Tải bản đầy đủ

tuyến điểm du lịch vùng tây bắc

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
ĐỀ TÀI
1.1.Các khái niệm cơ bản :
1.1.1, Khái niệm về Tuyến du Lịch:
Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ
du lịch,gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng
không. Ví dụ :
-Tuyến du lịch TPHCM -Đà lạt -Nha trang
-Tuyến du lịchTPHCM -Buôn Ma thuột -Nha trang
-Tuyến du lịch TPHCM -Qui nhơn -Đà nẳng -Huế
* Phân loại tuyến du lịch (có 2 loại).
Tuyến du lịch nội vùng: là lộ trình kết nối các điểm du lịch, các trung tâm
du lịch trongmôt vùng du lịch, thực hiện việc tổ chức du lịch nội vùng đơn giản về
phương tiện di chuyển,cách tổ chức, mối quan hệ.
Tuyến liên vùng: là lộ trình nối các điểm du lịch, các trung tâm du lịch của
những vùngkhác nhau, việc tổ chức du lịch trong tuyến liên vùng phúc tạp hơn
tuyến nội vùng, có thể phảisử dụng nhiều phương tiện vận chuyển và phải đi lại
theo lộ trình khác nhau và phải đặt ranhiều mối quan hệ khác nhau.Tuyến du lịch
này dài hay ngắn tùy thuộc vào số lượng quy mô và những yếu tố cấu thành nên
nó.
* Quản lý tuyến du lịch:Theo điều 30 (luật du lịch 2005) . Quản lý tuyến du lịchTrong

phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp vớiBộ Giao
thông vận tải quản lý tuyến du lịch địa phương và phần tuyến du lịch quốc gia thuộcđịa
bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bảo đảm các nội dung sau đây:
1. Bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cảnh quan, môi trường dọc theo
tuyến du lịch
2. Tạo thuận lợi cho việc tham gia giao thông của các phương tiện chuyên
vận chuyểnkhách du lịch
3. Quản lý việc đầu tư, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch dọc tuyến du lịch
theo quyhoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định

MSV: 1631390027

1


1.1.2. Khái niệm về Điểm:
Là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút du khách. Ví dụ :
-Điểm du lịch địa đạo Củ chi –TPHCM
-Điểm du lịch núi Sam -thị xã Châu đốc -tỉnh An giang
-Điểm du lịch chùa Hương tích -tỉnh Hà tây

* Phân loại điểm du lịch:
+ Điểm du lịch thiên nhiên: gồm những điểm du lịch mà hoạt động chủ yếu của nó
chủ yếu vào việc khai thác các giá trị tài nguyên thiên nhiên. Các vùng có nguồn tài
nguyên nàyngười ta xây dựng các trung tâm điều dưỡng và thể thao.Ví dụ: các khu du
lịch ở Đà Lạt, Tam Đảo, Ba Vì…
+Điểm du lịch văn hóa: bao gồm các điểm du lịch dựa trên các giá trị văn hóa.Ví dụ:
các trung tâm lịch sử, trung tâm khoa học, trung tâm nghệ thuật, trung tâm tôn giáo…
+Điểm du lịch đô thị: gồm các điển du lịch mà ở đó chủ yếu phát triển các loại hình
du lịch liên quan đến nhân tố kinh tế và chính trị. Đó là các đô thị, trung tâm kinh tế của
thế giới,quốc gia hay khu vực.Ví dụ: New York, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…Các điểm
du lịch đầu mối giao thông như nơi có ga xe lửa, cảng sân bay, nơi giao nhau các trục
đường lớn thường trở thành nơi dừng chân tạm thời của du khách
.* Điều kiện và nhân tố để trở thành điểm du lịch.Những điều kiện cần thiết phải thỏa
mãn để hình thành điểm du lịch bao gồm:
- Phải có những điều kiện tài nguyên đa dạng, phong phú, độc đáo và có sức hấp dẫn đối
với du khách. Điều này có nghĩa là điểm đó có thể có nguồn nước khoáng có giá trị chữa
bệnh,có thế giới động thực vật hoang dã phong phú, có nơi nghỉ ngơi, có nơi trú chan,
có bãi tắmđẹp, có hang động kì vĩ... Những vùng núi hoặc bán sơn địa có khả năng đáp
ứng điều kiện nàymột cách tốt nhất.


- Phải đảm bảo điều kiện vệ sinh cần thiết
- Phải được xây dựng tốt có lối đi lại thuận tiện và luôn được duy trì tốt
- Phải có cơ sở lưu trú khách sạn, motel, nhà nghỉ, bungalow, camping..
- Phải có cửa hàng và các điểm bán hàng, đặc biệt là hàng thực phẩm
- Phải được trang bị đầy đủ như nơi tập luyện thiết bị y tế, nơi chơi thể thao, bể bơi...

MSV: 1631390027

2


Trong thực tế điểm du lịch được hình thành và được quyết định bởi ba nhóm nhân tố:
+ Thứ nhất: là nhóm nhân tố liên quan đến sức hấp dẫn của điểm du lịch như vị trí địa
lý, tài nguyên du lịch, các nhân tố chính trị và xã hội (không khí chính trị hòa bình,
chính sáchcủa nhà nước, tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, mức giá, chất lượng phục
vụ, các sự kiệncó tính định kì, quản cáo du lịch, cải tiến giao thông...)
+ Thứ hai: gồm nhân tố đảm bảo giao thông cho khách đến điển du lịch (bao gồm
nhữngđiều kiện đã và có khả năng xây dựng, phát triển mạng lưới và phương tiện giao
thông khácnhau)
+ Thứ ba: gồm những nhân tố đảm bảo cho khách tham quan lưu trú lại ở điểm du
lịch.Đó là cơ sở ăn uống (cửa hàng ăn uống, điểm tâm, giải khát... ), các cơ sở lưu trú,
cơ sở phục vụ vui chơi, giải trí

* Quản lý điểm du lịch:
Theo điều 29 (luật du lịch- 2005) . Quản lý điểm du lịchCăn cứ vào quy mô
và tính chất của điểm du lịch, bộ, cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước đối với tài
nguyên, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định hình thức tổ chức quản lý, bảođảm các
nội dung sau đây:
1. Bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch; bảo đảm vệ sinh môi trường;
2. Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan;
3. Bảo đảm sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch;
4. Giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm an toàn cho khách du
lịch.

1.2. Đặc tính và tầm quan trọng của tuyến-điểm du lịch:
1.2.1. Đặc tính:
- Tính không ổn định, dễ thay đổi
.- Tính mùa vụ
1.2.2. Tầm quan trọng:
Vai trò của tuyến du lịch trong hoạt động du lịch có thể đựơc hiểu là nguyên liệu để lập
nên sản phẩm du lịch là tour du lịch. Trong lĩnh vực lữ hành để có một sản phẩm giới
thiệu cho du khách nhà kinh doanh phải thực hiện đồng thời nhiều động tác trong đó cơ
MSV: 1631390027

