Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải

...

'

.

V--..

o

"

ũ,*ú

vểsỊỊN
sỊIsị?

Wắ$M*ẩếèWrễ
I s l É P 5" :
•/ - ■ ' 2 ^ ' ; # '1 P
'■ W: ‘ r' ■«ầểẩ ■

»

.
|f||§|j§M
-.,’-; ịỉỹ&i&đẺ

>;

<

, ,.r—

_

£

*-*>*

í-ý*,

iỊ ■

_2Sk.T ft "

ityir'*'

Ặ' ^ĩĩĩSỊte:

ỉ;'í^ l lỀ'
sS S É IÉ tl^ B
»;Vâ || I w*ãí - K r - ''

ạrv*’.
f ĩ 'SJ •ệ ĩ- f ừ * f * ỉ-ỊútéẾ * -

ĩ '(-

r

‘ -



IU



£

2
â

' ^

*

,

! ;'V

'

ỆỄÈÊrĩ*

< ••

%■■'

'- J

ịw

*

•■■

-; »Ị;

, v ; f c



-ÌỄ m ? L

*
*
'sữ
&
ì
*
\. ;K' r%
' .. .• :ẩ^-; •'iV
:f-ỹ~.-í,'v'T
. ' V
Ặl *<
1-• ữ ề £ B ^ R
à «■ %


■ ■. Ị

,

•• -fc 4

u

i X

7Ị * ị-SV^Ị ^ ; , t

■**..
;■
^

■*

^
’-

<*; ;-:: .

.



.. . ■->».

- w
- 7*<

■*£'

■“
«;ẳi
v:À
- : .^gpỄí-

.’ •■

;, .

i l l .p

-3*,

-W /

,

*''■

ỷ"t" •■• >

>

. >-. •


, J |
V ? T%K^“

Ị :^ .■

HhG H Ì

I


BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỀ TÀI KHOA HỌC
Mà số: LH - 08 - 16/ĐHL

>ÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỂ QUẢN LÝ CHAT THẢI

. thưviện
TRƯỚNGĐAI HỌC LỦÂT HÀ NÔI

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Ván Phươĩìg
Khoa pháp luật kỉnh tế

H à nội í 2 - 2008


DANH SÁCH NHŨNG NGUỜI THAM GIA THựC HIỆN ĐỀ TÀI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỂ QUẢN LÝ CHÂT THẢI

TS. Nguyễn Văn Phương

Khoa Pháp luật kinh tế

Chủ nhiệm đề tài,
Chuyên đề 9, 10

ThS. Lưu Ngọc Tố Tâm

Khoa Pháp luật kinh tế

Thư ký đề tài,
Chuyên đề 7, 8

TS Vũ Thu Hạnh

Khoa Pháp luật kinh tế

Chuyên đề 1,3

ThS. Vũ Duyèn Thuỷ

Khoa Pháp luật kinh tế

Chuyên đề 2,4

TliS. Đặng Hoàng Sơn

Khoa Pháp luật kinh tế

Chuyên đề 5, 6


Mực LỤC
MỤC LỤC

Trang

'HẤN THỨ NHẤT

BÁO CÁO PHÚC TRÌNH

I. TÍNH CẤP THIẾT, PHƯƠNG PHÁP, MỤC TIÊU VÀ
QUÁ TRĨNH THỤC HIỆN ĐỂ TÀI
ỉ. 1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
1.2. Phương pháp thực hiện đề tài
1.3. Mục đích và phạm vi nshiên cứu của đề tài
1.4 Lực lượng tham gia
1.5. Ọuá trình thực hiện đề tài
Õ

K Ế T Q U Ả T H Ụ C H IỆ N Đ ị L t À I

1
1
2
3
3
3
5

N hữ n g vấn đề lý luận vềjỊchat thài) q uản lý chất thải và

pháp luật về quán lý chất t hai " —
5.
II.2. Đánh giá các quy định ehutig về quản lv chất thải
19
~^1.3. Đánh eiá các quy định về quản lý chất thải nguv hại
[2^
lĩ.4 Đánh giá các quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn
thông thường
35
11.5. Đánh giá các quy định pháp luật về quản lý nước thải
42
ỉ 1.6. Đánh giá các quy đinh hiên hành về quán lv và
kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn. độ rung, ánh sáng, bức xạ
50
II.7. Đánh giá các quy định về tài chính liên quan đến chất thải
54
ĨỈ.8. Bước đầu nghiên cứu các chính sách nhàm giảm ỉượns
sản sinh chất thải
58
11.9. Pháp luật quán lý chất thải của một số quốc gia
64
10. MỘT SỔ KIẾN NGHỊ NHAM h o à n t h i ệ n p h á p l u ậ t
QUẢN LÝ CHẤT THẢI
1. Các kiến nghị mang tính định hướng
2. Các kiến nghị nhầm hoàn thiện các quy định cụ thể
H ẨN T H Ứ H A I

huyên đề ].


Ihu Vón để 2

66
66
68

CÁC CHUYÊN ĐỂ NGHIÊN c ứ u

Những vấn đề lý luận về quản lý chất thải

71

Người íỉlực hiện: Vã thu Hạnh
Đại học Luật Hà Nội

Những vấn dể lý luân vế pháp luật về quản lý chất thải
Người ĩhực hiện: Vũ Duyên ThaỶ

91


rhuyên đề 3

Đại học Luật Hủ Nội
Đánh giá các quy định chung về quản lv chất thải

Thuyên đề 4

Người thực hiện: Vũ thu Hạnh
Đại học Luật Hà Nội
Đánh giácác quy định về quản lý chất thái nguy hiú

109

Người thực hiện: Vũ Duyên Tlìiiỷ

Thuyên đề 5

Thuyên đề 6

Đại học Luật Hà Nội
Đánh ííiácác quv
định về quản lv chất thải rắn
thông thường

160

Người thực hiện: Đặng Hoàng Sơn
Đại học Luật Hà Nội
Đánh giácác quy
định về quản lý nước thải

182

Ngưỏi thực hiện: Đặng Hoùnq Sơn

rhuyên đề 7

Đại học Luật Hà Nội
Đánh giá các quy định về quản lý và kiểm soát

202

bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ
Người thực hiện: Lưu Ngọc ĩ ỐTâm
Đại học Luật Hà Nội
Đánh giá các quy định về tài chính

khuyên đề 8

liên quan đên chất thải

khuyên đề 9

220

Người thực hiện: Lưu Ngọc Tơ Tâm
Đại học Luật Hà Nội
Kinh nghiệm của pháp luật các quốc gia
về quản lý chất thải

