Tải bản đầy đủ

Hoạt động cho vay đầu tư của nhà nước tại ngân hàng phát triển việt nam chi nhánh đồng nai

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

LƯƠNG THỊ THÚY MAI

HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NHÀ
NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM CHI NHÁNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

LƯƠNG THỊ THÚY MAI

HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NHÀ
NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM CHI NHÁNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính, ngân hàng
Mã số: 60.31.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.,TS. Nguyễn Thị Nhung

TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2013


LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: LƯƠNG THỊ THÚY MAI
Sinh ngày: 29 tháng 3 năm 1976

Tại: Thái Bình

Quê quán: Xã Hồng Việt, Huyện Đông Hưng, Tỉnh Thái Bình
Hiện công tác tại: Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Đồng Nai - Đường
Nguyễn Ái Quốc - Phường Quang Vinh - Thành phố Biên Hòa - Tỉnh Đồng Nai.
Là học viên cao học khóa 13 - Lớp 13C1 Trường Đại học Ngân hàng Thành
phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính, ngân hàng.
Mã số: 60.31.12
Đề tài luận văn nghiên cứu: “Hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại
Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đồng Nai”
Người hướng dẫn khoa học: PGS.,TS. Nguyễn Thị Nhung
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.,TS. Nguyễn Thị Nhung. Các số
liệu sử dụng phân tích trong đề tài có nguồn gốc rõ ràng, được công bố theo quy
định. Các kết quả nghiên cứu trong đề tài được phân tích một cách trung thực,
khách quan và phù hợp với thực tiễn của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Đồng
Nai.


TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013
Tác giả

Lương Thị Thúy Mai


BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- CDB:

China Development Bank - Ngân hành Phát triển Trung Quốc

- DAPT:

Dự án phát triển

- DBJ:

Development Bank of Japan - Ngân hàng Phát triển Nhật Bản

- GDP:

Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

- KFW:

Kreditanstalt Fuor Wiederaufbau - Ngân hàng tái thiết Đức

- NHNN:

Ngân hàng Nhà nước

- NHPT:

Ngân hàng Phát triển

- NHTM:

Ngân hàng thương mại

- NSNN:

Ngân sách nhà nước

- TDĐT:

Tín dụng đầu tư

- TDXK:

Tín dụng xuất khẩu

- WTO:

World Trade Organization- Tổ chức thương mại thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Danh mục Bảng, biểu đồ, hình vẽ

Trang

Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa cho vay đầu tư của Nhà nước và cho vay đầu

5

tư của các ngân hàng thương mại
Bảng 2.1. Tình hình hoạt động của Chi nhánh NHPT Đồng Nai 2006-2012

29

Bảng 2.2. Tình hình thực hiện giải ngân cho vay đầu tư

32

Bảng 2.3. Cho vay theo thành phần kinh tế

35

Bảng 2.4. Cho vay theo thành ngành kinh tế

36

Bảng 2.5. Tình hình cho vay đầu tư

38

Bảng 2.6. Tình hình thu nợ cho vay đầu tư

42

Bảng 2.7. Tình hình thu lãi cho vay đầu tư

43

Biểu đồ 2.1. Doanh số cho vay đầu tư 2006-2012

33

Biểu đồ 2.2. Dư nợ cho vay đầu tư

38

Biểu đồ 2.3. Tình hình nợ quá hạn cho vay đầu tư

39

Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Chi nhánh NHPT

28

Đồng Nai


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài
Chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước là một trong những chính sách tín
dụng được thực hiện khá phổ biến ở các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển,
thông qua việc đẩy mạnh huy động các nguồn vốn và tập trung tài trợ có hiệu quả
cho các dự án đầu tư phù hợp với mục tiêu phát triển và thứ tự ưu tiên của Nhà
nước nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển của quốc gia.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một loại hình ngân hàng chính sách của
Nhà nước được Chính phủ giao thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng
xuất khẩu của Nhà nước. Hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước là một hình thức
của tín dụng đầu tư của Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh
tế, trong việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng
cao năng lực sản xuất cho các ngành then chốt, cũng như trong việc góp phần xoá
đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền. Tuy nhiên hoạt động
cho vay đầu tư của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đồng
Nai (sau đây được viết tắt là Chi nhánh NHPT Đồng Nai) trong thời gian qua đã bộc
lộ một số hạn chế nhất định, chưa thật sự là kênh tài trợ vốn tích cực cho nhu cầu
vốn đầu tư phát triển của Tỉnh, số dự án tham gia vay vốn đầu tư chưa nhiều; mức
độ đóng góp, thể hiện vai trò với địa phương trong lĩnh vực đầu tư dự án chưa cao,
đặc biệt là tham gia vào các chương trình phát triển của Tỉnh; còn nhiều tiềm ẩn rủi
ro trong hoạt động cho vay…
Vì vậy, đề tài "Hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh
NHPT Đồng Nai" được chọn nhằm phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên
nhân của những tồn tại, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động
cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Đồng Nai.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Để hoàn thiện luận văn tác giả đã tham khảo một số tài liệu có liên quan như
sau:


