Tải bản đầy đủ

Quy chế pháp lý của công dân việt nam


QUY CHÉ PHÁP LÝ
CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM
ĐÈ TÀI KHOA HỌC CÁP TRƯỜNG
MÃ SỐ: LH-09-07/ĐHL-HN

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

TS. NGUYỄN MINH ĐOAN -ThS. PHẠM THỊ TÌNH

TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ v i ệ n ;
TRỰỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHÒNG ĐỌC

NHỮNG NGƯỜI THựC HIỆN
1. TS. NGUYỄN MINH ĐOAN, Chuyên đề: 1,2, 3,10
2. ThS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG, Chuyên đề: 5, 7
3. ThS. NGUYỄN VẢN THÁI, Chuyên đề: 8,9
4. ThS. PHẠM THỊ TÌNH, Chuyên đề: 4
5. TS. NGUYỄN MINH TUẤN, Chuyên đề: 6


HÀ NỘI - 2009


MỤC LỤC

PHẦN I

TỐNG QUAN NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI

2

PHẦN II

CÁC CHUYÊN ĐỀ

53

CHUYÊN ĐỀ 1

Khái niệm quy chế pháp lý của công dân

54

CHUYÊN ĐỀ 2

Nội dung quy chế pháp lý của công dân

65

CHUYÊN ĐỀ 3

Những nguyên tắc cơ bản của quy chế pháp lý của công dân

74

CHUYÊN ĐỀ 4

Quá trình hình thành và phát triển quy chế pháp lý của công dân

86



Việt Nam
CHUYÊN ĐỀ 5

Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực chính trị

101

CHUYÊN ĐỀ 6

Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực dân sự

113

CHUYÊN ĐỀ 7

Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế

122

CHUYÊN ĐỀ 8

Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực văn hoá

134

CHUYÊN ĐỀ 9

Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực xã hội

152

CHUYÊN ĐỀ 10

Hoàn thiện quy chế pháp lý của công dân Việt Nam

172

DANH MỤC TÀi LIỆU THAM KHẢO

182


+ Phân tích làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về quy chế pháp lý của công
dân như khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc cơ bản của quy chế pháp lý công dân
Việt Nam.
+ Phân tích nội dung quy chế pháp lý của công dân trên các phương diện như
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội. Đánh giá thực trạng các quy địnhpháp

luật

về các quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam và thực tiễn thực hiện chúng ở Việt
Nam trên từng lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội.
+ Đề xuất một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
liên quan đến quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Các chuyên đề nghiên cứu trong đề tài
1. Khái niệm quy chế pháp lý của công dân
2. Nội dung quy chế pháp lý của công dân

3. Những nguyên tắc cơ bản của quy chế pháp lý của công dân
4. Quá trình hình thành và phát triển quy chế pháp lý của công dân Việt Nam

5. Quy chế pháp lý củacông dân Việt Nam trong lĩnh vực chính trị
6. Quy chế pháp lý củacông dân

Việt Nam trong lĩnh vực dân sự

7. Quy chế pháp lý củacông dân

Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế

8. Quy chế pháp lý củacông dân Việt Nam trong lĩnh vực văn hoá
9. Quy chế pháp

lý củacông dân

Việt Nam trong lĩnh vực xã hội

10. Hoàn thiện quy chế pháp lý của công dân Việt Nam


TÓNG QUAN ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC
A. PHẨN MỞ ĐÀU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của nhân loại là lịch sử phát triển tự do của con người, đưa con
người từ vương quổc của tất yếu vào vương quốc của tự do, khẳng định địa vị làm chủ
của con người. Những năm qua trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam
đã và đang diễn ra quá trình đổi mới sâu sắc từ tư duy đến hành động, trong đó có việc
xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Sự đổi
mới đó dẫn đến một hệ quả tất yếu là địa vị của người dân ngày càng được củng cố và
phát triển. Điều này được thể hiện không chỉ về mặt thực tế mà còn được phản ánh
trong quy chế pháp lý của công dân, các cá nhân.
Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam luôn phải được củng cố, hoàn thiện và
phát triển trên cơ sở có sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng
thời cần tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa trí tuệ nhân loại và kinh nghiệm quý báu
của các nước khác, các dân tộc khác trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật, đáp ứng
những nhu cầu đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị
trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế tạo điều kiện để đất nước
phát triển nhanh và bền vững.
Sự đổi mới của đất nước đòi hỏi phải tiến hành sửa đổi, bố sung nhiều quy định
pháp luật liên quan đến quy chế pháp lý của công dân cho phù hợp với tình hình mới.
Do vậy, việc nghiên cứu quy chế pháp lý của công dân Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội
nhập quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền là rất cần thiết, góp phần hoàn thiện
những tư tưởng, quan điểm phù hợp để chỉ đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát
triển hệ thống pháp luật cũng như quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật trong tình
hình và điều kiện mới đạt được nhiều thành tích hơn vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam đã và đang được nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Một số công trình như: Giáo trình lý
luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư Pháp 2005;
Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Văn
Động "‘Hoàn thiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước và công dân trong điều
kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” Nxb Chính trị quốc gia 1997; sách chuyên khảo
“Một số vấn đề về quyền kinh tế- xã hội” do Hoàng Văn Hảo và Chu Hồng Thanh chủ

2


biên, Nxb Lao động 1996; sách chuyên khảo “Một số vấn đề về quyền dân sự và chính
trị” do Hoàng Văn Hảo và Chu Hồng Thanh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia 1997;
sách tham khảo “Mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân công dân với nhà nước” của Trần
Ngọc Đường và Chu Văn Thành, Nxb Chính trị quốc gia 1994; sách chuyên khảo
“Các quyền hiến định về xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay” của TS. Nguyễn
Văn Động, Nxb Tư pháp 2004, sách chuyên khảo “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Công an nhân dân
2003; PGS. TS. Nguyễn Văn Động “Quan niệm về quyền con người trong thời đại
ngày nay” tạp chí Dân chủ & pháp luật, 12/2009 và nhiều công trình khác nữa đã
nghiên cứu, đề cập tới vấn đề này. Các công trình nói trên đã tiếp cận và nghiên cứu về
các quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam, mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và
công dân... ở những khía cạnh và mức độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về quy chế pháp lý của công dân Việt Nam về mặt
lý luận cũng như thực tiễn thể hiện của quy chế trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc
tế, xây dựng nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, quy chế pháp lý của công dân Việt Nam vẫn cần
tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện trong hiện tại và tương lai.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã
hội ờ Việt Nam thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Các phương pháp nghiên cứu dược
chú ý hơn là phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh.
4. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu với mục đích tìm hiểu một cách khách quan, khoa học và
tương đối đầy đủ về quy chế pháp lý của công dân Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện và phát triển hơn lý luận về quy
chế pháp lý của công dân, giúp cho việc giảng dạy về bản chất mối quan hệ pháp lý
giữa nhà nước và cong dân được chính xác, khoa học và phù hợp hơn. Ket quả nghiên
cứu cũng đồng thời góp phần để hoạt động thực tiễn xây dựng, thực hiện và bảo vệ
pháp luật liên quan đến địa vị pháp lý của công dân ở nước ta đúng đắn và có hiệu quả
cao hơn trong điều kiện hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nên các tác giả
tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản sau:

3


B. PHẦN NỘI DUNG
1. Khái niệm quy chế pháp lý công dân
Trong đời sống xã hội hiện đại con người luôn ở trong rất nhiều những mối quan
hệ khác nhau, những quan hệ xã hội đó do chính con người tạo ra, nhưng trong quá
trình tồn tại, vận động chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đối với con người, chúng xác
định vị trí, địa vị của mỗi con người trong đời sống xã hội. Giữ vai trò quan trọng
trong những quan hệ xã hội đó là quan hệ qua lại giữa nhà nước, xã hội và cá nhân, bởi
chúng có liên quan tới các quyền, tự do dân chủ, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá
nhân. Các quan hệ đó được thể hiện rõ hơn cả trong quy chế pháp lý của cá nhân, nói
cách khác, vai trò và địa vị của mỗi cá nhân trong xã hội hiện nay thể hiện tập trung
hơn cả trong quy chế pháp lý của họ.
Quy chế pháp lý của công dân là sự ghi nhận, củng cố của nhà nước về mặt pháp
lý địa vị của công dân trong nhà nước và xã hội, nói cách khác, địa vị mà công dân có
được trong nhà nước và xã hội được quy định bằng pháp luật tạo nên quy chế pháp lý
của công dân. Quy chế pháp lý của công dân được nhà nước thiết lập bằng pháp luật,
nó thể hiện ý chí của nhà nước. Nội dung của quy chế pháp lý có thể thay đổi tùy
thuộc ý chí nhà nước, tuy nhiên ý chí nhà nước thì phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế,
chính trị, xã hội của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển. Quy chế pháp lý của công dân
là sự ghi nhận và củng cố địa vị thực tế của con người trong hệ thống các quan hệ xã
hội bằng pháp luật. Nó xác dịnh về mặt pháp lý phạm vi hoạt dộng của công dân, hệ
thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ, những biện pháp bảo đảm thực hiện các
quyền và nghĩa vụ pháp lý đó, trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng, nhà nước
và xã hội...
Quy chế pháp lý của công dân là một bộ phận của pháp luật, trong đó gồm những
quy phạm pháp luật quy định về các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của công
dân, các bảo đảm cho việc thực hiện chúng... Quy chế pháp lý của công dân luôn thế
hiện ý chí, thái độ của nhà nước với công dân, do nhà nước xác lập và bảo đảm thực
hiện. Việc nhà nước ghi nhận bằng pháp luật địa vị của các công dân trong xã hội có
một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó góp phần củng cố địa vị thực tế của công dân, đồng
thời nó buộc các cá nhân và tổ chức khác phải thừa nhận các quyền, nghĩa vụ, trách
nhiệm pháp lý của công dân và không được phép can thiệp hoặc xâm hại.
Tất cả mọi công dân đều có quy chế pháp lý chung, nhưng phụ thuộc vào độ tuổi,
giới tính, nghề nghiệp và những điều kiện khác nữa m ỗi người sẽ có quy chế pháp lý
riêng. Việc thay đổi, lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân trong xã hội không có ảnh

5


hưởng gì đến nội dung quy chế pháp lý chung hoặc riêng của họ, không tạo ra quy chế
pháp lý đặc biệt cho họ mà chỉ xảy ra sự thay đổi mối tương quan giữa quy chế pháp
lý chung và quy chế pháp lý riêng mà công dân đó có mà thôi, bởi nội dung quy chế
pháp lý của công dân là phụ thuộc vào ý chí nhà nước.
Còn đối với những cá nhân không phải là công dân (người

mang quốc tịchnước

ngoài, người không quốc tịch) nhà nước thường quy định quy chế pháp lý đối với họ
có những điểm khác biệt nhất định so với công dân. Thông thường họ có thể không
được hưởng m ột số quyền và không phải thực hiện m ột số nghĩa vụ pháp lý nhất định.

Đối với những cá nhân mang quốc tịch nước ngoài còn có
giữa các nhà nước với nhau về quy chế pháp lý của họ.
Nội dung của quy chế pháp lý công dân bao gồm:

thể cónhững thỏa thuận

+ Các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của công dân. Giữ vai trò thiết yếu
trong quy chế pháp lý của công dân là các quyền, tự do thuộc các lĩnh vực quan trọng
của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Nghĩa vụ pháp lý của công
dân là những đòi hỏi của nhà nước và xã hội đối với công dân, nhàm thỏa mãn những
quyền lợi chung của cộng đồng và những cá nhân khác. Trách nhiệm pháp lý của công
dân là trách nhiệm của cá nhân phải thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ
pháp lý của mình. Trong đó bao gồm: a. Phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nếu
không thực hiện đúng những đòi hỏi của các quy định pháp luật (trách nhiệm pháp lý
tiêu cực); b. Có ý thức thực hiện một cách tự giác những chỉ dẫn, mệnh lệnh của pháp
luật vì lợi ích của xã hội và những chủ thể khác, trong dó có việc tự giác sử dụng dầy
đủ các quyền và thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ pháp lý của mình (trách nhiệm
pháp lý tính cực).
+ Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của công dân. Năng lực pháp luật và
năng lực hành vi của công dân là những khả năng của công dân được nhà nước thừa
nhận cho mỗi công dân phụ thuộc vào sự phát triển thể lực và trí lực của họ. Sự khác
nhau về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các công dân dẫn đến sự khác
nhau về số lượng các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có thể có được từ quy chế pháp
lý chung của công dân.
+ Các bảo đảm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của công dân. Thống qua
các quy định pháp luật nhà nước không chỉ tuyên bố các quyền và nghĩa vụ cho công
dân mà còn đưa ra các biện pháp để bảo vệ và đảm bảo cho chúng được thực hiện trên
thực tế. Chúng thường bao gồm các bảo đảm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và
pháp lý. Những bảo đảm quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân thể hiện ở những

6


điều kiện khách quan như bản chất của chế độ xã hội, các điều kiện kinh tế... và ở
những điều kiện chủ quan như mong muốn, sự cố gắng trong việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân từ phía cá nhân công dân và cả từ phía nhà
nước. Là một thành phần của quy chế pháp lý công dân các bảo đảm quyền và nghĩa
vụ pháp lý của công dân cho phép công dân không chỉ sử dụng để thực hiện các
quyền, tự do của mình mà còn có thể “đấu tranh vì quyền của mình”. Đương nhiên,
không phải khi nào những khả năng pháp lý của công dân cũng có thế trở thành hiện
thực. Điều này có thể là do các điều kiện thực tế khách quan đã không cho phép các cá
nhân thực hiện được chúng hoặc bản thân cá nhân không có các điều kiện để thực hiện
chúng.
Quy chế pháp lý của công dân phản ánh trình độ phát triển của xã hội, thông qua
nội dung của nó có thể đánh giá được mức độ dân chủ, nhân đạo, tiến bộ và xu hướng
phát triển của một xã hội cũng như mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và cá nhân. Bản
chất của chế độ chính trị - xã hội, mục đích, nhiệm vụ, những lý tưởng và nguyên lý cơ
bản của chế độ chính trị - xã hội là những yếu tố quyết định giá trị, vị trí, vai trò thật
sự của các cá nhân trong xã hội. Ở Việt Nam từ khi nhân dân lao động dưới sự lãnh
đạo của Đảng mà đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu, tiến hành cuộc cách
mạng Tháng Tám thành công, xoá bỏ Nhà nước và pháp luật thực dân phong kiến, lập
nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thì địa vị của người dân lao động đã thực sự thay đổi. Từ địa vị lệ thuộc, bị áp
bức, bóc lột nhân dân Việt Nam trở thành người thống trị, người chủ thực sự của dất
nước, người tự quyết định vận mệnh của mình.
Hình thành và phát
công dân Việt Nam luôn
thiết lập quy chế pháp lý
bóc lột, đoàn kết dân tộc

triển cùng với hệ thống pháp luật tiến bộ, quy chế pháp lý của
có sự thay đổi về nội dung và tính chất. Giai đoạn đầu khi mới
của công dân Việt Nam mới chỉ thể hiện tinh thần hạn chế việc
rộng rãi chống giặc ngoại xâm vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã

hội, vì lợi ích nhân dân rồi sau đó là chống phong kiến. Khi cách mạng Việt Nam chuyển
sang giai đoạn mới, đi đôi với việc thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc, dân
chủ chúng ta từng bước chuyển dần sang thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội
chủ nghĩa, thì tính chất dân chủ nhân dân trong quy chế pháp lý của công dân Việt Nam
chuyển dần sang tính chất xã hội chủ nghĩa với mục tiêu đề ra là chống áp bức, chống bóc
lột và mọi sự bất công, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Những tư
tưởng đó đã được ghi nhận, củng cố và phát triển bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình sự phát triển đi lên của đất nước ta quy chế
pháp lý của công dân Việt Nam ngày càng phát triển cùng với những thành tựu và tiến bộ