241

Người thực hiện: Nguyễn Vãn Phương
Đại học Luật Hà Nội
Bước đầu nghiên cứu các chính sách

Thuyên đề 10

nhàm giảm lượng sản sinh chất thải

253

Người thực hiện: Nguyễn Văn Phương
Đại học Luật Hờ Nội
ỊhẦN THỨBA: KẾT q u ả k h ả o s á t

265

Ịlẫu Phiếu điều tra

275

)anh mục tài liệu tham kháo

285




B Á O CÁO T Ổ ^G TOCẬX K ế r QUẲ đ Ể x à i
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỂ QUẢN LÝ CHẤT THẢI

I. TÍNH CẤP THIẾT, PHƯƠNG PHÁP, MỤC TIÊU VÀ QUÁ TRÌNH
THỤC HIỆN ĐỂ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
Vấn đề chất thải và ô nhiễm do chất thải là một trong nhừng vấn đề bức xúc
hiện nay. Các loại chất thải không được quản lý một cách có hiệu quả đã làm
cho môi trường trở thành xấu đi. Tình trạng xả thải các loại chất thải chưa
qua xử lý vào môi trường đã làm cho chất lượng môi trường sống của người
dân Việt nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Môi trường bị ô nhiễm do chất
thải đã ảnh hưởng tới sức khoẻ của người dân, ảnh hưởng tới quá trình phát
triển kinh tế xã hội của đất nước và từ đó tác động tiêu cực tới mục tiêu phát
triển bền vừng mà Đảng và Nhà nước ta đề ra.
Một trong những nguyên nhân là do chúng ta chưa có được hệ thống pháp
luật về quản lý chất thải có hiệu quả. Luật bảo vệ môi trường 2005 đã luật
hoá một số quy định trước đây và xây dựng một số quy định mới về quản lý
chất thải. Tuy nhiên, do nhũng lý do khác nhau mà các quy định này còn
chưa bảo đảm tính thống nhất, chất lượng còn hạn chế và còn nhiều khoảng
trống.
Bến cạnh đó, do những nguyên nhân khác nhau như ý thức tuân thú pháp
luật của người dân và doanh nghiệp, sự hạn chế về nguồn lực... nên các quy
định về quản lý chất thải chưa được thực hiện một cách nghiêm túc trên thực

Các nghiên cứu Về vấn đề quan lý chất thải dưới giác độ khoa học môi
trường được thực hiện khá nhiều nhằm giải quyết vấn đề xử lý chất thai.
Chẳng hạn như các công trình nghiên cứu về quản ỈÝ chất thải rắn, nước thải
của các tỉnh Vĩnh Long, Hà Tây, Đà Nằng, TP Hồ Chí Minh......Các cơ sở
nghiên cứu khoa học cũng có nhữno đề tài về vẩn đề này, chẳng hạn như đề


tài nghiên cứu khoa học của Bộ Xây dựng "Nghiên cứu công nghệ xử Ịý và
tái chế phế thải của quá trình luyện cốc làm phụ gia siêu dẻo cho bê tông" do
ThS. Vương Ly Lan - Viện Vật liệu Xây dựng làm chu nhiệm đề tài (2006),
đề tài khoa học "nghiên cứu công nahệ lò đốt và xử lý khói thải cône nghiệp
ncuy hại phù hợp với điều kiện Việt Nam” Trung tâm kỹ thuật Môi trường
Đô thị và khu Côn2 nghiệp (Đại học Xây dựng Hà Nội) (2007).
Dưới giác độ pháp lý, mới chỉ có những nghiên cứu đơn le như "Chảt thai và
quy định về quản lý chất thải", Tạp chí luật học số 4/2003. “Việt Nam với
việc thực thi Công ước Basel về kiêm soát chất thải xuyên biên giới và việc
tiêu huỷ chúng” Tạp chí khoa học pháp lý, số 2/2006, “Một số vấn đề về
khái niệm chất thải”, Tạp chí luật học số 10/2006.
Cho tới thời điên hiện nay, chưa có công trình nào nshiên cứu tổng the liên
quan đến pháp luật về quản lý chất thai.
Do đỏ, việc nghiên cửu, đánh giá các quy định pháp luật trong lình vực quản
lý chất thải và quá trình áp dụng chúng trên thực tế đê tìm ra nhũng khiếm
khuyết để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản ]ý chất thải là một việc làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Ket quả nghiên cứu đề tài không chỉ góp phần hoàn thiện pháp luật về quan
lý chất thải mà còn là một tài liệu hừu ích phục vụ cho quá trình nghiên cứu,
giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tại luật học, trước hết là tại Trường đại
học Luật Hà Nội
1.2. Phuong pháp thực hiện đề tài
Đê tài nghiên cứu và thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin,
trong đó coi trọng phương pháp duy vật biện chứng. Bên cạnh đó, đề tài còn
thực hiện kết hợp một sổ phương pháp sau:
- Phương pháp phận tích và khái quát hoá, phương pháp tổng hợp, so sánh...
được sứ dụng đê làm sáng tở các căn cứ, các cơ sớ khoa học cho việc cần
thiết phải hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải.


- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng nhằm làm sáng tỏ quá trình
áp dụng pháp luật về quản lý chất thải tại một số địa phương được lựa chọn,
đê từ đó có cơ sở thực tiễn cho các kiến nghị của đề tài.
1.3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Mục đích cua việc nghiên cứu đề tài là làm sáns tở nhừng vấn đề lý luận về
pháp luật về quản lý chất thải, đánh giá thực trạng pháp luật về quan lý chất
thai, làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật vê quản lý chất thải. Ket quả
nghiên cứu sẽ trực tiếp phục vụ việc giảng dạy môn học Luật môi trường.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu, đánh giá những quy định về quản lý chất thải theo định
nghĩa chất thải được quy định tại Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005.
1.4 Lục lưọng tham gia
Đề tài được thực hiện bởi:
«

Ts. Nguyễn Văn Phương, Phó Bộ môn Luật môi trường, Khoa pháp

luật kinh tế, trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài


ThS. Lưu Ngọc Tổ Tâm, Bộ môn Luật môi trường, Khoa pháp luật

kinh tế, trường Đại học Luật Hà Nội, Thư ký đề tài


Ts. Vũ Thu Hạnh Trưởng Bộ môn Luật môi trường, Khoa pháp luật

kinh tế, trường Đại học Luật Hà Nội, Thành viên đề tài


ThS. Vũ Duyên Thuỷ, Bộ môn Luật môi trường, Khoa pháp luật kinh

tế, trường Đại học Luật Hà Nội, Thành viên đề tài


ThS. Đặng Hoàng Sơn, Bộ môn Luật môi trường, Khoa pháp luật kinh

tế, trường Đại học Luật Hà Nội, Thành viên 4ề tài
1.5. Quá trình thực hiện đề tài


Xâv dụng đề cương nghiên cứu

Sản phấm của giai đoạn này là đề cương khái quát của đề tài. Thời gian thực
hiện là tháng 1/2008


Xây dựng đề cương các chuyên đề và lập phiếu khảo sát
3


Sản phẩm của giai đoạn này là đề cương của 10 chuyên đề thuộc đề tài
nghiên cứu và 02 mầu phiếu khảo sát (dùng cho hộ gia đình và dùng cho
doanh nghiệp). Thời gian thực hiện tháng 2 và tháng 3 năm 2008.