- Luận án Tiến sĩ “Tín dụng nhà nước đối với phát triển kinh tế các tỉnh Tây
Nguyên” của tác giả Vũ Mạnh Bảo (2011).
- Luận văn thạc sĩ “Mở rộng hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước tại
Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tiền Giang, của tác giả Trần Hữu
Đồng (2011).
- Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đầu tư của Nhà
nước của Chi nhánh Ngân hàng phát triển Long An” của tác giả Trần Trọng Hiếu
(2007)
Qua tham khảo một số đề tài trên cho thấy đề tài “Tín dụng nhà nước đối với
phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên” đi sâu vào phân tích cơ sở lý luận toàn bộ
hoạt động tín dụng Nhà nước ở tầm vĩ mô và thực trạng tại khu vực miền trung Tây
nguyên, hai đề tài còn lại cũng nghiên cứu về hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà
nước nhưng đi sâu vào phân tích những tồn tại, hạn chế mang tính đặc thù của từng
địa phương, chưa được nghiên cứu tại Chi nhánh NHPT Đồng Nai, trong khi thực
tiễn hoạt động cho vay đầu tư tại chi nhánh NHPT Đồng Nai còn nhiều tồn tại, hạn
chế cần tiếp tục hoàn thiện để có những đóng góp tốt hơn cho Ngành và cho Địa
phương. Vì vậy theo tác giả việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp đẩy mạnh hoạt
động cho vay đầu tư của Nhà nước tại chi nhánh Đồng Nai là cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh
NHPT Đồng Nai, để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho
vay đầu tư của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào 03 vấn đề:
- Khái quát cơ sở lý luận khoa học về cho vay đầu tư của Nhà nước được
thực hiện qua hệ thống Ngân hàng Phát triển (NHPT).
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại
Chi nhánh NHPT Đồng Nai.
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay
đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Đồng Nai


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi
nhánh NHPT Đồng Nai từ năm 2006 đến năm 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử được sử dụng, kết hợp sử dụng các phương pháp khác như phương pháp
thống kê, phương pháp so sánh, tổng hợp để phân tích thực trạng hoạt động cho vay
đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Đồng Nai
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản về cho vay đầu tư của Nhà nước, tác
giả phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi
nhánh NHPT Đồng Nai trong giai đoạn 2006-2012, tìm ra những nguyên nhân căn
bản cũng như những vướng mắc về cơ chế, chính sách, quy trình, thủ tục… làm ảnh
hưởng đến hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Đồng Nai.
Từ đó, đề ra một số giải pháp cũng như kiến nghị với các cơ quan chức năng và Chủ
đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh
NHPT Đồng Nai góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
7. Hạn chế của luận văn
Thực tế trong thời gian qua các dự án vay mới tại Chi nhánh NHPT Đồng
Nai khá ít nên tính khái quát của các kết luận rút ra từ kết quả thống kê chưa cao.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cho vay đầu tư của Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh
NHPT Đồng Nai.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay đầu tư của
Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Đồng Nai.


1

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC

1.1. CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về Dự án và Dự án phát triển
Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau
được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất
định [23].
Dự án phát triển (dự án phát triển - DAPT) là dự án trực tiếp tạo ra sản phẩm
chiến lược, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của ngành, vùng, thúc đẩy quá trình thay
đổi cơ cấu kinh tế hoặc cơ cấu thu nhập của nhiều bộ phận dân cư [4]. DAPT thường
có các đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, DAPT là những dự án lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế quốc gia: thực hiện chiến lược công nghiệp hóa (phát triển các ngành
công nghiệp, khu công nghiệp, đường giao thông), phát triển nông nghiệp và nông
thôn (phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn), chiến lược xuất khẩu hoặc thay thế hàng
nhập khẩu (phát triển các ngành kinh tế có lợi thế so sánh trên thị trường quốc tế),
chiến lược giảm đói nghèo, bản vệ môi trường.
- Thứ hai, DAPT nhằm tới hai mục tiêu: Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh
tế - xã hội: Các DAPT phải tạo ra thu nhập bù đắp toàn bộ chi phí và có lãi. Do đó,
các dự án này phải được thiết kế trên cơ sở tính toán được hiệu quả tài chính trực
tiếp. Khác với dự án thương mại, DAPT phải thực hiện các mục tiêu xã hội như
phát triển cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế…Chủ đầu tư thường là Nhà nước
(hoặc các cơ quan phát triển) nên việc thực hiện đa mục tiêu là tất yếu đối với
DAPT. Các mục tiêu trong một số trường hợp lại mâu thuẫn với nhau, hoặc làm
giảm độ lớn của nhau. Vì vậy chủ đầu tư phải xác định nhóm mục tiêu cơ bản, có
tính thống nhất cao.


2

- Thứ ba, DAPT nhận hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước: Do tầm quan trọng đối
với phát triển kinh tế - xã hội, DAPT thường nhận hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước, như
được ngân sách cấp vốn, được vay ưu đãi, được Chính phủ bảo lãnh khi vay vốn,...
1.1.1.2. Khái niệm cho vay
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn
tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay), trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính
cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt
động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay
gọi là con nợ [23]
1.1.1.3. Khái niệm Cho vay đầu tư của Nhà nước
Cho vay đầu tư của Nhà nước là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua hình thức
tín dụng để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một
số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững [9].
Cho vay đầu tư của Nhà nước không nhằm mục tiêu kinh tế đơn thuần mà
nhằm vào các mục tiêu rộng hơn, vừa có tính chất kinh tế, vừa có tính chất xã hội,
thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Thông
qua các mối quan hệ vay - trả, hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước chính là một
hình thức tín dụng nhằm đáp ứng các nguồn vốn cho ĐTPT; đồng thời, cho vay đầu
tư của Nhà nước còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển
được nguồn vốn cho ĐTPT. Cho vay đầu tư của Nhà nước là một công cụ của
Chính phủ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ
nhất định theo định hướng của Nhà nước.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò
đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, có tác dụng tích cực đáng kể
trong việc giảm bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn
vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là
người vay vốn phải tính toán kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức


3

cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu
hồi vốn trực tiếp.
1.1.1.4. Cho vay đầu tư của Nhà nước ở Việt Nam
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT Việt Nam) được Chính phủ giao
nhiệm vụ thực hiện chính sách tín dụng đầu tư (TDĐT) và tín dụng xuất khẩu
(TDXK) của Nhà nước.
Cho vay đầu tư của NHPT Việt Nam là một trong các hình thức TDĐT của
Nhà nước đối với các dự án đầu tư thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng,
chương trình kinh tế lớn và các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn cần khuyến khích
đầu tư theo quy định của Chính phủ [14].
Theo quy định hiện đang được áp dụng tại Nghị định 75/2011/NĐ-CP ngày
30 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về TDĐT và TDXK của Nhà nước thì TDĐT
của Nhà nước, bao gồm: Cho vay đầu tư và hỗ trợ sau đầu tư. Như vậy, Cho vay
đầu tư là một hoạt động của Chính sách TDĐT của Nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ
đầu tư có dự án đầu tư thuộc Danh mục các dự án vay vốn TDĐT được Chính phủ
ban hành trong từng thời kỳ, với các ưu đãi về lãi suất, về đảm bảo tiền vay, thời
hạn vay,...
NHPT Việt Nam thực hiện cho vay đầu tư theo quy định của Chính phủ căn
cứ kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm.
1.1.2. Đặc điểm cho vay đầu tư của Nhà nước
Cũng như các hình thức cho vay của các ngân hàng thương mại, cho vay đầu
tư của Nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa đối tượng đi
vay và bên cho vay, nhờ quan hệ ấy mà các nguồn vốn trong xã hội được vận động
từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền
kinh tế xã hội. Tuy nhiên, cho vay đầu tư của Nhà nước là hình thức tín dụng đặc
biệt, không nhằm mục đích kinh tế đơn thuần mà nó có những đặc tính sau:
- Về mặt kinh tế: Tính lợi ích kinh tế vừa thể hiện trực tiếp trên lợi tức tiền
vay, vừa được thể hiện gián tiếp dưới góc độ thụ hưởng các tiện ích từ các dự án


4

đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT của Nhà nước mang lại. Đồng thời, góp phần phát
triển kinh tế đất nước một cách bền vững theo đúng định hướng.
- Về mặt xã hội: cho vay đầu tư của Nhà nước sẽ tập trung vào các lĩnh vực
mà tín dụng ngân hàng không muốn đầu tư hoặc không thể đầu tư (do dự án đầu tư
có quy mô quá lớn, thời hạn cho vay dài, hiệu quả kinh tế đôi khi không được đảm
bảo,...) để giải quyết các vấn đề mang tính xã hội của đất nước như giải quyết việc
làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân,
đảm bảo an sinh xã hội,…
Với đặc tính vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội, bản chất của cho
vay đầu tư của Nhà nước thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, cho vay đầu tư của Nhà nước không vì mục tiêu lợi nhuận mà
nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý, điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Thứ hai, đối tượng vay đầu tư của Nhà nước bị giới hạn bởi các chương
trình, mục tiêu, định hướng và chủ trương đầu tư của Nhà nước.
Thứ ba, nguồn vốn để thực hiện cho vay đầu tư của Nhà nước là vốn Ngân
sách nhà nước và nguồn vốn huy động theo kế hoạch của Nhà nước, được Chính
phủ đảm bảo khả năng thanh toán.
Thứ tư, lãi suất cho vay là lãi suất ưu đãi do Nhà nước điều tiết phù hợp với
yêu cầu, đặc điểm cụ thể của đất nước và chủ truơng khuyến khích đầu tư, phát triển
xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Thứ năm, các định chế tài chính trung gian làm nhiệm vụ cho vay đầu tư của
Nhà nước là hệ thống cơ quan chuyên môn của Nhà nước, hoạt động như một ngân
hàng nhưng theo cơ chế quản lý riêng, không chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ngân
hàng Nhà nước.
Thứ sáu, cho vay đầu tư của Nhà nước rủi ro nhiều hơn. Do đối tượng cho
vay bị giới hạn theo danh mục quy định của Nhà nước, thời hạn cho vay dài (chịu
tác động diễn biến khó lường theo thời gian như: môi trường pháp lý, tác động
khủng hoảng, tác động do biến động thị trường tài chính tiền tệ...), lãi suất cho vay
thấp hơn lãi suất thị trường trong khi tài sản đảm bảo được ưu đãi hơn.


5

Như vậy, cho vay đầu tư của Nhà nước là công cụ tài chính của Nhà nước
nhằm hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tham gia đầu tư qua
đó thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Sự kết hợp hài hoà giữa lợi
ích kinh tế, chính trị và xã hội là bản chất của cho vay đầu tư của Nhà nước.
Tuy cùng là họat động trên nguyên tắc vay trả, nhưng do bản chất đặc thù
của mình, cho vay đầu tư của Nhà nước có những điểm khác biệt so với cho vay
đầu tư của các ngân hàng thương mại.
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa cho vay đầu tư của Nhà nước và cho vay
đầu tư của các ngân hàng thương mại (NHTM)
Chỉ tiêu so sánh

Cho vay đầu tư của Nhà
nước
Hoạt động không vì mục tiêu

1. Mục đích cho vay

lợi nhuận, vì mục tiêu phát
triển kinh tế- xã hội.

Cho vay đầu tư của NHTM

Hoạt động chủ yếu vì mục
đích lợi nhuận.

Hoạt động theo pháp luật
2. Luật điều chỉnh

riêng về TDĐT của Nhà Hoạt động theo luật các tổ
nước và luật các tổ chức tín chức tín dụng.
dụng
Rất rộng tùy theo chiến
Bị giới hạn theo danh mục lược kinh doanh của bản

3. Đối tượng cho vay

quy định của Chính phủ tại thân
từng thời kỳ.

ngân

hàng

trong

khuôn khổ pháp luật cho
phép.