7


xã hội mà chúng ta đã đạt được. Điều này được thể hiện rất rõ trong việc ban hành Hiến
pháp Việt N am năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và những văn bản luật quan trọng được ban
hành sửa đổi trong thời gian qua trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội như
kinh tế, dân sự, chính trị, văn hóa, xã hội theo tinh thần con người được xem là giá trị cao
nhất, mang lại hạnh phúc cho người là mục tiêu của việc quy định, phát triển quy chế
pháp lý của công dân.

2. Các nguyên tắc

CO'

bản của quy chế pháp lý công dân Việt Nam

Nguyên tắc quy chế pháp lý của công dân là những tư tưởng chỉ đạo có tính chất
xuất phát điểm, thể hiện sự thống nhất bên trong và có ý nghĩa bao quát, quyết định sự
đúng đắn về nội dung cũng như phương hướng phát triển của quy chế pháp lý công
dân trong xã hội.
Các nguyên tắc của quy chế pháp lý công dân vừa mang tính chủ quan vừa mang
tính khách quan, chúng có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng xây dựng nội
dung, quá trình thực hiện và phát triển quy chế pháp lý của công dân.

về mặt chủ quan

các nguyên tắc quy chế pháp lý công dân luôn phụ thuộc vào ý chí nhà nước. Nhà nước
luôn quan tâm tới việc đặt ra hoặc thừa nhận những nguyên tắc quy chế pháp lý công
dân sao cho phù hợp với chế độ xã hội ở mỗi thời kỳ phát triển, về khách quan các
nguyên tắc quy chế pháp lý công dân thể hiện ở chỗ chúng luôn phản ánh những quy
luật chung của đời sống xã hội, nội dung và khả năng thực hiện chúng là do các điều
kiện kinh tế, chính trị, xã hội quyết định. Sự phát triển và thay đổi của xã hội sẽ dẫn
đến sự thay đổi nội dung các nguyên tắc của quy chế pháp lý công dân. Các nguyên
tắc của quy chế pháp lý công dân có tính bao quát, ổn định, bền vững, ít thay đổi hơn
so với các quy định pháp luật. Bởi chúng gắn liền với bản chất của chế độ xã hội, bản
chất của pháp luật và những điều kiện kinh tế, chính trị, xã h ộ i... cơ bản của đất nước.
Nguyên tắc quy chế pháp lý công dân Việt Nam xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng
mang tính khoa học, chúng phản ánh những quy luật khách quan của công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội, các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và những điều kiện khác của đất
nước liên quan đến các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân cần được điều chỉnh
bằng pháp luật ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định. Các nguyên tắc quy chế pháp lý công
dân Việt Nam được thể hiện ở nội dung đường lối chính sách của Đảng Cộng sản, nội
dung, tinh thần các chính sách pháp luật, trong các học thuyết chính trị - pháp lý, các
văn bản pháp luật mà Nhà nước ban hành, trong đó tập trung nhất là hiến pháp và các
văn bản luật quan trọng.
Sự hình thành và phát triển của các nguyên tắc quy chế pháp lý công dân Việt

8


Nam có sự kế thừa, phát triển những nguyên tắc quy chế pháp lý công dân tiến bộ mà
loài nguời đã đạt được trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật ở các thời đại trước, đặc
biệt là những nguyên tắc quy chế pháp lý công dân tiến bộ. Các nguyên tắc quy chế
pháp lý công dân Việt Nam được xây dựng với những đặc điểm cơ bản là: Ghi nhận
người chủ thực sự của đất nước là nhân dân, đề cao chủ quyền nhân dân; thực hiện
việc giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công và những lệ thuộc khác; củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân vì hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản; không ngừng phát triển, hoàn thiện vì các mục tiêu dân
chủ, nhấn đạo, vì hạnh phúc của con người.
+ Nguyên tắc không ngừng mở rộng các quyền, tự do pháp lý và nâng cao điều
kiện sốr.g cho công dân
LỆh sử loài người là lịch sử phát triển tự do của con người, từ lệ thuộc vào thiên
nhiên, -vào các giai cấp bóc lột, người lao động đã và đang từng bước làm chủ thiên
nhiên, lim chủ xã hội và làm chủ bản thân mình. Quy luật phát triển này được đặc biệt
chứng ninh bằng thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở các nước xã
hội chủ nghĩa khác. Nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược của Việt Nam là xây dựng đất
nước giìu mạnh để có thể đáp ứng tốt hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày
càng ca) của toàn xã hội, xây dựng một xã hội có đủ khả năng mang lại cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc và điều kiện phát triển toàn diện cho mỗi người dân. Có thể
khẳng tình rằng, chỉ khi nào đầy đủ về vật chất và tinh thần thì nhân dân mới thoát
khỏi nhĩng sự lệ thuộc, mới chuyển dần được từ "vương quốc của tất yếu sang vương
quốc cỉa tự do". Sự đầy đủ về vật chất và tinh thần luôn là mơ ước và mục tiêu phấn
đấu của nhân loại, cũng như của mỗi con người. Do vậy, trong quy chế pháp lý công
dân Viậ Nam phải có những quy định để tạo điều kiện cho công dân trong những
hoàn cảih điều kiện hiện tại của bản thân có thể đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
vật chấtvà tinh thần cho bản thân.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hệ thống các quyền, tự
do pháf lý của công dân luôn không ngừng được củng cố và phát triển, đời sống của
nhân dâi không ngừng được nâng cao phù hợp với sự phát triển của đất nước. Có thể
khẳng ạnh rằng, mỗi khi sửa đổi hay ban hành một hiến pháp mới ở Việt Nam là một
bước gli nhận, củng cố hệ thống các quyền, tự do pháp lý của công dân, một bước
phát tricn mới của nhà nước, một giai đoạn mới mở rộng nền dân chủ xã hội, một lần
củng cc hoàn thiện quy chế pháp lý của công dân theo hướng không ngừng nâng cao
đời sốnỊ vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân
phát triứi về mọi mặt.

