Tải bản đầy đủ

Phúc lợi xã hội trên thế giới quan niệm và phân loại

KINH TẾ HỌC-XÃ HỘI HỌC

PHÚC LỢI XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI:
QUAN NIỆM VÀ PHÂN LOẠI(*)
TRẦN HỮU QUANG

(**)

TÓM TẮT

Sự phát triển của các hệ thống phúc lợi xã hội là một trong những thành tựu lớn lao của nhiều
quốc gia trên thế giới trong thế kỷ XX. Kể từ nay, phúc lợi xã hội được nhìn nhận như là một
trong những quyền căn bản của con người trong một quốc gia văn minh và hiện đại. Bài viết này
lược thuật lại một số quan niệm chính về phúc lợi xã hội và một số lý thuyết phân loại các hệ
thống phúc lợi xã hội trên thế giới.
Sự phát triển của các hệ thống và các chương trình phúc lợi xã hội được xem là một trong những
thành tựu lớn lao nhất xét về mặt chính sách xã hội tại các quốc gia trên thế giới trong thế kỷ
XX. Điều có ý nghĩa cơ bản là kể từ nay, phúc lợi xã hội được nhìn nhận như là một trong những
quyền căn bản của con người trong một quốc gia văn minh.
Bài này sẽ điểm qua một số quan niệm chính về phúc lợi xã hội và một số lý thuyết phân loại các
hệ thống phúc lợi xã hội trên thế giới.

1. MỘT SỐ THUẬT NGỮ CÓ LIÊN QUAN
Những nội dung chính của bài này là một phần nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu Hệ thống phúc
lợi ở TPHCM với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
TPHCM (nay là Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM) do Trần Hữu Quang làm chủ nhiệm.
Tiến sĩ Xã hội học. Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ.
(*)

(**)

Xét về mặt từ vựng, trong cuốn Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2000 (Hoàng Phê chủ biên),
chưa có cụm từ "phúc lợi xã hội", cũng chưa có từ "an sinh" hay "an sinh xã hội", mà chỉ có từ
"phúc lợi". Phúc lợi trong cuốn từ điển này được đ nh nghĩa như sau: "Lợi ích mà m i ngư i
được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả một phần. Thí dụ: Nâng cao phúc lợi của nhân
dân. Các công trình phúc lợi (như nhà trẻ, lớp mẫu giáo, v.v.). Quỹ phúc lợi của xí nghiệp"
(Hoàng Phê, 2000, tr. 790). Đ nh nghĩa này chỉ nhấn mạnh tới khía cạnh mi n phí hay giảm phí
mà chưa đề cập tới những nội hàm của từ này, và chỉ nói một cách chung chung là "lợi ích". Có
lẽ cách hiểu này xuất phát từ quan niệm về phúc lợi trong mô hình quản lý theo phương thức kế
hoạch hóa tập trung trước đây, khi mà ngư i ta thư ng hiểu "phúc lợi" là phần thù lao bằng tiền
hoặc hiện vật mà ngư i lao động nhận được từ cơ quan hay xí nghiệp, ngoài phần tiền lương,
tiền phụ cấp và tiền thưởng, nhằm được hỗ trợ thêm về mặt đ i sống.


