Tải bản đầy đủ

Phân tích chỉ tiêu y tế hộ gia đình việt nam

CHƯƠNG 1- GIỚI THIỆU
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các nội dung về: lý do chọn đề tài, mục
tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu đề tài để cung cấp những vấn đề mang tính
tổng quát về đề tài nghiên cứu.
1.1. Lý do chọn đề tài
Theo Grossman (1972a) sức khỏe là một phần của vốn con người. Con người
muốn học tập, làm việc, đóng góp vào sự phát triển xã hội phải có sức khỏe tốt. Vì thế,
đầu tư cho chăm sóc sức khỏe là rất quan trọng đối với một quốc gia.
Cùng với quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay, hệ
thống y tế đã được mở rộng và triển khai đồng bộ theo chương trình mục tiêu quốc gia,
người dân thuận lợi hơn khi tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản. Trong những năm gần
đây, dịch vụ y tế dần được nâng lên đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe mọi người.
Theo WHO (2014) trong giai đoạn từ 2004 đến 2012, tỷ trọng chi tiêu y tế của Việt
Nam có xu hướng tăng trong GDP: Từ mức 5,5% vào năm 2002 tăng 6,6% vào năm
2012. Gia tăng chi tiêu y tế trong GDP là yếu tố tích cực, song cấu trúc nguồn tài
chính bảo đảm cho các hoạt động y tế tại Việt Nam chưa phù hợp. Mặc dù tỷ trọng chi
phí từ tiền túi của hộ gia đình trong tổng chi cho y tế ở Việt Nam đang có xu hướng
giảm trong những năm gần đây nhưng con số này luôn luôn cao hơn 50% (Jahr,
2013).
Ngày nay, tỷ lệ mắc bệnh ở Việt Nam được phát hiện ngày càng cao. Theo số

liệu thống kê của Tổng cục Thống kê điều trị nội trú gia tăng từ 5,7% năm 2002 lên
7,3% năm 2012, tỉ lệ điều trị ngoại trú tăng từ 14,2% năm 2002 lên 36% năm 2012.
Điều này chứng tỏ hộ gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng chi
phí cho khám chữa bệnh mà đặc biệt là chi phí cho bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo. Khi
chi phí từ tiền túi của hộ gia đình bằng hoặc lớn hơn 40% khả năng chi trả của hộ gia
đình (là phần thu nhập còn lại của hộ gia đình sau khi đã chi cho lương thực, thực
phẩm) thì đó là chi phí y tế thảm họa. Tỉ lệ và số lượng các hộ gia đình ở Việt Nam
phải chịu chi phí y tế thảm họa và nghèo hóa do chi phí y tế năm 2010 tương đối cao.
Chi phí thảm họa năm 2010 là 3,9 % và 862.661 hộ. Nghèo hóa năm 2010 là 2,5% và
563.785 hộ (Jahr, 2013)
Trang 1


Việc ban hành Luật BHYT năm 2008 và các chính sách ưu đãi về chăm sóc sức
khỏe cho người dân trong nhiều năm qua là sự quan tâm của Chính phủ đối với mục
tiêu an sinh xã hội của nước ta. Tuy nhiên, theo dự báo của Tổng cục thống kê (2011)
thì chỉ số già hóa của Việt Nam sẽ tăng cao trong những năm tới, là thách thức không
nhỏ của ngân sách và cũng là gánh nặng tài chính của hộ gia đình.
Đề tài nghiên cứu “Phân tích chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam” phân
tích các yếu tố và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến chi tiêu y tế của hộ gia
đình. Và để khuyến khích người dân chi tiêu y tế chăm sóc sức khỏe, các nhà hoạch
định chính sách cần đổi mới cơ chế, xây dựng chính sách như thế nào, mang lại hiệu
quả trong thực thi nhằm giảm dần tỷ lệ chi tiêu y tế trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích và giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia đình
Việt Nam có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách nhằm phát huy
vai trò của hộ gia đình trong việc chia sẻ chăm sóc sức khỏe cộng đồng gắn với phát
triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập quốc tế. Đề tài tập trung vào các mục tiêu
sau:
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam.
- Mức độ tác động của các yếu tố lên chi tiêu y tế của hộ gia đình.
- Đề xuất một số giải pháp để chi tiêu y tế hiệu quả và nâng cao chất lượng
CSSK của hộ gia đình Việt Nam.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài nghiên cứu cần giải quyết các câu hỏi
sau:
- Quyết định chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam phụ thuộc vào những yếu tố
nào?
- Mức độ tác động của các yếu tố lên chi tiêu y tế của hộ gia đình như thế nào?
- Cần có những giải pháp gì để chi tiêu y tế hiệu quả và nâng cao chất lượng


CSSK của hộ gia đình Việt Nam?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến chi tiêu y tế của hộ gia đình
Việt Nam.
Trang 2


Đối tượng khảo sát là hộ gia đình Việt Nam do Tổng cục Thống kê điều tra về
mức sống hộ gia đình trong năm 2014 ( VHLSS).
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu về chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam bao gồm chi phí
khám chữa bệnh nội trú, khám chữa bệnh ngoại trú, các khoản chi mua BHYT, chi
mua dụng cụ y tế, thuốc điều trị, kể cả các khoản chi được nhà nước hỗ trợ trong năm
2014.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả xem xét các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu; xây dựng các
giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu để làm cơ sở cho việc phân tích. Phương
pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp định lượng để giải thích cho mô hình
nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến chi tiêu y tế của hộ gia
đình Việt Nam. Với dữ liệu phân tích là 9.397 hộ gia đình có chi tiêu y tế được trích
lọc từ bộ dữ liệu khảo sát mức sống của 36.081 hộ gia đình Việt Nam năm 2014.
1.6. Ý nghĩa đề tài
Đề tài kỳ vọng sẽ đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu về chi tiêu y tế của hộ
gia đình Việt Nam bởi tác động các yếu tố liên quan như: đặc điểm của hộ gia đình,
đặc điểm xã hội, điều kiện chăm sóc sức khỏe, sự hỗ trợ bên ngoài cho y tế. Thông qua
kết quả mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố lên chi tiêu y tế của hộ gia đình để
thấy các chính sách hiện nay của Nhà nước ta có liên quan đến các yếu tố đã tác động
đến việc chăm sóc sức khỏe cho người dân, từ đó tác giả đề xuất giúp cho các nhà
hoạch định có giải pháp, ban hành chính sách đáp ứng thực tiễn, đi vào cuộc sống,
khuyến khích người dân chi tiêu y tế hiệu quả hơn và nâng cao chất lượng CSSK của
hộ gia đình Việt Nam, giảm tỷ lệ chi từ tiền túi hộ gia đình theo xu hướng phát triển
hội nhập quốc tế.
1.7. Kết cấu luận văn
Luận văn nghiên cứu được trình bày theo năm chương. Các chương dự kiến
được trình bày như sau:
Chương 1- Giới thiệu: Nhằm giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao
gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối
tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu
của luận văn.
Trang 3


Chương 2- Cơ sở lý thuyết : Trình bày các khái niệm liên quan: Hộ gia đình,
chăm sóc y tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình, chi tiêu y tế của hộ gia
đình; Các lý thuyết : Lý thuyết nhu cầu của Maslow, lý thuyết nhu cầu sức khỏe, lý
thuyết lựa chọn của người tiêu dùng, hành vi ra quyết định chi tiêu y tế hộ gia đình,
các yếu tố tác động đến chăm sóc sức khỏe và chi tiêu y tế. Một số nghiên cứu trước
đây của các tác giả khác nhau có liên quan đến vấn đề chi tiêu y tế của hộ gia đình
cũng được trình bày trong chương này.
Chương 3- Phương pháp nghiên cứu: xây dựng hướng tiếp cận nghiên cứu.
Từ hướng tiếp cận và các lý thuyết trình bày ở chương hai sẽ xây dựng mô hình nghiên
cứu với các kỳ vọng phù hợp. Phương pháp nghiên cứu và cách đo lường các biến
trong mô hình nghiên cứu cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương này.
Chương 4- Phân tích kết quả nghiên cứu: mô tả đặc điểm của các biến trong
mô hình, kết quả nghiên cứu định lượng, những thảo luận từ kết quả nghiên cứu. Giải
thích rõ những yếu tố tác động đến quyết định chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam.
Chương 5- Kết luận và khuyến nghị : Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên
cứu, nhận xét rút ra từ những kết quả nghiên cứu được tóm tắt và đề xuất một số giải
pháp đối với chính sách y tế Việt Nam. Đồng thời, chương này cũng chỉ ra những hạn
chế trong đề tài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trang 4


CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này tác giả trình bày các nội dung về khái niệm và lý thuyết, những
nghiên cứu trước đây của các tác giả khác nhau có liên quan đến đề tài nghiên cứu về
chi tiêu y tế của hộ gia đình.
2.1. Các khái niệm
2.1.1. Hộ gia đình
Theo Bộ luật dân sự (2005), hộ gia đình bao gồm các thành viên có tài sản
chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, là
chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Trong một hộ gia đình,
chủ hộ là người đại diện trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha hoặc
mẹ hoặc các thành viên khác trong hộ đã thành niên đều có thể là chủ hộ.
Haviland (1999) cho rằng hộ gia đình là một đơn vị xã hội bao gồm một hay
một nhóm người ở chung (cùng hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ
có từ hai người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi
chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất khái niệm gia đình bởi
những người trong một hộ có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng,
hôn nhân với nhau.
Hộ gia đình trong VHLSS là một số người cùng chia xẻ chỗ ở, thu nhập, chỉ
tiêu ít nhất 6 tháng trong vòng 12 tháng. Đây cũng là khái niệm được sử dụng trong đề
tài nghiên cứu.
2.1.2. Chăm sóc sức khỏe (CSSK)
Chăm sóc sức khỏe là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử
dụng có quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ. Tuy nhiên không giống các loại dịch
vụ khác, CSSK có một số đặc điểm riêng: Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu
cầu CSSK mức độ khác nhau. Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên
người ta thường gặp khó khăn trong chi trả và các chi phí y tế không lường trước
được. Dịch vụ y tế là một loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) không thể
hoàn toàn tự mình chủ động lựa chọn dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào
bên cung ứng (cơ sở y tế). Cụ thể khi người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh, việc

Trang 5


điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định.
Như vậy, người bệnh có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó người chữa
cho mình chứ không chủ động lựa chọn phương pháp điều trị. Mặt khác, do dịch vụ y
tế là loại hàng hóa gắn liền tới tính mạng con người và mặc dù không có tiền nhưng
vẫn phải KCB (Lê Quang Cường, 2004 trích bởi Huỳnh Lưu Anh Phương, 2014).
2.1.3. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình
Nhu cầu CSSK là sự đòi hỏi, sự lựa chọn của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân
đối với các dịch vụ y tế vào mục đích chăm sóc sức khỏe hoặc khám chữa bệnh cho
bản thân hay người nhà một cách tự nguyện, phù hợp với điều kiện của họ. Họ sẵn
sàng chi trả mức phí sử dụng các dịch vụ y tế cho nhà cung cấp ( trung tâm y tế, bệnh
viện, cơ sở y tế tư nhân, các phòng khám) theo yêu cầu. Ngược lại các nhà cung cấp
dịch vụ y tế cần đầu tư cơ sở hạ tầng, trang bị máy móc, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến
hiện đại để đáp ứng nhu cầu đó. Nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) gắn liền với sự phát
triển kinh tế và trình độ phát triển của xã hội về mọi mặt, khi ngành y tế phát triển thì
nhu cầu KCB của nhân dân sẽ càng cao và rất đa dạng. Cuộc sống hiện đại ngày càng
được nâng cao kéo theo đó là tỷ lệ số người mang trong mình những căn bệnh hiểm
nghèo ngày một nhiều. Người ta dần quan tâm hơn đến sức khỏe của chính bản thân
mình và những thành viên trong gia đình. Mặt khác, ngày nay cùng với điều kiện phát
triển kinh tế xã hội của đất nước, người dân đã có ý thức hơn trong việc CSSK cho bản
thân và gia đình, khi gia đình có người ốm đau là họ đã lo lắng và đi KCB bằng hình
thức này hay hình thức khác (mua thuốc điều trị, đến trạm y tế xã, đến phòng khám tư,
đến bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, bệnh viện tư nhân...) tùy theo điều kiện của mỗi
hộ gia đình. Như vậy là nhu cầu CSSK của người dân trong những năm gần đây ngày
càng gia tăng, làm cho tình trạng quá tải các bệnh viện, nhất là các bệnh viện chuyên
khoa tuyến Trung ương ngày càng trầm trọng (Trần Đăng Khoa, 2013).
Heller (1982) giải thích rằng nhu cầu CSSK bao gồm hai yếu tố cơ bản: yếu tố
hành vi và yếu tố sinh lý. Nhu cầu KCB được điều trị bởi các cơ sở y tế với hy vọng
chữa khỏi bệnh. Nhu cầu KCB bị ảnh hưởng bởi yếu tố cảm nhận của cá nhân về sức
khỏe: tần số bệnh và yếu tố kinh tế làm nền tảng cũng như bất cứ loại hàng hóa thông
thường khác: thu nhập và giá cả thị trường. Tuy nhiên, chi tiêu y tế có tồn tại khác biệt
lớn về chất lượng của các dịch vụ y tế khác nhau. Điều này, phản ánh vai trò của yếu
tố kinh tế (Heller, 1982). Nhu cầu CSSK phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sự phổ biến của
Trang 6


các loại bệnh ở các vùng khác nhau và nhu cầu riêng biệt của từng bộ phận dân cư hay
dân tộc (PAHE, 2011).
2.1.4. Chi tiêu y tế của hộ gia đình
Theo Bộ y tế (2008), Chi tiêu y tế hộ gia đình là tổng số tiền hộ gia đình phải
chi cho tất cả các khoản có liên quan đến y tế bao gồm phòng bệnh, nâng cao sức khỏe
và khám, chữa bệnh. Chi tiêu y tế của hộ gia đình có thể là các khoản chi trả trước khi
bị ốm (mua BHYT), chi trực tiếp từ ngân sách của hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ y tế
(thanh toán viện phí, chi mua thuốc điều trị, …), chi phí gián tiếp liên quan KCB tại
các cơ sở y tế công và tư nhân.
Theo VHLSS, chi tiêu y tế của hộ gia đình là các khoản chi tiêu khám chữa
bệnh nội trú, khám chữa bệnh ngoại trú, các khoản chi mua bảo hiểm y tế, chi mua
dụng cụ y tế, thuốc tự điều trị… trong vòng 12 tháng trước khi khảo sát.
2.2. Cơ sở lý thuyết
2.2.1. Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Tháp nhu cầu của Maslow (Maslow’s hierarchy of needs) được nhà tâm lý học
Abraham H. Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A theory of
HumanMotivation.

