Tải bản đầy đủ

Các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo luật đầu tư năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM, ƢU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU
TƢ THEO LUẬT ĐẦU TƢ NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT


CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM, ƢU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU
TƢ THEO LUẬT ĐẦU TƢ NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Dương Đăng Huệ

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi, không sao chép. Kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác. Các số liệu, ví dụ, trích dẫn
trong Luận văn đã được công bố, hoàn toàn chính xác và trung thực.
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa đào tạo Sau đại học –
Trường Đại học Luật Hà Nội và các thầy cô đã giúp đỡ tôi trang bị kiến thức,
tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực
hiện luận văn này.
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới
PGS.TS Dương Đăng Huệ, người đã chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn chân thành các ông/bà cán bộ Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đã chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu hữu ích phục vụ cho
đề tài nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động
viên, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thiện luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


ACIA

ASEAN Comprehensive Investment Agreement: Hiệp định
đầu tư toàn diện ASEAN

APEC

Asia – Pacific Economic Cooperation:
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

ASEAN

Association of Southeast Asian Nations:
Hiệp hội các nước Đông Nam Á

BITs

Bilateral Investment Treaties: Hiệp định đầu tư song phương

FDI

Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA

Free Trade Agreement: Hiệp định thương mại tự do

GATS

General Agreement of Trade in Services: Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ

ICSID

International Centre of Settlement of Investment Disputes:
Công ước Washington về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa
nhà nước và công dân của nhà nước khác

IMF

International Monetary Fund: Quỹ Tiền tệ quốc tế

KCN

Khu công nghiệp

KCX

Khu chế xuất

MFN

Most favoured Nation : Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc

NT

National Treatment: Nguyên tắc đối xử quốc gia

TPP

Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement:
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương

TRIMs

Agreement on Trade Related Investment Measures:
Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

WTO

World Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
1. Bảng 1: Báo cáo nhanh đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 tháng năm 2013
2. Bảng 2: Báo cáo nhanh đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 tháng năm 2014
3. Bảng 3: Báo cáo nhanh đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 tháng năm 2015
4. Bảng 4: Báo cáo nhanh đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 tháng năm 2016
5. Bảng 5: Báo cáo nhanh đầu tư trực tiếp nước ngoài 06 tháng đầu năm
2017
6. Bảng 6: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 06 tháng đầu năm 2017 theo
ngành
7. Bảng 7: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 06 tháng đầu năm 2017 theo
đối tác
8. Bảng 8: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 06 tháng đầu năm 2017 theo
địa phương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………...1
1.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ........................................... 1
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................ 2
3.
Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài ........................................ 3
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài............................................. 3
5.
Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 4
6.
Kết cấu của luận văn ........................................................................... 4
CHƢƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM, ƢU ĐÃI VÀ
HỖ TRỢ ĐẦU TƢ…………………………………………………………...5
1.1.Khái niệm đầu tư, các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ........... 5
1.1.1. Khái niệm đầu tư ................................................................................. 5
Khái niệm bảo đảm đầu tư ............................................................................ 6
1.1.2. Khái niệm ưu đãi đầu tư...................................................................... 8
1.1.3. Khái niệm hỗ trợ đầu tư ...................................................................... 9
1.2.Nội dung pháp luật về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ... 10
1.2.1. Nội dung các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ............... 11
1.2.2. Thủ tục, nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư....................................... 13
1.2.3. Cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ
đầu tư tại Việt Nam ..................................................................................... 14
1.3.Vai trò của các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư..................... 19
1.3.1. Vai trò tích cực của các biện pháp bảo đảm đầu tư đối với hiệu quả
đầu tư ........................................................................................................... 19
1.3.2. Vai trò của các biện pháp ưu đãi đầu tư đối với hoạt động của các
nhà đầu tư .................................................................................................... 21
1.3.3. Vai trò của các biện pháp hỗ trợ đầu tư đối với hiệu quả đầu tư ...... 22
1.3.4. Tác động tiêu cực các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư tới
hiệu quả đầu tư ............................................................................................ 24
Kết luận Chương 1 ...................................................................................... 27
CHƢƠNG 2. CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM, ƢU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ
ĐẦU TƢ THEO LUẬT ĐẦU TƢ 2014……………………………….…..28
2.1.Pháp luật về các biện pháp bảo đảm đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 . 28
2.1.1. Bảo đảm quyền sở hữu tài sản cho nhà đầu tư ................................. 28