Thực ra, từ "phúc lợi" đã xuất hiện trong cuốn Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của Đào Duy
Anh,với một đ nh nghĩa ngắn g n: phúc lợi là "hạnh phúc và lợi ích (bonheur et intérêts)" (Đào
Duy Anh, 1957, tr. 137).
Từ phúc lợi tương ứng với từ welfare trong tiếng Anh, và đã được nhà xã hội h c Anh Gordon
Marshall đ nh nghĩa một cách khá đầy đủ như sau: welfare là "tình trạng hoặc điều kiện làm ăn
khấm khá (doing well) hoặc sinh sống đàng hoàng, hạnh phúc (being well)". Marshall nhận đ nh
rằng lúc đầu ngư i ta thư ng nói đến từ welfare khi cần có những biện pháp nào đó để bảo vệ
tình trạng phúc lợi của một cá nhân hay một nhóm nào đó; vì thế, từ này chủ yếu được sử dụng
trong lĩnh vực chính sách (policy), vì nó gắn trực tiếp với những nhu cầu: "Các chính sách phúc
lợi là những chính sách được thiết lập nhằm đáp ứng những nhu cầu của cá nhân hay của nhóm".
Theo Marshall, các nhu cầu ở đây cần được hiểu không phải chỉ có những nhu cầu tối thiểu để
sinh tồn, mà bao gồm cả những nhu cầu cần thiết cho một "cuộc sống tử tế và xứng đáng" (a
reasonable and adequate life). Các nhu cầu này bao gồm không chỉ một mức thu nhập tối thiểu
để có cái ăn, cái mặc, mà còn bao gồm nhà ở đàng hoàng, giáo dục, y tế và cơ hội có việc làm
(Marshall, 1998,tr.701-702).
Thuật ngữ "phúc lợi xã hội" trong tiếng Việt tương ứng với cụm từ social welfare trong tiếng
Anh; trong tiếng Hoa, ngư i ta cũng dùng cụm từ "xã hội phúc lợi" (phiên âm Hán Việt: 社會福利
hay 社会福利, shehui fuli) để nói về khái niệm này.


Theo chúng tôi, phúc lợi xã hội, hiểu theo nghĩa rộng, là hệ thống các định chế, các chính sách
và các hoạt động nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân, với mục
tiêu là làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống đàng hoàng, tử tế, xứng đáng với
phẩm giá con người. Hệ thống này bao gồm các lĩnh vực như: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, các chính sách trợ giúp xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn...)
và các chính sách cứu trợ xã hội (cứu trợ thiên tai, d ch bệnh...).
Còn thuật ngữ an sinh xã hội thì tương ứng với cụm từ social security ; trong tiếng Hoa, ngư i ta
dùng cụm từ "xã hội bảo chướng" (phiên âm Hán Việt: 社会保障, shehui baozhang)(1). Trong thực
tế, trong các tài liệu Anh ngữ, đôi lúc ngư i ta cũng sử dụng hoán chuyển nhau giữa thuật ngữ
social welfare với thuật ngữ social security. Tuy nhiên, thuật ngữ social security (an sinh xã hội)
thư ng được hiểu theo nghĩa hẹp hơn thuật ngữ social welfare (phúc lợi xã hội), và chỉ bao gồm
hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội.
Còn có một thuật ngữ nữa cũng thư ng được sử dụng phần nào tương ứng với hai thuật ngữ phúc
lợi xã hội hoặc an sinh xã hội, đó là cụm từ social protection. Trong tiếng Việt, có ngư i d ch là
"bảo đảm xã hội", nhưng cũng có ngư i d ch là "bảo vệ xã hội" hay "bảo trợ xã hội"(2). Theo thiển
ý chúng tôi, có lẽ nên d ch thuật ngữ social protection là sự bảo hộ của xã hội (hay nói g n là sự
bảo hộ xã hội) thì thích hợp hơn. Ngư i ta thư ng hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng, tức là bao
gồm hệ thống an sinh xã hội (social security) và hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội (social
assistance) và các chính sách cứu trợ xã hội (social relief).
Bảo hiểm xã hội (social insurance) là thuật ngữ thư ng được dùng để chỉ một chương trình quốc
gia mang mục tiêu cung ứng một số d ch vụ xã hội cơ bản, do nhà nước trực tiếp đứng ra t chức
hoặc bảo trợ. Nguyên tắc của hệ thống này là sự chia sẻ chi phí tài chính giữa các thành viên
nhằm đối phó với những hoàn cảnh bất trắc như bệnh tật, mất việc làm, tu i già... Đối tượng của
hệ thống này là một số tầng lớp dân cư nhất đ nh, với nguồn ngân sách thư ng là từ tiền thuế
và hoặc tiền phí đóng góp của những ngư i tham gia. Hệ thống này thư ng mang tính cưỡng
bách (do nhà nước bắt buộc), nhưng cũng có hệ thống mang tính tự nguyện.