4. Cơ quan quản lý
Nhà nước

Chính phủ trực tiếp quản lý

Ngân hàng Nhà nước trực
tiếp quản lý

5. Can thiệp của Nhà Chính phủ bảo đảm khả Giám sát thông qua luật các
nước

năng thanh toán

tổ chức tín dụng

6. Thời hạn cho vay

Trung, dài hạn

Chủ yếu là trung hạn.


6

7. Lãi suất cho vay

8. Xét duyệt khoản
vay

Thường thấp hơn lãi suất thị
trường.

Theo lãi suất thị trường.

Theo tiêu chí của ngân hàng
hoặc theo chỉ định của Theo tiêu chí của ngân hàng.
Chính phủ.
Chủ yếu tài sản hình thành Đa số ngân hàng đòi hỏi tài

09. Đảm bảo tiền vay

từ vốn vay nên giá trị thực tế sản đảm bảo hoặc được bảo
thường thấp hơn so với giá lãnh có giá trị hơn giá trị
trị khoản vay.

khoản vay.

Thủ tục phức tạp, tương tự
10. Thủ tục vay vốn

như dự án sử dụng vốn ngân Thủ tục đơn giản hơn.
sách Nhà nước.

1.1.3. Vai trò của cho vay đầu tư của Nhà nước đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, cho vay đầu tư của Nhà nước đóng vai trò rất
quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt là
các nước đang phát triển. Chúng ta có thể xem xét vai trò của cho vay đầu tư của
Nhà nước trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
1.1.3.1. Tài trợ vốn cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước là đầu tư xây dựng các
công trình trọng điểm quốc gia, đặc biệt là các dự án thuộc kết cấu hạ tầng. Những
công trình này có đặc điểm là: mức vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, tỷ suất sinh
lợi thấp hoặc không sinh lợi nên không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác. Trong
điều kiện thu ngân sách nhà nước (NSNN) có hạn thì TDĐT của Nhà nước chính là
giải pháp tích cực để giải quyết bài toán vốn đầu tư cho các dự án quan trọng này.
1.1.3.2. Cho vay đầu tư của Nhà nước là công cụ quan trọng của Nhà nước trong
điều tiết kinh tế vĩ mô
Cùng với các chính sách kinh tế khác như chính sách thuế, chính sách tiền
tệ… cho vay đầu tư của Nhà nước đã trở thành một công cụ đắc lực, hữu hiệu của


7

Nhà nước để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, thông qua việc cung cấp tín dụng
ưu đãi để phát triển các ngành, vùng, lĩnh vực kinh tế - xã hội cần ưu tiên phát triển
và cần có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Việc sử dụng nguồn vốn NSNN thông qua cơ chế cấp phát làm cho Nhà
nước sẽ phải chịu nhiều áp lực trong việc huy động nguồn vốn và tính hiệu quả của
việc sử dụng vốn ngân sách thông qua cơ chế này có khá nhiều bất cập. Nếu như
vấn đề này được giải quyết bằng cơ chế tín dụng thì hiệu quả từ việc sử dụng nguồn
vốn sẽ tăng lên và cải thiện vấn đề thâm hụt ngân sách, qua đó các nguy cơ về lạm
phát tiềm ẩn sẽ giảm thiểu. Thường các tổ chức tài chính và phát triển song phương
hay đa phương sẵn sàng ưu tiên cho các Ngân hàng Phát triển - tổ chức thực hiện
chính sách TDĐT của Nhà nước, huy động vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất thị
trường. Thông qua nguồn vốn dài hạn và chi phí thấp được huy động này có thể
giúp Nhà nước chủ động trong điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải
thiện tiềm lực tài chính quốc gia.
Mặt khác, việc thực hiện chính sách TDĐT của Nhà nước thông qua một tổ
chức tài chính trung gian chuyên biệt sẽ tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng
thương mại. Điều này có tác dụng khá tích cực trong việc hạn chế rủi ro của các
NHTM, vì chúng không còn bị buộc cung cấp quá sức các khoản tín dụng dài hạn
xét theo những tiêu chí đặc biệt.
Ngoài ra, giải quyết việc làm là vấn đề hết sức quan trọng và được Đảng,
Nhà nước rất quan tâm. Một trong những đối tượng được vay vốn TDĐT của Nhà
nước là các dự án đầu tư tạo thêm được nhiều chỗ làm việc mới. Khi thực hiện đầu
tư phát triển sản xuất, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế là thúc đẩy sản xuất phát triển,
tăng thu ngân sách, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế... còn tạo thêm nhiều việc
làm cho người lao động, góp phần ổn định xã hội.
1.1.3.3. Cho vay đầu tư của Nhà nước góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.