2.1.2. Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh ............................................. 34
2.1.3. Bảo đảm quyền chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài .............. 38
2.1.4. Bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng ............... 41
2.1.5. Bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật .... 42
2.1.6. Bảo đảm giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh . 44
2.2.Pháp luật về ưu đãi đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014............................ 47
2.2.1. Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư................................................ 47
2.2.2. Hình thức ưu đãi đầu tư .................................................................... 49
2.2.3. Ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt biển .................... 61
2.2.4. Các ưu đãi tài chính khác .................................................................. 63
2.3.Pháp luật về hỗ trợ đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 ............................ 64
2.3.1. Hỗ trợ chuyển giao công nghệ .......................................................... 65
2.3.2. Hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ........................................ 65
2.3.3. Hỗ trợ đầu tư phát triển dịch vụ đầu tư ............................................. 66
2.3.4. Xây dựng kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao, khu kinh tế.......................................................................... 66
2.3.5. Hỗ trợ về thị thực xuất cảnh, nhập cảnh ........................................... 67
2.3.6. Các hỗ trợ khác ................................................................................. 67
Kết luận Chương 2 ...................................................................................... 69
CHƢƠNG 3.THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM, ƢU ĐÃI VÀ HỖ
TRỢ ĐẦU TƢ .......................................................................................................................... 70
3.1.Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ........... 70
3.1.1. Tác động của các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trong
việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp tại Việt Nam............................................ 70
3.1.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm đầu tư............................... 74
3.1.3. Thực tiễn thi hành pháp luật về ưu đãi đầu tư .................................. 76
3.2.Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo đảo,
ưu đãi và hỗ trợ đầu tư .................................................................................... 83
3.2.1. Nhóm giải pháp chung ...................................................................... 84
3.2.2. Những giải pháp cụ thể ..................................................................... 85
Kết luận Chương 3 ...................................................................................... 92
KẾT LUẬN ................................................................................................ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đầu tư là một trong lĩnh vực quan trọng trong chiến lược phát triển

kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội được đặt lên hàng đầu, cùng với sự cạnh tranh gay
gắt giữa các quốc gia, vấn đề làm sao thu hút vốn đầu tư nước ngoài và huy
động mọi nguồn lực trong nước là vấn đề đặc biệt quan trọng của mỗi quốc
gia. Xuất phát từ lợi ích cũng như vai trò của hoạt động đầu tư mà mỗi quốc
gia đều có chính sách thu hút đầu tư phù hợp nhằm huy động lượng vốn đổ
vào nền kinh tế nhiều nhất và mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, nhà nước với vai
trò là cơ quan hoạch định và quản lý mọi mặt của đời sống xã hội đã sử dụng
pháp luật, một công cụ hữu hiệu để thống nhất và định hướng hoạt động đầu
tư. Một môi trường đầu tư hấp dẫn ngoài yếu tố kinh tế còn các yếu tố chính
trị, pháp luật ổn định và đồng bộ. Do đó, pháp luật luôn đóng một vai trò quan
trọng trong hoạt động đầu tư và đó là một công cụ hữu hiệu và tiên quyết cho
hoạt động đầu tư diễn ra đạt hiệu quả cao.
Luật Đầu tư 2014 được Quốc hội ban hành ngày 26/11/2014 có hiệu
lực từ ngày 01/07/2015, một lần nữa khẳng định quan điểm đúng đắn của nhà
nước ta về thu hút đầu tư thông qua việc quy định các biện pháp bảo đảm, ưu
đãi và hỗ trợ đầu tư tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam
ra nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế nguồn đầu tư nước ngoài cũng như đầu
tư trong nước ở nước ta hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn cũng như
chưa tương ứng với tiềm lực của đất nước. Điều đó thể hiện chính sách pháp
luật của nước ta cũng như việc thi hành chính sách pháp luật trong lĩnh vực
này còn có những hạn chế, chưa thực sự hiệu quả, chưa đáp ứng được hết các
kỳ vọng của nhà đầu tư, cần phải có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật về đầu tư tại nước ta trong thời gian tới. Vì vậy,
tác giả đã chọn đề tài “Các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo
Luật Đầu tư 2014” làm luận văn thạc sỹ luật học.


2

2.

Tình hình nghiên cứu đề tài
Các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đã đề cập trong một số

công trình nghiên cứu khoa học, như: Luận án tiến sỹ của Mai Đức Lộc năm
1994 về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển nền kinh tế ở Việt
Nam”; “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh Châu Âu vào Việt Nam” –
Luận án tiến sỹ của Nguyễn Duy Quang năm 2007
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 1999 của Tiến sỹ Nguyễn
Bá Diến về “Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các điều ước quốc tế về
khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài”.
Sách tham khảo của Trần Nguyên Tuyên năm 2005 về “Hoàn thiện môi
trường và chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam,
thực trạng và giải pháp”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Luận văn
Thạc sỹ luật học năm 2007 của Phạm Thị Thu Huyền về “Quyền bình đẳng
giữa các nhà đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2005”.
Luận văn Thạc sỹ Luật học năm 2009 của tác giả Kiều Thị Thùy Linh về
“Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm đầu tư của
Việt Nam theo quy định của WTO”. Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Long về
“Thực trạng pháp luật bảo đảm đầu tư tại Việt Nam” đăng trên tạp chí Quản
lý Nhà nước, Học viện Hành chính, số 9/2009. Bài viết của tác giả Sông
Thương về “Tăng cường thu hút vốn FDI thiết thực và hiệu quả” đăng trên
tạp chí công nghiệp, kinh tế và quản lý số 6/2012. Nhìn chung, các công trình
nghiên cứu khoa học trên tạp chí tập trung nghiên cứu về các biện pháp bảo
đảm đầu tư hoặc các biện pháp khuyến khích đầu tư hoặc các vấn đề đầu tư
nói chung. Cơ sở pháp lý mà các tác giả sử dụng để đánh giá, phân tích các
vấn đề đều là những văn bản pháp luật đã cũ, đã hết hiệu lực pháp lý. Đến
nay, dường như chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một
cách toàn diện và có hệ thống về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu


3

tư theo Luật Đầu tư 2014 cũng như các quy định của pháp luật hiện hành về
đầu tư.
3.

Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Xuất phát từ ý nghĩa của quá trình xây dựng và phát triển, góp phần vào

sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về đầu tư nói chung và các chính sách về
khuyến khích và bảo đảm đầu tư nói riêng, tác giả đã chọn đề tài “Các biện
pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014”
Để thực hiện mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn
đề sau:
a)

Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật bảo đảm, ưu đãi và
hỗ trợ đầu tư.

b)

Phân tích làm rõ hơn nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư.

c)

Đánh giá thực trạng pháp luật về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ
trợ đầu tư tại Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu
tư.

4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống những quy định của

Luật Đầu tư cũng như các văn bản pháp luật có liên quan về các biện pháp
bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư.
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở những vấn đề cơ bản về pháp luật điều
chỉnh các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, bao
gồm các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp
luật Việt Nam. Trong đó, có liên hệ với thực tiễn và kết quả đầu tư tại Việt
Nam, nhằm đưa ra những giải pháp căn bản nhằm nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư tại Việt Nam, góp
phần nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư tại Việt Nam.


4

5.

Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được dựa trên các phương pháp luận duy vật

biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin.
Bên cạnh đó, tác giả có vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà
nước trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
cụ thể khác như: phương pháp tổng hợp, phương pháp nghiên cứu, và phương
pháp so sánh.
6.

Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và hệ thống

các bảng, biểu số liệu liên quan, Luận văn được cơ cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Lý luận chung về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư
Chương 2: Pháp luật về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo
Luật Đầu tư 2014
Chương 3: Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện
pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả thu hút vốn
đầu tư tại Việt Nam


5

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM, ƢU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ
ĐẦU TƢ
1.1.

Khái niệm đầu tƣ, các biện pháp bảo đảm, ƣu đãi và hỗ trợ đầu tƣ

1.1.1. Khái niệm đầu tư
Với những cách tiếp cận khác nhau, có nhiều khái niệm khác nhau về
đầu tư. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2003
thì khái niệm đầu tư theo cách hiểu phổ thông là việc “bỏ nhân lực, vật lực,
tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” [8,
tr.301]. Đầu tư là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia. Thông qua hoạt động đầu tư, quốc gia có thể huy động được
nguồn lực trong và ngoài nước về vốn, công nghệ kỹ thuật….để đẩy mạnh sự
phát triển nền kinh tế. Như vậy, đầu tư được hiểu chính là việc bỏ vốn dưới
một hình thức vào sản xuất kinh doanh, trên cơ sở tính toán đến lợi ích kinh
tế, xã hội. Tuy nhiên, khái niệm về đầu tư được thừa nhận về mặt pháp lý ở
Việt Nam là khái niệm trong Điều 3 Luật đầu tư 2014. Đầu tư là việc nhà đầu
tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để
thực hiện hoạt động đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế - xã
hội khác1. Hoạt động đầu tư có thể có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc
phi thương mại. Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn xây dựng
chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt
động đầu tư kinh doanh nhằm mục đích tăng giá trị tài sản hay một lợi ích
kinh tế xã hội nào đó.
Về bản chất, nội dung khái niệm “đầu tư” không có gì thay đổi dù
trong bất cứ giai đoạn kinh tế - xã hội nào. Chỉ có điều khác là tùy từng thời
kỳ, pháp luật quy định về đầu tư, các hình thức thể hiện như thế nào. Điều đó
đồng nghĩa với việc khi phân tích khái niệm “đầu tư”, tuy bản chất “đầu tư”
là không thay đổi nhưng trong mỗi thời kỳ khác nhau, có thể có sự thay đổi
1

Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư 2005


6

trong cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Trước khi có Luật Đầu tư năm 2005,
khái niệm “đầu tư” chưa được quy định thống nhất trong các văn bản pháp
luật. Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) ngày 20/05/1998, Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không có khái niệm về đầu tư nói chung, mà
thay vào đó là khái niệm “đầu tư trong nước” và “đầu tư trực tiếp nước
ngoài”.
Đến Luật Đầu tư 2005 với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư
nhằm mục đích kinh doanh, đã đưa ra định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3: “Đầu tư
là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư
và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Luật này còn có sự phân
biệt giữa thuật ngữ “đầu tư” và “hoạt động đầu tư”. Theo đó hoạt động đầu tư
được hiểu là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư gồm các khâu
như chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư.
Đến Luật Đầu tư 2014, các nhà làm luật đã sử dụng khái niệm “đầu tư
kinh doanh” để thay thế khái niệm đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Khái
niệm “đầu tư kinh doanh” trong Luật Đầu tư 2014 mang tính chất liệt kê các
hình thức đầu tư, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Định nghĩa
chung “đầu tư kinh doanh” được quy định tại Khoản 5 Điều 3, theo đó “Đầu
tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh
doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần,
phần vốn góp của các tổ chức kinh tế, đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc
thực hiện dự án đầu tư”.
Khái niệm bảo đảm đầu tư
Khi tiến hành đầu tư, đặc biệt là đầu tư ở môi trường nước ngoài, các
nhà đầu tư thường quan tâm tới các biện pháp để giảm thiểu rủi ro có thể phát
sinh. Các nhà đầu tư có thể chủ động hạn chế những rủi ro bằng cách tự chủ
động thực hiện những biện pháp bảo đảm riêng cho mình, ví dụ như tiến hành
mua bảo hiểm cho một số giai đoạn, hạng mục của dự án đầu tư. Tuy nhiên,