3


bản nhất là thành lập tuyến du lịch. Từ những tuyến du lịch này, qua phân tích, qua chọn
lựa mới trở thành tour du lịch, lúc này ta nói rằng nguyên liệu đã trở thành sản phẩm du
lịch. Như vậy muốn trở thành sản phẩm du lịch tốt (là những tour du lịch có chất lượng)
chúng ta phải có những nguyên liệu tốt (là những tuyến du lịch). Những tuyến du lịch
này phải đạt đựơc những yêu cầu hay (mục tiêu) sau:
- Mục tiêu kinh tế: Bất cứ hoạt động kinh doanh nào nói chung và hoạt động kinh
doanh du lịch nói riêng,trong quá trình hoạt động du lịch phải đảm bảo mục tiêu
quan trọng là mục tiêu kinh tế. Mục tiêu kinh tế của tuyến du lịch đựơc hiểu là giá
trị thu hút du khách của tuyến đó. Những tuyến du lịch đựoc coi là có giá trị thu
hút du khách khi tuyến đó đảm bảo sự phong phú và đa dạngvề mặt nội dung, độc
đào về mặt loại hình. Như vậy một cách gián tiếp những tuyến du lịch có sức hút
lớn là tuyến có giá trị đảm bảo hiệu quả kinh tế cho những tour du lịch (dựa vào
tuyếnđó) sau này.
- Mục tiêu an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội: An ninh chính trị và trật tự an
toàn xã hội là hai mặt của một vấn đề, là ổn định xã hội.An ninh chính trị và trật tự
xã hội là mục tiêu quan trọng trong việc thành lập tuyến điểm. Nó lànhững yếu tố
tác động trực tiếp đến hoạt động du lịch. Hai mặt này tương hỗ cho nhau, làm nền
tảng cho nhau. Cả hai mặt an ninh và chính trị và trật tự xã hội đều phát triển đồng
biến vớiphát triển du lịch. Tuy nhiên sự ảnh hưởng của mỗi mặt đến du lịch lại
khác nhau. Trong haiyếu tố này, khi thành lập tuyến điểm yếu tố an ninh chính trị
phải đựơc ưu tiên đưa lên hàngđầu vì an ninh chính trị, sự ổn định quốc gia làm
tăng sức hút đối với khách du lịch, tạo cảmgiác an toàn cho du khách yên tâm thực
hiện chương trình du lịch của mình. Những quốc gia hường xuyên sảy ra nội chiến,
khủng bố, mất an ninh... thí không phát triển du lịch được. Phântích tác động của
an ninh chính trị và trật tự xã hội đối với du lịch dưới hai góc độ:
+ Về góc độ kinh tế, sự ổn định chính trị và an toàn xã hội tạo điều kiện thuận
lợi chokinh tế phát triển. Các tổ chức kinh doanh du lịch có điều kiện xây dựng cơ
sở vật chất, cơ sởkỹ thuật phục vụ du khách. Mặt khác, những quốc gia ổn định về
an ninh chính trị và trật tự xãhội sẽ có nhiều điều kiện giao lưu quốc tế trong nhiều
lĩnh vực: ngoại giao, kinh tế, thươngmại, du lịch... đây là cơ hội để chúng ta tìm
kiếm nguồn đầu tư, tìm kiếm hợp tác và tìm hiểu thị trường để phát triển du lịch,
làm tăng số lượng khách du lịch và tăng doanh thu cho ngành.
+ Dưới góc độ văn hóa xã hội: sự ổn định an ninh chính trị là nền tảng để phát
triển vănhóa. Tất cả những vấn đề thuộc về bản sắc dân tộc, những hội hè, những
sinh hoạt văn hóa chỉ phát triển toàn diện trên một mảnh đất hòa bình. Sự phát
triển văn hóa làm tăng thêm tính độcđáo và đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc. Đây
là yếu tố quan trọng trong lĩnh vực tài nguyên dulịch góp phần thu hút du khách
của một tuyến. Chính vì vậy, khi thiết kế thành lập tuyến chúngta cũng phải xem
MSV: 1631390027

4


xét đến yếu tố này. Trật tự xã hội là bộ mặt của một quốc gia, một cộng đồng,một
bộ phận dân cư... khi khách du lịch đến thăm một điển du lịch, một cộng đồng dân
cư, thì cảm giác đầu tiên của họ là trật tự xã hội. Trật tự xã hội thể hiện ở lòng hiếu
khách, mức độ phát triển văn minh của một địa phương mà du khách đến thăm. Từ
đó khách cảm nhận được sự nồng hậu, sự văn minh của quốc gia mà họ đến. Trật
tự xã hội góp phần làm tăng thêm chấtlượng của một điểm, một tuyến, một chương
trình du lịch, làm tăng thêm khả năng thỏa mãnnhu cầu của du khách. Chính điều
đó làm hấp dẫn du khách đến với những tuyến, những điểmdu lịch của chúng ta
.- Mục tiêu môi trường : Môi trường là mục tiêu quan trọng trong việc thực hiện
tuyến du lịch. Đây là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh
du lịch.
+ Sự tác động của môi trường dưới góc độ quản lý nhà nước: tất cả các hoạt
động kinhdoanh trước khi lập dự án đều phải trải qua một quá trình bắt buộc đó là
quá trình đánh giá tácđộng đến môi trường. Đây chính là việc phân tích dự báo và
đưa đến những kế hoạch xử lý tác động của du lịch đến môi trường và ngược lại.
Những vấn đề này liên quan đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống. Trong những
công đoạn này việc đề ra những giải pháp thích hợp để bảovệ môi trường là nhiệm
vụ cuối cùng quan trọng nhất.
Đánh giá tác động của môi trường trong việc hình thành tuyến điểm là phân tích
tác động tích cực và tiêu cực của môi trường với du lịch, những ảnh hưởng của
cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, xã hội để từ đó có một giải pháp quản trị thích hợp
và hiệu quả. Mục tiêu môi trườngkhông chỉ có ý nghĩa như chúng ta mới phân tích
mà nó còn là trách nhiệm trong chiếnlược phát triển du lịch của những đơn vị,
quốc gia và toàn cầu.Dưới góc độ kinh doanh du lịch: đây là tác động tích cực vì
bản thân môi trường trong sạch, thảm động thực vật phong phú, nguồn nước và
bầu không khí trong lành. Một xã hội thuần khiết và đa dạng về văn hóa luôn là sự
hấp dẫn lớn đối với khách du lịch. Môi trườngcàng trong sạch thì du lịch càng phát
triển, ngựơc lại môi trường càng ô nhiễm thì du lịch cànglạc hậu.
+ Tác động của du lịch đến môi trường: đây là tác động tiêu cực (nếu không có
biệnpháp), thông thường khi du lịch phát triển sẽ có rất nhiều những hậu quả kèm
theo. Ví dụ: ônhiễm nguồn nước, ô nhiễn không khí, thảm thực vật bị hủy hoại do
sự săn bắn đốt lửa của dukhách, các bãi biển bị ô nhiễm do vứt rác bừa bãi của con
người. Như vậy những tuyến du lịchđược thành lập, muốn khai thác hiệu quả và
lâu dài thì các nhà thiết kế phải luôn luôn nghiêncứu những tác động của du lĩch
đến môi trường để có những biện pháo sử lý kịp thời.
- Mục tiêu xã hội:Tour du lịch chính là sản phẩm du lịch, sự đa dạng độc đáo quấn
hút của một sản phẩmchính là sự đa dạng, độc đáo của những tuyến, những điểm
MSV: 1631390027

5


cấu thành nên sản phẩm du lịch đó.Yếu tố văn hóa chính là yếu tố cơ của một
tuyến du lịch. Trong quá trình thiết kế, thành lậptuyến nhà thiết kế phải chú ý sao
cho tuyến của mình càng có những nét văn hóa độc đáo thìcàng càng có sự lôi
cuốn du khách.Mục tiêu văn hóa trong việc thành lập tuyến du lịch không chỉ có ý
nghĩa làm tăng sựphong phú, hấp dẫn cho công trình du lịch mà nó còn có ý nghĩa
thể hiện bản sắc văn hóa củanước nhà. Khách du lịch đến Việt Nam thông qua
những giá trị văn hóa (nó thể hiện qua nhiều mặt) họ hiểu thêm về người Việt
Nam, họ biết được phong tục tập quán của từng vùng, địa phương và hơn hết họ
hiểu được giá trị tâm hồn của người Việt Nam.

1.3. Các nguyên tắc khi xây dựng tuyến du lịch:
1.3.1. Cân đối giữa thời gian di chuyển và thời gian tham quan.
Thời gian di chuyển không được vượt quá 50% thời gian của tuyến du lịch trong
ngày.Xu hướng ngày càng hiện đại hóa phương tiện vận chuyển để làm giảm thời gian
đi lại,tăng thời gian tham quan giải trí.
1.3.2. Nội dung tuyến du lịch phải phong phú đa dạng, mang tính đặc thù.Tránh lặp lại
cùng một tuyến đường cho cả lượt đi và lượt về.Tránh trường hợp khách phải tham quan
lại những gì khách đã tham quan ở một địaphương khác, do vậy mỗi tuyến du lịch phải
có một nét độc đáo riêng
.1.3.3. Giá cả phù hợp với chất lượng dịch vụViệc xác định giá cả của tour du lịch trên
tuyến phải phù và tương xứng với chất lượngdịch vụ, đó là yếu tố có ý nghĩa lớn để kích
cầu.
1.3.4. Đảm bảo cho du khách có thời gian để phục hồi sức khoẻ .Bố chí các điểm tham
quan với mật độ phù hợp kết hợp với các trạm nghỉ ngơi vui chơigiải trí và mua sắm để
đảm bảo sức khỏe cho du khách
1.3.5. Tuyến tham quan phải kết hợp với mua sắmThỏa mãn nhu cầu mua sắm quà lưu
niệm và hàng tiêu dùng dủa du khách.Kích thích sự phát triển kinh tế.