Hình 2.1: Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow
Trang 7


Những nhu cầu của con người theo 5 tầng tháp, tầng đáy tháp là các nhu cầu cơ
bản, tiến lên cao hơn của tháp là những nhu cầu bậc cao. Khi các nhu cầu cơ bản được
thỏa mãn, con người có xu hướng muốn được thỏa mãn các nhu cầu cao hơn.
Tầng thứ nhất: Nhu cầu vật chất, đây là nhu cầu căn bản nhất trong 5 tầng nhu
cầu theo Maslow (Maslow, 1943).
Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn: nơi cư trú, môi trường về an ninh, chăm sóc
sức khỏe,..
Tầng thứ ba: Nhu cầu tình cảm xã hội, là nhu cầu bậc cao của con người. Con
người luôn mong muốn được sự quan tâm của các thành viên trong xã hội như gia
đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp,… khi đó họ tự tin hơn để khẳng định vai trò, vị
trí của mình trong xã hội.
Tầng thứ tư: Nhu cầu được tôn trọng, được đối xử bình đẳng, được tôn trọng
và được lắng nghe dù là người giàu hay nghèo, người lành lặn hay người khiếm
khuyết, nam hay nữ, trẻ con hay người già,…
Tầng thứ năm: Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển qua học tập, nghiên cứu,
lao động và sáng tạo để được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân và được xã hội công
nhận những đóng góp của chính bản thân.
Như vậy nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trong đề tài nghiên cứu là một
trong những nhu cầu ở tầng thứ hai của tháp Maslow.
2.2.2. Lý thuyết nhu cầu sức khỏe
Mô hình yếu tố quyết định cho sức khỏe được đề xuất lần đầu tiên bởi
Grossman (1972b, 1999). Tác giả lập luận rằng “sức khỏe tốt” là một mặt hàng được
sản xuất bởi cá nhân và nhu cầu chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc từ nhu cầu cho một
sức khỏe tốt (Grossman 1972b, 1999). Theo như lập luận trên, mặt hàng “sức khỏe
tốt” được xem là một phần của vốn con người. Mặt hàng này xác định tổng thời gian
mà cá nhân có thể phân phối cho hoạt động sản xuất trên thị trường hoặc lĩnh vực phi
thị trường (Wale, 2008). Grossman (1972b) đã xây dựng mô hình cá nhân sử dụng
dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dùng thời gian trong cuộc sống để tạo ra sức khỏe cho
chính mỗi cá nhân. Với mô hình xây dựng, Grossman (1972b) giả định các cá nhân có
thể đầu tư để tạo ra sức khỏe tốt cho đến khi chi phí cận biên của việc tạo ra sức khỏe
Trang 8


bằng với lợi ích cận biên của nó.Trong khi đó, tình trạng sức khỏe được giả định ảnh
hưởng trực tiếp đến thời gian hoạt động tạo ra thu nhập của mỗi cá nhân.
Grossman (1972b) cũng cho rằng tất cả các cá nhân được sinh ra với một sức
khỏe ban đầu. Sức khỏe này có hai đặc tính quan trọng: Thứ nhất, mất đi theo thời
gian; thứ hai, có thể tăng lên nhờ vào hành vi đầu tư cho việc chăm sóc sức khỏe. Các
thông số đại diện trong mô hình là tỷ lệ khấu hao (đại diện theo độ tuổi), chi phí đầu tư
vào y tế (thể hiện qua giá cả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe), mức thu nhập và trình độ
học vấn của mỗi cá nhân. Theo đó, nhu cầu sức khỏe tăng lên theo thu nhập, thu nhập
tăng lên đồng nghĩa với giá trị thời gian lao động tăng. Giáo dục cũng làm tăng cầu
cho sức khỏe. Một yếu tố được kỳ vọng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe chính là lối sống
của mỗi người. Lối sống thể hiện qua hành vi của mỗi người, người nào có hành vi tốt,
tuân thủ việc ăn uống điều độ, thường xuyên thăm khám sức khỏe,… sẽ có thể giữ
hoặc tăng sức khỏe, ngược lại có hành vi không tốt như thường xuyên hút thuốc, uống
rượu,… sẽ làm giảm sức khỏe của họ.
Theo Grossman (1972b, 1999) xây dựng hàm thỏa dụng như sau:
U = U (tHt,Zt),

t – 0,1,…,n

(2.1)

Trong đó:
Ht: Sức khỏe tại thời điểm t

t: Lợi ích tạo ra bởi một đơn vị sức khỏe
Ht= tHt: Sức khỏe đã tiêu thụ tại thời điểm t
Zt: Các hàng hóa tiêu thụ tại thời điểm t
n: Thời gian sống của một cá nhân
Grossman (1972b) tiếp tục xây dựng mô hình mô tả tình trạng sức khỏe thay
đổi khi được đầu tư như sau:
Ht+1 – Ht = It – tHt

(2.2)

Trong phương trình: It _ đầu tư chăm sóc sức khỏe; t_ tỷ lệ khấu hao của sức
khỏe tại thời điểm t, t thay đổi theo tuổi tác của con người.
Nguồn gốc Tt và Zt được tạo ra bởi các phương trình:
Trang 9


It = It (Mt, THt; E)

(2.3)

Zt = Zt (Xt, Tt; E)

(2.4)

Trong đó, Mt_ yếu tố đầu vào ghi nhận trong tổng đầu tư cho sức khỏe; THt_
thời gian dành do cải thiện sức khỏe; Xt_ các yếu tố đầu vào để sản xuất mặt hàng Xt;
E_ thành phần vốn con người.
Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cá nhân đều bị giới hạn bởi quy tắc nguồn lực
khan hiếm, trong trường hợp này là sự ràng buộc ngân sách và thời gian, vì vậy để sử
dụng nguồn lực một cách hiệu quả, các cá nhân phải cân bằng ngân sách và thời gian
của họ.



Pt M t  Qt X t
W TW
  t tt  A0
t
(1  r )
(1  r )

TWt+ THt+ Tt+ TLt = 

(2.5)

(2.6)

Trong đó:
Pt,Qt_ giá của Mt và Xt; Wt_; đơn giá tiền lương (tính theo giờ);TWt_ thời gian cá
nhân tham gia sản xuất; A0_ tài sản ban đầu của mỗi cá nhân tích lũy được.
TLt_ thời gian cá nhân không thể tham gia sản xuất do bệnh tật/chấn thương.
_ hạn chế của thời gian ( = 365 ngày, đối với trường hợp đặc biệt,  = 365
ngày).
Từ phương trình (2.1) đến phương trình (2.6) liên kết tạo thành mô hình
Grossman và xác định cầu sức khỏe. Cũng chính từ nhu cầu cho sức khỏe, con người
tiến đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe để duy trì các hoạt động của họ.
2.2.3. Lý thuyết lựa chọn của người tiêu dùng
Lý thuyết tiêu dùng thể hiện qua những quyết định lựa chọn tiêu dùng mang
tính duy lý cho các loại hàng hoá nhằm đạt được kết quả tối ưu với chi phí tối thiểu
(Scott, 2000). Đối với người tiêu dùng, sự ràng buộc trong ngân sách buộc họ phải lựa
chọn rổ hàng hóa để đảm bảo tối đa mức hữu dụng của mình (Mas-colell và cộng sự,
1995).
Max u(x)
Trang 10


ĐK: p.x 1
x = x(x1,x2,….xn): rổ hàng hóa tiêu dùng
p = p(p1,p2,….pn): giá của hàng hóa tiêu dùng
I: ngân sách của người tiêu dùng.
Với mức giá p quyết định bởi thị trường và ngân sách I cho trước, người tiêu
dùng sẽ phải lựa chọn tiêu dùng các hàng hóa sao cho 

I
p

. Để đạt được mức thỏa

thuận cao nhất họ phải lựa chọn sao cho = Ip . Điều này chỉ có thể thực hiện dựa trên
một số giả định như thông tin trên thị trường là hoàn hảo, hàng hóa có sự đồng nhất và
giá cả hàng hóa không có sự biến động đáng kể (giá được xem là một hàm tuyến tính).
2.2.4. Hành vi ra quyết định chi tiêu của hộ gia đình
Douglas (1983, trích bởi Đinh Thị Tâm, 2013) cho rằng hành vi ra quyết định
của hộ gia đình được thực hiện với những cân nhắc như sau:
- Quá trình ra quyết định chung của gia đình cần phải được cân nhắc trên cơ sở
nắm bắt nhu cầu của các thành viên nhằm mục tiêu tối đa hóa hữu dụng, tránh những
lựa chọn bất lợi.
- Việc ra quyết định của hộ gia đình không chỉ chịu tác động từ các thành viên
trong hộ mà còn chịu sự chi phối từ các yếu tố bên ngoài. Các nhân tố này có thể từ
người tư vấn, bán hàng hoặc các đối tượng khác có khả năng tác động đến việc ra
quyết định đó.
- Các điều kiện có liên quan đến hoàn cảnh, điều kiện sống, các chính sách quy
định nghĩa vụ hoặc quyền thụ hưởng mà hộ gia đình đang bị tác động cũng ảnh hưởng
đến hành vi ra quyết định của hộ gia đình.
2.3. Các yếu tố tác động đến việc chăm sóc sức khỏe và chi tiêu y tế
2.3.1. Các yếu tố tác động đến việc chăm sóc sức khỏe
PAHE (2011) nhìn nhận tình trạng sức khỏe không chỉ là vấn đề của cá nhân.
Trong hầu hết mọi trường hợp, tình trạng sức khỏe được quyết định bởi các yếu tố xã
hội. Theo đó, PAHE (2011, tr.11) đưa ra 14 lĩnh vực chính của các yếu tố xã hội quyết
Trang 11