7

những biện pháp bảo đảm trên chỉ mang tính cá thể, tức là các nhà đầu tư chỉ
giảm được rủi ro đối với những dự án đã đóng bảo hiểm chứ không phải tất cả
các dự án đầu tư. Ngược lại, các biện pháp bảo đảm đầu tư do quốc gia tiếp
nhận đầu tư quy định lại được áp dụng đối với tất cả các dự án đầu tư, không
phân biệt quy mô vốn, nguồn gốc cũng như lĩnh vực và địa bàn đầu tư.
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học giải thích bảo đảm đầu tư là
“những cam kết của Nhà nước nhằm tạo ra sự an toàn về mặt pháp lý đối với
tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu
tư khi họ tiến hành đầu tư tại Việt Nam” [5, tr.17].
Dưới góc độ pháp lý, pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm đầu tư
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư với mục đích
kinh doanh. Nói cách khác, các biện pháp bảo đảm đầu tư chính là những cam
kết của Nhà nước với các nhà đầu tư trước một số quyền lợi cụ thể, chính
đáng của các nhà đầu tư.
Mặc dù pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm cụ thể nào về
bảo đảm đầu tư, nhưng dựa trên tinh thần của các các văn bản pháp luật về
đầu tư có liên quan, có thể hiểu, bảo đảm đầu tư là các quy định của pháp luật
về bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư trong quá trình
thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Nói cách khác, bảo đảm
đầu tư chính là “những cam kết từ phía nhà nước tiếp nhận đầu tư với các chủ
thể đầu tư về trách nhiệm của nước tiếp nhận đầu tư trước một số quyền lợi
cụ thể của nhà đầu tư” [6, tr.65-66]. Có thể nói, các biện pháp bảo đảm đầu tư
đã góp phần không nhỏ vào sự ổn định của môi trường đầu tư. Từ đó tạo nên
sự an tâm và vững tin cho các nhà đầu tư.
Để có thể nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư trong nước cũng như
ngoài nước, các quốc gia nhất định phải ban hành những quy định pháp luật
có tính chất là “lời mời gọi hấp dẫn”cho các nhà đầu tư. Một quốc gia mà hệ
thống pháp luật càng thống nhất và hoàn thiện thì khả năng thu hút vốn đầu tư
của quốc gia đó càng cao. Các quy định của pháp luật về đầu tư là sự thể hiện


8

của quốc gia tiếp nhận đầu tư đối với các chủ đầu tư và dự án đầu tư của họ.
Trong đó, các quy định về bảo đảm đầu tư được coi là sự thể hiện rõ nét nhất
thiện chí của quốc gia tiếp nhận đầu tư.
1.1.2. Khái niệm ưu đãi đầu tư
Trước khi bỏ vốn để đầu tư một dự án thì nhà đầu tư chắc chắn sẽ phải
tìm hiểu: lĩnh vực nào được nhà nước ưu đãi?, địa bàn nào được ưu đãi? Ưu
đãi là hình thức đối xử ưu tiên đặc biệt nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi
giữa một bên ưu đãi giành cho bên được ưu đãi để thực hiện một công việc
mang lại lợi ích cho bên được ưu đãi hoặc cho cả hai bên.
Ưu đãi đầu tư là một trong những biện pháp mà Nhà nước áp dụng
nhằm khuyến khích đầu tư để thu hút vốn đầu tư. Qua đó, nhà đầu tư thực
hiện đầu tư vào những địa bàn, lĩnh vực nằm trong danh mục ưu đãi đầu tư
mà Nhà nước ban hành sẽ được hưởng ưu đãi, thuận lợi hơn so với các nhà
đầu tư khác theo quy định. Những ưu đãi có thể là ưu đãi về thuế, ưu đãi về
tiền thuê đất, mặt nước, hỗ trợ tài chính…hay những ưu đãi khác mà Nhà
nước cam kết ưu đãi giành cho nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư trên
lãnh thổ Việt Nam.
Ưu đãi đầu tư được coi là một trong những biện pháp thu hút vốn đầu
tư có hiệu quả [12].
Dựa trên những ý kiến tổng hợp trên, có thể đưa ra khái niệm về ưu đãi
đầu tư như sau: “Ưu đãi đầu tư là tất cả các quy định do Nhà nước ban hành
nhằm tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư trong nước cũng như
nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hòa
giữa lợi ích của Nhà nước, của nền kinh tế - xã hội và các nhà đầu tư”.
Ưu đãi đầu tư thực chất phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước
và nhà đầu tư. Trong mối quan hệ này, Nhà nước là chủ thể quyết định các
biện pháp ưu đãi, nhà đầu tư là chủ thể nhận ưu đãi; khách thể của quan hệ
này chính là các ưu đãi cụ thể như các khoản lợi về thuế, tiền thuê đất…Mục
đích của việc cấp ưu đãi là nhà nước mong muốn chủ thể được nhận ưu đãi –