Khảo sát

Sản phẩm của giai đoạn này là thu thập được các sổ liệu và đánh giá hoạt
động thực thi pháp luật về quản ỉý chất thải tại địa phương đă lựa chọn. Tiêu
chí lựa chọn địa điêm khảo sát là đại diện cho các vùng miền, đặc điêm phát
triên kinh tế - xã hội. Nhóm nghiên cứu lựa chọn ba tỉnh là (1) Lâm Đồng,
đại diện cho tỉnh miền núi, phát triển lâm nghiệp và du lịch, (2) Hải phòng,
đại diện cho tỉnh đồng bằng và có trình độ phát triển kinh tế xã hội khá, (3)
Nam Định, đại diện cho đồng bằng bắc bộ, phát triển kinh tế cả công nghiệp
và nông nghiệp. Do điều kiện kinh phí và thời gian có hạn nên nhóm nghiên
cứu không tiến hành khảo sát tỉnh đại diện cho đồng bằng nam bộ. Thời
gian thực hiện từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2008
»

Hoàn chỉnh các báo cáo khoa học của đề tài

Sản phâm của giai đoạn này là các Báo cáo chuyên đề của các thành viên
tham gia thực hiện đề tài. Thời gian thực hiện từ tháng 7 đến tháng 11 năm
2008.


Viết báo cáo phúc trình và in ấn phẩm

Sản phâm cua giai đoạn này là xây dựng,

chỉnh sửa và inẩn xone báo cáo

phúc trình về kết quản nghiên cứu của đề

tài.Thời gian thực hiện tháng 11

và tháng 12 năm 2008.


Bao vệ đề tài
\



\

4


II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỂ t à i
II.1 Những vấn đề lý luận về chất thải, quản lý chất thải và pháp luật về
quản lý chất thải
//. /. I Chắt thái và những dấu hiệu nhận biết
Theo Điều 3 khoan 10 Luật BVMT2005, chất thải được hiểu là các dạng vật
chất cụ thê ơ thê rắn, lỏng, khí được thải ra tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Theo cách này, khá dề dàng đe nhận
dạnR chất thải. Trước hết, chất thải tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể ơ thể
rắn, lóng, khí, nghĩa là chất thải không bao gồm các yếu tố phi vật chất. Hai
là, các dạng vật chất đó được chủ sở hữu loại bở khỏi các mục đích sử dụng
một cách tự nguyện hoặc bắt buộc. Điều này đế phân biệt chất thải với các
chất ơ trong tình trạng tạm thời chưa được sử dụne,; Ba ìà, chất thai có
nguồn sốc phát sinh từ mọi hoạt độna vật chất của con người.
Chất thải có thể được nhận biết dưới nhiều dạng:
i) Căn cứ vào tính chất của chất thải, chất thải được chia thành chất thải
lỏng, chất thải khí, chất thải rắn, chất thải ở dạng mùi, chất phóne xạ và các
dạng hồn hợp khác;
ii) Căn cứ vào nguồn phát sinh chất thải, chất thải được chia thành chất thải
sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế;
iii) Căn cứ vào mức độ tác động của chất thải đến môi trường xung quanh,
chất thải được chia thành chất thải thông thường và chất thải nguy hại, trong
đỏ chất thải nguy hại là chất thải chứa chất vểu tổ độc hại, phóng xạ, dễ
cháy, dễ nô, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại
khác.
\

Chât thải nhưng đáp ứng các yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất được gọi là
\
phế liệu. Pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành xem chất thải và phế liệu
là 2 thuật ngữ riêng biệt, được giải thích tại Điều 3 khoản 10, khoản 13 Luật
BVMT 2005.
Theo Điều 2 khoản i Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên íìiới


các phế thai nguy hiểm và việc tiêu huy chúng, chất thai là các chất hoặc các
đô vật mà người ta tiêu huy, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ chiêu theo
các quy định cua luật pháp quốc gia. Điều này cho phép suy luận là các quôc
gia khác nhau có thê có những quan niệm không giông nhau vê chât thai.
II. 1.2 Quản lỷ chất thái và các cấp độ của quản lý chất thải
Theo nghĩa rộng, quản lý chât thải là tông hợp các biện pháp, cách thức
nhăm kiểm soát quá trình phát sinh, tồn tại, chuyên hoá, xử lý chất thải và
những ảnh hưởng, tác động của chất thải đến môi trường.
Theo nghĩa này, quản lý chất thải có thể được tiến hành bằng nhiều biện
pháp, cách thức, từ các cách thức thủ công, truyền thổng đến các cách thức
tân tiến, hiện đại; từ các biện pháp khoa học, kỹ thuật đến các biện pháp
hành chính - pháp lý, tuyên truyền, giáo dục. Việc quản lý được tiến hành
trong suốt quá trình phát sinh chất thải, thậm chí từ trước đó - từ lúc sử dụng
các nguyên, liệu phục vụ quá trình sản xuất, tiêu dùng...; trong quá trình chất
thải tồn tại trong môi trường ở các dạng khác nhau hoặc/và chuyển hoá chất
thải từ dạng này sang dạng khác; quá trình xử lý chất thải, gồm thu gom, lưu
giữ, vận chuyển, xử lý chất thải...
Quản lý chát thải theo nghĩa rộng còn bao gồm cả việc quy hoạch quản lý
chất thải. Cu thể hơn là việc xác định trước các địa điểm, khu vực xây dựng
các công trhh tập trung, xử lý chất thải; đánh giá mức độ tác động của chất
thải đến mói trường xung quanh và sức khoẻ của con người. Mức độ tác
động đến môi trường của chất thải là một trong những căn cứ để xác định
các yêu cầíu phương pháp và thời điếm quản lý chất thải, cũng như các điều
kiện đối với từng chủ thể trong việc quản lý chất thải.
Theo nghĩa hẹp, quản lý chất thải bao gồm các hoạt động thu gom, lưu giữ,
vận chuyển, giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải và các hình thức xử lý
phất thải nhím tận dụng khả năng có ích của chất thải và hạn chế đến mức
thấp nhất ttểc hại đối với môi trường do chất thải gây ra. Theo nghĩa này,