định sức khỏe, bao gồm: Phân phối thu nhập, Giáo dục, An ninh việc làm (Tỷ lệ thất
nghiệp), Việc làm và điều kiện làm việc, Sự phát triển đầu đời của trẻ, An ninh lương
thực, Nhà ở, Loại trừ xã hội, Các mạng lưới an sinh xã hội, Các dịch vụ y tế, Dân tộc,
Chủng loại, Tình trạng khuyết tật .
2.3.2. Các yếu tố tác động đến việc chi tiêu cho y tế
Dựa trên 14 lĩnh vực chính của các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe trên của
PAHE (2011), UNFPA Việt Nam (2011) chia các lĩnh vực ra thành 4 nhóm yếu tố liên
quan, cụ thể bao gồm: nhóm yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học, nhóm yếu tố về đặc
điểm xã hội, nhóm yếu tố về điều kiện chăm sóc sức khỏe và nhóm yếu tố về tình
trạng nghèo.
Theo UNFPA Việt Nam (2011), nhóm yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học liên
quan chủ yếu đến tuổi tác, số lượng thành viên trong hộ gia đình, số lượng thành viên
không tạo ra thu nhập trong hộ gia đình. Các yếu tố thuộc về đời sống gia đình và văn
hóa được thể hiện qua tình trạng hôn nhân của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ và
đặc điểm kinh tế của hộ gia đình; Nhóm yếu tố về đặc điểm xã hội liên quan đến khu
vực cư trú (thành thị/nông thôn) của hộ và khu vực phân tách theo vùng địa lý – kinh
tế; yếu tố điều kiện chăm sóc sức khỏe liên quan đến việc sở hữu thẻ BHYT của các
thành viên và điều kiện dành cho chăm sóc y tế của hộ gia đình; Cuối cùng là nhóm
yếu tố về tình trạng nghèo bao gồm các yếu tố liên quan đến sự trợ cấp, hỗ trợ từ
Chính phủ hoặc các chương trình hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, đoàn thể trong và
ngoài quốc gia.

Trang 12


Hình 2.2: Các yếu tố tác động đến chi tiêu y tế của hộ gia đình
Điều kiện kinh tế
Thu nhập của hộ ( thu nhập bình quân của
các thành viên trong hộ)

Điều kiện nhân khẩu học
- Quy mô hộ
- Số người phụ thuộc trong hộ ( người già,
trẻ em)
- Đặc điểm chủ hộ (giới tính, tình trạng hôn
nhân, trình độ học vấn, dân tộc)

CHI
TIÊU
Y
TẾ
HỘ

Đặc điểm xã hội

GIA

Đặc điểm khu vực cư trú của hộ

ĐÌNH

Điều kiện chăm sóc sức khỏe
- BHYT
- Trợ cấp, hỗ trợ từ chính phủ, tổ chức, cá
nhân bên ngoài

Nguồn: Tổng hợp từ các tác giả
2.4. Mối quan hệ giữa nguồn lực gia đình và chi tiêu y tế của hộ
Theo lý thuyết kinh tế hộ gia đình do Becker đề nghị năm 1964 về việc mở rộng
mô hình Tân cổ điển về nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình. Becker (1964) đưa ra giả
định “tất cả các thành viên trong hộ gia đình đều tối ưu hóa độ thỏa dụng trên hàm lợi
ích của hộ gia đình”. Tất cả các nguồn lực sẵn có của hộ gia đình được gộp lại và sau
đó phân bổ theo một nguyên tắc chung nhằm tránh những sai lầm làm giảm lợi ích của
các thành viên trong hộ. Tuy nhiên, mô hình này không phù hợp trong trường hợp
phân bổ nguồn lực bên trong của hộ gia đình. Theo Behrman và cộng sự (1982), sự
Trang 13


phân bổ các nguồn lực bên trong hộ gia đình tùy thuộc vào người đứng đầu gia đình.
Behrman và cộng sự (1982) đã đề nghị mô hình phân bổ bên trong hộ gia đình với giả
định sự phân bổ nguồn lực của hộ tùy thuộc vào sở thích và quyết định của người đứng
đầu hộ gia đình nhưng các thành viên khác vẫn đạt được hiệu quả như mong muốn.
Tiếp theo, mô hình của Jacobson (2000) với giả định thu nhập của hộ được phân
chia theo tỷ lệ xác định cho trước đối với các thành viên trong hộ gia đình. Mỗi thành
viên phải tối đa hóa mức hữu dụng cho mọi lựa chọn chi tiêu của mình trong điều kiện
ràng buộc ngân sách. Áp dụng điều này cho chăm sóc sức khỏe, cho thấy mỗi thành
viên của hộ sẽ cố gắng để tìm được mức thỏa dụng cao nhất khi quyết định chi cho
chăm sóc sức khỏe. Trong trường hợp bày, họ sẽ phải cân nhắc giữa lợi ích khi chi tiêu
cho chăm sóc sức khỏe và chi phí bỏ ra để quyết định có nên dành ngân sách cho vấn
đề sức khỏe hay không.
Như vậy, thu nhập là một trong những nguồn lực quan trọng của hộ gia đình khi
quyết định chi tiêu chăm sóc y tế. Grossman (1999) một lần nữa khẳng định thu nhập
là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ. Bên cạnh thu
nhập, nghiên cứu của tác giả còn cho thấy yếu tố giáo dục cũng không kém phần quan
trọng trong quyết định chi tiêu y tế của hộ gia đình. Một số tác giả như Rout (2006),
Bolin và cộng sự (2000), Segall và cộng sự (2002) cũng chỉ ra rằng giáo dục và thu
nhập là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đến mức chi cho y tế của hộ. Ngoài thu nhập và
giáo dục, các yếu tố như quy mô hộ, số trẻ có trong hộ, đặc điểm của chủ hộ… đều ít
nhiều có ảnh hưởng đến mức chi tiêu chăm sóc y tế của hộ.
Những nghiên cứu thực nghiệm ở các nước đang phát triển cho thấy vai trò của
người đứng đầu hộ gia đình rất quan trọng. Sức ảnh hưởng từ người đứng đầu sẽ quyết
định một số vấn đề lớn phát sinh trong hộ, bao gồm cả chi tiêu y tế của hộ. Vì vậy,
người đứng đầu hộ được giáo dục tốt, có sự hiểu biết về sức khỏe và y tế thì sẽ quan
tâm đến sức khỏe của các thành viên trong hộ nhiều hơn và đương nhiên sẽ dành nhiều
ngân sách hơn cho chăm sóc sức khỏe của hộ (Lindelow, 2004).
2.5. Mối quan hệ giữa nguồn lực xã hội và chi tiêu y tế của hộ
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đặc điểm xã hội có mối quan hệ với chi tiêu y
tế của hộ gia đình. Ở mỗi vùng sẽ có những khác biệt về địa lý, đặc điểm dân số học,
phong tục tập quán nên chi tiêu y tế của hộ gia đình cũng có sự khác biệt. Nơi hộ gia
Trang 14