9


+ Nguyên tăc bình đăng giữa các công dân
Đây là nguyên tắc cơ bản của quy chế pháp lý công dân của Nhà nước Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xã hội của những người lao động bình
đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, do vậy, pháp luật Việt Nam luôn quy định là mọi
công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, tôn giáo, địa vị xã hội, đều bình
đẳng trước pháp luật, không ai được hưởng những đặc quyền, đặc lợi. Khác với sự công
bằng xã hội, bình đẳng là một phạm trù pháp lý, nghĩa là, sự ngang nhau về khả năng
pháp lý (ngang bàng nhau cả về quyền và nghĩa vụ pháp lý) được pháp luật ghi nhận.
Trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam không có một sự hạn chế nào hoặc
một sự đặc ân (đặc quyền) nào đối với một loại công dân nào phụ thuộc vào những đặc
tính cá nhân hay dấu hiệu xã hội của họ. Thực chất nguyên tắc bình đẳng giữa các công
dân thể hiện ở sự bằng nhau về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các công dân (ở đây chỉ đề
cập đến sự bằng nhau về quyền và nghĩa vụ trong quy chế pháp lý chung của công dân).
Nguyên tắc bình đẳng không chỉ dừng lại ở sự bình đẳng giữa các công dân, mà
còn là sự bình đẳng giữa nam và nữ: Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về
mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; sự bình đẳng giữa các dân tộc:
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc,
nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn
hoá tốt đẹp của mình; sự bình đẳng giữa các tôn giáo: Công dân có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng

trước pháp luật.
Nguyên tắc bình đẳng đòi hỏi đảm bảo sự công bằng trong khen thưởng và trừng
phạt, tất cả những ai có thành tích, có công thì đều được khen thưởng, bất kỳ ai vi
phạm pháp luật cũng đều bị trừng phạt theo pháp luật, không làm oan người ngay,
không bỏ sót người vi phạm. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật
có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự...
Không chỉ quy định về sự bình đẳng giữa các công dân, pháp luật còn quy định
các biện pháp để bảo vệ và bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các công dân về mặt
thực tế, tạo ra cho mỗi người cơ hội và khả năng phát triển như nhau, thực hiện một
quá trình chuyển hoá dần từ sự bình đẳng về mặt pháp lý sang công bằng xã hội, nghĩa
là, bằng nhau về khả năng thực tế đế đáp ứng những lợi ích hợp pháp, chính đáng của
mỗi người.
+ Nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ
Quy chế pháp lý của công dân trong xã hội không chỉ được xác định bằng quyền

10


mà bằng cả nghĩa vụ của họ nữa. Từ đó nảy sinh nguyên tắc vô cùng quan trọng của
quy chế pháp lý công dân Việt Nam là nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ
công dân. Công dân không có quyền, thì không phải chịu nghĩa vụ, công dân không
làm nghĩa vụ, thì không được hưởng quyền. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân
thể hiện mối liên hệ pháp lý qua lại giữa nhà nước và công dân nói chung: Quyền pháp
lý của công dân được xem như nghĩa vụ của nhà nước phải đáp ứng để các quyền đó

được thực hiện, ngược lại nghĩa vụ pháp lý của công dân được xem là những đòi hỏi
của nhà nước đối với công dân. Do vậy, các quyền của công dân chỉ có thể đảm bảo
trên cơ sở công dân nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình. Việc các chủ
thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của minh chính là điều kiện tiên quyết để tạo ra các tiền
đề vật chất bảo đảm cho việc thực hiện các quyền của họ. Quyền của công dân không
tách rời nghĩa vụ của công dân. Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân, công dân
phải làm tròn nghĩa vụ của mình với nhà nước và xã hội. Như vậy, giữa nhà nước và
công dân, và các tổ chức khác trong xã hội, mỗi bên đều có quyền đòi hỏi và đều có
nghĩa vụ đối với bên kia. Quyền của bên này chính là nghĩa vụ của bên kia kia và
ngược lại, vì vậy, quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân là hai hiện tượng pháp lý
không thể thiếu nhau. Chúng luôn thống nhất, phù hợp với nhau, nội dung, số lượng và
các biện pháp bảo đảm thực hiện chúng đều do nhà nước quy định và đảm bảo thực
hiện. Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân còn được thể hiện ở
chỗ: thứ nhất, việc được hưởng một số quyền nhất định không thể hoặc rất khó khăn
nếu không thi hành một số nghĩa vụ tương ứng nhất định; thứ hai, trong một số trường
hợp thì quyền cũng đồng thời là nghĩa vụ của công dân. Sự thống nhất giữa quyền và
nghĩa vụ còn nói lên sự thống nhất về chính trị, xã hội của xã hội ta, sự thống nhất về
nhiệm vụ, mục đích của xã hội và công dân, sự đảm bảo cần thiết từ phía nhà nước, sự
cùng quan tâm như nhau của nhà nước và công dân trong việc thực hiện chúng.
+ Nguyên tắc bảo đảm sự hài hoà giữa lợi ích nhà nước, xã hội và cá nhân
Nguyên tắc bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích nhà nước, xã hội và cá nhân có liên
quan chặt chẽ với nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ công dân. Chúng
phản ánh vị trí, địa vị lịch sử của công dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi mà giữa
nhà nước và cá nhân không còn đối lập với nhau nữa. Điều này cũng nói lên sự đổi
mới về bản chất quy chế pháp lý của công dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự kết
hợp hài hòa giữa lợi ích nhà nước, xã hội và công dân là điều kiện tạo nên sự thống
nhất giữa lợi ích nhà nước, xã hội và công dân, sự đoàn kết nhất trí giữa các chủ thể
này. Đây là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và'là nhân tố có ý nghĩa quyết định
bảo đảm sự thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

11


Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam luôn thấm nhuần nguyên tắc kết hợp hài
hoà giữa lợi ích nhà nước với công dân, tập thể, xã hội với cá nhân đế phát huy sức
mạnh của cả cộng đồng dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc vì mục
tiêu độc lập, thống nhất đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật ở nước ta cần có những
chính sách cụ thể đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, các
doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, các dân tộc, đồng bào
các tôn giáo khác nhau, đồng bào định cư ở nước ngoài. Kết họp hài hoà lợi ích cá nhân,
lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với
lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai
cấp, thành phần, nghề nghiệp, vị trí xã hội, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau,
hướng tới tương lai.
+ Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội đó là xã hội thực sự nhân đạo, giá trị cao nhất của nó là con
người lao động. Phù hợp với tư tưởng “Tất cả cho con người, vì lợi ích của con
người”, trong quy chế pháp lý của công dân Việt Nam luôn có những quy định về các
quyền, tự do của công dân, các quy định bảo đảm nhân cách, phẩm hạnh của công dân,
tạo điều kiện cho sự phát triển hợp lý tất cả những khả năng về thể lực và tâm hồn của
họ, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của họ.
Tính chất nhân đạo trong quy chế pháp lý công dân thể hiện ở chế độ nhà nước
và chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, ở sự công bằng xã hội, ở sự quan tâm của nhà nước
và xã hội đến việc phát triển nhân cách mỗi người, trong sự giúp đỡ thiết thực đối với
những công dân mà vì một lý do nào đó họ cần đến nó. Chẳng hạn, quy định một số
chính sách ưu đãi đối với một số đối tượng nhất định phụ thuộc vào lứa tuổi, giống,
giới, tình trạng sức khỏe của họ và những điều kiện khác nữa. Phát huy truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, pháp luật của nhà nước ta qui định nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước
và xã hộị trong việc giúp đỡ người tàn tật, trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, những người
gặp khó khăn, hoạn nạn. Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa được biểu hiện tập
trung ở khẩu hiệu: “Tự do phát triển của mỗi người là điều kiện phát triển tự do cho tất
cả mọi người”. Với tư tưởng chỉ đạo trên nên mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước Việt
Nam đều hướng tới việc bảo đảm một số lượng rộng lớn các quyền, tự do dân chủ cho
công dân, tạo mọi điều kiện để mỗi công dân có đủ khả năng thực tế sử dụng và phát
triển sức mạnh sáng tạo, tài năng trí tuệ của mình.
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa có nội dung rộng lớn, triệt để, sâu sắc và
cao cả đồng thời lại rất hiện thực, thể hiện ở sự thương yêu, quí trọng con người, tôn