Có một số điểm khác biệt sau đây giữa bảo hiểm xã hội với bảo hiểm tư nhân: a) bảo hiểm xã hội
thư ng mang tính chất bắt buộc, trong khi bảo hiểm tư nhân thư ng mang tính tự nguyện; b) việc
cung ứng các d ch vụ trong hệ thống bảo hiểm tư nhân dựa trên sự thỏa thuận giữa nhà bảo hiểm
với ngư i được bảo hiểm thông qua một bản hợp đồng, trong khi đó hệ thống bảo hiểm xã hội
thư ng dựa trên các chế độ và chính sách đối với từng tầng lớp dân cư nhất đ nh, tức là dựa trên
quyền được hưởng trợ cấp của ngư i được bảo hiểm; c) bảo hiểm tư nhân thư ng nhấn mạnh
đến tính chất công bình (equity) giữa các cá nhân mua bảo hiểm, còn bảo hiểm xã hội thì thư ng
nhấn mạnh nhiều hơn tới tính chất thỏa đáng (social adequacy) của các khoản trợ cấp đối với
m i thành viên tham gia.
Thuật ngữ nhà nước phúc lợi trong tiếng Việt được d ch từ thuật ngữ welfare state trong tiếng
Anh hay État providence trong tiếng Pháp. Thuật ngữ tương ứng trong tiếng Hoa là 福利国家 (fú
lì guó jiā, phiên âm Hán Việt: "phúc lợi quốc gia").
Khái niệm welfare state bắt đầu được sử dụng nhiều trong thập niên 1940, đặc biệt sau Thế chiến
thứ II, được dùng để mô tả những nhà nước có trách nhiệm chủ yếu trong việc cung ứng phúc lợi
xã hội thông qua các hệ thống an sinh xã hội, cung ứng các d ch vụ và các khoản trợ cấp nhằm
đáp ứng những nhu cầu cơ bản của ngư i dân về mặt nhà ở, y tế, giáo dục và thu nhập (Marshall,
1998, tr. 702).
Khái niệm chính sách xã hội là một khái niệm thư ng được đề cập trong những công trình
nghiên cứu về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, khi ngư i ta chú tâm tới vai trò của nhà nước
đối với các lĩnh vực xã hội cũng như các vấn đề xã hội.
Năm 1980, khi xem xét bộ môn nghiên cứu về chính sách xã hội, nhà xã hội h c Nga V. Z.
Rôgôvin đ nh nghĩa đây là "một lĩnh vực tri thức xã hội h c, nghiên cứu hệ thống về các quá
trình xã hội quyết đ nh hoạt động sống của con ngư i trong xã hội, xét theo khả năng tác động
quản lý đến các quá trình đó" (Dẫn lại theo: Bùi Đình Thanh, 2004b, tr. 286).
Theo Phạm Xuân Nam, "chính sách xã hội là sự thể chế hóa đư ng lối, chủ trương của một nhà
nước (hay một cộng đồng) nhằm trực tiếp tác động vào con ngư i - thành viên xã hội, điều chỉnh
các quan hệ lợi ích giữa h , hướng hành động của h tới các mục tiêu mà nhà nước (hay cộng
đồng) mong muốn" (Phạm Xuân Nam, 1994b, tr. 7). Còn theo Trần Đình Hoan, chính sách xã
hội "bao trùm m i mặt của cuộc sống con ngư i, liên quan đến điều kiện lao động và sinh hoạt,
giáo dục và văn hóa, kinh tế, dân số và quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc, tôn
giáo, v.v." (Trần Đình Hoan, 1994, tr. 505).
Bùi Đình Thanh đưa ra một đ nh nghĩa về chính sách xã hội mà chúng tôi cho là tương đối đầy
đủ nhất: "Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối, chủ trương để giải quyết
các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo phù hợp với bản
chất chế độ xã hội-chính trị (...) phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung
và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con ngư i và điều chỉnh các quan
hệ giữa con ngư i với con ngư i, giữa con ngư i với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thỏa
mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đ i sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân"
(Bùi Đình Thanh, 2004b, tr. 290, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).
2. CÁC QUAN NIỆM VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI
Phúc lợi xã hội và an sinh xã hội là lĩnh vực được giới khoa h c xã hội quan tâm nghiên cứu khá
nhiều kể từ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhất là trong các ngành xã hội h c, kinh tế
h c và chính tr h c. Cho đến nay, ngư i ta đã đưa ra nhiều đ nh nghĩa khác nhau và cũng khó
lòng thống nhất với nhau về cách hiểu thế nào là phúc lợi xã hội hay an sinh xã hội. Tuy vậy, về