đình sinh sống, có thể là thành thị hoặc nông thôn, những khác biệt về mức độ phát
triển, cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực y tế của hai khu vực này dẫn đến sự khác biệt trong
chi phí chăm sóc y tế của hộ gia đình (Satayavongthip, 2001, Sen và Rout, 2007,
Trivedi, 2002).
Theo lý thuyết hành vi chi tiêu của hộ gia đình, chúng ta thấy rằng hành vi chi
tiêu cho y tế không chỉ bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm của hộ gia đình (như quy mô
hộ, tỷ lệ người phụ thuộc trong hộ, tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn
nhân của chủ hộ…) mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài liên quan đến
hoàn cảnh, điều kiện sống và các chính sách có liên quan đến lĩnh vực y tế của Chính
phủ.
Chi tiêu y tế hộ gia đình được tìm thấy có sự khác biệt giữa các vùng miền nơi
hộ sinh sống. Sự phát triển về điều kiện kinh tế xã hội của các vùng cũng như việc ban
hành các chính sách hỗ trợ (chính sách cho vay, chương trình hỗ trợ vốn ưu đãi, hỗ trợ
mua thẻ BHYT, khám chữa bệnh miễn phí…) cho khu vực đó đã tạo nên sự khác biệt
trong chi tiêu y tế của hộ (Giannoni và Hitiris, 2002; Nguyen Thi Hong Ha, Behrman
và Larsen, 2002; Francese và Romanelli, 2011; Magazzino, C và Mele,M, 2012).
2.6. Các nghiên cứu trước về chi tiêu y tế
- Nghiên cứu của Parker và Wong (1997) về tác động của thu nhập lên chi tiêu
y tế của hộ gia đình ở Mexico cho thấy thu nhập là yếu tố quyết định mức chi tiêu y tế
của hộ. Độ co giãn giữa thu nhập và chi tiêu y tế của hộ gia đình là rất lớn. Các yếu tố
phụ thuộc về đặc điểm hộ gia đình như tỷ lệ nữ giới trong độ tuổi từ 15-49, tỷ lệ trẻ em
có trong hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, điều kiện sinh hoạt của hộ có ảnh hưởng
đáng kể lên mức chi tiêu y tế của hộ. Ngoài các yếu tố nêu trên, khu vực cư trú của hộ
cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ.
- Trivedi (2002) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của cá nhân
và hộ gia đình ở Việt Nam giai đoạn 1997 - 1998. Với số mẫu quan sát là 8.081 cá
nhân sống ở Việt Nam trong giai đoạn 1997 – 1998, kết quả nghiên cứu cho thấy các
yếu tố quyết định mức chi tiêu y tế của cá nhân là tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn
nhân và sức khỏe của các cá nhân trong hộ. Với phân tích chi tiêu y tế ở cấp độ hộ gia
đình, tác giả sử dụng mẫu quan sát là 5.006 hộ. Bằng việc phân tích tổng hợp dữ liệu
của các cá nhân và ước tính tổng chi tiêu y tế của hộ gia đình trên đường cong Engel,
Trang 15


tác giả có thể kiểm soát được các biến như khu vực (thành thị/nông thôn), quy mô hộ,
giới tính, tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ, tuy nhiên phương pháp này không kiểm
soát được tình trạng sức khỏe của mỗi cá nhân trong hộ. Kết quả phân tích chỉ ra mối
quan hệ đặc biệt giữa thu nhập của hộ, tuổi và giới tính của chủ hộ với mức chi tiêu y
tế của hộ. Các yếu tố như trình độ học vấn của chủ hộ và quy mô hộ gia đình có tác
động không đáng kể lên mức chi tiêu y tế của hộ trong giai đoạn nghiên cứu này.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng khu vực sinh sống của hộ là một trong
những yếu tố quyết định mức chi tiêu y tế của hộ gia đình.
- Nghiên cứu của Haque, cộng sự (2010) về chi tiêu chăm sóc sức khỏe của hộ
gia đình ở Chittagong, Bangladesh cho thấy có mối tương quan nhỏ giữa tuổi, giới tính
và quy mô hộ với mức độ bệnh tật và chi tiêu y tế của hộ. Theo nghiên cứu này, yếu tố
ảnh hưởng lớn nhất đối với chi tiêu y tế của hộ là thu nhập và điều kiện sống của hộ
(điều kiện sinh hoạt, lối sống của người dân làm tăng nguy cơ mắc bệnh).
- Phong Nguyen và cộng sự (2010) sử dụng mô hình hồi quy đa cấp với bộ dữ
liệu 2002 nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia đình. Tác
giả sử dụng 4 nhóm biến liên quan đến quy mô và thành phần của hộ như quy mô hộ,
tỷ lệ người già, tỷ lệ trẻ em, tỷ lệ phụ nữ có trong hộ; nhóm địa điểm sinh sống của hộ
như khu vực thành thị/nông thôn, vùng kinh tế - xã hội; nhóm đặc điểm liên quan đến
chủ hộ (tuổi, tuổi bình phương, dân tộc, tôn giáo, số năm đi học của chủ hộ); nhóm
biến về điều kiện sinh sống của hộ (điện, nước sạch, nhà vệ sinh…). Hầu như các biến
đều có ảnh hưởng lên chi tiêu y tế của hộ gia đình trong giai đoạn nghiên cứu này.
- Le Phuong Thao (2011) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của
hộ gia đình Việt Nam năm 2006. Tác giả dùng dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình
trong phân tích tổng số quan sát nghiên cứu 9.189 hộ. Kết quả phân tích cho thấy
ngoài các yếu tố quyết định mức chi tiêu y tế của hộ như mức chi tiêu của hộ, quy mô
hộ, trình độ học vấn của chủ hộ thì mức chi tiêu y tế của hộ còn phụ thuộc vào trình
trạng sức khỏe của các thành viên trong hộ, việc sở hữu thẻ BHYT của các thành viên
trong hộ và khu vực sinh sống của hộ gia đình. Nghiên cứu cũng chỉ ra mức chi tiêu y
tế của hộ có độ co giãn rất lớn đối với chi tiêu của hộ. Theo đó, một hộ gia đình thuộc
nhóm chi tiêu cao sẽ chi nhiều hơn cho y tế so với hộ gia đình thuộc nhóm chi tiêu
thấp. Nghiên cứu phát hiện ra là hộ gia đình thuộc nhóm chi tiêu thấp (nghèo) có tỷ lệ

Trang 16


mắc bệnh cao hơn so với các nhóm khác và việc sở hữu thẻ BHYT là rất hữu ích đối
với nhóm hộ này.
- Nghiên cứu về tác động của tín dụng vi mô lên chỉ tiêu cho giáo dục và y tế
của người dân Việt Nam do Tinh Doan và cộng sự (2011) thực hiện. Với số mẫu
nghiên cứu gồm 411 hộ gia đình nghèo (có mức thu nhập dưới 6 triệu đồng/năm). Kết
quả nghiên cứu cho thấy tín dụng vi mô có tác động tích cực lên mức chi tiêu y tế của
hộ gia đình. Các hộ nghèo được hỗ trợ vay vốn sẽ có mức chi tiêu y tế nhiều hơn so
với các hộ nghèo tương tự nhưng không được vay.
- Chen và cộng sự (2011) trong nghiên cứu chi tiêu y tế của hộ gia đình khu
vực nông thôn Trung Quốc cho thấy thu nhập có mối quan hệ tích cực lên chi tiêu y tế
của hộ gia đình ở nông thôn. Ngoài ra, các đặc điểm hộ gia đình như quy mô hộ, tổng
số năm đi học trung bình của hộ, tỷ lệ thành viên nữ có trong hộ, tỷ lệ trẻ em, tỷ lệ
người già, tuổi, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ đều có tác động tích cực lên chi
tiêu y tế của hộ. Mức độ tác động mạnh nhất ở những hộ có quy mô lớn và có tỷ lệ
người già gia tăng, theo đó, cứ tỷ lệ người già tăng thêm 20% thì mức chi tiêu y tế của
hộ tăng lên 36%. Kết quả tương tự đối với nhóm yếu tố liên quan đến điều kiện chăm
sóc y tế hộ gia đình. Các yếu tố như việc sở hữu thẻ BHYT hay các chương trình trợ
giúp y tế của hộ gia đình đều cho thấy có mối quan hệ tích cực lên chi tiêu y tế của các
hộ gia đình trong mẫu khảo sát của tác giả.
- Sepehri và cộng sự ( 2011) nghiên cứu sự khác nhau về chi tiêu y tế của bệnh
nhân ngoại trú có và không có BHYT, có loại hình BHYT khác nhau, điều trị các cơ
sở y tế khác nhau trên dữ liệu VHLSS 2004, 2006 Việt Nam. Kết quả cho thấy bệnh
nhân ngoại trú loại hình BHYT hộ nghèo (HIP) phải chi tiêu y tế nhiều hơn các loại
hình BHYT bắt buộc (CHI) và loại hình BHYT tự nguyện (VHI), khám chữa bệnh ở
cơ sở y tế tuyến cao hơn sẽ chi tiêu y tế nhiều hơn, và BHYT mang lại lợi ích cho bệnh
nhân ngoại trú khám chữa bệnh tại tuyến xã, mà đó cũng lại là điều kiện tiếp cận thuận
lợi nhất cho người nghèo. Do đó cần có sự cải tiến chất lượng cơ sở y tế tại tuyến xã
để việc chăm sóc sức khỏe cho người dân tốt hơn nhất là đối với các nước có thu nhập
thấp.
- Trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế ở Ý, Magazino,
C và Mele, M (2012) cho thấy chi tiêu y tế là mặt hàng thiết yếu đối với người dân.
Kết quả cũng cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế ở góc độ vĩ mô bao gồm
Trang 17