1.4 .Chức năng của du lịch:
1.4.1Chức năng xã hội :
Thông qua hoạt động du lịch, khách tham quan có điều kiện tiếp xúc với những
thành tựu về lịch sử, văn hóa phong phú, lâu đời của các dân tộc
1.4.2.Chức năng kinh tế:
MSV: 1631390027

6


Hoạt động du lịch là “ngành công nghiệp không khói”, nghành công nghiệp mới
đem lại nhiều lợi nhuận cho đấtnước thông qua các hình thức kinh doanh: khách
sạn, nhà hàng, vận chuyển, hàng hóa lưu niệm và thúc đẩy các ngành khác phát
triển như: vệ sinh, môi trường, hệ thống giao thông… Hoạt động du lịch còn giải
quyết và thu hút một lực lượng lao động đông đảo.
1.4.3.Chức năng sinh thái :
Hoạt động du lịch góp phần tạo nên và phục hồi môi trường sống ổn định về mặt
sinh thái .
1.4.4.Chức năng chính trị:
Giúp cho khách du lịch nước ngoài hiểu rõ về một đất nước, dân tộc. Hoạt động du
lịch là một nhân tố củng cố hoà bình, đẩy mạnh các quan hệ giao lưu quốc tế, mở
rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc.

1.5.Ý nghĩa Kinh Tế- Xã Hội của du lịch:
Du lịch góp phần phát triển giao thông, các dịch vụ công cộng, các thành tựu
khoa học kỹ thuật (internet, master card), chỉnh trang đô thị, trong sạch môi
trường..
1.6. Cơ sở thực tiễn:
1.6.1.Tình hình phát triển tại Việt Nam :
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế
đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng. Du lịch Việt Nam ngày càng được
biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ
yêu thích của du khách quốc tế. Du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của
toàn xã hội. Chất lượng và tính cạnh tranh của du lịch là những vấn đề nhận được nhiều
sự chú ý và thảo luận rộng rãi. Một cách tiếp cận đa chiều về đánh giá chất lượng du lịch
sẽ góp phần hình thành các giải pháp đúng đắn nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh
của du lịch Việt Nam.
Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ khách quay trở lại cho thấy tính cạnh tranh của du lịch. Tuy
nhiên, do du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội
hóa cao, nên tính cạnh tranh của du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Dưới góc độ kinh tế
du lịch, tỷ lệ khách quay trở lại không phải là chỉ tiêu nghiên cứu phục vụ xây dựng
chính sách phát triển ngành. Hiệu quả của ngành Du lịch thường được đánh giá qua các
chỉ số chính như: tốc độ tăng trưởng khách, độ dài lưu trú bình quân của khách, chi tiêu
bình quân của khách, đóng góp của du lịch vào cơ cấu GDP.
MSV: 1631390027

7


Nhìn từ kinh nghiệm bên ngoài, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), các
chỉ số cơ bản đo lường tính cạnh tranh của ngành du lịch một quốc gia gồm có: đóng
góp của du lịch vào GDP, thu nhập từ khách du lịch inbound theo từng thị trường, thời
gian lưu trú qua đêm, giá trị xuất khẩu dịch vụ du lịch, năng suất lao động, sức mua và
giá cả dịch vụ du lịch, thủ tục thị thực nhập cảnh, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh
học, tài nguyên văn hóa, mức độ thỏa mãn của du khách, và chương trình hành động của
ngành Du lịch. Ngoài ra còn có một số chỉ số phụ như: mức độ đa dạng hóa thị trường,
nguồn nhân lực, mức độ kết nối hàng không và các phương tiện khác, phân bổ ngân sách
chính phủ dành cho ngành Du lịch, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong du
lịch... Tham khảo những chỉ số này có thể thấy tỷ lệ khách quay trở lại không nằm trong
các tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh của ngành du lịch.
Mặt khác, về bản chất hoạt động du lịch là sự khám phá, trải nghiệm. Nhìn chung, khách
du lịch luôn muốn đi đến những vùng đất mới lạ, tìm hiểu những nền văn hóa độc đáo,
trải nghiệm những lối sống khác nhau. Đối với khách du lịch ở nhiều nền kinh tế phát
triển, du lịch là một phần thiết yếu trong cuộc sống bên cạnh quá trình lao động, làm
việc. Họ có điều kiện dành thời gian và nguồn tài chính để thực hiện nhiều chuyến du
lịch trong đời và coi đây là cơ hội vừa để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, vừa để khám
phá những nền văn hóa mới và bồi đắp kiến thức cho mình. Việc lựa chọn một điểm đến
cũ có thể sẽ không phải là ưu tiên của họ nếu không có một nhu cầu đặc biệt nào đó
hoặc sự cảm mến, gắn kết đặc biệt.
Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ khách quốc tế đến Việt Nam lần
đầu và khách đến từ hai lần trở lên lần lượt là 72% và 28% (năm 2003); 65,3% và
24,7% (năm 2005), 56,3% và 43,7% (năm 2006); 60,4% và 39,6% (năm 2009); 61,1%
và 38,9% (năm 2011); 66,1% và 33,9% (năm 2013). Có thể thấy tỷ lệ này không biến
động lớn qua các năm và duy trì ở mức độ khá hài hòa.
Xét về tổng thể, điều quan trọng là các chỉ số về lượng khách và tổng thu của Du lịch
Việt Nam đạt tăng trưởng tốt qua các năm. Nếu năm 2000, chúng ta mới đón được 2,1
triệu lượt khách quốc tế thì năm 2005 đón được 3,4 triệu lượt, năm 2010 đón được 5
triệu lượt và năm 2013 vừa qua là 7,5 triệu lượt. Đồng thời, lượng khách du lịch nội địa
cũng ngày càng tăng: năm 2000 là 11,2 triệu lượt, 2005 là 16,1 triệu lượt, năm 2010 là
28 triệu lượt và năm 2013 là 35 triệu lượt. Đặc biệt, tổng thu từ du lịch những năm gần
đây có sự tăng trưởng vượt bậc khi năm 2013 đạt tới 200 nghìn tỷ đồng, trong khi năm
2010 mới đạt 96 nghìn tỷ, năm 2005 đạt 30 nghìn tỷ và năm 2000 chỉ đạt 17,4 nghìn tỷ.
Tốc độ tăng trưởng của tổng thu từ khách du lịch đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng khách du lịch, đóng góp của ngành Du lịch vào cơ cấu GDP đất nước ngày càng
lớn trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn.

MSV: 1631390027

8


Ngành Du lịch cũng đang góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết an sinh xã hội. Đến
năm 2013, ước tính đã có trên 1,7 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, trong
đó 550 nghìn lao động trực tiếp và 1,2 triệu lao động gián tiếp.
Cùng với đó, hình ảnh du lịch quốc gia ngày càng được nâng cao. Hệ thống di sản văn
hóa và thiên nhiên thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận ngày càng phong
phú. Nhiều điểm du lịch được các tổ chức uy tín bình chọn là địa chỉ yêu thích của đông
đảo du khách quốc tế. Trong đó, điển hình như Vịnh Hạ Long được trang web BuzzFeed
của Mỹ bình chọn là 1 trong 25 địa danh có vẻ đẹp khó tin nhất trên thế giới; Hà Nội
được TripAdvisor bình chọn là 1 trong 10 thành phố thu hút khách du lịch hàng đầu trên
thế giới năm 2014; Việt Nam được Tạp chí du lịch Travel & Leisure của Mỹ bình chọn
đứng thứ 6 trong số 20 điểm đến tốt nhất dựa trên độ an toàn và thân thiện của người
dân dành cho khách du lịch lẻ; Hang Sơn Đoòng được Tạp chí du lịch Business Insider
của Mỹ bình chọn là 1 trong 12 hang động ấn tượng nhất thế giới và Tạp chí National
Geographic phiên bản tiếng Nga bình chọn là tour du lịch mạo hiểm đẳng cấp nhất thế
giới của năm 2014; Tuyến du lịch trên sông Mê Kông (đoạn Việt Nam-Campuchia)
được báo Telegraph (Anh) xếp thứ 4/5 tuyến du lịch trên sông hàng đầu châu Á... Ngoài
ra, nhiều doanh nghiệp lữ hành, khách sạn của Việt Nam cũng đã được các tổ chức,
website tiêu dùng vinh danh do chất lượng dịch vụ xuất sắc của mình.
Điều này cho thấy chất lượng du lịch Việt Nam đang dần tốt lên, đi vào chiều sâu thay vì
chiều rộng theo đúng định hướng trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam “Phát
triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao
trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển du lịch
theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo
chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh
tranh”.
Nâng cao chất lượng du lịch để thu hút khách, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của
khách là một định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch nước ta. Một
điều tất nhiên, trong quá trình phát triển ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội đất
nước nói chung, sẽ phát sinh nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết. Mâu thuẫn và việc giải
quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng là nguồn gốc và động lực
của quá trình vận động, phát triển.
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm chính trị của chính quyền
các cấp từ Trung ương đến địa phương, sự phối kết hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên
quan, sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế, sự năng động tích cực
của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, sự đồng cảm và tham gia của cộng đồng dân
cư, du khách và sự quan tâm khích lệ của các cơ quan thông tin truyền thông – một kênh
quan trọng tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch đất nước cũng như phát hiện những
MSV: 1631390027