đại thể, vẫn có một số điểm căn bản mà hầu như ai cũng ít nhiều đồng ý, đó là: hệ thống các định
chế và các chính sách nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân, đặc biệt là
trong những hoàn cảnh bất trắc như mất việc làm, già cả và bệnh tật, nhất là những nhóm dân
cư nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương. Dưới đây là một số đ nh nghĩa chính về hai khái niệm này
trên thế giới.
Năm 1944, Hội ngh của T chức Lao động Quốc tế (ILO) tuyên bố rằng "nghĩa vụ nghiêm cẩn
của t chức ILO là thúc đẩy các quốc gia trên thế giới tiến hành những chương trình thực hiện...
việc mở rộng các biện pháp an sinh xã hội (social security) nhằm cung ứng một mức thu nhập
căn bản cho tất cả những ngư i có nhu cầu cần được bảo hộ và cần được hưởng sự chăm sóc y tế
toàn diện" (dẫn lại theo ILO, 2001, tr. 1).
Vào năm 1948, Liên hiệp quốc đã ghi rõ trong bản Tuyên ngôn nhân quyền về quyền được
hưởng an sinh xã hội như sau: "M i ngư i, với tư cách là thành viên của xã hội, đều có quyền
hưởng an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực của quốc gia và sự hợp tác quốc
tế và phù hợp với cách thức t chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa cần thiết cho phẩm giá của mình và cho sự phát triển tự do của nhân cách của
mình"(3).
Năm 1952, t chức ILO đã đưa ra Công ước số 102 qui đ nh những tiêu chuẩn tối thiểu của hệ
thống an sinh xã hội mà sau đó phần lớn các nước trên thế giới đều dựa vào đó để xây dựng hệ
thống an sinh của mình. Hệ thống an sinh tối thiểu này bao gồm các thành tố như sau: chăm sóc
y tế, trợ cấp bệnh tật, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp, trợ cấp
gia cảnh, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, và trợ cấp cho người kiêm hưởng (ILO, 1952)(4).
Năm 1958, t chức ILO coi an sinh xã hội là "kết quả đạt được bởi một loạt các biện pháp tổng
hợp và có hiệu quả nhằm bảo vệ công chúng (hay phần lớn công chúng) khỏi tình cảnh túng
quẫn về mặt kinh tế (...) vì không còn nguồn thu nhập do bệnh tật, thất nghiệp hoặc tu i già và
qua đ i". Đến năm 1984, t chức này b sung cho đ nh nghĩa trên bằng cách nhấn mạnh tới vai
trò của nhà nước, coi đây là "sự bảo vệ mà xã hội cung ứng cho các thành viên của mình thông
qua một loạt các biện pháp công nhằm tránh rơi vào tình cảnh túng quẫn về mặt kinh tế mà nếu
không có những biện pháp này thì sẽ xảy ra vì b mất hoặc b giảm phần lớn nguồn thu nhập do
bệnh tật, sinh nở, công việc, tai nạn, thất nghiệp, tàn phế, tu i già và qua đ i; cung ứng sự chăm
sóc y tế và cung ứng các khoản trợ cấp cho các gia đình có con". Nhưng ít lâu sau đó, t chức
ILO lại đưa ra một đ nh nghĩa khác, lần này không còn nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước: an
sinh xã hội là "sự an toàn chống lại một số nguy cơ, được cung ứng thông qua cách t chức thích
hợp cho những thành viên nào của mình có thể rơi vào hoàn cảnh này. Những nguy cơ này chủ
yếu là những sự bất trắc mà cá nhân có ít phương tiện không thể nào đương đầu n i bằng khả
năng riêng của mình hoặc không thể trù liệu một mình hay kể cả với sự phối hợp riêng tư với
những ngư i thân thuộc của mình"(5).
Còn Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế (ISSA) thì đưa ra một đ nh nghĩa tương đối hạn hẹp hơn
về an sinh xã hội, và quan niệm rằng đây không chỉ là phần việc của nhà nước: đó là "những
chương trình bảo hộ xã hội do nhà nước thiết lập, hoặc những t chức được ủy nhiệm khác, (có
chức năng) cung ứng cho các cá nhân một mức độ an toàn về thu nhập khi h phải đối diện với
những hoàn cảnh bất trắc do tu i già, do lợi quyền thượng tồn(6), do mất khả năng, do tàn tật, thất
nghiệp hoặc do phải nuôi dạy con cái. Nó cũng có thể cung ứng quyền được hưởng sự chăm sóc
y tế - chữa tr hay phòng ngừa bệnh tật" (xem ISSA). Theo t chức ISSA, an sinh xã hội bao
gồm: các chương trình bảo hiểm xã hội, các chương trình trợ giúp xã hội, các chương trình ph
quát (universal programmes), các chương trình tương trợ (mutual benefit schemes), các quỹ dự