6


quan lý chât thai chi đè cập đên các hoạt động cụ thê từ thu eom đên xử lý
chất thải.
Như vậy, quản lý chất thai vừa là quá trình, vừa là các hoạt động cụ thê.
Cùng chính vì đặc điêm này mà quản lý chât thai có thê được thực hiện bởi
nhiều chủ thê. Cụ thể là:
Thứ nhất, các cơ quan nhà nước có thâm quyền. Vai trò cua các cơ quan này
trong quản lý chất thải là xác định các chuân mực giới hạn (ban hành quy
chuân kỹ thuật vê môi trường, trong đó có quy chuân kỹ thuật vê chât thải),
quy định danh mục chất thải nguy hại... làm căn cứ cho việc xác định tính
chất và mức độ nguy hại tới môi trường cua mỗi loại chất thải; quy định tính
hợp pháp của các cách thức quản lý chất thải; quy định điều kiện của các chủ
thể trong quản lý chất thải; tiến hành việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc
thực hiện các quy định về quản lý chất thải và xử lý các vi phạm pháp luật
đối với nội dung này.
Thứ hai, các tô chức, cá nhân có chức năng quản lý chât thải theo quy định
của pháp luật. Phạm vi chức năng, trách nhiệm của họ trong quản lý chất
thải phụ thuộc vào loại chất thải, các điều kiện bắt buộc về trình độ kỹ thuật,
năng lực chuyên môn và các thủ tục pháp lý mà họ phải đáp ứng;
Thứ ba, đối tượng xả thải (còn gọi là chủ phát sinh chất thải) trong việc tái
sử dụng, tái chế chất thải; trong việc thu gom, phân loại, lun giữ chất thải
trước khi chuyền giao cho các chủ thế khác; trong việc xử lý một số chất thải
mà pháp luật cho phép.
Hiện tại, trên thế giới, có 2 cách tiếp cận phổ biến được áp dụng trong quản
lý chất thải là quản lý chất thải ở cuối đường ổng sản xuất (còn gọi là quản
lý chất thải ở cuối công đoạn sản xuất) và quản lý chất thải theo đường ống
Ịsản xuất (quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất, dọc theo đường ống
sản xuất).
Uu điếm của quản lý chất thải cuối đường ổng là thuận tiện, ít chi phí về tài
chính và thời gian nhưng hạn chế của phương thức này là không chủ động
nỊ


tro nu việc phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường. Quan lý chất thai cuối
công đoạn sản xuất cũng có nghĩa là tại thời điêm đó chất thải đâ phát sinh,
vấn đề còn lại phải phụ thuộc hoàn toàn vào khâu xử lý chất thái. Nếu khâu
đó thực hiện không tốt thì chất thai sẽ được thải ra môi trường.
Ngược lại, phương thức quan lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất hay
còn gọi là quản lý dọc theo đường ống sản xuất sê khắc phục được những
hạn chế trên. Chất thải được kiểm soát, quản lý trong suốt quá trình, tại mỗi
công đoạn. Điều này cho phép xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh.
Ngoài ra, một số nước phát triền đã có cách tiếp cận mới trong quản lý chất
thải, đó là quản lý chất thải nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng. Cách này tập
trung vào việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùnR (bao gồm cả các nhà
sản xuất) để họ lựa chọn và đòi hỏi các sản phẩm được sản xuất ra phải đạt
tiêu chuân môi trường, phai thân thiện với môi trường và bản thân người tiêu
dùng cũng hành động thân thiện với môi trường trong tiêu dùng sản phẩm.
Theo cách này, các nhà sản xuất buộc phải áp dụng công nghệ, quy trình sản
xuất sạch, ít tác động xấu đến môi trường nếu không muốn sản phẩm của
mình bị người tiêu dùng quay lưng.
Tại Việt Nam, vì nhiều lí do khác nhau nên cách tiếp cận chủ yếu vẫn là
quản lý chất thải cuối đường ống. Việc quản lý cũng mới chỉ tập trung vào
các hoạt động là thu gom, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải.
Từ góc độ pháp ìỷ, quản lý chất thải là tổng hợp các quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình con người sản sinh ra
chất thải, quá trình phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, tái sử
dụng chất thải, cũng như xác định quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể trong
các hoạt động trên.
Theo nghĩa này, quản lý chất thải là một chế định trọng tâm của pháp luật môi
trường. Vì xét cho cùng thì mục đích của việc quản lý chất thải cũng là nhằm
bảo vệ chất lượng môi trường sống thông qua việc tận dụng khả năng có ích

8


cua chât thai và hạn chê đên mức thấp nhât tác hại đôi với môi trường do chât
thải gây ra.
Các nhóm quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của chế định quan lý chất thải
bao gồm:
Thứ nhất, quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động quản lý
nhà nước đối với chất thai, gồm: i) Quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước có
thâm quyền với nhau trong việc xác định phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn vê quản lý chất thải; trong việc lập, phê duyệt quy hoạch quản lý
chât thải trona, phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương; ii) Quan
hệ giữa cơ quan Nhà nước có thấm quyền về quản lý chất thải với các đối
tượng phát sinh chất thải trong việc xác định trách nhiệm của các chủ phát
sinh chất thải; ii) Quan hệ giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với các tổ
chức, cá nhân trực tiếp tiến hành các hoạt động quản lý chất thải trong việc
xác định các yêu cầu, điều kiện, quy trình về quản lý chất thải trên thực tế;
iii) Quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các đối tượng vi
phạm các quy định pháp luật về quản lý chất thải...;
Thứ hai, quan hệ phát sinh giữa các tổ chức và cá nhân trong quá trình tiến
hành các hoạt động cụ thể của quản lý chất thải, như quan hệ giữa chủ phát
sinh chất thải với các tổ chức, cá nhân tiến hành dịch vụ thu gom, vận
chuyển, xử lý chất thải; các xung đột, tranh chấp có thể nảy sinh trong khi
tiến hành các hoạt động quản lý chất thải...
Cộng đồng quốc tế đã thể hiện quan niệm về quản lý chất thải trong Công
ước Basel, theo đó quản lý chất thải là việc thu thập, vận chuyến và tiêu huỷ
các chất thải nguy hiểm hoặc các phế thải khác, bao gồm cả việc giám sát
các địa điểm tiêu huỷ. Quản lý chất thải bao gồm cả hoạt động giám sát các
địa điểm tiêu huỷ chất thải cho thấy cộng đồng quốc tế không chỉ tiếp cận
quản lý chất thải theo nghĩa thông thường mà đã có sự mở rộng phạm vi
điều chỉnh của hoạt động này.