9


bất cập cần khắc phục để du lịch Việt Nam trở thành một thương hiệu được mỗi người
chúng ta cũng như bạn bè quốc tế ngày càng quý mến.

1.6.2.Tình hình phát triển du lịch tại vùng Tây Bắc :
Tây Bắc là một vùng rộng lớn gồm 6 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào
Cai, Yên Bái có nhiều tiềm năng, thế mạnh về phát triển du lịch. Tuy nhiên, số lượng
khách du lịch đến Tây Bắc chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ so với tổng lượng khách du lịch của cả
nước. Vậy làm thế nào để thu hút khách du lịch đến với Tây Bắc nhiều hơn và du lịch
Tây Bắc phát triển tương xứng với những lợi thế mà Tây Bắc sở hữu là vấn đề đang
được đặt ra và tìm giải pháp khắc phục.
Vùng đất Tây Bắc sở hữu nguồn tiềm năng du lịch rất lớn với thiên nhiên kỳ vĩ, văn hóa
đặc sắc và lịch sử hào hùng. Được thiên nhiên ban tặng một vẻ đẹp hùng vĩ, riêng có về
địa hình, khí hậu, địa chất, cảnh quan và hệ sinh thái, Tây Bắc có sức hấp dẫn du lịch
đặc biệt. Tây Bắc có đỉnh Fansipan được mệnh danh là nóc nhà Đông Dương, là niềm
khát khao chinh phục của rất nhiều người; Sa Pa – Thị trấn trong mây với khí hậu quanh
năm mát mẻ; Danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang Mù Căng Chải với những khu
ruộng bậc thang nổi tiếng; Hồ Pá Khoang rộng lớn nằm giữa một vùng thiên nhiên cảnh
đẹp hùng vĩ với thảm thực vật phong phú, khí hậu ôn hòa; rừng Mường Phăng là một
trong những khu bảo tồn tự nhiên với nhiều loại động thực vật quý hiếm của tỉnh Điện
Biên; Thung lũng Mai Châu bình yên với sắc màu của cây cỏ, đồng lúa và xen lẫn
những mái nhà nhỏ; Cao nguyên Mộc Châu rộng lớn và tươi đẹp với những loài hoa nở
rất nhiều ở vùng núi Tây Bắc như hoa ban, hoa mận, hoa đào… Vẻ đẹp không đâu có
của núi rừng và văn hóa Tây Bắc luôn thôi thúc lữ khách lên đường rời xa những đô thị
sôi động để đến với vùng đất trời rộng mở, hùng vĩ, bình yên và bí ẩn.
Cùng với cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ, văn hóa truyền thống của các dân tộc cũng là
điểm nổi bật trong tài nguyên du lịch nơi đây. Tây Bắc là nơi sinh sống của nhiều dân
tộc như Tày, Nùng, Thái, Mường, Mông, Dao, Kinh, Hoa, Khơ Mú, Lào, Lự, Hà Nhì,
Kháng, La Hủ, Si La, Phù Lá, Bố Y, Mảng, Giáy, Xơ Đăng, Lô Lô, Pà Thẻn, Phù Lá, Cờ
Lao, La Chí… với một không gian văn hóa rộng lớn và phong phú. Nhiều dân tộc còn
lưu giữ nguyên vẹn bản sắc văn hóa truyền thống của mình trong phong tục, tập quán, lễ
hội, trang phục, nhạc cụ, các điệu dân ca, dân vũ như lễ hội Lồng Tồng, chợ tình Khâu
Vai, múa sạp, múa xòe, hát then, nhạc cụ Pí cặp, pí sên, khèn môi… hay trong ứng xử
cộng đồng, kiến trúc nhà ở, các phiên chợ bản… Ẩm thực Tây Bắc mang những nét đặc
trưng, khác biệt hẳn so với các vùng khác với gà mọ, cá suối nướng úp, nộm da trâu, thịt
trâu gác bếp, thắng cố… là tiềm năng du lịch hấp dẫn cho những du khách thích khám
phá và trải nghiệm.
Hầm chỉ huy của tướng Đờ Cát nằm ở trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
MSV: 1631390027

10


Cùng với đó là những giá trị văn hóa, lịch sử thiêng liêng gắn liền với quá trình dựng
nước và giữ nước của dân tộc như: Quần thể di tích chiến trường Điện Biên Phủ minh
chứng của một thời "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" ghi lại chiến công hiển hách
của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; Khu di tích
lịch sử Mường Phăng nơi đặt Sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ; Khu di tích lịch sử
cấp Quốc gia Căng và Đồn Nghĩa Lộ - nơi đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt và
chiến thắng năm 1952 giải phóng Nghĩa Lộ; Di tích Quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ…
*Hiệu quả thu hút khách du lịch:
Những năm gần đây, khách du lịch đến với Tây Bắc ngày một tăng, nhưng lượng khách
phân bổ không đều giữa các địa phương, tính mùa vụ cao, tập trung vào các lễ hội đầu
năm (Năm 2015, Lào Cai đón gần 2 triệu lượt khách; Hòa Bình đón hơn 2,5 triệu lượt
khách; Sơn La đón gần 1,6 triệu lượt khách; Yên Bái đón khoảng 466.000 lượt khách;
Điện Biên đón khoảng 420.000 lượt khách; Lai Châu đón 182.400 lượt khách); Thời
gian lưu lại trung bình rất ngắn, dưới 1,5 ngày; Du lịch nghỉ dưỡng cao cấp chiếm tỷ
trọng không đáng kể, do đó, nguồn thu từ du lịch chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh
tế của địa phương. Gần đây, khách nội địa đến từ các thị trường xa như các tỉnh phía
Nam đang có xu hướng tăng. Tỷ trọng khách quốc tế chủ yếu đến từ châu Âu, Úc và
Nhật Bản đến Điện Biên, Hòa Bình, Lào Cai; khách Trung Quốc qua các cửa khẩu Lào
Cai là chủ yếu. Phương tiện tiếp cận các điểm đến Tây Bắc chủ yếu theo đường bộ.
Hiện tại, toàn vùng có 307 cơ sở lưu trú được xếp hạng với gần 9.000 buồng. Trong đó,
có 3 cơ sở 4 sao, 13 cơ sở 3 sao, 94 cơ sở 2 sao và 197 cơ sở 1 sao và chưa có cơ sở nào
đạt tiêu chuẩn 5 sao. Hệ thống cơ sở lưu trú, nghỉ dưỡng, ăn uống, giải trí tại Tây Bắc
vẫn còn thiếu. Cùng với đó, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn yếu. Hệ thống giao thông
vùng Tây Bắc chưa được đầu tư đồng bộ, đường xá đi lại còn gặp nhiều khó khăn.
*Định hướng giải pháp phát triển du lịch Tây Bắc:
Về phát triển sản phẩm, để du lịch vùng Tây Bắc phát triển tương xứng với tiềm năng và
lợi thế sẵn có thì cần có các sản phẩm du lịch mang dấu ấn riêng, thương hiệu riêng, tạo
điểm nhấn, điểm khác biệt đối với du khách dựa trên các tiềm năng thế mạnh nổi trội
của từng nơi.
Lào Cai hội tụ tiềm năng thích hợp phát triển du lịch mạo hiểm dựa vào ưu thế có đỉnh
Fansipan được mệnh danh là nóc nhà Đông Dương; du lịch nghỉ dưỡng núi với “Thị trấn
trong mây” Sa Pa có khí hậu mát mẻ quanh năm. Vào mùa hè, thời tiết tại đây trong 1
ngày có đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông cùng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ; du lịch văn
hóa và du lịch cộng đồng tại các bản làng dân tộc như Cát Cát, Tả Phìn, Tả Van, Bản
Hồ, Sín Chải ở Sa Pa, chợ phiên Bắc Hà...
MSV: 1631390027