9

các nhà đầu tư – đầu tư vào một số địa bàn và lĩnh vực nhất định theo hướng
định hướng phát triển kinh tế.
Dưới một góc độ khác, chúng ta có thể hiểu, ưu đãi đầu tư là các cam
kết của Nhà nước đối với nhà đầu tư. Các ưu đãi cụ thể đó có thể thay đổi
theo từng thời kỳ tùy theo tình hình kinh tế - chính trị - xã hội cụ thể nhưng
cam kết của Nhà nước là không thay đổi bởi nó được đảm bảo bằng một bản
“Hợp đồng” được ký kết giữa Nhà nước và nhà đầu tư. Đó chính là các điều
khoản quy định về ưu đãi tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mà Nhà nước
cấp cho nhà đầu tư.
1.1.3. Khái niệm hỗ trợ đầu tư
Hỗ trợ đầu tư là một thuật ngữ được biết đến nhiều trong những năm
gần đây khi mà Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu
vực và toàn cầu, khi mà các chính sách bảo hộ, trợ giá…dần dần bị bãi bỏ
theo các cam kết hợp tác song phương và đa phương.
Hỗ trợ đầu tư là một trong ba công cụ chủ yếu, hữu hiệu và thường
được sử dụng nhất (hỗ trợ đầu tư, ưu đãi đầu tư và bảo đảm đầu tư) nhằm thể
hiện ý chí và thông điệp của nước tiếp nhận đầu tư đối với việc khuyến khích
hoặc hạn chế đầu tư. Trong đó, chế định ưu đãi đầu tư, tựu chung lại là các
quy định để nhà đầu tư được hưởng một số quyền hoặc được giảm trừ một số
nghĩa vụ; bảo đảm đầu tư là các cam kết của Chính phủ về việc bảo đảm
quyền tài sản, bảo đảm các quyền chính đáng, hợp pháp khác của nhà đầu tư
không bị xâm phạm; hỗ trợ đầu tư là những quy định về việc nhà nước tham
gia hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần một số hạng mục công việc mà lẽ ra thuộc
trách nhiệm của nhà đầu tư, nhằm tạo điều kiện dễ dàng hơn, thuận lợi hơn,
hiệu quả hơn cho nhà đầu tư trong việc triển khai dự án đầu tư.
Theo quy định của Luật Đầu tư 2014, chế định hỗ trợ đầu tư được quy
định rõ nét và cụ thể tại 03 Điều: Điều 19 (Hình thức hỗ trợ đầu tư), Điều 20
(Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế), Điều 21 (Phát triển nhà ở và công trình dịch


10

vụ, tiện ích công cộng cho người lao động trong khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh tế).
Có thể thấy, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, thuật
ngữ “hỗ trợ đầu tư” đã được đưa ra và khái quát ngày càng rõ nét trong Luật
Đầu tư. Hỗ trợ đầu tư theo quan điểm của học viên được hiểu là: “toàn bộ sự
giúp đỡ, ủng hộ, tạo điều kiện theo hướng dễ dàng hơn, thuận lợi hơn, hiệu
quả hơn từ phía Nhà nước, tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền hoặc được
giao quyền đối với nhà đầu tư trong việc nghiên cứu, tìm kiếm cơ hội đầu tư;
xây dựng hoàn thiện dự án; đăng ký cấp phép và triển khai đầu tư…được
pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện”.
1.2.

Nội dung pháp luật về các biện pháp bảo đảm, ƣu đãi và hỗ trợ
đầu tƣ
Ở Việt Nam, vấn đề tăng nhanh vốn đầu tư và tăng liên tục tốc độ tăng

trưởng kinh tế là một vấn đề sống còn của dân tộc. Khuyến khích đầu tư trong
nước đồng thời thu hút vốn đầu tư nước ngoài như hai dòng chảy của một con
kênh, tạo nguồn lực cho đất nước trong hiện tại và những năm sắp tới. Việt
Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một chính sách
bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư hấp dẫn theo xu hướng xóa bỏ dần những
rào cản bất lợi trong việc dịch chuyển vốn đầu tư.
Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ xã hội phát
sinh trong lĩnh vực đầu tư dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng với nội
dung ngày càng trở nên phức tạp. Để đảm bảo cho hoạt động đầu tư và hệ
thống các biện pháp, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển theo định
hướng của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng trong quá trình đầu
tư, các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư không thể tồn tại dưới dạng
các quan hệ xã hội bình thường mà cần có sự điều chỉnh của pháp luật. Dưới
sự tác động của các quy phạm pháp luật, Nhà nước quản lý và hướng các hoạt
động đầu tư và ưu đãi đầu tư theo định hướng của mình. Do đó, pháp luật
khuyến khích đầu tư, bao gồm các quy định của pháp luật về các biện pháp