9


II. 1.3. P hép luật quán lý chất thải
II. 1.3.1 ■K.lỉải niệm pháp luật quản /ý chắt thai.
Môi trường là không gian sống, là nguồn cung cấp năng lượng, nguyên liệu
cho sự tồn tại và phát triên của con người. Môi trường cũng là nơi tiếp nhận,
chứa đựng và xử lý các chất thải mà con người thải ra trong quá trình phát
triên đó. Sự ra đời của pháp luật môi trường bẳt nguồn từ yêu cầu giải quyết
những thách thức giữa môi trường và phát triên. Pháp luật môi trường là một
lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các
nguyên tắc pháp lý điêu chính nhừng mối quan hệ xã hội nảy sinh trong quá
trình con người khai thác, sử dụng hay tác động đến một hoặc một vài yếu tố
khác nhau của môi trường, trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh,
nhằm bảo vệ một cách hiệu quả môi trường sổng của con người. Hệ thống
pháp luật môi trường được xây dựng và thực hiện không chỉ nhàm bảo đảm
sự trong lảnh của môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà
còn ngăn ngừa, hạn chế những ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người cũng
như môi trường từ các loại chất thải mà con người thải ra. Nói cách khác,
pháp luật môi trường bao hàm trong nó các quy định về quán lý chất thải.
Có thể định nghĩa pháp luật quản lý chất thải như sau: Pháp luật quản ìỷ
chất thải là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các quy phạm
pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chình những mối quan hệ phát sinh
trong quá trình con người tiên hành các hoạt động làm phát sinh, giảm
thiêu, phân loại, thu gom, vận chuyên, tái sử dụng, tái chê, xử lý, tiêu hủy,
thai loại chắt thải nhằm hạn chê phát thủi, phòng ngừa, giảm thiêu nhữnẹ
anh hưởng xấu của chủng, bao vệ chất lượng môi trường sống của con
người.
Là một bộ phận cua pháp luật môi trường, ngoài những nguyên tắc chung
(Nguyên tắc đảm bảo quyền được sống trong một môi trường trong lành,
nguyên tắc phòng neừa, nguyên tắc đảm bảo tính thổnạ, nhất trong quản lý

10


môi trường, nuuvén tăc phát triên bên vững) pháp luật quan lý chât thai còn
có những nguyên tắc đặc thù sau:
i) Nguyên tẳc chi phí - lợi ích. Theo nguyên tắc này tất cả các hoạt động
quan lý chât thai băn 12, pháp luật phải được thực hiện trên cơ sơ cân nhăc
giừa chi phí để phục hồi môi trường, phục hồi sức khoé con người... với
những lợi ích kinh tê từ việc tái chê, tái sử dụng hoặc xử lý, tiêu huy chất
thải.
ii) Nguyên tắc hạn chế phát thải. Nguyên tắc này đề cao trách nhiệm của các
tô chức, cá nhân, đặc biệt là chủ nguồn thải đối với việc áp dụng các biện
pháp kỹ thuật trong quá trình tiến hành các hoạt động liên quan đến chất thải
đế hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phát thải ra môi trường. Nói
cách khác, đây là một trong những nguyên tắc đề cao vai trò của chủ nguồn
thải trong việc giảm thiếu chất thải từ hoạt động của chính mình.
iii) Nguyên tắc kiếm soát tại nguồn. Đây là nguyên tắc đảm bảo cho bất kỳ
một loại chất thải nào cũng đều được kiểm soát ngay từ nguồn phát thải về
số lượng, trạng thái tồn tại của nó. Kiểm soát tại nguồn là một hoạt động hết
sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến các công đoạn tiếp theo của quá
trình quản lý chất thải.
iv) Nguyên tắc phối hợp, hợp tác. Nguyên tắc này đòi hỏi việcquản lý chất
thải bằng pháp luật phải được tiến hành trên cơ sở của sự phối hợp

liên

ngành. Có như thế mới đảm bảo được các yêu cầu về kỹ thuật, về pháp lý và
cả yêu cầu về phương diện kinh tế của hoạt động này.
Hệ thống các quy phạm pháp luật về quản lý chất thải được xây dựng và
thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc pháp lý cơ bản nêu trên.
Hệ thống các quy phạm này điều chỉnh một số nội dung chủ yếu sau:
- Các quy định chung về quản lý chất thải;
- Các quy định về quản lý chất thải nguy hại;
- Các quy định về quản lý chất thải rắn thông thường;
-C ác quy định về quản lý nước thải;


- Các quy định vê quan lý và kiêm soát bụi, khí thải, tiêng ôn, độ rung, ánh
sáng, bức xạ;
- Các quy định vê tài chính liên quan đến chất thải.
Pháp luật quản lý chât thải điêu chinh những môi quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình con người tiên hành các hoạt động làm phát sinh, giam thiêu,
phân loại, thu gom, vận chuyên, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huy, thai loại
chất thải. Các quan hệ xã hội mà pháp luật quản lý chất thải điều chỉnh có
thế được phân loại theo hai nhóm sau đây:
- Nhóm một bao gôm các quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các
hoạt động quản lý nhà nước về chất thải như: Quan hệ phát sinh từ hoạt
động quy hoạch quản lý chất thải, quan hệ phát sinh từ hoạt động thanh tra
việc thực hiện pháp luật quản lý chất thải hay các quan hệ phát sinh từ hoạt
động xử lý vi phạm pháp luật quản lý chất thải...
- Nhóm hai bao gồm các quan hệ phát sinh giữa các tố chức, cá nhân với
nhau do thoả thuận ý chí của các bên. Các bên trong mối quan hệ này thực
hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tiến hành các hoạt động
liên quan đến chất thải như: các quan hệ phát sinh trong quá trình thu gom,
vận chuyển chất thải; các quan hệ hợp tác trong tái chế, tái sử dụng và xử lý
chất thải; các quan hệ về bồi thường thiệt hại do chất thải gây ra ...
Mục đích của pháp luật quản lý chất thải là nhằm hạn chế phát thải, phòng
ngừa, giảm thiếu những ảnh hưởng xấu của chất thải, bảo vệ chất lượng môi
trường sống của con người.
II.