11


Điện Biên có thể tập trung phát triển du lịch tìm hiểu lịch sử trên cơ sở khai thác các giá
trị lịch sử hào hùng của di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ.
Cùng với đó là phát triển du lịch sinh thái dựa trên tiềm năng lớn về hệ sinh thái rừng,
sông, suối, hang động, hồ nước ở Pá Khoang, Him Lam. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ
đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu Du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá
Khoang, tỉnh Điện Biên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây là điều kiện thuận
lợi để thúc đẩy phát triển du lịch của địa phương.
Đối với Hòa Bình, du lịch văn hóa cộng đồng đang ngày càng thu hút khách du lịch.
Nhiều điểm du lịch cộng đồng nổi tiếng được nhiều du khách trong và ngoài nước biết
đến như Bản Lác, Bản Poong Cọm (Mai Châu). Bên cạnh đó, Hòa Bình còn có nguồn
nước khoáng phong phú, chất lượng như suối khoáng Kim Bôi, khoáng nóng xã Quý
Hòa (huyện Lạc Sơn), xã Ngọc Lương (huyện Yên Thủy)… là những điều kiện tốt để
phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng.
Có thể nói Cao nguyên Mộc Châu là nơi nổi bật nhất, tập trung nhiều nhất tài nguyên du
lịch của Sơn La với địa hình và khí hậu đặc trưng. Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mộc Châu đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030. Đây là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển Mộc Châu trở
thành một trung tâm du lịch lớn trong vùng và cả nước. Tại đây được định hướng tập
trung phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng, điều dưỡng chữa bệnh, du lịch tham quan
sinh thái, dã ngoại gắn với nông nghiệp, du lịch cộng đồng. Bên cạnh đó gắn với du lịch
giáo dục truyền thống cách mạng với tham quan di tích nhà tù Sơn La.
Yên Bái nổi tiếng với địa danh hồ Thác Bà – một biển hồ trong lòng Tây Bắc, Danh
thắng quốc gia ruộng bậc thang Mù Căng Chải, Vùng văn hóa Mường Lò… Trong đó,
hồ Thác Bà đã được quy hoạch là địa điểm có tiềm năng phát triển thành khu du lịch
quốc gia. Do vậy cần khai thác tối đa tiềm năng, tập trung phát triển mạnh loại hình du
lịch sinh thái ở hồ Thác Bà. Cần tiếp tục phát huy hiệu quả khai thác du lịch ở Mù Căng
Chải với loại hình du lịch thể thao bay dù lượn tại đèo Khau Phạ, tham quan thắng cảnh
ruộng bậc thang vào các thời điểm khác nhau trong năm.
Có thể thấy, trong số 6 tỉnh Tây Bắc thì Lai Châu có điều kiện khó khăn nhất trong phát
triển du lịch, là một trong số những tỉnh nghèo nhất, xa xôi, địa hình hiểm trở, không có
nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như các tỉnh khác, chưa có sản phẩm du lịch đặc
thù, làm du lịch ở quy mô nhỏ, lượng khách đến và nguồn thu từ du lịch còn rất thấp.
Trong bối cảnh đó, ngành Du lịch Lai Châu đã xác định văn hóa dân tộc Lự sẽ đóng vai
trò quan trọng tạo dấu ấn thực sự khác biệt trên tuyến du lịch “Vòng cung Tây Bắc” và
đã từng bước hỗ trợ Bản Hon xây dựng nghề dệt truyền thống. Một điểm du lịch đáng
chú ý nữa là bản Sin Súi Hồ cùng với văn hóa dân tộc Mông đã dần hình thành được mô
hình du lịch cộng đồng dù còn ở quy mô nhỏ nhưng được đánh giá là khá bài bản và
thuần khiết. Cùng với việc mở rộng khai thác các chợ phiên Sìn Hồ, San Thàng, các lễ
MSV: 1631390027

12


hội Hạn Khuống, Hoa Ban, Ném còn… thì phát triển du lịch cộng đồng sẽ là hướng đi
đúng đắn với Lai Châu. Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch mạo
hiểm chinh phục đỉnh cao với đỉnh Putaleng và đỉnh Mộc Lương Tử đều cao trên
3.000m… thu hút đối tượng khách thích chinh phục, thích “phượt” vốn đang là trào lưu
trong giới trẻ ở Việt Nam và du khách nước ngoài.
Mới đây, nhằm xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, thu hút nhiều khách du lịch,
đồng thời hướng tới Năm Du lịch Quốc gia 2017 Tây Bắc – Lào Cai, Tổng cục Du lịch
đã tổ chức đoàn famtrip cho gần 70 doanh nghiệp lữ hành và đại diện cơ quan thông tấn,
báo chí khảo sát Vòng cung Tây Bắc. Đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp lữ hành
khảo sát, tìm hiểu điểm đến và xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc và quảng bá vẻ
đẹp tiềm năng của Tây Bắc.
Về kết nối giao thông, Tây Bắc là vùng rộng lớn với địa hình hiểm trở, rừng núi chập
chùng, vì vậy để liên kết và phát triển du lịch về không gian thì điều kiện tiên quyết là
phải có sự kết nối của các tuyến đường giao thông thuận lợi. Tại Hội thảo “Thực trạng
và giải pháp thu hút khách du lịch đến vùng Tây Bắc” do Ban Chỉ đạo Tây Bắc và Bộ
VHTTDL phối hợp tổ chức ngày 15/4/2016 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận
tải Nguyễn Hồng Trường cho biết, thời gian tới, ngành giao thông vận tải tiếp tục thực
hiện nhiều giải pháp phát triển hạ tầng giao thông các tỉnh Tây Bắc đáp ứng nhu cầu
phát triển du lịch; đẩy nhanh tiến độ xây dựng một số tuyến đường có vốn đầu tư nước
ngoài; tiếp tục đầu tư các dự án mới…
Từ cuối tháng 9/2015, khi cao tốc Nội Bài - Lào Cai qua 5 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Yên Bái và Lào Cai đi vào hoạt động đã tạo ra tác động mạnh mẽ đến
hoạt động du lịch nói riêng, tạo đà dịch chuyển và góp phần thay đổi diện mạo kinh tế xã hội khu vực nói chung. Năm 2015, lượng khách du lịch đến Sa Pa tăng 1,5 lần, tăng
trưởng kinh tế của Lào Cai đạt 14,1%... Và dĩ nhiên, các địa phương nằm trên trục Nội
Bài – Lào Cai cũng sẽ được hưởng lợi khi cao tốc này đi vào vận hành. Đường cao tốc
này có ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao khả năng tiếp cận các tỉnh vùng Tây Bắc,
tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Với vị trí là một trọng điểm du lịch ở khu vực Tây Bắc, trong Hội nghị Xúc tiến đầu tư
và Phát triển du lịch tỉnh Lào Cai năm 2016, tỉnh Lào Cai đã kêu gọi đầu tư vào các dự
án tiềm năng như: Cảng hàng không Lào Cai; tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội tốc độ
cao; hoàn thiện tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai giai đoạn 2… Cũng trong hội nghị này
đã diễn ra hoạt động ký kết thoả thuận hợp tác phát triển du lịch giữa Lào Cai và các
tỉnh có thế mạnh về du lịch nhằm sẵn sàng phục vụ Năm Du lịch quốc gia 2017. Đây là
cơ hội lớn để Lào Cai bứt phá trong phát triển du lịch.
Về xúc tiến quảng bá, các cơ quan du lịch của địa phương thuộc vùng Tây Bắc cần tích
cực tham gia vào các hội chợ du lịch lớn ở trong và ngoài nước; Tận dụng sự hỗ trợ của
MSV: 1631390027