11

bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ra đời.
Pháp luật về các biện pháp bảo đảm đầu tư, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu
tư là hệ thống những quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi nhất mà mỗi
quốc gia có thể dành cho các nhà đầu tư (bao gồm nhà đầu tư trong nước và
nhà đầu tư nước ngoài) nhằm thu hút vốn đầu tư và trên cơ sở đó tạo ra lợi hết
cạnh tranh, so sánh với các quốc gia khác.
Chính phủ các nước đã sử dụng nhiều biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ
trợ đầu tư trong các quy định của pháp luật. Ở Việt Nam, để thúc đẩy đầu tư
trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế và hướng đầu tư vào một số lĩnh vực, địa
bàn ưu tiên phát triển, các biện pháp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư được quy định ở
nhiều văn bản pháp lý từ Hiến pháp đến các đạo luật và các văn bản dưới luật,
thể hiện tập trung nhất là trong Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật xây dựng, các
luật về thuế và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trên cơ sở đó, pháp luật Việt Nam về biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ
trợ đầu tư quy định các nhóm vấn đề cơ bản sau:
1.2.1. Nội dung các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư
Theo tinh thần của pháp luật về đầu tư ở Việt Nam, các biện pháp bảo
đảm đầu tư được hiểu cụ thể là các cam kết của Nhà nước Việt Nam về việc
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trong quá trình tiến
hành dự án đầu tư tại Việt Nam. Các biện pháp bảo đảm đầu tư bao gồm: bảo
đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của nhà đầu tư; bảo đảm hoạt động đầu tư
kinh doanh; bảo đảm quyền chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước
ngoài; bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng; bảo đảm đầu
tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật; bảo đảm cơ chế giải quyết
tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh và một số biện pháp bảo đảm
đầu tư khác.
Nội dung pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các dự án đầu tư được xét
để áp dụng chủ yếu dựa trên những quy định cụ thể về những địa bàn và lĩnh
vực, ngàng nghề ưu đãi đầu tư. Lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư gồm có:


12

a.

Hoạt động công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao;
hoạt động nghiên cứu và phát triển;

b.

Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái
tạo; sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên, sản phẩm tiết
kiệm năng lượng;

c.

Sản xuất sản phẩm điện tử, sản phẩm cơ khí trọng điểm, máy nông
nghiệp, ô tô, phụ tùng ô tô; đóng tàu;

d.

Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may, da giày và
các sản phẩm quy định tại điểm c khoản này;

e.

Sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, phần mềm, nội dung số;

f.

Nuôi trồng, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; trồng và bảo vệ rừng;
làm muối; khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá; sản xuất giống
cây trồng, giống vật nuôi, sản phẩm công nghệ sinh học;

g.

Thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải;

h.

Đầu tư phát triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng; phát
triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị;

i.

Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp;

j.

Khám bệnh, chữa bệnh; sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc
chủ yếu, thuốc thiết yếu, thuốc phòng, chống bệnh xã hội, vắc xin, sinh
phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông y; nghiên cứu khoa học về
công nghệ bào chế, công nghệ sinh học để sản xuất các loại thuốc mới;

k.

Đầu tư cơ sở luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết tật
hoặc chuyên nghiệp; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

l.

Đầu tư trung tâm lão khoa, tâm thần, điều trị bệnh nhân nhiễm chất độc
màu da cam; trung tâm chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ
mồ côi, trẻ em lang thang không nơi nương tựa;

m.

Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô.
Dựa trên tiêu chí về lĩnh vực đầu tư và địa bàn đầu tư như trên, một số

biện pháp ưu đãi về tài chính, ưu đãi liên quan đến chính sách sử dụng mặt


13

đất, mặt nước được đưa ra. Các ưu đãi về tài chính chủ yếu bao gồm các ưu
đãi về thuế: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập
khẩu….Ngoài ra còn có các ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt
nước, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ….Để tăng cường hiệu quả thu hút
đầu tư, pháp luật về ưu đãi đầu tư còn đưa ra các biện pháp hỗ trợ đầu tư như
hỗ trợ về thủ tục hành chính, pháp lý, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng....Đây là những
công cụ thể hiện rõ nét thái độ của Nhà nước đối với các nhà đầu tư và dự án
đầu tư.
1.2.2. Thủ tục, nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư
Đây là một nội dung quan trọng, không thể thiếu trong quy định của
pháp luật về đầu tư. Các quy định về đối tượng, điều kiện, mức ưu đãi, ngành
nghề ưu đãi chỉ tồn tại một cách hình thức và không có tính khả thi nếu không
có các thủ tục để hưởng các ưu đãi đó. Các quy định về thủ tục ưu đãi đầu tư,
hỗ trợ đầu tư nêu rõ nhà đầu tư cần làm gì, làm ở đâu, cơ quan nào có thẩm
quyền, làm trong thời gian bao lâu đồng thời quy định rõ nhiệm vụ của các cơ
quan chức năng trong việc hướng dẫn, giải quyết, cấp, xác nhận ưu đãi cho
nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư là tất cả những quy định do Nhà nước ban hành nhằm tạo
ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư
nước nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài
hoa giữa lợi ích của Nhà nước, của nền kinh tế - xã hội và các nhà đầu tư. Khi
áp dụng ưu đãi đầu tư, dự án đầu tư phải đáp ứng một số điều kiện sau: nhà
đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư khi có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực và địa
bàn ưu đãi đầu tư; ưu đãi đầu tư được áp dụng đối với dự án đầu tư mới và
đầu tư mở rộng; mức ưu đãi đầu tư được dẫn chiếu đến luật chuyên ngành;
không áp dụng ưu đãi đầu tư theo tiêu chí địa bàn đối với các dự án khai thác
khoáng sản, dự án sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu
thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ ô tô).
Các quy định hiện hành đã tạo dựng một khung pháp lý khá đầy đủ và