12


trọng và bảo vệ con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho con người. Nguyên tắc
nhân đạo trong quy chế pháp lý công dân trước hết biểu hiện ở các quy định pháp luật
nhàm giải phóng con người khỏi mọi sự bóc lột, áp bức và bất công, đưa con người từ
địa vị phụ thuộc lên địa vị chủ nhân của xã hội. Pháp luật quy định cho công dân hệ
thống rộng lớn các quyền tự do dân chủ trong đó có quyền không bị áp bức, bóc lột,
đồng thời có cơ chế phù hợp để người dân thực hiện được các quyền đó, không ngừng
phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc có điều kiện phát huy tài năng, phát triển toàn diện.
Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện ở sự tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm con
người, những giá trị của con người, coi con người là giá trị cao nhất, mọi cố gắng của
nhà nước và xã hội đều nhằm phục vụ cho lợi ích con người. Tính chất nhân đạo trong
quy chế pháp lý của công dân còn biểu hiện ở việc tôn trọng quyền con người từ phía
nhà nước và xã hội. Tất cả các hoạt động từ hoạch định chính sách đến ban hành văn
bản qui phạm pháp luật đều phải thấm nhuần tư tưởng của dân, do dân, vì dân.
Nghiêm cấm mọi hành vi xúc phạm, trà đạp lên phẩm giá con người, trừng trị nghiêm
khắc những hành vi xâm phạm tới lợi ích, tính mạng con người, chống lại loài người...
Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện ở lòng vị tha cao thượng không cố chấp với
người có lỗi lầm biết hối hận sửa chữa; đối xử khoan hồng đối với người vi phạm pháp
luật. Việc xử lí vi phạm pháp luật được tiến hành trên cơ sở bảo đảm danh dự, nhân
phẩm của con người, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, dùng nhục hình, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm của con người. Quá trình xử lí vi phạm pháp luật luôn lưu ý đến
hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của người vi phạm. Xoá bỏ dần hình phạt tử hình trong
pháp luật hình sự, giảm bớt các hành vi bị coi là tội phạm, bỏ bớt một số hình phạt.
Tiến hành bảo vệ quyền công dân, giải quyết các tranh chấp bằng con đường tư pháp.
Giảm bớt các thủ tục, đặc biệt là thủ tục hành chính trong giải quyết các công việc của
công dân và các tổ chức kinh tế. Tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tự
do sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật. Hoàn thiện pháp luật cho phù
hợp hơn với đạo đức, văn hoá và truyền thống dân tộc, thể hiện tính nhân văn, nhân
bản trong các quy định pháp luật.
3.
Khái quát về quá trình hình thành và phát triển quy chế pháp lý của công
dân Viêt Nam
Xuất phát từ nguyên tắc: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”,
Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng và hoàn thiện qui chế pháp lý công dân.

13


Mặc dù được ban hành ở những thời điểm khác nhau, song qui chế pháp lý công dân
đều thể hiện ý chí, bản chất giai cấp nhà nước và mục tiêu đảm bảo quyền con người.
Tuy nhiên, cũng như sự phát triển của hệ thống pháp luật, qui chế pháp lý công dân
không khỏi bị chi phối bởi điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, nhiệm vụ chính trị của

nhà nước trong mỗi thời kỳ.
a. Qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1946
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa
phong kiến với chính thể quân chủ chuyên chế nên chưa có hiến pháp, người Việt
Nam là dân bảo hộ. Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời, trong bộn bề công việc của nhà nước non trẻ, nhiệm vụ xây dựng hiến
pháp được đặt lên hàng đầu. Năm 1946 Quốc hội thông qua bản hiến pháp đầu tiên của
nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với ba nguyên tắc cơ bản:
- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Các nguyên tắc này được xem như là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong việc xây
dựng toàn bộ các chế định của Hiến pháp 1946 nói chung và qui chế pháp lý công dân
nói riêng. Hiến pháp 1946 là văn bản pháp lý quan trọng lần đầu tiên xác lập quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn
hóa, giáo dục, tự do cá nhân. Đảm bảo sự bình đẳng giữa các công dân, qui chế pháp
lý công dân thể hiện quan điểm loại bỏ hoàn toàn sự phân biệt đối xử, đặc quyền, đặc
lợi giữa những cá nhân trong xã hội. Mặc dù lần đầu tiên ghi nhận, song qui chế pháp
lý công dân đã thể hiện sâu sắc quan điểm về tự do, dân chủ, về vấn đề quyền con
người. Có thể nói ở Việt Nam, xuất pháp từ truyền thống nhân đạo từ ngàn xưa và điều
kiện cụ thể của đất nước, nên tư tưởng quyền con người và quyền công dân đã “thấm
sâu” vào quá trình cách mạng. Tư tưởng về nền pháp lý vì con người đã được hình từ
rất sớm trong quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Hiến pháp 1946 đặc biệt chú trọng đến các qui định về nghĩa vụ của công dân,
nghĩa vu hàng đầu là bảo vệ tổ quốc, nghĩa vụ đi lính. Bên cạnh các nghĩa vụ, Hiến
pháp 1946 qui định hàng loạt các quyền của công dân Việt nam như: Quyền bầu cử;
quyền tir hữu tài sản; quyền bình đẳng về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội; quyền tham gia chính quyền và công việc kiến quốc tùy theo tài đức của mình;
quyền tình đẳng nam nữ; bình đẳng các dân tộc; quyền tự do ngôn luận, tự do xuất
bản, tự io tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng, tự do cư trú và đi lại trong nước và ra
nước ngoài; quyền tư hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, thư tín...

14


Giá trị nhân đạo trong qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1946 là hướng
tới sự p h át triển toàn diện của con người. Vì vậy, H iến pháp không chỉ đặt nền m óng

đầu tiên cho việc xây dựng các qui định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà
còn đưa ra những bảo đảm cho việc thực hiện các qui định đó. Được xây dựng trên
nguyên tắc đoàn kết các dân tộc, Hiến pháp 1946 thể hiện sự quan tâm của nhà nước
với mọi cá nhân trong xã hội.
Hiến pháp 1946 ra đời trong điều kiện vô cùng khó khăn về tất cả các mặt, trong
đó đặc biệt là nền tài chính suy kiệt song Nhà nước cũng đã cố gắng ghi nhận những
bảo đảm về mặt kinh tế cho việc thực hiện qui chế pháp lý công dân. Những đảm bảo
về mặt vật chất bao gồm: nhà nước giúp các quốc dân thiểu số về mọi phương diện,
giúp đỡ người già, người tàn tật, trẻ em; nền sơ học không phải trả học phí, học trò
nghèo được chính phủ giúp đỡ...

về khía

cạnh pháp lý, nhà nước Việt Nam dân chủ

cộng hòa đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, chế độ
bầu cử, về lao động, giảm tô, về các quyền tự do dân chủ...
Hiến pháp 1946 ra đời cũng ghi nhận trách nhiệm của các cơ quan nhà nước như
Nghị viện, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, ủ y ban hành chính và cơ quan Tư pháp
trong việc đảm bảo thực hiện qui chế pháp lý công dân. Để đảm bảo quyền công dân,
Hiến pháp qui định bộ máy tư pháp tuân thủ nguyên tắc: Khi xét xử có phụ thẩm tham
gia; quốc dân thiểu số được quyền dùng tiếng nói của mình trước tòa; xét xử công khai
trừ trường hợp luật định; đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo và cấm tra tấn, đánh đập
ngược đãi bị cáo, tội nhân...