phòng quốc gia (national provident funds), và những chương trình khác trong đó kể cả những
chương trình mang tính thương mại.
Nhà xã hội h c ngư i Anh Thomas H. Marshall (1949) có thể được coi là tác giả đầu tiên gắn
khái niệm phúc lợi (welfare) với khái niệm quyền công dân (citizenship), và cho rằng quyền
được hưởng phúc lợi (welfare rights) là nhóm quyền thứ ba mà các thành viên của xã hội đã
giành được trong thế kỷ XX, sau nhóm các quyền dân sự và nhóm các quyền chính tr . Trong
một bài viết n i tiếng vào năm 1949 mang tên là "Citizenship and Social Class", ông quan niệm
quyền công dân gồm có ba thành tố: quyền công dân về mặt dân sự, về mặt chính tr , và về mặt
xã hội. Theo Marshall, nhà nước phúc lợi chính là kết quả của cả một quá trình l ch sử đấu tranh
cho các quyền công dân (citizenship rights) trong suốt hơn 200 năm qua, mở rộng từ lĩnh vực
dân sự, sang lĩnh vực chính tr , rồi tới lĩnh vực xã hội. Vào thế kỷ XVIII, cuộc đấu tranh cho các
quyền công dân dân sự (civil citizenship) - bao gồm quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tôn giáo,
và quyền bình đẳng trước pháp luật - đã giành được thắng lợi ở Anh. Vào thế kỷ XIX, đó là cuộc
đấu tranh giành quyền công dân chính trị (political citizenship), bao gồm quyền ứng cử và bầu
cử. Trong thế kỷ XX, đó là cuộc đấu tranh giành quyền công dân xã hội (social citizenship) - đây
là quyền được hưởng một mức độ an sinh nhất đ nh về mặt kinh tế và quyền được tham gia đầy
đủ vào đ i sống xã hội của đất nước(7). Quan niệm của Marshall đã đặc biệt khẳng đ nh rằng việc
được hưởng các khoản phúc lợi cần được quan niệm như một quyền mang tính pháp lý, dựa trên
nguyên tắc ph quát (universality), chứ không phải dựa trên quyền ấn đ nh của những cơ quan có
thẩm quyền (discretionary) (Marshall, 1998, tr. 702).
Theo dòng tư tưởng đó, Elizabeth Wickenden (1965) cho rằng hệ thống an sinh xã hội bao gồm
các "luật lệ, chương trình, quyền lợi và d ch vụ bảo đảm và củng cố các biện pháp đáp ứng các
nhu cầu xã hội được công nhận như an sinh cơ bản của quần chúng và cải tiến trật tự xã hội"(8).
Cũng tương tự như vậy, Beulah Compton (1980) đ nh nghĩa phúc lợi xã hội là một thiết chế bao
gồm các chính sách và luật lệ, được thực thi bởi nhà nước hay bởi các t chức tự nguyện, thông
qua đó một mức độ tối thiểu nhất đ nh về các d ch vụ xã hội thiết yếu (như y tế, giáo dục, nhà
ở ) được phân phối cho các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội (những d ch vụ mà gia đình hay th
trư ng không đáp ứng được cho h ) nhằm mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hoặc đóng góp vào
việc giải quyết các vấn đề xã hội và cải thiện sự an sinh của cá nhân, nhóm và cộng đồng một
cách trực tiếp(9).
Hai nhà kinh tế h c Jean Dreze và Amartya Sen (1991) đã tóm g n cái cốt lõi của khái niệm an
sinh xã hội như sau: "Ý tưởng cơ bản của an sinh xã hội là sử dụng những kế sách xã hội để
ngăn ngừa sự thiếu thốn và tình trạng dễ bị tổn thương vì bị thiếu thốn"(10). Hai tác giả này nhấn
mạnh rằng sự cung ứng hệ thống an sinh xã hội trong những quốc gia đang phát triển cần được
quan niệm theo một nhãn giới rộng rãi hơn, và cần xem đây "chủ yếu như một mục tiêu cần theo
đuổi thông qua các biện pháp công hơn là như một nhúm chiến lược cá biệt được xác định một
cách hẹp hòi". Cách hiểu này có lẽ cũng gần với quan niệm "Freedom from Want" (không b
thiếu thốn) mà bản phúc trình n i tiếng của Beveridge (ở Anh Quốc) đề xướng(11).
Giới hạn vào khía cạnh kinh tế, Madhava P. Rao (2005) đã đưa ra một đ nh nghĩa về "an sinh
kinh tế" (economic security) khá độc đáo như sau: "Sự an sinh kinh tế bao gồm các cơ hội và các
khả năng (xét về mặt đ nh chế cũng như về mặt cá nhân) tận dụng những cơ hội này cho sự an
sinh kinh tế vốn được cung ứng bởi xã hội xét như một t ng thể hoặc bởi những đ nh chế trong
xã hội như gia đình, cộng đồng, nhóm xã hội, th trư ng - cung ứng cho từng cá nhân hoặc cho
từng cộng đồng nhằm mục tiêu mang lại 'sự phúc lợi xã hội' cho mỗi cá nhân trong cuộc hành
trình của mình từ ngày chào đ i cho tới ngày qua đ i" (Rao, 2005, tr. 4).