8

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu tất yếu trong quá trình thực hiện
công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở các quốc gia. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
luôn có sự đóng góp quan trọng từ nguồn vốn TDĐT của Nhà nước. Điều này được
thể hiện trên hai phương thức sau đây:
- Thứ nhất, nguồn vốn TDĐT của Nhà nước trực tiếp hỗ trợ các chương trình
kinh tế, các ngành, các dự án, các sản phẩm trọng điểm của đất nước nhằm nâng cao
tỷ trọng các ngành này trong GDP. Nguồn vốn ưu đãi này đặc biệt cần thiết trong
việc phát triển các ngành mới, công nghệ mới, vật liệu mới có khả năng tạo ra bước
đột phá, thúc đẩy các ngành, các sản phẩm khác phát triển.
- Thứ hai, nguồn vốn TDĐT của Nhà nước tác động gián tiếp tới quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phát
triển khoa học công nghệ, giáo dục, y tế... Kết cấu hạ tầng có vai trò hết sức quan
trọng, là điều kiện thiết yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Phát triển y tế, giáo dục vừa là mục tiêu của
phát triển kinh tế, vừa là giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong khi đó, khoa học công nghệ là
một bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất hiện đại, là yếu tố quyết định chất
lượng cũng như tính cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của cả nền kinh
tế.
1.1.3.4. Góp phần giảm tải cho NSNN và nâng cao hiệu quả đầu tư
Mặc dù chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội là
một nội dung chi rất lớn và quan trọng trong chi đầu tư phát triển của NSNN, nhưng
có một thực trạng chung hiện nay diễn ra ở hầu hết các quốc gia, là những dự án sử
dụng NSNN thường đầu tư dàn trải, không tập trung, vốn đầu tư bị thất thoát hoặc
sử dụng lãng phí, hiệu quả thực tế của dự án không thực sự được quan tâm … mà
nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do tâm lý ỷ lại vào sự bao cấp của
NSNN. Để khắc phục tình trạng này các quốc gia đều có xu hướng giảm mạnh chi
NSNN cho các dự án đầu tư phát triển có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Thay vì
được cấp phát hoàn toàn từ NSNN như trước đây, các dự án này sẽ được Nhà nước


9

đầu tư thông qua kênh TDĐT phát triển. Sở dĩ có xu hướng trên là do nguồn lực
NSNN còn hạn hẹp, mặt khác là nhằm khắc phục tâm lý trông chờ ỷ lại vào NSNN,
nâng cao hiệu quả, đồng thời hạn chế tình trạng thất thoát, lãng phí trong các dự án
đầu tư sử dụng vốn Nhà nước. Việc chuyển kênh đầu tư đối với các dự án có khả
năng thu hồi vốn trực tiếp từ sử dụng vốn NSNN sang sử dụng vốn TDĐT phát
triển là một việc tất yếu phải làm nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới cơ
chế quản lý NSNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách.
1.1.3.5. Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, cho vay đầu tư của Nhà nước góp phần hỗ trợ đổi
mới thiết bị, công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Từ đó góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, giúp cho
doanh nghiệp duy trì được thị trường truyền thống và mở rộng thêm thị trường mới.
Bên cạnh đó, cho vay đầu tư của Nhà nước còn hỗ trợ cho những doanh nghiệp hoạt
động trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn trong một thời gian
nhất định nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, tạo sự ổn định chung cho quốc gia.
1.2. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.2.1. Khái niệm về Ngân hàng Phát triển
Trong từng giai đoạn phát triển, mỗi quốc gia đều thành lập các tổ chức tài
chính chính sách, được coi là công cụ đặc biệt quan trọng của Chính phủ để thực
hiện các mục tiêu hướng tới lợi ích kinh tế - xã hội với các đối tượng phục vụ đặc
biệt và Ngân hàng Phát triển là một tổ chức tài chính như vậy.
Ngân hàng Phát triển là một ngân hàng đặc biệt được thành lập để phục vụ
cho những mục đích kinh tế và xã hội của Nhà nước. Sự xuất hiện ngân hàng này là
do phát triển không đồng đều giữa các khu vực khác nhau trong quốc gia, là điều
hiển nhiên của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường [6].
Tác giả Phan Thị Thu Hà, trong cuốn giáo trình Ngân hàng Phát triển đưa ra
khái niệm: “Ngân hàng phát triển là tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài
trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển” [4].
Như vậy có thể nói, NHPT ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài


10

hạn cho phát triển kinh tế đồng thời phải thực hiện đồng bộ các mục tiêu kinh tế xã hội phát triển có hiệu quả như thay đổi cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo
vệ môi trường…
1.2.2. Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Phát triển
1.2.2.1 Huy động và quản lý vốn
Một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng hiện nay là huy động
vốn. Tuy nhiên, đối với NHPT, vấn đề đặt ra là làm sao để huy động được vốn trung
và dài hạn với lãi suất bình quân thấp trong các điều kiện cạnh tranh giữa các tổ
chức tín dụng gia tăng, ổn định vĩ mô kém bền vững, khả năng tiết kiệm trung và
dài hạn của dân cư thấp... [4]
- Yêu cầu đối với nguồn vốn:
Nguồn vốn của ngân hàng phải đảm bảo mối liên hệ về kỳ hạn và lãi suất.
Lãi suất và kỳ hạn của nguồn bị tác động bởi kỳ hạn và khả năng sinh lời của dự án
được tài trợ. Với hoạt động chủ yếu là tài trợ các dự án dài hạn có khả năng sinh lời
thấp hoặc rủi ro cao, yêu cầu đặt ra đối với NHPT là phải có nguồn vốn hỗn hợp với
lãi suất thấp, thời gian sử dụng dài và chấp nhận rủi ro. Để thực hiện được yêu cầu trên
đòi hỏi phải kết hợp nỗ lực của ngân hàng và các điều kiện kinh tế, pháp luật phù hợp.
- Các hình thức huy động:
+ Huy động tiền gửi trên thị trường: Ngân hàng huy động tiền gửi ngắn,
trung và dài hạn, trong đó trung dài hạn là chủ yếu.
+ Ngân hàng phát hành giấy nợ trung và dài hạn: Thông thường, trái phiếu
NHPT phát hành là trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh.
Do vậy nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước muốn mua trái phiếu của
NHPT vì có tính an toàn cao, dễ chuyển đổi, lãi suất hấp dẫn.
+ Huy động các quỹ của Nhà nước (tài trợ của Nhà nước cho DAPT): Nhà
nước thường tài trợ cho DAPT thông qua NHPT để phục vụ chính sách phát triển
của Nhà nước. Một phần thu NSNN dành cho NHPT, viện trợ từ bên ngoài, hoặc
phát hành trái phiếu Chính phủ được chuyển cho NHPT.
+ Huy động các khoản tài trợ từ các tổ chức khác: Vì mục tiêu kinh tế - xã