13


cơ quan du lịch quốc gia, các tổ chức trong và ngoài nước triển khai e-marketing, ứng
dụng công nghệ truyền thông, mạng xã hội để nâng cao hiệu quả quảng bá; tích cực tổ
chức đón các đoàn fam&presstrip đến khảo sát, xây dựng sản phẩm và quảng bá hình
ảnh Tây Bắc đến với du khách trong nước và quốc tế.
Về liên kết hợp tác, đây là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc phát triển du lịch
Tây Bắc. Việc liên kết giữa các điểm đến, các địa phương trong khu vực sẽ tạo ra được
những tour, tuyến du lịch độc đáo trên cơ sở khai thác những điểm đến nổi bật và khác
biệt của từng địa phương. Bên cạnh việc liên kết nội vùng, các tỉnh Tây Bắc còn cần
phải liên kết với những địa phương trọng điểm du lịch như Hà Nội, Quảng Ninh, Thành
phố Hồ Chí Minh và liên kết phát triển du lịch qua biên giới thu hút khách du lịch từ
Trung Quốc, Lào nhất là các địa phương có cửa khẩu quốc tế là Lào Cai, Lai Châu, Điện
Biên. Hệ thống doanh nghiệp làm du lịch ở các tỉnh Tây Bắc còn ít và chủ yếu quy mô
nhỏ nên bên cạnh việc tự nâng cao năng lực thì yếu tố liên kết có ý nghĩa rất quan trọng
để tận dụng thế mạnh của nhau về thông tin, sản phẩm, quảng bá…

Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, khối hợp tác phát triển du lịch 8
tỉnh Tây Bắc mở rộng với sự quan tâm của Trung ương, sự chủ động sáng tạo của
các địa phương trong vùng, sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức như Tổ chức phát
triển Hà Lan (SNV), Dự án EU… đã thu được những kết quả rất tích cực: Góp
phần phát triển du lịch bền vững, giảm nghèo cho các cộng đồng được hỗ trợ trực
tiếp từ phát triển du lịch; Hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và nhân
lực du lịch tại các địa phương 8 tỉnh; Xây dựng những sản phẩm du lịch đặc thù,
độc đáo, không trùng lặp ở các địa phương… mang lại những hiệu quả thiết thực
góp phần vào sự thúc đẩy phát triển du lịch vùng và của từng địa phương.
Phát triển nguồn nhân lực du lịch luôn là một trong những yếu tố quyết định của quá
trình phát triển du lịch, đặc biệt đối với các tỉnh Tây Bắc thì đây là một vấn đề then chốt
do du lịch cộng đồng, tìm hiểu văn hóa là một sản phẩm đặc thù và chủ lực của Tây Bắc.
Nguồn nhân lực phục vụ du lịch cộng đồng là người dân bản địa, am hiểu về văn hóa
bản địa và được đào tạo bài bản về nghề du lịch để bảo đảm du khách vừa được phục vụ
tốt vừa có được trải nghiệm nguyên bản về văn hóa địa phương. Cần bảo đảm cả hai yếu
tố này để tránh sự cực đoan hoặc là nguyên sơ quá không biết làm du lịch, hoặc là
thương mại hóa quá mất đi tính thuần khiết của văn hóa vùng cao. Bên cạnh đó, đội ngũ
cán bộ ngành Du lịch cũng cần được quan tâm nâng cao trình độ, kỹ năng, đặc biệt là
năng lực sáng tạo trong tham mưu xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, chuyên
nghiệp và tiếp cận với tri thức, công nghệ mới trong xúc tiến, quảng bá truyền thông.
Tây Bắc là khu vực miền núi có những đặc trưng riêng không thấy ở nơi nào khác trên
đất nước. Sự hấp dẫn của du lịch Tây Bắc đã được khẳng định trong nhiều năm qua và
MSV: 1631390027

14


luôn nằm trong danh sách điểm đến không thể bỏ qua của những du khách ưa thích sự
khoáng đạt, mạo hiểm muốn tìm đến thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ, trải nghiệm nguyên
bản về văn hóa. Nhưng mặt khác, Tây Bắc cũng là địa bàn nghèo, xa xôi, địa hình hiểm
trở, nhiều điểm đến khó tiếp cận, một số địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn trong
phát triển du lịch nói riêng và kinh tế, xã hội nói chung. Do vậy, sự quan tâm của Đảng,
Nhà nước, sự cam kết, chủ động sáng tạo của các địa phương, doanh nghiệp, sự liên kết
chặt chẽ của các bên liên quan, nhận thức và hành động của cộng đồng địa phương là
những yếu tố quyết định đến sự thành công trong phát triển du lịch Tây Bắc, góp phần
vào thúc đẩy kinh tế, xã hội của toàn khu vực.

CHƯƠNG II : TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT
TRIỂN CỦA VÙNG TÂY BẮC

“Du lịch từ lâu đã trở thành nhu cầu thiết yếu của con người, xuất hiện sau khi những
nhu cầu cơ bản đã được thoả mãn. Xã hội ngày càng phát triển, mức sống ngày càng
nâng cao thì nhu cầu du lịch sẽ ngày càng được mở rộng, và cũng từ đó, việc kinh
doanh du lịch ra đời và nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một
“ngành công nghiệp không khói”. Với mục đích thoả mãn tốt nhất cho khách du lịch,
trên thị trường hiện nay đã xuất hiện rất nhiều loại hình du lịch du lịch, như: du lịch
sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng - chữa bệnh….với nhiều chương trình
khác nhau, do những doanh nghiệp lữ hành khác nhau thực hiện. Để thu được lợi nhuận
cao nhất và khai thác được nhiều đối tượng khách du lịch nhất, các nhà lữ hành đã
không ngừng tìm tòi để phát hiện và ứng dụng những chương trình du lịch mới, đem đến
sự mới mẻ, làm sôi động, phong phú thêm cho thị trường du lịch Việt Nam và những
chương trình đó luôn được khách du lịch hưởng hứng nhiệt tình.
Từ thực tế những tour du lịch miền sông nước như: du lịch sinh thái sông Hồng, du lịch
sông nước Nam Bộ, du lịch Đông Tây Bắc….ra đời đã thu hút được số lượng lớn khách
du lịch, Một không gian Tây Bắc hùng vĩ, một hơi thở lịch sử trầm hùng, sẽ là một đề tài
hấp dẫn, một tour, tuyến thu hút.”
1.Tiềm năng của vùng Tây Bắc:
1.1.Điều kiện tự nhiên:
MSV: 1631390027

15


Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên
giới với Lào và Trung Quốc. Vùng này có khi được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ và là một
trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông
Bắc và Đồng bằng sông Hồng).. Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc gồm 6 tỉnh với diện
tích trên 5,64 triệu ha với 3,5 triệu dân
Hòa Bình
Sơn La (diện tích & dân số lớn nhất)
Điện Biên
Lai Châu
Lào Cai
Yên Bái
Mặc dù một số phần của Phú Thọ và 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái nằm ở hữu ngạn sông
Hồng, do dòng sông chạy qua giữa địa phận các tỉnh này, song phạm vi hành chính của
vùng Tây Bắc không bao gồm Phú Thọ, đôi khi 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái cũng được xếp
vào Đông Bắc Bộ. Tuy nhiên, hiện nay trụ sở của Ban chỉ đạo Tây Bắc nằm ở thành phố
Yên Bái, Yên Bái.
1.1.1.Không gian địa lý:
Không gian địa lý của vùng Tây Bắc hiện còn chưa được nhất trí. Một số ý kiến cho
rằng đây là vùng phía nam (hữu ngạn) sông Hồng. Một số ý kiến lại cho rằng đây là
vùng phía nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn. Nhà địa lý học Lê Bá Thảo cho rằng vùng
Tây Bắc được giới hạn ở phía đông bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn và ở phía tây là dãy núi
Sông Mã.
1.1.2.Đặc điểm địa hình:
Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây BắcĐông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao
trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m.
Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông
Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng
lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ
Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc
Châu, Nà Sản. Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh.