1.3.2. Vai trò của pháp luật quản lý chất thải.

Giống như các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật quản lý chất thải cũng có
một vai trò hết sức quan trọng trons; đời sống xã hội. Cụ thể là:
Thứ nhất, pháp luật quản lý chất thải là công cụ hữu hiệu đề phòng ngừa ô
nhiễm môi trường, góp phần đảm bảo quyền được sống trong một môi
trường trong lành của con người.

12


Là một nước đang phát triên, khi nguôn lực tài chính đâu tư cho phục hôi ô
nhiễm môi trường còn hạn chê, khi nguy cơ ô nhiễm môi trường do các loại
chât thải ngày càng eia tăng, việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường ở Việt
Nam lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, trong đó pháp luật quan lý
chất thải giữ một vai trò không thê thiếu. Điều đó được thể hiện ở các khía
cạnh cụ thể sau:
- Pháp luật quan lý chất thải phòng ngừa ô nhiễm môi trường thông qua các
quy định vê quy hoạch quản lý chất thải.
Quy hoạch quản lý là công cụ định hướng cho các hoạt động thu gom, tái
chế, tái sử dụng, xử lý, chôn lâp chất thải được thực hiện thống nhất theo
mục tiêu định trước nhằm kiếm soát những tác động đến môi trường của
chúng trong tương lai. Thực hiện được điều đó cũng có nghĩa là khả năng
gây ô nhiễm môi trường của các loại chất thải đã được dự tính và phòng
ngừa trước. Thông qua việc xác định rõ trách nhiệm xây dụng quy hoạch của
các cơ quan Nhà nước, nội dung của quy hoạch cũng như việc bố trí mặt
bằng để thực hiện quy hoạch, pháp luật quản lý chất thải đã dự liệu trước
khả năng gây ô nhiễm môi trường từ các hoạt động thu gom, xử lý chất thải,
phòng ngừa chúng bằng việc xác định công nghệ xử lý phù hợp và thực hiện
trên những địa điểm an toàn nhất cho môi trường cũng như con người.
- Pháp luật quản lý chất thải quy định các quy tắc xử sự mà con người phải
thực hiện khi tiến hành các hoạt động có liên quan đến chất thải trong từng
công đoạn cụ thế của quá trình quản lý. Theo đó, khi tiến hành các hoạt động
làm phát sinh chất thải hay khi tiến hành thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử
dụng, xử lý, tiêu huỷ chất thải, các tổ chức, cá nhân phải tuyệt đối tuân thủ
theo định hướng xử sự trong các quy phạm pháp luật để phòng ngừa ô nhiễm
môi trường, đảm bảo an toàn sức khoẻ con người.
- Pháp luật quản lý chất thải quy định các chế tài hình sự, dân sự, hành
chính, buộc các tổ chức, cá nhân phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp
luật trong phòng ngừa ô nhiễm môi trường do chất thải nguy hại. Bằng các

13


chế tài nà/, plháp luật quản lý chất thải tác động tới các chủ thê thực hiện
hành vi vi phạm, không chi đê trừng phạt họ mà còn có thê ngăn chặn các
hành vi không thực hiện phòng ngừa ô nhiễm môi trường khi tiên hành các
hoạt động cỏ liiên quan đên chât thải.
- Pháp luật quiản lý chất thải quy định rõ chức năng,, nhiệm vụ của các cơ
quan quản lý nhà nước về chất thải. Việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ
cho các cơ quan này sẽ giúp cho các hoạt động phòng ngừa ô nhiễm môi
trường trong quá trình thu gom, lưu giữ, vận chuyến... chất thải đạt được
hiệu quả cao.
Thứ hai: Pháp luật quản lý chất thải tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình
thành và phát triên ngành công nghiệp môi trường. qua đó góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước
Pháp luật quản lý chất thải giữ một vai trò khá quan trọng thúc đấy sự phát
triển của các dịch vụ xử lý và tái chế chất thải. Thông qua việc quy định
những điều kiện hoạt động đối với các cơ sở xử lý chất thải về cơ sở vật
chất, trình độ công nghệ... pháp luật quản lý chất thải không chỉ giải quyết
tình trạng, gây ô nhiễm môi trường từ chính hoạt động xử lý chất thải mà còn
thúc đây sự phát triển của các dịch vụ môi trường này theo hướng hiện đại
hơn về công nghệ, an toàn hơn trong hoạt động từ đó đạt hiệu quả cao hơn
về kinh tế. Điều đó cũng có nghĩa là pháp luật quản lý chất thải sẽ tạo một
hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các dịch vụ xử lý và tái chế
chất thải, một trong nhũng lĩnh vực hoạt động khá quan trọng của ngành
công nghiệp môi trường.
Thứ ba, pháp luật quản ỉỷ chất thải góp phần thúc đấy nghiên cứu và úng
dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đê bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ.
Trong số các biện pháp bảo vệ môi trường đang được áp dụng trên thế giới
hiện nay, biện pháp công nghệ được coi là biện pháp hữu hiệu giải quyết tận
gốc vấn đề ô nhiềm môi trường. Thông qua việc úng dụng các quy trình
14


công nghệ tiên tiên, quy trình công nghệ sạch, quy trình công nghệ ít chât
thải, con người có thê loại bo được chât gây ô nhiễm, nguyên nhân cơ ban
nhất gây ô nhiễm môi trường.
Pháp luật quan lý chât thải góp phân khuyên khích các chủ nguôn thai
nghiên cứu, ứng dụng kỳ thuật tiên tiến đẻ giảm thiếu việc thải bo chất thải
vào mỏi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các tố chức, cá nhân trong việc
nghiên cứu và ứng dụng kỳ thuật côna, nghệ tiên tiến đê giảm thiêu chất thải
và đảm bao an toàn môi trường khi tiến hành các hoạt động liên quan đến
chất thải. Điều này được thực hiện thông qua việc cụ thề hoá các chính sách
ưu đâi cua Nhà nước trong lĩnh vực này như chính sách ưu đãi về thuế, về
đất đai...
Thứ tư, pháp luật quản ìý chất thải góp phần thay đôi và nâng cao nhận
thức của cộng đồng theo hướng có lợi cho bao vệ môi trường
Pháp luật quản lý chất thải, thông qua các định hướng xử sự và chế tài của
mình đã góp phần làm thay đổi và nâng cao nhận thức của cộng đồng, nâng
cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường ở nước ta. Cụ thể là:
- Pháp luật quản lý chất thải định hướng cho cộng đồng về cách xử sự có lợi
cho môi trường khi tiến hành các hoạt động có liên quan đến chất thải. Sự
định hướng này góp nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo vệ môi
trường.
- Pháp luật quản lý chất thải góp phần làm thay đổi những thói quen cũ, gây
hại cho môi trường của con người khi tiến hành các hoạt động của mình.
Pháp luật quản lý chất thải buộc con người không được thực hiện những
hành vi gây hại cho môi trường trong quá trình sản sinh hay xử lý, tiêu huỷ
chất thải. Việc phải tuân thủ những quy định này dần dần làm thay đổi
nhũng thói quen xấu của con người đối với môi trường.
- Pháp luật quản lý chất thải góp phần nâng cao nhận thức của người tiêu
dùng trong việc sử dụng những sản phâm thân thiện với môi trường, an toàn
cho sức khoẻ con người.