11

hội trong hoạt động của NHPT có thể phù hợp với mục tiêu hoạt động của nhiều tổ
chức, nên ngân hàng có thể huy động các nguồn tài trợ của các tổ chức này cho
cùng một dự án.
+ Vay nước ngoài (song phương, đa phương hoặc các tổ chức tài chính phát
triển): NHPT tìm kiếm các khoản vay ưu đãi từ các tổ chức tài chính có mục tiêu
cho vay ưu đãi đối với các DAPT, ví dụ như WB, NHPT khu vực, NHPT của các
nước, hoặc các quỹ dành cho phát triển của Chính phủ tại các nước phát triển.
+ Vốn và quỹ của ngân hàng: Vốn được cấp từ Nhà nước hoặc từ các cơ
quan phát triển, các tổ chức tài chính phát triển, vốn cổ phần.
- Quản lý nguồn vốn:
Tìm kiếm và thực hiện tốt các biện pháp gia tăng quy mô nguồn vốn với lãi
suất thấp, kỳ hạn dài và ổn định là điều kiện sống còn của NHPT. Chiến lược nguồn
vốn của ngân hàng là khai thác triệt để các nguồn hỗ trợ từ Chính phủ, các tổ chức
tài chính, tiết kiệm trung và dài hạn của dân cư.
+ NHPT cho vay dài hạn là chủ yếu (từ 10 - 30 năm), trong khi nguồn vốn
huy động thường có kỳ hạn ngắn hơn, ngân hàng phải thực hiện một kỹ thuật quan
trọng là chuyển hoán các nguồn tiền, các kỳ hạn ngắn hơn sang kỳ hạn dài hơn.
+ Tính toán chi phí huy động nhằm đảm bảo nguyên tắc kinh doanh có lãi
hoặc ít nhất là đảm bảo hoàn vốn và bù đắp chi phí. Do hoạt động chủ yếu của
NHPT là tìm kiến dự án, thẩm định hiệu quả của dự án, sau đó mới tìm nguồn tài
trợ thích hợp nên chi phí nguồn bị giới hạn bởi khả năng sinh lời của dự án.
+ Quản lý thanh khoản: Với đặc điểm của NHPT, quản lý thanh khoản của
ngân hàng mang đặc trưng là quản lý nợ với nội dung chính là xác định thị trường
nợ của ngân hàng trong mối tương quan cạnh tranh với các ngân hàng khác.
1.2.2.2. Sử dụng vốn.
NHPT thực hiện mục tiêu kinh doanh thông qua sử dụng vốn, hình thành các
khoản mục tài sản của NHPT.
- Các loại tài sản:
+ Ngân quỹ: bao gồm tiền mặt trong két, tiền gửi Ngân hàng trung ương và


12

các ngân hàng khác. Ngân quỹ của NHPT thường chiếm tỷ trọng nhỏ.
+ Tài trợ ngắn hạn: Quy mô tài trợ ngắn hạn nhỏ, chủ yếu trong các dự án
phát triển mà do ngân hàng tài trợ trung và dài hạn.
+ Tài trợ trung và dài hạn (tài trợ theo dự án): Là hoạt động quan trọng của
NHPT, phản ánh mục tiêu và nội dung hoạt động chính của ngân hàng. Tài trợ các
dự án trong kế hoạch của Chính phủ và dự án tìm kiếm luôn được ngân hàng quan
tâm đặc biệt.
+ Các tài sản khác như đầu tư trực tiếp vào các ngành kinh tế, cho thuê.
- Quản lý tài sản:
+ Xác định ngân quỹ của ngân hàng trong mối quan hệ với nhu cầu thanh
khoản trong trung và dài hạn;
+ Quản lý rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái;
+ Quản lý các khoản cho vay và tính sinh lời của tài sản.
1.2.2.3. Các hoạt động khác
NHPT cung cấp dịch vụ bảo lãnh, tư vấn đầu tư, thanh toán... Là ngân hàng
chuyên doanh nên các hoạt động khác của ngâng hàng ít đa dạng hơn so với ngân
hàng thương mại.
1.3. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA
NHÀ NƯỚC
Cho vay đầu tư phát triển của Nhà nước ra đời khi mục đích của tín dụng nhà
nước chuyển từ chi tiêu công thuần túy sang đầu tư dưới dạng cho vay có hoàn trả.
Tính kinh tế của hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước xuất hiện khi các hoạt
động đầu tư được sử dụng từ nguồn vốn này phải tạo ra nguồn thu có khả năng hoàn
trả khoản vốn đã sử dụng. Tuy nhiên, cho vay đầu tư của Nhà nước lại là một hình
thức tín dụng đặc biệt, ở đó tính kinh tế của tín dụng nhà nước không phải là kinh tế
đơn thuần mà nó vừa mang tính vĩ mô: cho vay đầu tư của Nhà nước sẽ tập trung
vào các lĩnh vực then chốt, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, hoặc
một ngành, một vùng, hay một khu vực trọng điểm để tạo tác dụng lan tỏa trong
toàn nền kinh tế đồng thời nó mang tính xã hội: cho vay đầu tư của Nhà nước sẽ tập