Có thể nói, những qui định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến
pháp 1946 làm thay đổi về chất trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, làm nền
tảng cho việc xây dựng qui chế pháp lý công dân trong các hiến pháp sau. Đúng như
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt
Nam đã có đủ mọi quyền tự do”.
b. Qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1959
Với chiến thắng Điện Biên phủ và Hiệp nghị Giơ ne vơ, miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng, nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Cách mạng Việt
Nam chuyển sang giai đoạn mới với 2 nhiệm vụ chiến lược: miền Bắc đi lên xây dựng
và cải tạo XHCN, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ. Trong tình hình
nhiệm vụ mới, Hiến pháp 1959 đã được ban hành.
Hiến pháp 1959 được xây dựng theo mô hình của hiến pháp xã hội chủ nghĩa, tư
tưởng này được thể hiện thông qua toàn bộ nội dung của Hiến pháp bao gồm: Chế độ
chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tổ chức bộ máy nhà nước và mối quan hệ giữa

15


nhà nước và công dân. Khẳng định sự kế thừa và phát triển của Hiến pháp 1946, qui
chế pháp lý công dân được củng cố mở rộng hơn.
Xuất phát từ bản chất dân chủ, mục tiêu phát triển của Nhà nước là vì con người,
nên Hiến pháp 1959 không chỉ kế thừa các quyền tự do dân chủ mà còn ghi nhận thành
tựu của Nhà nước trong việc hoàn thiện qui chế pháp lý công dân. Ngoài những quyền
như: bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
quyền bất khả xâm phạm thân thể, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, tự do cư trú đi
lại... Hiến pháp 1959 còn qui định thêm những quyền mới, sửa đổi một số quyền cơ
bản của công dân và tăng cường những bảo đảm cho việc thực hiện qui chế pháp lý
công dân.
v ề lĩnh vực kinh tế - xã hội, một trong những quyền quan trọng nhất của qui chế
pháp lý công dân thời kỳ này là ghi nhận quyền lao động. Xuất phát từ vai trò của lao
động trong tiến trình phát triển của xã hội, lao động không chỉ là nhân tố quan trọng
cho sự phát triển của đất nước mà còn góp phần trực tiếp nâng cao đời sống mỗi cá
nhân, do đó cần xem lao động vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân. Cùng
với quyền làm việc, công dân có quyền được nghỉ ngơi, an dưỡng, Nhà nước qui định
thời gian làm việc, chế độ nghỉ ngơi cho công dân và bảo đảm cho họ được thực hiện
quyền đó.
Trong lĩnh vực chính trị, một bổ sung quan trọng của qui chế pháp lý công dân
theo Hiến pháp 1959 là qui định quyền khiếu nại, tố cáo. Công dân có quyền khiếu
nại, tố Qáe bất cứ hành vi trái pháp luật của các nhân viên nhà nước, cơ quan nhà nước;
những kh:ếu nại tố cáo của công dân phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng,
người bị thiệt hại được bồi thường. Ngoài ra, Hiến pháp 1959 còn bổ sung thêm quyền
nghiên cúu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thụât và tiến hành các hoạt động văn hóa
khác. Nhả nước không chỉ ghi nhận quyền học tập mà còn có trách nhiệm trong việc
đảm bảo quyền học tập của công dân: công dân có quyền học tập, nhà nước thực hiện
chế độ giáo dục cưỡng bách, đa dạng hóa các hình thức giáo dục.
Khẳig định bản chất nhân đạo của Nhà nước, qui chế pháp lý công dân theo
Hiến pháp 1959 không chỉ thể hiện sự quan tâm của nhà nước với công dân Việt Nam
- người co quốc tịch Việt nam, mà còn quan tâm đến quyền lợi của người nước ngoài
đấu tranh vì chính nghĩa và bảo hộ “quyền lợi chính đáng của Việt kiều”.
Sự ra đời của Hiến pháp 1959 đã khẳng định qui chế pháp lý công dân được ghi
nhận có sự kế thừa và phát triển quan trọng so với Hiến pháp 1946. Khẳng định bản
chất nhà rước dân chủ và tính nhân đạo trong xây dựng mối quan hệ nhà nước và công
dân, Hiến pháp 1959 đã kế thừa nhiều quyền cơ bản của công dân trên các lĩnh vực,

16


đông thời sửa đôi, bô sung nhiêu qui định mới, điêu này không chỉ phản ánh sự phát
triển một giai đoạn cách mạng mới, mà còn thể hiện sự phát triển trong tư duy nhận
thức về đảm bảo quyền con người và việc hoàn thiện qui chế pháp lý công dân trong
lịch sừ lập pháp Việt Nam.
c. Qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1980
Sau thắng lợi v ĩ đại của chiến dịch Hồ Chí minh lịch sử, miền Nam được hoàn
toàn giải phóng, cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành, cả nước cùng đi lên xây
dựng CNXH. Hiến pháp 1980 ra đời, qui chế pháp lý công dân đã có bước phát triển
mới trong điều kiện đất nước hòa bình cùng đi lên CNXH. Hiến pháp 1980 trước khi
qui định nội dung của các quyền và nghĩa vụ, đã đưa ra định nghĩa công dân, theo
Điều 53: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch
Việt Nam”. Nếu như qui định này chưa được ghi nhận trong 2 hiến pháp trước thì đã
được Hiến pháp 1980 chính thức hóa bằng một điều khoản. Quốc tịch là mối quan hệ
pháp lý đặc biệt, ổn định lâu dài giữa một cá nhân với một chính quyền nhà nước nhất
định, làm tiền đề, cơ sở pháp lý duy nhất xác định địa vị pháp lý công dân. Sự bổ sung
này không chỉ khắng định sự quan tâm của Nhà nước trong việc hoàn thiện qui chế
pháp lý công dân mà còn làm tiền đề cho sự ra đời của Luật Quốc tịch Việt Nam vào
năm 1988.
Với Hiến pháp 1980, việc ghi nhận qui chế pháp lý công dân trước hết là sự kế
thừa các quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong 2 hiến pháp trước, đồng
thời bổ sung các quyền mới, mở rộng hoặc sửa đổi các quyền đã ghi nhận. So với Hiến
pháp 1959, Hiến pháp 1980 đã qui định thêm một số quyền và nghĩa vụ mới của công
dân như quyền tham gia quản lý công việc của nhà nước và xã hội, quyền học tập,
khám chữa bệnh không phải trả tiền, công dân có quyền có nhà ở. Bên cạnh bổ sung
các quyền mới, Hiến pháp 1980 cũng xác định thêm các nghĩa vụ mới: nghĩa vụ trung
thành với tổ quốc, ngoài nghĩa vụ quân sự, công dân phải có nghĩa vụ xây dựng nền
quốc phòng toàn dân, ngoài nghĩa vụ tuân theo hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động,
qui tắc sinh hoạt công cộng, công dân còn phải có trách nhiệm bảo vệ an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, ngoài nghĩa vụ đóng thuế, công dân phải tham gia lao động
công ích. Sự bổ sung, sửa đổi các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là minh
chứng cho sự hoàn thiện quan trọng về qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1980,
nhàm đảm bảo xu hướng mở rộng dân chủ. Hiến pháp 1980 đã tạo ra căn cứ pháp lý
quan trọng để mỗi người dân thể hiện vai trò làm chủ của mình trong đời sống xã hội.
Có thể nói, toàn bộ nội dung của Hiến pháp 1980 thể chế hóa sâu sắc cơ chế
kinh tể tập trung quan liêu bao cấp. Quan điểm này cũng thể hiện trong việc xây dựng
tru n g tẩm th ô n g tin thư v iện