14

đồng bộ cho việc triển khai các chính sách về bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu
tư của Nhà nước, tạp cơ sở ngày càng thuận lợi, minh bạch để các doanh
nghiệp, nhà đầu tư tiếp cận được các nguồn lực phục vụ cho các hoạt động
đầu tư, kinh doanh của mình.
1.2.3. Cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ
đầu tư tại Việt Nam
1.2.3.1. Văn bản pháp luật trong nước
Sau gần hai thập kỷ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam
đã thu được những kết quả và bài học đáng kể. Tuy nhiên, nếu xét về mặt
bằng tổng thể thì có thể nhận thấy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước.
Việc ban hành Luật Đầu tư 2005, và sau đó là Luật Đầu tư 2014 là đòi hỏi tất
yếu khách quan của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ chủ trương đường lối của Đảng, từ
thực tiễn hoạt động đầu tư, đòi hỏi của hội nhập và cạnh tranh quốc tế nhằm
huy động nhiều hơn, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí các
nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước. Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo lớn
nhất trong việc xây dựng Luật Đầu tư 2005, Luật Đầu tư 2014 là xóa bỏ các
phân biệt đối xử bất hợp lý giữa các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế,
giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, tôn trọng quyền tự do kinh
doanh, quyền tự quyết trong quản lý của nhà đầu tư. Luật Đầu tư 2005 cũng
đổi mới một cách cơ bản phương thức quản lý của Nhà nước đối với hoạt
động đầu tư, hoạt động kinh doanh theo hướng hạn chế sự can thiệp hành
chính; tăng cường sự khuyến khích, hỗ trợ hướng dẫn của Nhà nước và đảm
bảo các điều kiện cho các nhà đầu tư; áp dụng nguyên tắc MFN, nguyên tắc
NT tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Có thể nói Luật Đầu tư
2005 và sau đó được “nâng cấp” thành Luật Đầu tư 2014 đã củng cố và hoàn
chỉnh hơn những quy định cơ bản về đảm bảo, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của hai
đạo luật đầu tư trước đây để phù hợp hơn với nhu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế.


15

Bên cạnh quy định của Luật Đầu tư 2005, Luật Đầu tư 2014 và các văn
bản dưới luật hướng dẫn thi hành thì các biện pháp khuyến khích và bảo đảm
đầu tư còn được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác
như: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật
Đất đai, Luật Thương mại, Luật Trọng tài thương mại….và hệ thống các văn
bản hướng dẫn thi hành các Bộ luật, Luật này. Cụ thể như Bộ luật dân sự,
Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về cách thức
thực hiện và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư; Bộ luật tố tụng dân
sự, Luật Trọng tài thương mại quy định chi tiết cách thức thực thi các quyền
trong quá trình giải quyết tranh chấp tại các cơ quan tòa án, trọng tài….
1.2.3.2. Các Điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia
Từ hiệp định song phương đầu tiên về khuyến khích và bảo hộ đầu tư
(BITs) ký với Chính phủ Italia từ năm 1990 đến nay Việt Nam đã đạt được
thỏa thuận ký kết hơn 60 hiệp định song phương với các nước và vùng lãnh
thổ trên thế giới. Hầu hết các BITs mà Việt Nam kí kết quy định 04 nội dung
chủ yếu gồm: Tiếp nhận đầu tư (hay quyền thành lập đầu tư); các nguyên tắc
đối xử khi thành lập; các biện pháp bảo hộ đầu tư; cơ chế giải quyết tranh
chấp. Trong tất cả các BITs đã ký kết thì nguyên tắc chung mà Việt Nam thừa
nhận là tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích đầu tư của các bên ký kết bằng
việc chấp thuận đầu tư trên nguyên tắc công bằng, thỏa thuận không gây
phương hại bằng biện pháp bất hợp lý và phân biệt đối xử. Phạm vi hoạt động
đầu tư được tiếp nhận và bảo hộ cũng được quy định rộng rãi hơn so với pháp
luật hiện hành, bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, các quyền theo
hợp đồng, tài sản hữu hình, vô hình, quyền sở hữu trí tuệ và các quyền khác
theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, BITs cũng quy định về trưng thu,
quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư. Có thể nói, không một BITs nào ngăn
cản được bên ký kết tước đoạt tài sản của nhà đầu tư. BITs cũng khẳng định
quyền của nhà đầu tư trong việc chuyển vốn lợi nhuận và các thu nhập hợp
pháp khác về nước theo nguyên tắc: không chậm trễ, bằng đồng tiền tự do
chuyển đổi và phù hợp với các nghĩa vụ IMF.