13

trung vào các lĩnh vực mà tín dụng thương mại với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận
có thể không giải quyết được (do hiệu quả trực tiếp của nhà đầu tư không được đảm
bảo, hoặc qui mô nguồn vốn quá lớn, hay thời gian thu hồi vốn đầu tư quá dài); để
giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước: việc làm cho người lao động, xóa đói
giảm nghèo, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế vùng,... Chính vì vậy để
đánh giá việc cho vay đầu tư có hiệu quả hay không thường dựa vào một số tiêu chí
sau:
1.3.1. Sự đóng góp cho vay đầu tư của Nhà nước đối với phát triển kinh tế xã
hội
- Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển nền kinh tế.
- Góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, tăng thu ngân
sách Nhà nước.
- Tạo việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống của người
dân.
1.3.2. Quy mô hoạt động cho vay
Quy mô hoạt động cho vay thể hiện qua:
- Doanh số cho vay hàng năm.
- Tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay.
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ.
Ngoài ra, quy mô còn thể hiện ở chỉ tiêu mức vốn cho vay/dự án hàng năm.
1.3.3. Chất lượng hoạt động
Chất lượng hoạt động cho vay của các ngân hàng nói chung được thể hiện
qua tỷ lệ nợ quá hạn. Ngoài ra, phân loại dư nợ theo thành phần, ngành nghề sẽ thể
hiện tính đa dạng trong hoạt động và khả năng phân tán rủi ro của các khoản cho
vay, thu nhập từ hoạt động cho vay đầu tư.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ
CỦA NHÀ NƯỚC
Hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước chịu tác động của 3 nhân tố cơ bản,
gồm: Chính sách của Chính phủ về cho vay đầu tư của Nhà nước, Nhân tố về phía


14

tổ chức thực hiện chính sách (NHPT), Nhân tố về phía khách hàng (chủ đầu tư).
1.4.1. Chính sách của Chính phủ về cho vay đầu tư của Nhà nước
Cho vay đầu tư của Nhà nước là hình thức tín dụng khá đặc thù chịu sự điều
chỉnh của Luật riêng về chính sách TDĐT của Nhà nước và bị tác động một phần về
quản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước. Chính sách cho vay đầu tư
của Nhà nước sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình chính trị, pháp luật,
kinh tế - xã hội và điều kiện quốc tế... nên nhân tố chính sách của Chính phủ về cho
vay đầu tư của Nhà nước được xem là nhân tố tổng hợp của các nhân tố về chính trị,
pháp luật, kinh tế - xã hội và điều kiện quốc tế.
Chính sách về cho vay đầu tư của Nhà nước bao gồm chính sách trực tiếp, cụ
thể về cho vay đầu tư như về đối tượng, lãi suất, thời gian cho vay, mức vốn cho
vay, các điều kiện bảo đảm tiền vay và nguyên tắc quản lý và sử dụng vốn... và hệ
thống các chính sách có liên quan như chính sách về quản lý đầu tư và xây dựng,
chính sách về đấu thầu, xử lý rủi ro...
Sự ổn định và hợp lý của các đường lối, chính sách, các quy định, thể lệ của
nhà nước và các cơ quan chức năng sẽ tạo hành lang thuận lợi cho hoạt động của
ngân hàng cũng như doanh nghiệp, đó là tiền đề rất quan trọng để ngân hàng nâng
cao chất lượng tín dụng của mình.
1.4.2. Nhân tố về phía NHPT
Nhân tố về phía NHPT tác động đến hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước
có thể xem xét các khía cạnh sau:
- Tổ chức bộ máy và quy trình nghiệp vụ: Thể hiện qua việc tổ chức bộ máy
thực thi, các thủ tục hành chính và đặc biệt là hệ thống quy trình nghiệp vụ; bao
gồm cả yếu tố tổ chức quản trị nội bộ như việc tổ chức hệ thống thông tin giao tiếp,
các nguyên tắc quản lý giữa Hội sở chính và Chi nhánh.
- Nguồn vốn huy động: Đối với bất kỳ tổ chức tín dụng nào thì nhân tố nguồn
vốn huy động đều có tác động hết sức quan trọng, quyết định đến kết quả hoạt động.
Hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước chủ yếu là tài trợ cho các dự án dài hạn với
mức vốn cho vay lớn và lãi suất ưu đãi, nên NHPT phải đảm bảo huy động được


15

nguồn vốn lớn với kỳ hạn dài và chi phí thấp. Việc tìm kiếm và gia tăng quy mô
nguồn vốn với lãi suất thấp và kỳ hạn dài, ổn định là điều kiện để NHPT thực hiện
tăng trưởng quy mô cho vay đầu tư của Nhà nước.
- Nguồn nhân lực: đây được xem là yếu tố cực kỳ quan trọng quyết định sự
thành bại của bất kỳ tổ chức nào, đặc biệt là đối với hoạt động ngân hàng. Chất
lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua trình độ quản trị của cán bộ quản lý,
trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên, cơ cấu nhân sự, chính sách nhân sự,
khả năng thu hút nhân tài, chính sách phân phối thu nhập …
- Năng lực thẩm định và quản lý tín dụng:
Thẩm định cho vay vốn bao gồm 02 nội dung chính là thẩm định dự án đầu
tư và thẩm định năng lực tài chính và sản xuất kinh doanh của chủ đầu tư. Các dự
án vay vốn TDĐT đều là dự án đầu tư trung hoặc dài hạn, mức độ rủi ro cao,.. vì
vậy việc thẩm định có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định đến chất lượng tín
dụng, khả năng thu hồi vốn...
Năng lực quản lý, giám sát tín dụng, xử lý tín dụng: Quản lý, giám sát tín
dụng nhằm đảm bảo được chất lượng tín dụng như dự báo và hạn chế rủi ro, đảm
bảo cho việc đầu tư đúng mục đích, sử dụng vốn có hiệu quả, hạn chế nợ quá hạn,
nợ khó đòi. Đồng thời khi phát sinh nợ quá hạn, nợ khó đòi thì có biện pháp xử lý
kịp thời, tránh tổn thất cho cả bên vay và bên cho vay.
- Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ: Bao gồm trang bị về cơ sở vật chất, hạ
tầng công nghệ thông tin, hệ thống thanh toán...
- Chính sách marketing: Việc tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về chính sách
cho vay đầu tư của Nhà nước nói chung, hình ảnh của NHPT nói riêng một cách có
hiệu quả sẽ mang lại nhiều lợi ích cho NHPT, đó là việc thu hút được nhiều khách
hàng, nhiều dự án tốt... qua đó NHPT có nhiều cơ hội lựa chọn được khách hàng có
dự án tốt và thúc đẩy tăng trưởng về quy mô.
1.4.3. Nhân tố về phía khách hàng (chủ đầu tư)
Khách hàng là nhân tố quan trọng, quyết định đến hoạt động tín dụng của
một ngân hàng. Nhân tố về phía khách hàng vay vốn TDĐT của Nhà nước có thể