1.1.3.Lịch sử địa chất:
MSV: 1631390027

16


Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn
tiếp tục. Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và
dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển. Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng
trăm triệu năm. Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành
các tầng đá phiến và đá vôi. Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy
Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên. Địa máng sông Đà lúc đó vẫn
chìm dưới biển. Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai
bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành
những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên
tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay. Trong quá trình tạo núi, còn
có sự xâm nhập của macma. Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ
đến 1000 mét
Điều kiện khí hậu
Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sự biểu
hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Dãy núi
cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đóng vai
trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng đông bắc - tây nam)
vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có
hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo
đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam. Vì vậy, trừ khi
do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch
có thể đến 2-3 OC. Ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong
chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi
sườn tây tạo điều kiện cho gió "phơn" (hay quen được gọi là "gió lào") được hình thành
khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc. Nhìn chung, trong điều kiện của
trung du và miền núi, việc nghiên cứu khí hậu là rất quan trọng vì sự biến dạng của khí
hậu xảy ra trên từng khu vực nhỏ. Những biến cố khí hậu ở miền núi ang tính chất cực
đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái
hoá. Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ
quét; hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng
của cây cối Chiếm hơn 33% diện tích, gần 12% dân số cả nước với trên 2.574km đường

MSV: 1631390027

17


biên giới tiếp giáp với Lào và Trung Quốc,

1.2.Tiềm năng từng vùng:

1.2.1.Tỉnh Hòa Bình :
1.2.1.1.Vị trí địa lý- Diện tích tự nhiên:
Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng tây bắc Việt Nam, có vị trí ở phía nam Bắc
Bộ, giới hạn ở tọa độ 20°19' - 21°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông, tỉnh lỵ
là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 73 km.
Hòa Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng, Hòa Bình có địa
hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng tây bắc - Đông Nam,
phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía tây bắc có độ cao trung bình từ 600 –
700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng
núi thấp nằm ở phía đông nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh,
địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung
bình từ 100 – 200 m.
Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh phân bố tương đối đồng đều với các
sông lớn như sông Đà,, sông Bưởi, sông Lạng, sông Bùi...

MSV: 1631390027

18


Hòa Bình có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa đông phi nhiệt đới khô lạnh, ít mưa; mùa hè
nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23 °C. Tháng 7 có nhiệt độ cao
nhất trong năm, trung bình 27 - 29 °C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung
bình 15,5 - 16,5 °C.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km²,chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của Việt
Nam. Thu nhập bình quân đầu người: 1500 USD (tương đương 34.090.909 đồng)
(1/2016).

1.2.1.2.Điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch :
Hoà Bình được thiên nhiên ưu đãi có nhiều núi non, rừng nguyên sinh, hang động, sông,
hồ và nhiều khi bảo tồn thiên nhiên phong phú, đa dạng, nguyên sơ là những tiềm năng
lớn để phát triển các loại hình du lịch...
Đã hình thành nhiều địa danh du lịch hấp dẫn như suối nước khoáng Kim Bôi, khu mộ
cổ Đống Thếch; Chùa Tiên, hang nước huyện Lạc Thủy, bản Lác huyện Mai châu, bản
Mường Giang Mỗ, huyện Cao Phong… Hồ Hoà Bình đã được Bộ Văn hoá thể thao và
du lịch phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du miền núi Bắc bộ
thành "Khu du lịch Quốc gia" là những cơ hội to lớn cho Du lịch Hoà Bình phát triển.
Những nét độc đáo về văn hóa con người và thiên Hòa Bình đã góp phần đưa lượng du
lịch đến với tỉnh ngày một tăng.

(Bản Lác- mai Châu )
MSV: 1631390027

19


Địa hình đồi núi trùng điệp với các động thác Bờ, Hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng
nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo hiểm leo núi, đi bộ, săn
bắn, tắm suối. Sức người và thiên nhiên đã tạo cho Hòa Bình một vùng hồ sông Ðà thơ
mộng cho phép phát triển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán
đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn. Thấp thoáng các bản Mường, bản
Dao, bản Tày rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình.

Hòa Bình là một tỉnh có khá nhiều những suối nước khoáng nóng, những thung lũng
hoang sơ huyền bí. Tiêu biểu nổi bật như:
+Suối nước khoáng Kim Bôi với nguồn nước phun lên ở nhiệt độ 36 °C, đủ tiêu chuẩn
dùng làm nước uống, để tắm, chữa bệnh. Nước suối Kim Bôi đã được đóng chai làm
nước giải khát, nó cùng loại với nước khoáng Thạch Bích ở Quảng Ngãi, Kum-dua ở
Nga và Paven Barbia của Hungari.

+Thung lũng Mai Châu thuộc huyện lỵ Mai Châu là một thung lũng với đồng lúa và
những nếp nhà sàn được quy hoạch bảo tồn phục vụ du lịch.
MSV: 1631390027

20


+Đà Bắc- một huyện vùng cao thích hợp cho du khách tham quan du lịch sinh thái và
văn hóa. Đà Bắc với cảnh quan nguyên sơ yên ả, thơ mộng của thị trấn miền núi tây bắc.

MSV: 1631390027

21


+Những hang động thiên tạo đa dạng hình thù có đỉnh Phù Bua bốn mùa mây phủ. Có
bản Nanh, bản Nưa của người Mường, người Dao và xen kẽ một số gia đình người Thái,
với những mái nhà sàn cổ.

+Lương Sơn - huyện cửa ngõ của tỉnh Hòa Bình, nới tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ
sông Hồng và miền núi tây bắc, với vị trí chỉ cách Hà Nội khoảng 40 km tiện lợi về giao
thông, là nơi tập trung rất nhiều khu du lịch sinh thái, địa điểm giải trí.

MSV: 1631390027

22


Kết quả phát triển du lịch tỉnh giai đoạn 2006-2010. Tổng thu nhập du lịch đạt 1.119,5 tỷ
đồng (ước năm 2010 đạt 300 tỷ đồng), tăng trưởng bình quân 14%/năm. Tổng số khách
đạt gần 3,6 triệu người, trong đó khách quốc tế trên 30 vạn lượt người. Năm 2010 đạt
1,1 triệu lượt khách, quốc tế, 8,4 vạn lượt người, tăng trưởng bình quân 24,9%/năm.
Mặc dù vậy, việc khai thác tiềm năng này chưa xứng tầm để đem lại hiệu quả cao. Các
sản phẩm du lịch, dịch vụ chưa độc đáo. Tỉnh chưa có những nhiều cơ sở du lịch chất
lượng cao. Hòa Bình chưa lưu giữ du khách được nhiều ngày. Theo ông Ngô Trọng
Thược, Trưởng phòng Du lịch Sở VHTTDL: Phát triển du lịch chất lượng từ các nguồn
lực đầu tư của doanh nghiệp cao nhằm hút hút du khách là vấn đề tất yếu nhằm nâng cao
hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tỉnh đã khuyến khích các doanh nghiệp,
nhà đầu tư phát triển hạ tầng du lịch theo đó đến nay, toàn tỉnh hiện có 190 điểm và cơ
sở lưu trú du lịch. Trong đó có 24 khách sạn (1 khách sạn ba sao, 9 khách sạn 2 sao, 3
khách sạn 1 sao. Các điểm, cơ sở lưu trú du lịch tập trung ở TP Hòa Bình, Lương Sơn,
Lạc Thủy, Kim Bôi và Mai Châu.
Hòa Bình đã có một số trung tâm vui chơi hội họp như Trung tâm PLAZA Anh Kỳ,
khách sạn Lod- Mai Châu, Vesort Kim Bôi đã phát huy hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của
du khách có thu nhập. Gần đây các nhà đầu tư đã tổ chức khởi công được 2 khách sạn
tiêu chuẩn 4 sao nằm ở khu vực Cảng Nghiêng- TP Hòa Bình.
Ông Vũ Duy Bổng, Chủ tịch HĐQT công ty An Thịnh cho biết: Khách sạn 4 sao An
Thịnh Hoà Bình có diện tích 1,5 ha do công ty Line (Hàn Quốc) thiết kế, tổng mức đầu
tư 15 triệu đô la Mỹ, bố trí 107 phòng nghỉ tiêu chuẩn, 10 phòng nghỉ cao cấp, 02
phòng nghỉ đặc biệt và 01 phòng nghỉ tổng thống, có phòng họp VIP từ 30~50 chỗ, hội
trường lớn với quy mô 300 chỗ ngồi để sử dụng cho các sự kiện lớn của tỉnh Hoà Bình
và vùng Tây Bắc, hoặc cho tổ chức lễ cưới, sinh nhật hay các hoạt động khác, đồng thời
có thể tách thành 2 phòng có quy mô 150 chỗ ngồi /phòng và được liên kết trực tiếp với
không gian bên ngoài.
Khách sạn được bố trí khu vực nhà hàng ăn uống tại tầng 1 và tầng 2 đảm bảo phục vụ
trên 500 thực khách, bên cạnh đó còn có 03 phòng ăn VIP, mỗi phòng phục vụ 10 đến 20
khách. Khu vực bên ngoài sân vườn có 6 căn biệt thự (diện tích khoảng 50m2/căn) và
các bể bơi, quầy Bar ngoài trời, các khu vườn nhỏ, sân tập golf, sân tennis được bố trí
xen kẽ tạo nên sự phong phú và hài hoà trong quần thể không gian khách sạn, bên cạnh
đó còn có các lối đi bộ để du khách có thể dạo bên bờ sông hay đi tham quan các khu
vực xung quanh.
1.2.1.3.Thực trạng phát triển du lịch vùng :
Trong những năm qua, Hòa Bình luôn xác định việc khai thác các tiềm năng thế mạnh
để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tếxã hội của địa phương.
MSV: 1631390027