17

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NÔI
PHÒNG ĐỌC _ _ __
_


chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Do đó, trong quá trình thực hiện qui
chế pháp lý công dân, những qui định “duy ý chí” trong chế định này đã bộc lộ những
hạn chế nhất định. Theo Hiến pháp 1980: Nhà nước thực hiện chế độ học tập không
phải trả tiền và chính sách cấp học bổng; công dân có quyền bảo vệ sức khỏe; nhà
nước thực hiện chế độ khám và chữa bệnh không phải trả tiền; công dân có quyền có
nhà ở ... Đây thực sự là những quyền quan trọng, nhằm nâng cao đời sống của người
lao động nói chung, song trong thực tế nền kinh tế Việt Nam vừa bước qua chiến
tranh, còn rất nhiều khó khăn, nên việc đảm bảo thực hiện các quyền trên là điều
không thể. Có thể nói trong thời kỳ thực hiện Hiến pháp 1980, các qui định thiếu tính
khả thi ít nhiều gây hậu quả tiêu cực trong xã hội. Những qui định đó thực sự không
còn phù hợp với bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thiếu
tính hiện thực trong việc xây dựng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã phần
nào làm ảnh hưởng đến hiệu lực thực tế của Hiến pháp 1980. Những qui định mang
tính hình thức, thực chất đã làm mất lòng tin của người dân vào Nhà nước, pháp luật,
từ đó ảnh hưởng xấu đến ý thức tuân thủ pháp luật trong cộng đồng . Đây được xem là
hạn chế lớn của Hiến pháp 1980 khi xây dựng qui chế pháp lý công dân, đồng đặt ra
yêu cầu khi xây dựng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong hiến pháp mới
- Hiến pháp 1992.
d. Qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 ra đời là hệ quả của công cuộc đổi mới toàn diện, mặc dù không
có sự thay đổi về số lượng chương và điều, nhưng các chế định của Hiến pháp đã có
sự thay đổi sâu sắc về “chất”, phù hợp với yêu cầu nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Sự phát triển của quy chế pháp lý của công dân Việt Nam diễn ra theo hai hướng:
Một mặt, nó được củng cố, làm phong phú thêm nội dung và những biện pháp đảm bảo
hiện thực hoá các quyền, tự do dân chủ của công dân đã được pháp luật ghi nhận; mặt
khác, trong các văn bản pháp luật mà đặc biệt là trong Hiến pháp tiếp tục ghi nhận, bổ
sung thêm các quyền, tự do mới cho công dân.
Lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam, Hiến pháp 1992 đã công khai ghi nhận
nguyên tắc tôn trọng quyền con người - một nguyên tắc quan trọng nhất trong việc xây
dựng qui chế pháp lý công dân. Xuất phát từ bản chất nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam, nên từ khi thành lập cho đến nay Nhà nước ta luôn tôn trọng các quyền con
người, coi đó là nguyên tắc nền tảng trong cả xây dựng và thực hiện pháp luật. Sự bổ
sung Điều 50 của Hiến pháp 1992 đã '‘đưa chế định quyền công dân của hiến pháp này
lên ngang bằng với hiến pháp của nhiều nước” và điều này “hoàn toàn không đối lập,

18


mâu thuẫn với các quyền cơ bản của công dân. Bởi lẽ, qui chế pháp lý công dân luôn
được các hiến pháp Việt Nam ghi nhận, củng cố, mở rộng và nâng cao”.
Hiến pháp 1992 đã bổ sung một số quyền cơ bản của công dân như: quyền tự do
kinh doanh theo qui định của pháp luật, quyền được thông tin...

Hiến pháp 1992

không chỉ bổ sung các quyền mới của công dân mà còn mở rộng các quyền đã được
ghi nhận trong Hiến pháp 1980 cho phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh bổ sung, mở
rộng các quyền cơ bản của công dân, Hiến pháp 1992 còn sửa đổi một số quyền cơ bản
của công dân nhằm đảm bảo tính thống nhất trong chế định này.

về

nghĩa

vụ cơ bản của công

dân, Hiến pháp năm

1992 kế thừa các qui định của

các hiến pháp trước đây, đồng thời bổ sung và hoàn thiện một bước. Theo Hiến pháp
1992, công dân có nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, nghĩa vụ quân sự, tham gia xây dựng nền
quốc phòng toàn dân; công dân phải tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi
ích công cộng, tuân theo pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ
gìn bí mật quốc gia; công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích...Bên cạnh
việc bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam tại nước ngoài, Hiến pháp 1992
bổ sung một điều mới dành cho người nước ngoài. Theo đó Nhà nước có trách nhiệm “
bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng” của người nước ngoài cư trú tại
Việt nam, đồng thời Nhà nước qui định họ phải có trách nhiệm “ tuân theo Hiến pháp
và pháp luật Việt N am ”.
Nhìn nhận một cách khách quan có thể nói qui chế pháp lý công dân trong Hiến
pháp 1992 thể hiện tính hiện thực sâu sắc. Nguyên tắc tính hiện thực đòi hỏi các quyền
và nghĩa vụ ghi trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu
thực tiễn của đời sống xã hội và mang tính khả thi. Nếu các quyền và nghĩa vụ được
ghi trong Hiến pháp không thực hiện được trong thực tiễn thì chúng không những
không phát huy tác dụng mà còn ảnh hưởng tiêu cực, làm giảm lòng tin của người dân
vào nhà nước, pháp luật. Khắc phục hạn chế của Hiến pháp 1980, qui chế pháp lý công
dân Hiến pháp 1992 bảo đảm tính hiện thực của quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân bằng nhiều qui định mới phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước như:
quyền xây dựng nhà ở, quyền học tập, quyền khám chữa bệnh... Đồng thời ghi nhận
một hệ thống các bảo đảm cho việc thực hiện qui chế pháp lý công dân bao gồm: bảo
đảm về chính trị, tổ chức, kinh tế và pháp lý.
4. Qui chế pháp lí của công dân Việt Nam trong lĩnh vực chính trị
a.
công dán.

Các quy định pháp luật về quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội của

19


Sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau Cách mạng tháng 8/1945
đã mở ra m ột kỉ nguyên mới cho dân tộc V iệt Nam và con người V iệt nam. Ke từ đây

Việt Nam đã là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nhân dân Việt Nam có quyền
được hưởng các quyền con người như nhân dân các quốc gia khác. Hiến pháp 1946 đã
trịnh trong tuyên bố: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền
bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái
trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Như vậy, vai trò chủ thể quyền lực nhà nước của
nhân dân Việt nam đã được thừa nhận trong đạo luật cơ bản, đầu tiên của Nhà nước
Việt Nam. Và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước và pháp luật Việt nam, Nhà
nước thừa nhận “Tất cả công dân Việt nam đều ngang quyền về mọi phương diện:
chính trị, kinh tế, văn hóa” và “ Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp
luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức
hạnh của mình”.
Hiến pháp 1992 và các văn bản pháp luật kèm theo đã kế thừa những ưu điểm và
khắc phục những hạn chế kể cả về kỹ thuật lập pháp của các văn bản pháp luật trứoc
đó, đáp ứng yêu cầu sự phát triển kinh tế - xã hội, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa. Điều
53 qui định: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo
luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước,
biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Quyền tham gia quản lý nhà nước
và xã hội của công dân được thể hiện dưới 2 hình thức:trực tiếp và gián tiếp.
- Hình thức trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội gồm các hoạt động:

- Biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ỷ. Trưng cầu dân ý về bản chất
là nhân dân có quyền trực tiếp tham gia quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng
của đắt nước liên quan đến lợi ích công dân, xã hội mà không phải thông qua bất cứ cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân nào. Ý chí của nhân dân phải được nhà nước tôn trọng và
quyết định của nhân dân là quyết định cuối cùng, quyết định chung thẩm. Nhà nước
thay n ặt nhân dân ban hành quyết định về vấn đề này trên cơ sở ý chí, nguyện vọng
của nhân dân. Trưng cầu dân ý là cần thiết trong một xã hội dân chủ, phù hợp với bản
chất nhân dân của nhà nước. Tuy nhiên, ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay thì
đây là vấn đề chưa có tiền lệ.
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Dân chủ xã hội là vấn đề luôn được Đảng
và nha nước quan tâm, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 2007 đã quy
định những nội dung cụ thể chính quyền phải công khai để nhân dân biết: những nội
dung ihân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi
cơ quin có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát. Trách nhiệm