II. 1.3.3. Các xêu tô chi phôi pháp luật quan lý chảt thai.
Pháp luật vè quản lý chât thai bị chi phôi bởi nhiêu yêu tô, nhưng cơ ban và
trước hêt bơi nhừnạ yêu tô sau:


Quan điêm phút triên bên vững

Là một bộ phận của pháp luật môi trường, cụ thê hoá quan điếm phát triển
bền vững, pháp luật quản lý chất thải xây dựng các quy phạm điều chỉnh
theo hướng xác định kiêm soát chât thai là trách nhiệm không chỉ cua các cơ
quan nhà nước mà còn là trách nhiệm của các tổ chức cá nhân trong xã hội;
quan lý chất thải luôn được thực hiện trên cơ sơ kết họp hài hoà giừa bảo vệ
môi trường với phát triên kinh tế, xã hội và đề cao sự phòng ngừa ô nhiễm
môi trường. Nói cách khác, quan điếm và đường lối bảo vệ môi trường là
một trong nbữn^ yếu tố cơ bản chi phổi pháp luật quản lý chất thải ở nước ta
hiện nay.


Đòi hỏi của thực tiễn quản lý chất thải và bảo vệ môi trường

Thực tiền quản lý chất thải và bảo vệ môi trường đã, đang và sẽ tiếp tục chi
phối không nhỏ đến sự điều chỉnh của pháp luật quản lý chất thải
Theo số liệu điều tra thống kê của Cục Bảo vệ môi trường, vào nửa cuối
những năm 90, tống lượng chất thải nguy hại trên toàn quốc vào khoảng
141.464 tấn/năn, thì đến nay, chỉ tính riêng lượng chất thải nguy hại phát
sinh ở các vùng kinh tế trọng điểm, con số này đã lên tới 226.376 tấn/năm.
Mỗi năm, có khoảng 113.118 tấn chất thải nguy hại phát sinh tại 3 khu vực
kinh tế trọng điém của cả nước
Với nhịp độ tărg trưởng công nghiệp như hiện nay của Việt Nam, dự tính
đến năm 2010, tống lượng chất thải nguy hại sẽ sản sinh lên đến khoảng 1
triệu tấn/năm.
Với rất nhiều tá; động bất lợi nguy hiểm mà nó có thể gây ra cho môi trường
cũng như sức khoe con người, việc kiểm soát chúng một cách chặt chẽ là
yêu cầu bức thiìt. Vì thế, việc hình thành hay không pháp luật quản lý chất
thải cùng như :ự điều chỉnh của hệ thống pháp luật này chịu sự chi phối
16


không nho từ thực trạng chât thai và yêu câu bảo vệ môi trường khỏi những
tác động bât lợi cua chúng.
Bên cạnh đó, so với quan lý chất thải bằng biện pháp kinh tế và biện pháp
kỳ thuật, quan lý chất thải băng pháp luật có những ưu thế vượt trội cua nó.
Quan lý chất thải bàng phán luật ở một khía cạnh nhất định cũng bao gồm
trong nó cả các yếu tổ quản lý bằng kinh tế và kỹ thuật. Chẳng hạn, các quy
định vê chôn lâp, xử lý chất thải nguy hại phải được xây dựng trên căn cứ
phù hợp về kỳ thuật mới có thê giảm thiêu được những tác động bât lợi của
chúng. Các quy định về nghĩa vụ của chủ nguồn thải, chủ thu gom, xử lý
chất thải nguy hại cũng luôn được xây dựng theo hướng kích thích lợi ích
của họ thông qua việc luật hoá một số công cụ kinh tế như các khoản phí, lệ
phí...


Việc íỊÍa nhập các Điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường

Khi đã tham gia ký kết các Điều ước quốc tế, Việt Nam có nghĩa vụ nồ lực,
thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của mình. Đe thực hiện điều đó,
Điều ước quốc tế có thể trở thành một bộ phận cấu thành của pháp luật Việt
Nam và cùng có thể dược nội luật hoá thông qua việc sửa đối, bổ sung hoặc
xây dựng các qui phạm pháp luật mới sao cho các qui định này vừa mang
tính đặc thù của Việt Nam, vừa phù hợp với Điều ước quốc tế mà Việt Nam
đã ký kết và tham gia. Nói cách khác, bằng nhiều cách thức khác nhau, các
cam kết trong các Điều ước quốc tế sẽ dần được chuyển tải vào trong các
văn bản pháp luật của nước ta, thông qua đó thúc đẩy sự phát triển của pháp
luật Việt Nam.
Trong lĩnh vực quản lý chất thải, có thể kể đến một sổ Điều ước quốc tể mà
Việt Nam đã tham gia như: Công ước Viên về bảo vệ tầng ozon; Công ước
Basel về kiểm soái việc vận chuyển các chất nguy hại xuyên biên giới và
việc loại bỏ chúng; Công ước Stockholm về các chất gây ô nhiễm hữu cơ
khó phân huỷ (các chất POP)... Tham gia các công ước này, Việt Nam có
nghTa vụ cơ bản là bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người trước nhữna,
THU VIE N
ĨRƯÒNG ĐẠI HOC LÚẬT hà

PHÒNGDỘC

nội

ỵ/ V I .