16

Ngoài các BITs, Việt Nam còn ký kết các hiệp định song phương khác
có liên quan đến khuyến khích và bảo hộ đầu tư như Hiệp định thương mại
Việt Nam – Hoa Kỳ. Hiệp định này được ký kết ngày 13/07/2000 (viết tắt là
BTA). Đây là hiệp định song phương được kí kết trên cơ sở WTO và có mức
độ cao nhất mà Việt Nam từng kí kết. Hiệp định chứa đựng các lộ trình, kế
hoạch chi tiết cần cải cách có tác động đến các lĩnh vực của nền kinh tế Việt
Nam. Phát triển quan hệ đầu tư là một trong những nội dung cơ bản của hiệp
định được quy định tại Chương VI, các phụ lục và các điều khoản. Mặc dù chỉ
là một bộ phận trong hiệp định thương mại, nhưng chương phát triển đầu tư
có nội dung tương tự như một hiệp định song phương hoàn chỉnh về khuyến
khích và bảo hộ đầu tư giữa hai nước. Đặc biệt, ngoài việc thực hiện các tiêu
chuẩn về khuyến khích và bảo hộ đầu tư như các hiệp định song phương nói
trên, đây là lần đầu tiên Việt Nam cam kết tính chất ràng buộc việc đối xử
quốc gia và đối xử tối huệ quốc cho nhà đầu tư Hoa Kỳ. Trong Hiệp định này,
Việt Nam cam kết sẽ giành quy chế đối xử quốc gia với nhà đầu tư Hoa Kỳ
trong một số lĩnh vực, loại bỏ các biện pháp đầu tư làm cản trở, méo mó
thương mại như Hiệp định về các khía cạnh thương mại của đầu tư (TRIMs)
đã quy định. Ví dụ: loại bỏ biện pháp đầu tư yêu cầu sử dụng hàng hóa trong
nước, phải có tỷ lệ nội địa hóa hàng xuất khẩu, các biện pháp đầu tư hạn chế
tiếp cận thị trường thương mại hàng hóa dịch vụ….
Việc ký kết BTA đã mở rộng và tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam đàm
phán các BITs với tiêu chuẩn đối xử cao hơn với các BITs được ký kết trước
đó. Hầu hết các BITs trong giai đoạn này (như BITs với Hàn Quốc, Anh,
Island) đều thừa nhận cả nguyên tắc đối xử NT và MFN. Tuy nhiên, các
nguyên tắc này chỉ được áp dụng đối với việc sử dụng, quản lý, duy trì,
thường hưởng và định đoạt đầu tư. Như vậy, phạm vi đối xử này hẹp hơn so
với quy định của BTA và trên thực tế đã loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng NT
và MFN ở giai đoạn tiếp nhận và thành lập đầu tư. Theo đó, mỗi bên được
quyền duy trì chế độ cấp phép đầu tư đối với dự án đầu tư nước ngoài và chỉ


17

có nghĩa vụ thực hiện nguyên tắc đối xử này khi nhà đầu tư đã tuân thủ các
điều kiện cấp phép và thành lập hợp pháp trên lãnh thổ của mỗi bên kí kết.
Ngoài ra, theo nguyên tắc đối xử trên thì Việt Nam được quyền duy trì một số
ngoại lệ đối xử NT phù hợp với trình độ phát triển nền kinh tế của mình
nhưng phải có nghĩa vụ thông báo việc sửa đổi hoặc bãi bỏ những ngoại lệ
này nếu phát hiện pháp luật hiện hành có quy định như vậy.
Có thể nói, với những cam kết trong hiệp định song phương này thì đòi
hỏi Việt Nam phải thiết lập một mặt bằng pháp lý thống nhất giữa nhà đầu tư
nước ngoài và nhà đầu tư trong nước, xóa bỏ biện pháp đối xử, và hoàn thiện
luật khuyến khích và bảo đảm đầu tư nước ngoài tương thích với các cam kết
cũng như quy định của WTO. Điều đó giúp Việt Nam có môi trường cạnh
tranh thông thoáng, thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho Việt Nam
hội nhập sâu, rộng vào sân chơi chung của thế giới.
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn kinh
tế trong khu vực và trên thế giới. Trong đó, có các tổ chức quan trọng phải
được kể tới đó là: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); tổ chức
kinh tế thế giới WTO…Về diễn đàn kinh tế thế giới thì có thể kể đến Diễn
đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn kinh tế Á –
Âu (ASEM).
Việt Nam gia nhập ASEAN vào tháng 7/1995. Sau khi gia nhập vào tổ
chức này thì Việt Nam đã có những bước thay đổi quan trọng về chính trị,
kinh tế cũng như văn hóa xã hội. Đặc biệt là kinh tế có những phát triển rõ
nét. Vào ngày 08/10/1998 các nước trong ASEAN đã ký kết hiệp định khung
về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN (AIA). Với Hiệp định này, mục
tiêu đề ra là để ASEAN có sự cạnh tranh cao, thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, giảm dần và tiến tới xóa bỏ các rào cản đầu tư hướng tới sự tự do
hóa trong lưu chuyển đầu tư vào năm 2029 (trừ một số ngoại lệ). Tại Điều 7
Hiệp định này quy định, ngoài các lĩnh vực được liệt kê trong danh mục loại
trừ tạm thời (TEL) và danh mục nhạy cảm (SL) là các lĩnh vực chưa thể mở


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×