chi tiết về hàng hóa đấu giá, hình thức, phương thức đấu giá, đấu
giá hàng hóa là bất động sản... tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 về
bán đấu giá tài sản thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP.
Trên cơ sở quy định về đấu giá tài sản trong BLDS năm 2005, LTM năm 2005
quy định về đấu giá hàng hoá (từ Điều 185 đến Điều 213), quy định về nguyên tắc
đấu giá, người tổ chức đấu giá, người bán hàng và các quyền, nghĩa vụ của họ; quy
định cụ thể những người không được tham gia đấu giá; thời hạn niêm yết việc bán
đấu giá và trình tự, thủ tục việc tiến hành cuộc đấu giá. Trong điều kiện hiện nay, về
phương diện pháp lý vẫn còn có sự phân biệt nhất định giữa bán đấu giá tài sản là
một hành vi dân sự thông thường và hoạt động bán đấu giá hàng hoá là một hoạt
động thương mại của các doanh nghiệp, do có sự khác nhau về chủ thể, khách thể
thực hiện, mục đích thực hiện…Nhưng theo tinh thần của LTM 2005, có thể thấy
phạm vi hoạt động thương mại đã được mở rộng để bao quát hầu hết các lĩnh vực của
quan hệ kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ đấu giá hàng hóa


17

chỉ là một phạm vi hoạt động cụ thể trong lĩnh vực hoạt động thương mại. Đây chính
là cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đấu
giá hàng hoá - một hoạt động hiện tại còn nhiều bất cập nhưng cũng đầy triển vọng.
Nhằm tạo cơ sở pháp lý ổn định, thống nhất cho hoạt động đấu giá tài sản,
khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, nhất là trong bối cảnh Hiến pháp năm
2013 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua và nhiều văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến hoạt động đấu giá tài sản đã và đang được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
như Luật đất đai 2013, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, Luật thi hành án dân sự
2008 (sửa đổi 2014), BLDS 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Luật doanh nghiệp
2014... thì việc ban hành LĐGTS nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đối với lĩnh
vực này theo hướng chuyên nghiệp hóa, xã hội hóa, góp phần hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới là
rất cần thiết. Chính vì vậy, BLDS 2015 chỉ quy định rất ngắn gọn về đấu giá tài sản
tại Điều 451 để nhường chỗ cho LĐGTS điều chỉnh. LĐGTS năm 2016 đã được ban
hành và cơ bản có hiệu lực từ ngày 01/07/2017 là một bước tiến về mọi mặt so với
quy định trong Nghị định 17 năm 2010. Tuy nhiên, giá trị của LTM 2005 trong vấn
đề đấu giá hàng hóa vẫn rất độc lập so với LĐGTS năm 2016.
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu có thể nhận thấy: “Pháp luật đấu giá hàng
hóa là hệ thống những quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực đấu giá hàng hóa
bao gồm những quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá hàng hóa, người
bán hàng hóa và quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá hàng hóa.”
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về đấu giá hàng hóa
Nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động đấu giá hàng hóa ở Việt Nam
hiện nay bao gồm các nhóm quy phạm sau đây:
Thứ nhất, nhóm quy phạm xác lập về hàng hóa đấu giá và trình tự, thủ tục
đấu giá, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định các loại hàng hóa đấu
giá và trình tự, thủ tục đấu giá hàng hóa thông qua hình thức hợp đồng uỷ quyền đấu
giá hàng hóa và văn bản đấu giá hàng hóa.
Về hàng hóa đấu giá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình
thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai3. Về thủ tục đấu giá hàng hóa
thông qua hình thức hợp đồng dịch vụ đấu giá hàng hóa và văn bản đấu giá hàng hóa
(hợp đồng mua bán hàng hóa đấu giá):
3

Khoản 2 Điều 3 của LTM năm 2005.


18

Theo quy định tại khoản 1 Điều 193 LTM 2005 và tinh thần của Điều 33
LĐGTS năm 2016 thì hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa phải được lập thành
văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương và có các nội dung chủ yếu sau
đây: Họ, tên, địa chỉ của người bán hàng hóa; tên, địa chỉ của tổ chức bán đấu giá
hàng hóa; liệt kê, mô tả hàng hóa bán đấu giá; giá khởi điểm của hàng hóa bán đấu
giá; thời hạn, địa điểm bán đấu giá hàng hóa; thời hạn, địa điểm, phương thức giao
hàng hóa để bán đấu giá; thời hạn, địa điểm, phương thức thanh toán tiền bán hàng
hóa trong trường hợp bán đấu giá thành; phí, chi phí bán đấu giá hàng hóa trong
trường hợp bán đấu giá thành và chi phí bán đấu giá hàng hóa trong trường hợp bán
đấu giá không thành; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và
các nội dung khác do các bên thoả thuận. Các nội dung này có thể ghi nhận ngay trong
hợp đồng dịch vụ đấu giá hàng hóa hoặc ghi nhận trong Quy chế đấu giá hàng hóa theo
quy định tại Điều 34 LĐGTS năm 2016.
Bên cạnh đó, văn bản đấu giá hàng hóa hay hợp đồng mua bán hàng hóa đấu
giá là sự thoả thuận giữa người tổ chức đấu giá hàng hóa là Trung tâm dịch vụ bán
đấu giá tài sản hoặc Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản và người mua được hàng hóa
bán đấu giá. Nội dung của hợp đồng này chủ yếu quy định trách nhiệm, quyền và
nghĩa vụ của người đấu giá và người mua được hàng hóa bán đấu giá. Văn bản bán
đấu giá hàng hóa có giá trị xác nhận việc mua bán hàng hóa, là cơ sở pháp lý để
chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa bán đấu giá. Văn bản bán đấu
giá hàng hóa phải có chữ ký của đấu giá viên chịu trách nhiệm về việc tổ chức đấu
giá hàng hóa và của người mua được hàng hóa bán đấu giá. Đối với văn bản đấu giá
bất động sản thì phải có chứng nhận của công chứng viên nơi có bất động sản. Quy định
này phù hợp với pháp luật về đất đai và Luật nhà ở4.
Hợp đồng mua bán hàng hóa đấu giá được ký kết giữa người có hàng hóa đấu
giá với người trúng đấu giá hoặc giữa người có hàng hóa đấu giá, người trúng đấu
giá và tổ chức đấu giá nếu các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác. Hợp đồng này phải có các nội dung chủ yếu sau đây: Tên, địa chỉ của tổ
chức bán đấu giá; tên, địa chỉ cả người điều hành cuộc bán đấu giá; tên, địa chỉ của
người có hàng hóa bán đấu giá; tên, địa chỉ, của người mua được hàng hóa bán đấu
giá; thời gian, địa điểm bán đấu giá; hàng hóa bán đấu giá; giá khởi điểm của hàng
hóa bán đấu giá; giá đã bán; tên, địa chỉ của hai người chứng kiến; thời hạn, phương
thức, địa điểm thanh toán tiền mua hàng hóa đã bán đấu giá; thời hạn, địa điểm giao
4

Xem thêm Điều 203 LTM 2005 về văn bản đấu giá hàng hóa và Điều 46 LĐGTS năm 2016 về hợp đồng mua bán
hàng hóa đấu giá.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×