20


của chính quyền cấp xã về việc tổ chức thực hiện những nội dung trên; những hình
thức thực hiện...
+ Thực hiện quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Theo quy
định pháp luật, công dân không chỉ có quyền bầu ra các đại biểu Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các cấp, mà còn có quyền giám sát hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân
dân, các đại biểu do nhân dân bầu ra và bãi nhiệm đại biểu nếu đại biểu không còn
xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Vì vậy, bãi nhiệm đại biểu là hình thức trực
tiếp giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, là biểu hiện của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Hình thức gián tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Ngoài hình thức trực
tiếp, công dân còn gián tiếp thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của
mình thông qua người trung gian, cấp trung gian, khâu trung gian. Đây là hình thức
tham gia phong phú, đa dạng và phổ biến nhất của công dân hiện nay. Hình thức này
được thể hiện thông qua việc thực hiện các quyền công dân như quyền bầu cử, ứng cử
người đại diện của mình vào cơ quan nhà nước. Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định:
“Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân”.
Quốc hội và Hội đồng nhân dân được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước, thay
mặt nhân dân quyết định những vấn đề cơ bản quan trọng của nhà nước và ở đia
phương như bầu ra các chức danh trong bộ máy nhà nước, giám sát hoạt động các cơ
quan nhà nước...
Các chủ trương, chính sách, pháp luật... của nhà nước trước khi ban hành nói

chung đều được đưa ra lấy ý kiến của nhân dân dưới nhiều hình thức khác nhau. Đó
chính là quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến
nghị với các cơ quan nhà nước. Phải chăng đó là hình thức phản biện xã hội mà rất
nhiều nhà khoa học và nhân dân hiện nay quan tâm. Nếu chúng ta làm tốt và có hiệu
qủa vấn đề này chắc chắn sẽ hạn chế tối đa những sai lầm, chủ quan, duy ý chí mà
chúng ta đã mắc phải thời gian qua.
Tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, công chức,
viên chức nhà nước khi thực thi nhiệm vụ quyền hạn của mình là quyền công dân được
thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo về

những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vù trang hoặc bất cứ cá nhân nào; tham gia Ban thanh tra nhân dân theo quy
định của luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; kiểm tra giám sát hoạt động các cơ quan
nhà nước với tư cách là người đại biểu của nhân dân (quyền chất vấn, yêu cầu, kiến
nghị...).

21


b.

Các quy định pháp luật về quyền bầu cử, ứng cử của công dân.

Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (hay xuất phát từ nhân dân) chỉ có thể là
hiện thực khi nhân dân có quyền tham gia vào việc thành lập bộ máy nhà nước và
kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của Nhà nước.
Quyền bầu cử, ứng cử của công dân được ghi nhận trong các bản Hiến pháp
1959, 1980, 1992 và cụ thể hóa trong các Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng
nhân dân các cấp. Qui chế pháp ly về quyền bầu cử, ứng cử của công dân mỗi giai
đoạn có khác nhau nhưng về cơ bản đều thể hiện:
- Cơ quan đại diện của nhân dân và đồng thời là cơ quan quyền lực Nhà nước
đều do cử tri trực tiếp bầu ra theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực
tiếp và bỏ phiếu kín.
- Quyền bầu cử, ứng cử thuộc về các công dân Việt Nam mà không có sự phân
biệt về giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng, nam n ữ ...
- Bầu cử, ứng cử không chỉ được nhà nước thừ a nhận là quyền cơ bản của công

dân (ghi nhận trong đạo luật cơ bản của nhà nước) mà còn được nhà nước đảm bảo
thực hiện.
- Tính chất đại diện của Quốc hội, Hội đồng nhân dân được thể hiện ở cơ sở
hình thành, cơ cấu thành phần đại biểu, hiệu quả hoạt động, chế độ trách nhiệm trước
cử tri của người đại biểu. Kì họp là hình thức hoạt động quan trọng nhất của cơ quan
đại diện, phải công khai (trừ trường hợp đặc biệt) và có sự tham gia giám sát của nhân
dân.
- Các văn bản pháp luật liên quan đến bầu cử như Hiến pháp, Luật bầu cử, Nghị
quyết về qui trình hiệp thương ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân... được
đảm bảo tính thống nhất nhằm hạn chế tối đa sự vi phạm quyền công dân về bầu cử do
qui định pháp luật không thống nhất. Dân chủ trong việc thực hiện quyền bầu cử, ứng
cử của công dân ngày càng được mở rộng. Bước đầu thể hiện chủ trương về thực hiện
phản biện xã hội trong bầu cử, pháp luật đã đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong bầu cử thông qua quyền hiệp thương để lập danh sách chính thức người
ứng cử.
c. Các quy định pháp luật về quyền khiến nại, tố cáo của công dân.
Công dân với tư cách là thành viên của cộng đồng xã hội đều có quyền tham
gia vào việc hình thành bộ máy Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật nên được tạo
khả năng trực tiếp đảm nhiệm mọi chức vụ, địa vị, công vụ theo năng lực và không có
bất kì sự phân biệt nào khác ngoài đạo đức và tài năng của mỗi người. Luật pháp phải
là sự biểu thị ý chí chung. Luật pháp phải là như nhau đối với mọi người, khi bảo hộ

22


cũng như khi trừng phạt. Quyền công dân được nhà nước tôn trọng, thừa nhận và cam
kết bảo đảm thực hiện. Khi có sai phạm từ phía công chức, viên chức nhà nước liên
quan đền việc thực hiện quyền công dân về nguyên tắc công dân được quyền yêu cầu
nhà nước phải xử lí nghiêm minh- đó cũng là trách nhiệm của nhà nước, v ề vấn đề
này, Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền
khiếu nại có kết quả tới các cơ quan pháp lí quốc gia có thẩm quyền, chống lại các
hành vi vi phạm các quyền căn bản mà hiến pháp và pháp luật đã thừa nhận” (Điều 8).
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ nhân
dân. Công dân sử dụng quyền này như một biện pháp để tham gia xây dựng chính
quyền, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, việc giải quyết
kịp thời, kh ách quan các khiếu nại tố cáo là m ột phương thức hữu hiệu để cơ quan nhà

nước, công chức viên chức nhà nước thực thi quyền lực nhà nước vì mục tiêu đảm bảo
tự do dân chủ cho nhân dân. Các quy định pháp luật vế quyền khiếu nại tố cáo của
công dân bao gồm những vấn đề cơ bản sau:
- Khiếu nại tố cáo là quyền cơ bản của công dân Việt nam. Chủ thể của quyền
khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức. Chủ thể của quyền tố cáo
là công dân. Mọi chủ thể đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền khiếu nại tố cáo.
- Đối tượng bị khiếu nại tố cáo ngày càng được mở rộng. Hiến pháp 1992 quy
định: “Công dân có quỳên khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào”. Luật khiếu nại, tố cáo đã cụ thể

hóa đối tượng bị khiếu nại, tố cáo. Người bị khiếu nại ở đây bao gồm cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật bị khiếu nại.
Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo (Điều 2).
- Trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhà nước. Trong thể chế nhà nước
dân chủ nhân dân thì mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong xã hội là bình đẳng
về mặt pháp lí. Khi nhà nước thừa nhận khiếu nại, tố cáo là quyền công dân điều đó
đồng nghĩa với việc nhà nước phải đảm bảo cho công dân thực hiện quyền đó trên
thực tế thông qua cơ chế chính sách, v ấ n đề này đã được đề cập đến trong mỗi bản
hiến pháp và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật.
Cùng với sự phát triển của nhà nước, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị
được sửa đổi theo hướng mở rộng quyền công dân và đề cao trách nhiệm nhà nước
trong việc bảo đảm thực hiện quyền công dân. Với xu hướng đó, qui chế pháp lí công
dân trong lĩnh vực chính trị không ngừng được hoàn thiện cả về mặt pháp lí và thực
tiễn. Điều đó càng khẳng định mục tiêu và chân lí mà Đảng, nhà nước và nhân dân

23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×