16

xem xét ở một số khía cạnh sau:
- Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của chủ đầu tư thể hiện ở khả năng
về vốn chủ sở hữu cũng như khả năng huy động các nguồn vốn để đầu tư dự án,
đảm bảo được các nguồn vốn cho dự án đi vào hoạt động theo dự kiến do nguồn
vốn cho vay đầu tư của Nhà nước là nguồn vốn đồng tài trợ cho dự án, chiếm tỷ
trọng lớn nhưng bên cạnh đó đòi hỏi phải có các nguồn vốn khác tham gia đầu tư để
nâng mức độ, trách nhiệm của Chủ đầu tư và hạn chế bớt rủi ro cho NHPT.
- Năng lực quản lý của chủ đầu tư: chủ đầu tư khi tiếp cận nguồn vốn TDĐT
của Nhà nước phải có năng lực thực hiện dự án theo quy định về quản lý đầu tư của
Nhà nước; đồng thời, chủ đầu tư phải có năng lực quản lý kinh doanh để đảm bảo
khả năng vận hành dự án có hiệu quả. Ngoài ra, năng lực của chủ đầu tư còn thể
hiện qua khả năng lập và thực hiện kế hoạch kinh doanh cũng như cung cấp thông
tin tài chính đáng tin cậy cho ngân hàng.
- Uy tín và hiệu quả kinh doanh trong quá khứ: Uy tín của chủ đầu tư trong
quá khứ, bao gồm là uy tín trong sản xuất kinh doanh, uy tín trong quan hệ tín
dụng... và hiệu quả kinh doanh trong quá khứ là nhân tố quan trọng. Đây cũng là
những thông tin quan trọng để ngân hàng đánh giá về năng lực sản xuất kinh doanh
của chủ đầu tư.
1.5. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả ở các nước phát triển đều thiết lập hệ
thống các ngân hàng chính sách (bao gồm các loại hình ngân hàng phát triển, ngân
hàng xuất nhập khẩu và một số ngân hàng chính sách khác) để thực hiện chính sách
tín dụng nhà nước (TDNN).
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện trên thế giới có khoảng 750 tổ chức trung
gian tài chính dạng ngân hàng chính sách gọi chung là các tổ chức tài trợ phát triển.
Một số tổ chức điển hình ở Châu Âu như Ngân hàng Tái thiết Đức, Ngân hàng Đầu
tư Châu Âu, Ngân hàng Phát triển Liên bang Nga… Ở Châu Á có: Ngân hàng Phát
triển Nhật Bản, Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, Ngân hàng Phát triển Singapore,


17

Ngân hàng Phát triển Malayxia, Công ty Tài chính công nghiệp Thái Lan, Ngân
hàng Phát triển Indonesia, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc,…[1]. Mục tiêu của
những ngân hàng này đều là tài trợ cho phát triển kinh tế bền vững thông qua những
chương trình, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn
việc làm, xóa đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề môi trường…
1.5.1. Khảo sát mô hình tổ chức thực hiện chính sách tín dụng nhà nước của
một số quốc gia
1.5.1.1. Ngân hàng Tái thiết Đức
- Lịch sử hình thành:
Ngân hàng Tái thiết Đức (KFW) là ngân hàng phát triển Đức thành lập năm
1948, sau khi Thế chiến II kết thúc và là một phần của Kế hoạch Marshall. Đây là
ngân hàng thuộc sở hữu của nước Cộng hoà Liên bang Đức (80%), hoạt động theo
luật đặc biệt [1], [23].
Mục đích ban đầu của KFW là cho vay các dự án dài hạn thuộc ngành công
nghiệp cơ bản như thép, than thông qua nguồn vốn đặc biệt được lập từ một phần
của Chương trình khôi phục châu Âu, nhằm tái thiết nước Đức sau chiến tranh mà
các tổ chức tín dụng khác không đủ khả năng tài chính. Sau đó, năm 1952 KFW bắt
đầu cho vay trung dài hạn tài trợ xuất khẩu; năm 1961, Luật KFW sửa đổi cho phép
KFW triển khai chương trình cho vay toàn diện trong nước nhằm phát triển các
vùng, thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án khác phục vụ nền
kinh tế cũng như bắt đầu chương trình cho vay vốn của Chính phủ Đức cho các
nước đang phát triển. Năm 1973, KFW bổ sung thêm chức năng bảo lãnh tín dụng.
- Mô hình tổ chức, hình thức sở hữu và quản lý:
Là một tổ chức tài chính của Liên bang Đức và được thành lập theo Luật
KFW nên KFW không chịu sự điều chỉnh của Luật Ngân hàng Đức. KFW do Bộ
Tài chính liên bang giám sát trực tiếp. Bộ Tài chính cũng là cơ quan có toàn quyền
thực hiện mọi biện pháp để đảm bảo KFW hoạt động theo đúng quy định pháp luật.
- Nguồn vốn và tài chính:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×