23


Hiện nay, Hòa Bình đang là điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách trong nước và quốc tế
với các khu điểm du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dương như: Sân gôn Phượng Hoàng,
Resorrt Vịt Cỏ Xanh thuộc huyện Lương Sơn; Thác Thăng Thiên thuộc huyện Kỳ Sơn;
Cửu thác Tú Sơn, V.Resort, Suối Khoáng nóng thuộc huyện Kim Bôi. Các điểm du lịch
tâm linh nổi tiếng như: khu du lịch Chùa Tiên huyện Lạc Thủy; điểm du lịch Đền Bờ,
Động Thác Bờ, thuộc các huyện Cao Phong, Đà Bắc. Các điểm du lịch cộng đồng đã thu
hát hàng ngàn lượt du khách mỗi năm như Bản Lác của người Thái, bản Poom Coọng,
bản người Mông ở Hang Kia, Pà Cò thuộc huyện Mai Châu, bản Mỗ của người Mường
thuộc huyện Cao Phong…cùng rất nhiều điểm thăm quan du lịch khác như các khu bảo
tồn thiên nhiên: Thượng Tiến thuộc huyện Kim Bôi, Pu Canh thuộc huyện Đà Bắc,
Ngọc Sơn- Ngổ luông thuộc các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn; Thăm Bảo tàng Không gian
Văn Hóa Mường, dộng Tiên Phi thuộc thành phố Hòa Bình… luôn là những điểm hấp
dẫn thu hút nhiều du khách.
Trong 6 tháng đầu năm 2013, ước tính đã đón khoảng 885.000 lượt du khách trong đó
có 150.000 lượt khách quốc tế.
Có thể khẳng định việc xây dựng và triển khai thực hiện các quy hoạch phát triển du lịch
của trung ương và của tỉnh; Các cơ chế chính sách ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư phát
triển du lịch được ban hành; Công tác tuyên truyền quảng bá giới thiệu các tiềm năng
thế mạnh về môi trường du lịch được tăng cường, Các biện pháp quản lý nhà nước về du
lịch được triển khai đồng bộ; Tích cực kiểm tra xử lý triệt để những hành vi gian lận,
tăng gia, chèo kéo, chèn ép khách du lịch trên địa bàn…đã tạo nên môi trường thân
thiện, văn minh, lịch sự đối với khách du lịch đến với Hòa Bình trong những năm qua.
Tuy nhiên một số vấn đề về vệ sinh môi trường như xử lý rác thải, nhà vệ sinh công
cộng đạt tiêu chuẩn vẫn chưa được một số cơ quan đơn vị doanh nghiệp du lịch quan
tâm. Nhận thức, ý thức giữ gìn môi trường văn hóa du lịch của người dân còn hạn chế,
hiện tượng chèo kéo, tăng ép giá khách du lịch vào các dịp Lễ, ngày cao điểm, chưa
niêm yết công khai giá dịch vụ của một số nhà hàng khách sạn vẫn diễn ra ở một vài
nơi; Việc sử dụng tài nguyên du lịch ở một số địa phương còn chưa hiệu quả…
Từ những thực trạng nêu trên đặt ra những nhiệm vụ và giải pháp đảm bảo môi trường
du lịch của Hòa Bình trong thời gian tới đó là. Cần nhanh chóng xây dựng Kế hoạch
triển khai thực hiện Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn
đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch Hòa Bình đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đưa khu du lịch hồ Hòa Bình
thành khu du lịch trọng điểm quốc gia; Tiếp tục có cơ chế chính sách ưu đãi hợp lý để
kêu gọi thu hút đầu tư và xã hội hóa về du lịch; Tăng cường phân cấp công tác quản lý
về du lịch cho cấp cơ sở để xây dựng được môi trường du lịch tốt cho phát triển du lịch
MSV: 1631390027

24


của địa phương; Tăng cường đầu tư xây dựng hoàn thiện các khu điểm du lịch và xây
dựng môi trường du lịch an toàn thân thiện; Thiết lập đường dây nóng để kịp thời tiếp
nhận và xử lý thông tin phản hồi từ khách du lịch, tiến tới thành lập Trung tâm tư vấn hỗ
trợ khách du lịch.
Bên cạch đó các cấp các ngành cần tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật
về đảm bảo môi trường du lịch; Tỉnh ban hành Chỉ thị để chỉ đạo các ngành, các cấp, các
địa phương triển khai các giải pháp đảm bảo môi trường văn minh du lịch, an ninh trật
tự, an toàn xã hội tại các khu điểm du lịch trên địa bàn tỉnh. Kiên quyết không để xảy ra
tình trạng cướp giật, chèo kéo, chèn ép, tăng gia khách du lịch; Phối hợp giữa các ngành
để thẩm định, kiểm tra và rà soát chặt chẽ các điều kiện trước khi cấp phép đối với các
cơ sở lưu trú, các nhà hàng, các phương tiện vận chuyển khách du lịch; Coi trọng việc
phòng chống cháy nổ, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường; Xây dựng các địa điểm dịch
vụ du lịch đạt chuẩn và thông báo công khai để tạo điều kiện cho du khách có nhiều cơ
hội lựa chọn.
Thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp nêu trên sẽ góp phần xây dựng môi trường
du lịch lành mạnh, tạo điều kiện cho du lịch Hòa Bình phát triển mạnh và bền vững. Hòa
Bình thực sự là điểm đến thân thiện, an toàn và hấp dẫn.

1.2.2.Tỉnh Sơn La:
1.2.2.1.Vị trí địa lí- Diện tích tự nhiên :
Sơn La là tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, tỉnh có diện tích 14.125 km² chiếm 4,27%
tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ 3 trong số 63 tỉnh thành phố. Toạ độ địa lý: 20039’ 22002’ vĩ độ Bắc và 103011’ - 105002’ kinh độ Đông.
Địa giới: phía bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu; phía đông giáp các tỉnh
Phú Thọ, Hoà Bình; phía tây giáp với tỉnh Điện Biên; phía nam giáp với tỉnh Thanh Hóa
và tỉnh Huaphanh (Lào); phía tây nam giáp tỉnh Luangprabang (Lào).
Sơn La có đường biên giới quốc gia dài 250 km, chiều dài giáp ranh với các tỉnh khác là
628 km. Toàn tỉnh có 12 đơn vị hành chính (1 thành phố, 11 huyện) với 12 dân tộc.
Phần lớn tỉnh Sơn La ngày nay (gồm thành phố Sơn La, huyện Mộc Châu, Yên Châu,
Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu) trước năm 1479 là lãnh thổ của vương quốc Bồn Man
(gồm Tương Dương, Kỳ Sơn của Nghệ An, Quan Hoa, Quan Sơn, Mường Lát của
Thanh Hóa, tỉnh Hủa Phan của Lào và phần lớn Sơn La).[cần dẫn nguồn] Năm 1479,
Sơn La chính thức được sáp nhập vào Đại Việt thời vua Lê Thánh Tông và thuộc Thừa
tuyên xứ Hưng Hóa.
1.2.2.2.Điều kiên phát triển du lịch :
MSV: 1631390027

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×