tổng sản phẩm quốc gia (GDP) thực, tỷ lệ thất nghiệp, số giường bệnh, mức độ đô thị
hóa và tỷ lệ phần trăm dân số có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên, độ
tuổi trung bình của dân cư. Ngoại trừ biến giáo dục (tỷ lệ phần trăm dân số có trình độ
trung học trở lên) có tác động nghịch chiều với chi tiêu y tế thì các yếu tố còn lại đều
có tác động tích cực lên chi tiêu y tế. Trong số các biến, tổng sản phẩm quốc gia có tác
động mạnh nhất đến chi tiêu y tế của người dân.
- Lý Ngọc Linh ( 2014) nghiên cứu các yếu tố quyết định chi tiêu y tế của các
nhóm hộ gia đình Việt Nam năm 2012. Tác giả sử dụng tổng cộng quan sát cho nghiên
cứu là 9.399 hộ có liên quan chi tiêu y tế hộ gia đình. Với số liệu khảo sát của năm
2012, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố tác động đến quyết định chi tiêu y tế của
hộ phù hợp với nghiên cứu của Le Phương Thao (2011). Tuy nhiên nghiên cứu của Lý
Ngọc Linh khác với nghiên cứu Le Phương Thao (2011) đó là tỷ lệ người có thẻ
BHYT không làm giảm mức chi tiêu y tế của hộ gia đình, điều này không phù hợp với
mục tiêu của chính sách BHYT của Nhà nước ta; nhóm hộ thu nhập thấp và trung bình
của khu vực thành thị và nông thôn có sự khác nhau rất rõ về chi tiêu y tế. Chi tiêu y tế
vẫn là gánh nặng cho hộ gia đình, nhất là nhóm hộ nghèo.
- Sepehri & cộng sự ( 2006) nghiên cứu BHYT ở Việt Nam có làm giảm gánh
nặng tài chính gia đình không? Sử dụng số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm
1993 và 1998, kết quả chi tiêu y tế có gia tăng với thu nhập, người giàu nhất chi tiêu
gấp 5,7 lần so với người nghèo nhất (1.299.000VNĐ so với 228.000VNĐ). Người có
BHYT có xu hướng chi tiêu ít hơn cá nhân không có bảo hiểm. Ngược lại cá nhân ở
phân vị khá có BHYT sẽ chi cho y tế nhiều hơn 237% cá nhân không có BHYT ở
nhóm phân vị nghèo nhất. Bệnh nhân có BHYT chi tiêu ít hơn 3% so với bệnh nhân
không có BHYT. Tình trạng hôn nhân, thu nhập, tuổi tác, bệnh tật, tỉ lệ mắc bệnh, số
ngày bệnh tật có ảnh hưởng đến chi phí y tế. BHYT làm giảm chi tiêu tiền túi cho
người có thu nhập thấp nhiều hơn người có thu nhập cao.
- Một nghiên cứu gần đây của Chaudhuri và cộng sự ở Việt Nam, sử dụng số
liệu của Điều tra mức sống dân cư 1992 - 1993, 1997 - 1998 và 2002 đã cho thấy trong
các năm 1992 - 1993 và 1997 - 1998 các số chi trả đã tăng lên khi khả năng chi trả
tăng lên, tuy nhiên hệ quả về gánh nặng tài chính (tỷ lệ chi trả) lại giảm so với mức
tăng của khả năng chi trả, chứng tỏ là hệ thống tài chính y tế trong các năm này vẫn là
kém tiến bộ. Vào năm 2002 thì hệ thống đã tiến bộ với lượng chi trả tăng tỷ lệ thuận
Trang 18


với khả năng chi trả. Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng những người có trình độ văn
hóa cao hơn, hoặc sống ở thành thị, là nam giới thường ít cần tới các dịch vụ chăm sóc
y tế, có mức chi trả trực tiếp (OOP) ở mức thấp, trong khi những người có gia đình và
có con nhỏ dưới 6 tuổi thường sử dụng dịch vụ y tế nhiều hơn, và cũng có mức OOP
cao hơn. Người dân tộc thiểu số cũng có mức OOP thấp (Chaudhuri và cộng sự, 2008)
- ActionAid (2010) báo cáo nghiên cứu tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y
tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam ở địa
bàn 3 tỉnh Đắc Lắc, Hà Tĩnh và Lai Châu năm 2008 kết quả cho thấy rằng những đối
tượng có thu nhập thấp phần lớn lựa chọn cơ sở y tế công đối với các loại bệnh nặng vì
chi phí KCB thấp, độ tin cậy của các cơ sở y tế công cao hơn khi chữa các loại bệnh
nặng và cơ sở này chấp nhận BHYT. Chi phí KCB là rào cản lớn cản trở việc lựa chọn
dịch vụ từ cơ sở KCB ngoài công lập.
- Hjortsberg (2000) nghiên cứu về các yếu tố quyết định của hộ gia đình đến chi
tiêu y tế tại Zambia cho rằng: Tình trạng kinh tế hộ gia đình có tác động lên chi tiêu y
tế. Mô hình hồi quy tuyến tính với ba nhóm biến độc lập: Tình trạng kinh tế, đặc điểm
hộ gia đình và các biến tiếp cận. Trong đó, nhóm tình trạng kinh tế bao gồm: Tổng chi
tiêu hộ gia đình hàng tháng; Tổng chi tiêu hàng tháng cho thực phẩm hộ gia đình; Thu
nhập hàng tháng hộ gia đình; Mức độ nghèo nàn của hộ; Phải thuê mướn hay là được
sở hữu tài sản. Nhóm đặc điểm hộ gia đình: Giáo dục của chủ hộ; Tuổi chủ hộ; Giới
tính chủ hộ; Quy mô hộ gia đình. Nhóm biến tiếp cận: Khoảng cách đến cơ sở y tế gần
nhất; Phương tiện đi lại; Nơi sinh sống. Kết quả ước lượng hiển thị là tình trạng kinh tế
hộ và khu vực sống có tác động trực tiếp lên chi tiêu y tế đối với các hộ gia đình ở
Zambia. Tuy nhiên, khi xem xét sự khác biệt giữa ba nhóm hộ (nghèo, cận nghèo và
không nghèo) thì thấy rằng những hộ nghèo và cận nghèo rất nhạy cảm với chi tiêu
cho các nhu cầu khác trong đó có chi tiêu y tế hơn là chi tiêu cho thực phẩm so với các
hộ không nghèo. Ngoài ra kết quả ước lượng cũng chỉ ra tất cả các biến độc lập thuộc
nhóm biến tiếp cận có ảnh hưởng quan trọng đến chi tiêu y tế hộ gia đình, ngoài ra chi
tiêu y tế của hộ gia đình còn chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm nhân khẩu học, hộ gia đình
có số người đông có xu hướng chi nhiều cho y tế, mặt khác, tuổi của chủ hộ cũng là
yếu tố quan trọng cho chi tiêu y tế hộ gia đình.