17


tác động có hại cua các loại chât thải thông qua việc kiêm soát nghiêm nạặt
quá trình vậin chuyên và tiêu huỷ chúng giữa các quôc gia; giảm thiêu và loại
bỏ hăn 12 c hât hữu cơ khó phân huv (POPs), thiêt lập hệ thông đê xử lý các
hoá chât phụ mà đà được xác định là các chất nguy hại cho tương lai... Như
vậy, hệ thông pháp luật quan lý chất thải của Việt Nam hiện hành đang chịu
sự chi phôi không nho bởi việc thực thi các cam kết quốc tế trong lTnh vực
này.
'Quan lý chất thải bằne các biện pháp pháp lý đã và đang phát huy được vai
trò thực tiễn của nó trong công cuộc bảo vệ môi trường chung của đất nước.
Từ phương diện lý luận, việc quản lý chất thải ở Việt Nam cần được nghiên
cứu sâu hơn nữa và áp dụng vào thực tiễn theo hướng quản lý dọc đưòng
ống thay vì quản lý cuối đường ống như hiện nay. Từ góc độ pháp lý, với tư
cách là một định chế quan trọng của pháp luật môi trường, pháp luật về quản
lý chất thải cần được hoàn thiện hơn theo hướng quy định cụ thể các Quy
chuẩn kỳ thuật về chất thải làm căn cử cho việc giới hạn hành vi xả thải vào
môi trường; phân định rõ hơn trách nhiệm của từng nhóm chủ thê tham gia
vào quá trình quản lý chất thải; áp dựng đủ mạnh chế tài xử lý các hành vi vi
phạm các quy định về quản lý chất thải, cũng như tìm kiếm sự hồ trợ từ các
biện pháp kỹ thuật, biện pháp tài chính cho việc quản lý chất thải.
Luật BVMT 2005 đã dành riêng một chương (Chương 8, với 5 mục 20 điều)
quy định về quản lý chất thải. Điều này cho thấy bước phát triến khá mạnh
mẽ trong nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của việc quản lý chất thải
trong môi quan hệ với các hoạt động bảo vệ môi trường. Căn cứ vào tính
chất, đặc điểm và mức độ tác động, ảnh hưởng của chất thải đối với môi
trường xung quanh, Luật BVMT 2005 đề cập quản lý chất thải theo nhiều
cấp độ, với nhiều nội dung, bao gồm: từ các quy định chung đến các quy
định cụ the về quản lý chất thải; từ các quy định quản lý chất thải nguy hại
đến các quy định quản lý chất thải thông thường, quy định về quản lý chất
rắn. chất thải lonơ và bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung...

18


II.2. Đánh giá các quy định chung về quản lý chất thái
Việc đánh giá các quy định chung về quản lý chất thải cho phép hình dung
một cách khái quát nhât mức độ hoàn thiện cua pháp luật trona, lĩnh vực này,
làm tiên đê cho việc đánh giá chi tiết các quy định quản ỉý từng loại chât
thải.
Ọuy định chune, về quản lý chất thải được điều chinh trong 4 điều luật, từ
điều 66 đến 69 Luật BVMT 2005, với những nội dung chính như sau:
i)

Trách nhiệm quán lý chất thải của các tô chức, cá nhân làm phát sinh

chất thải;
ii)

Thu hồi, xử lý sản phâm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ;

iii)

Tái chế chất thải; và

iv)

Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải.

Tuy nhién cần lưu ý là hoạt động quản lý chất thải nói chung không chỉ căn
cứ vào các quy định nêu trên, các quy định khác của Luật BVMT 2005 mà
còn căn cứ vào nhiều quy định trong các văn bản pháp luật môi trường khác,
cùng nhu trong các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan.
(ì) Quy áịnh về trách nhiệm quản ỉỷ chất thai
Điều 66 lu ật BVMT 2005 mới chỉ đề cập đến trách nhiệm quản lý chất thải
cua tồ chức, cá nhân làm phát sinh chất thải mà chưa đề cập đến trách nhiệm
của các :hủ thế khác. Hoạt động quản lý chất thải được thực Hiện bởi 3
nhóm chú thê: i) Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ii) Tổ chức, cá nhân
phát thải iii) Tô chức, cá nhân làm dịch vụ bảo vệ môi trường. Tiêu đề của
điều luật này là quy định về trách nhiệm quản lý chất thải nhưng nội dung
của nó lai chỉ đề cập đến trách nhiệm của một loại chủ thể là tổ chức, cá
nhân pháỉ thải.
Điều 66 khoản 2 Luật BVMT 2005 cũng làm phát sinh những vấn đề cần
xem xét. Trên thực tế không phải trong trường họp nào cũng xác định được
nguồn thii, do ngoài nguồn thải tĩnh còn có rmuồn thải động và nguồn thải
không thì xác định, đặc biệt là đổi với các chất thải phát sinh sau quá trình
19


tiêu dùntỉ Cùng như khônu phai trong mọi trường hợp đêu xác định được
khối lượng, tính chất của chất thai, do chất thải có thê tồn tại dưới dạng hỗn
hợp giữa chât thải lỏng với chất thải ran hoặc chất thải long ở dạng bị bav
hơi thành khí thải, bị kết tủa thành chất thai rắn...
Điêu 66 Khoan 3 Luật BVMT 2005 là một trong những nội dung đang gây
nhiêu iranh cài, cả vê mặt pháp luật thực định cũng như thực tiền thi hành.
Cụ thê là:
Trước hêt, vè Giấy chứng nhận đạt tiêu chuân môi trường. Giấy chứng nhận
đạt tiêu chuân môi trường đã được quy định từ Luật BVMT 1993 (Điều 37
khoan 6), song nội dung pháp lý của nó hoàn toàn khác với Giấy chứng nhận
đạt tiêu chuân môi trường trong Luật BVMT 2005. Đe tránh sự nhầm lẫn,
cần có sự phân biệt. Theo Luật BVMT 1993, Giấy chứng nhận đạt tiêu
chuẩn môi trường (còn được gọi tắt là giấy phép về môi trường) là chứng
thư pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho các cơ sở công
nghiệp nhằm xác định các chỉ tiêu môi trường mà các cơ sở này phải bảo
đảm đạt được trong suốt quá trình hoạt động. Điếm bất cập là tên gọi Giấy
chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường nhưng thực chất nội dung của giấy là
những chỉ tiêu môi trường buộc các cơ sở kinh doanh phải cam kết đảm bảo
trong quá trình hoạt động, v ề bản chất pháp lý, với những nội dung đó
không thể gọi là Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường do việc cấp
giấy được tiến hành trước khi cơ sở đi vào hoạt động nên chưa có đủ căn cứ
đê xác định cơ sở có đạt tiêu chuẩn môi trường hay không.
Luật BVMT 2005 đã khắc phục được nhược điểm trên. Theo quy định của
Luật này, khi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thực hiện
tốt việc quán lý chất thải mới được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuân môi
trường. Điều này phù hợp tên gọi của giấy, phù hợp với các yêu cầu tuân thủ
hệ thống tiêu chuẩn môi trường, cũng như phù hợp với chính sách khuyến
khích các hoạt động bảo vệ môi trường thông qua hoạt động quản lý chất
thải. Tuy nhiên, đê có thê triên khai công việc này trên thực tế, đòi hỏi pháp

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×