Trang 19


2.7. Các nhân tố có khả năng tác động đến chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam
Dựa trên 14 lĩnh vực chính của các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe của PAHE
(2011), UNFPA Việt Nam (2011) chia các lĩnh vực ra thành 4 nhóm yếu tố liên quan,
bao gồm: nhóm yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học, nhóm yếu tố về đặc điểm xã hội,
nhóm yếu tố về điều kiện chăm sóc sức khỏe và nhóm yếu tố về tình trạng nghèo.
Nghiên cứu của Hjortsberg (2000) phân tích các yếu tố chi tiêu y tế của hộ gia
đình cho rằng có 03 nhóm biến: nhóm biến đặc điểm hộ gia đình, nhóm biến tình trạng
kinh tế, nhóm biến tiếp cận. Còn Le Phuong Thao (2011) khi nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam năm 2006 cho rằng có 04 nhóm
yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam. Mỗi tác giả khác nhau lại
có những cách phân loại khác nhau. Có tác giả chia làm 3 nhóm yếu tố nhưng cũng có
tác giả phân thành 4 nhóm yếu tố tác động đến chi tiêu y tế. Song, dù phân chia theo
cách nào thì nó vẫn không thay đổi bản chất của quan điểm.
Với cách tiếp cận từ lý thuyết, các nghiên cứu trước, bộ dữ liệu VHLSS năm
2014 cũng như đặc điểm hộ gia đình, đặc điểm xã hội, yếu tố điều kiện chăm sóc sức
khỏe, yếu tố về sự hỗ trợ từ bên ngoài, nghiên cứu cũng đề cập thành 04 nhóm biến có
khả năng tác động đến chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam, cụ thể như sau:
2.7.1. Nhóm biến đặc điểm hộ gia đình
(1). Nhân tố Chi tiêu bình quân đầu người của hộ
Trivedi (2002), Chen và cộng sự (2011), Parker và Wrong (1997), Haque và
Barman (2010) cho rằng chi tiêu y tế thông qua thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu
ảnh hưởng đến chi tiêu y tế. Tuy nhiên, việc sử dụng biến thu nhập để khảo sát đến chi
tiêu y tế ở Việt Nam thật sự không chính xác là bởi việc thống kê số liệu liên quan đến
thu nhập thường không đúng về thu nhập của họ.
Vũ Triều Minh (1999) cho rằng người được phỏng vấn trong các cuộc khảo sát
thường có chung đặc điểm là khai thấp thu nhập của họ ( trung bình từ 10 đến 20%) và
thu nhập có biến động lớn qua các năm, vì thế sẽ không phản ánh tốt điều kiện kinh tế
cơ bản của các hộ gia đình. Còn đối với chi tiêu của hộ thì ít bị sai lệch mà ổn định
hơn qua các năm nên có thể phản ánh tốt mức sống hộ gia đình Việt Nam.

Trang 20


Le Phuong Thao (2011), Lý Ngọc Linh (2014) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh
hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam năm 2006, 2012, tác giả cho rằng
yếu tố quyết định mức chi tiêu y tế của hộ chính là mức chi tiêu của hộ.
Chính vì vậy, tác giả chọn biến chi tiêu bình quân đầu người của hộ đưa vào mô
hình nghiên cứu để xem việc chi tiêu bình quân đầu người của hộ tác động như thế nào
đến chi tiêu y tế ở Việt Nam.
(2). Nhân tố Trình độ học vấn của chủ hộ
Magazino và Mele (2012) khẳng định trong nghiên cứu của mình về mối quan
hệ giữa giáo dục của chủ hộ gia đình có tác động quan trọng đến chi tiêu y tế, bởi vì
nếu chủ hộ có trình độ học vấn thì họ có khả năng biết các kiến thức về sức khỏe và y
tế để chăm lo cho hộ gia đình của mình.
Trivedi (2002) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia
đình ở Việt Nam giai đoạn 1997 – 1998 lại cho rằng trình độ học vấn của chủ hộ có tác
động không đáng kể lên mức chi tiêu y tế của hộ trong giai đoạn nghiên cứu này.
Tuy vậy, bài viết vẫn chọn biến trình độ học vấn đưa vào mô hình nhằm xem
xét trong năm 2014, khi điều kiện học tập đã được nâng lên thì trình độ học vấn sẽ tác
động như thế nào và mức độ ảnh hưởng của biến này ra sao đến chi tiêu y tế hộ gia
đình Việt Nam.
(3). Nhân tố Thành phần dân tộc của chủ hộ
Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có những đặc điểm về phong tục, tập quán
khác nhau. Dân tộc kinh tập trung nhiều ở vùng đồng bằng nên dễ tiếp thu văn hóa thế
giới vì vậy nhận thức của họ thường cao hơn các dân tộc khác. Ngược lại, người dân
tộc thiểu số thường sống rải rác ở những khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn, trình
độ dân trí thấp, kèm theo là sự khác biệt về tập quán sống khiến cho họ không muốn
hoặc không có điều kiện tiếp xúc với dịch vụ y tế.
Phong Nguyen và cộng sự (2010) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chi
tiêu y tế của hộ gia đình với bộ dữ liệu 2002, nghiên cứu cho thấy rằng dân tộc có ảnh
hưởng lên chi tiêu y tế của hộ gia đình trong giai đoạn nghiên cứu này.
Với bộ dữ liệu VHLSS khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2014 của
Tổng Cục Thống kê thì biến dân tộc liệu có còn tác động đến chi tiêu y tế trong giai

Trang 21


đoạn này hay không? và có phải là dân tộc kinh thì mức chi tiêu cho y tế sẽ nhiều hơn
các dân tộc khác?
(4). Nhân tố Tuổi của chủ hộ
Theo Blanchard (2005), tuổi của người lao động tính theo năm, nghiên cứu cho
rằng tuổi của chủ hộ có tác động đến chi tiêu y tế. Vì tuổi phản ánh khả năng nhận
thức lợi ích quan trọng của sức khỏe. Tuổi của chủ hộ càng cao thì nhận thức lợi ích về
sức khỏe của họ càng cao. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho rằng yếu tố độ tuổi tác
động rõ nét đến khả năng thích nghi với công việc và thu nhập của lao động. Ở mỗi độ
tuổi khác nhau thì khả năng thích nghi với công việc là khác nhau. Sự khác nhau về độ
tuổi cũng dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập do sự nghiệp phát triển, mức lương gia
tăng theo thâm niên công tác và từ đó tác động đến khả năng chi trả cho y tế của bệnh
nhân.
Kết quả nghiên cứu của Le Phuong Thao (2011), Phong Nguyen và cộng sự
(2010), về biến Tuổi của chủ hộ có giá trị dương cho thấy tuổi của chủ hộ có quan hệ
đồng biến với chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam.
Vì vậy, tác giả muốn tìm hiểu: Biến Tuổi của chủ hộ trong năm 2014 có phải là
một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở Việt Nam.
Hơn nữa, tác giả còn khảo sát tác động của biến Tuổi của chủ hộ đã bình phương để
xem xét có phải chăng khi tuổi càng cao thì chi tiêu y tế hộ gia đình càng cao khay
không?.
(5). Nhân tố Giới tính của chủ hộ
Người chủ hộ trong gia đình Việt Nam thường là nam giới, là người trụ cột, là
lao động chính và thường là có thu nhập cao hơn các thành viên khác trong gia đình.
Vì thế, bên cạnh là người đại diện cho các thành viên trong gia đình về mặt pháp lý,
chủ hộ thường là người quyết định về một vấn đề nào đó trong hộ gia đình. Tuy nhiên,
kết quả nghiên cứu của Nguyễn Công Toàn và Châu Mỹ Duyên (2015), cho thấy: Lao
động nữ đóng góp đến 65,0% sức lao động vào việc gia tăng thu nhập từ phi nông
nghiệp. Qua kết quả phân tích cho thấy, lao động nữ ngày càng khẳng định vị trí của
mình trong việc góp phần ổn định thu nhập và phát triển kinh tế hộ.
Kết quả nghiên cứu của Phong Nguyen và cộng sự (2010), Parker và Wong
(1997), Chen và cộng sự (2011) đều cho rằng biến giới tính của chủ hộ có tác động

Trang 22


đến chi tiêu y tế và nếu giới tính của chủ hộ là nữ thì mức chi tiêu sẽ nhiều hơn, bời vì
mặc dù, nam giới hầu hết là người quyết định về một vấn đề nào đó trong hộ gia đình
nhưng nữ giới mới là người quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của bản thân và gia
đình.
Từ những nghiên cứu của các tác giả nêu trên, đề tài này dự kiến đưa nhân tố
giới tính vào mô hình nhằm xác định xem liệu có sự khác biệt giữa nam và nữ trong
việc chi tiêu y tế ở các hộ gia đình Việt Nam?
(6). Nhân tố Tình trạng hôn nhân của chủ hộ
Sepehri & cộng sự (2006) nghiên cứu BHYT ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu
cho rằng tình trạng hôn nhân có ảnh hưởng đến chi phí y tế. Tác giả cho rằng khi chủ
hộ đã lập gia đình và hiện vẫn sống chung với nhau sẽ có điều kiện kinh tế và quan
tâm chăm sóc cho nhau nhiều hơn.
Như vậy, nhân tố Tình trạng hôn nhân của chủ hộ có phải là yếu tố tác động rất
mạnh vào việc làm tăng chi tiêu y tế ở các hộ gia đình Việt Nam không? Có phải khi
chủ hộ sống chung với vợ/chồng sẽ có điều kiện kinh tế tốt hơn từ đó chi tiêu y tế
nhiều hơn khi chủ hộ sống một mình cũng giống như các tác giả nghiên cứu thực
nghiệm trên đã chỉ ra.
(7). Nhân tố Tỷ lệ người phụ thuộc
Theo Lê Xuân Bá và cộng sự (2006), cho rằng khi tỷ lệ người ăn theo trên
người làm việc cao lên, sức ép về chi tiêu sẽ tăng lên (trong đó có chi tiêu về y tế)
nhiều hơn. Còn Theo kết quả nghiên cứu của Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh
(2014), sự gia tăng chi phí y tế điều trị dẫn đến tăng sự đa dạng hóa thu nhập. Khi các
thành viên của hộ gia đình có vấn đề về sức khỏe, họ có thể có khả năng cao hơn để
tìm kiếm các hoạt động đa dạng hơn như thu nhập tiền lương tại trang trại hoặc tìm
kiếm nguồn tài chính nhiều hơn để trang trải chi phí y tế.
Rout (2006), Bolin và cộng sự (2000), Segall và cộng sự (2002) chỉ ra rằng các
yếu tố như quy mô hộ, số trẻ có trong hộ đều ít nhiều có ảnh hưởng đến mức chi tiêu
chăm sóc y tế của hộ. Còn Chen và cộng sự (2011), Parker và Wong (1997) thì cho
rằng người phụ thuộc có tác động đáng kể đến chi tiêu y tế khi nghiên cứu các hộ gia
đình ở Mexico.
Trang 23


Còn ở Việt Nam thì sao? Liệu số người phụ thuộc tăng lên thì nhu cầu được
chăm sóc sức khỏe nhiều lên. Việc tăng tỷ lệ người phụ thuộc có phải là sức ép buộc
các hộ gia đình Việt Nam phải tăng chi tiêu y tế hay không?
2.7.2. Nhóm biến đặc điểm xã hội
(8). Khu vực sinh sống của hộ (thành thị/nông thôn)
Căn cứ vào địa chỉ đăng ký thường trú của chủ hộ để xác định hộ gia đình sống ở
khu vực thành thị hay nông thôn.
Himanshu (2006, 2007) nghiên cứu về các yếu tố tác động lên chi tiêu y tế hộ gia
đình tại bộ lạc và thành thị Orissa (Ấn Độ). Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác
nhau về chi tiêu y tế ở hai khu vực. Sự tác động của khu vực thành thì lên chi tiêu y tế
mạnh hơn ở khu vực bộ lạc và nông thôn. Lý do là vì thu nhập trên đầu người ở bộ lạc
và nông thôn thấp hơn thành thị. Kết quả nghiên cứu của Trivedi (2002) khi nghiên
cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của cá nhân và hộ gia đình ở Việt Nam giai
đoạn 1997 – 1998 cũng cho rằng khu vực sinh sống của hộ là một trong những yếu tố
quyết định mức chi tiêu y tế của hộ gia đình.
Hiện nay, mức sống và thu nhập các hộ gia đình Việt Nam ở nông thôn cũng đã
tăng lên. Bên cạnh đó, nhà nước ta đang thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới vì thế các huyện, xã tích cực chú trọng các nguồn lực của địa
phương đầu tư vào các công trình giao thông nông thôn, cơ sở y tế, bệnh viện ….Như
vậy, liệu có còn sự khác biệt chi tiêu y tế ở các hộ gia đình Việt Nam ở hai khu vực
thành thị và nông thôn hay không? Chi tiêu y tế ở khu vực thành thị có còn tác động
mạnh hơn những hộ gia đình sống ở nông thôn như kết quả thực nghiệm của các
nghiên cứu trước? Vì vậy, tác giả dự định sẽ đưa nhân tố khu vực sinh sống của hộ gia
đình vào mô hình nhằm để trả lời cho những câu hỏi trên.
2.7.3. Nhóm biến điều kiện chăm sóc sức khỏe
(9). Nhân tố Tỷ lệ thành viên có BHYT
Theo Le Phuong Thao (2011) với nghiên cứu : "Determinants of household
healthcare expenditure", một phân tích ở Việt Nam bằng cách sử dụng bộ dữ liệu
VHLSS 2006 đã cho chúng ta kết quả có rất nhiều yếu tố tác động đến chi tiêu y tế,

Trang 24


trong đó số người có BHYT trong hộ là một trong những yếu tố quan trọng tác động
đến chi tiêu y tế hộ gia đình Việt Nam.
Sepehri và cộng sự ( 2011) nghiên cứu sự khác nhau về chi tiêu y tế của bệnh
nhân có và không có BHYT trên dữ liệu VHLSS 2004, 2006 Việt Nam. Kết quả cho
thấy bệnh nhân có bảo BHYT cho dù loại hình nào đi chăng nữa đều có tác động đến
chi tiêu y tế, trong đó loại hình BHYT hộ nghèo chi tiêu y tế nhiều hơn các loại hình
BHYT bắt buộc và loại hình BHYT tự nguyện.
Tại khoản 5, Điều 1 Thông tư 41/2014/TTLT-BYT-BTC, có ghi: “Đối với hộ
gia đình tham gia BHYT tự đóng 100% mức đóng, nếu sau ngày 01/01/2015 tiếp tục
tham gia BHYT thì thực hiện cho cá nhân người đó hoặc theo hộ gia dình; những
người còn lại trong hộ gia đình chưa tham gia BYHT, khi tham gia BHYT thì bắt buộc
thực hiện theo hộ gia đình. Từ 01/01/2016 trở đi, toàn bộ những người có tên trong sổ
hộ khẩu hoặc sổ tạm trú phải thực hiện BHYT theo hộ gia đình”. Như vậy, theo thông
tư này có thể nói hiện nay tất cả các thành viên trong hộ đều có BHYT thì nhân tố tỷ lệ
thành viên có BHYT cần gì phải xem xét. Nhưng trên thực tế điều này là không đúng,
bởi vì vẫn có những hộ tất cả các thành viên đều không có BHYT hoặc có đi chăng
nữa thì chỉ là BHYT bắt buộc, hơn nữa bộ dữ liệu đang khảo sát năm 2014 khi thông
tư chưa ban hành. Vì vậy, đề tài đưa nhân tố tỷ lệ thành viên có BHYT vào mô hình
nhằm xem xét với tỷ lệ người có thẻ BHYT trong dữ liệu VHLSS năm 2014 tăng lên
có làm tăng chi tiêu y tế hay không?
(10). Nhân tố Số lần khám chữa bệnh nội trú
Theo điều 58 Luật khám bệnh, chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009 quy định
người khám chữa bệnh nội trú phải điều trị nội trú khi có chỉ định điều trị nội trú của
người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc có giấy chuyển đến cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác. Cũng theo điều 16 của
luật này, người bệnh phải có trách nhiệm chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh, trừ
trường hợp được miễn, giảm theo quy định của pháp luật. Như vậy, trong một năm số
lần các thành viên của hộ gia đình mắc bệnh phải điều trị nội trú càng nhiều thì chắc
chắc rằng số tiền chi trả chi phí phám bệnh, chữa bệnh cũng sẽ tăng lên. Hay nói khác
hơn là số lần khám chữa bệnh nội trú ít nhiều có tác động đến chi tiêu y tế như nghiên
cứu của Sepehri và cộng sự ( 2011) cho rằng khám chữa bệnh ở cơ sở y tế tuyến cao
Trang 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×