Khi nghiên cứu về phúc lợi xã hội, giới nghiên cứu cũng đề cập nhiều tới khái niệm nhà nước
phúc lợi. Theo R. Lowe (1993), thuật ngữ welfare state xuất hiện vào thập niên 1930 ở Anh, xuất
phát từ thuật ngữ Wohlfahrstaat trong tiếng Đức, được dùng để nói về một nhà nước có trách
nhiệm bảo đảm sự phúc lợi và th nh vượng của ngư i dân và biết tôn tr ng luật lệ quốc tế, đối
lập với kiểu nhà nước "warfare state" hay "power state" vốn là nhà nước chỉ biết áp đặt ý muốn
của mình lên ngư i dân và các nước láng giềng(12).
Theo Nicholas Abercrombie và một số tác giả (1988), "ý tưởng căn bản của một nhà nước phúc
lợi là: chính quyền có trách nhiệm đối với sự phúc lợi (well-being) của các công dân của mình,
và điều này không thể được giao phó cho cá nhân, công ty tư nhân hay cộng đ ng địa phương"
(Abercrombie et al., 1988, tr. 269, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q). Theo các tác
giả này, nhà nước phúc lợi là nhà nước bảo đảm cho ngư i dân không b nghèo đói bằng các
khoản trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia cảnh, phụ cấp thu nhập cho những ngư i có lương thấp, có
chế độ hưu b ng và trợ cấp ngư i già; nhà nước phúc lợi cung ứng đầy đủ các d ch vụ y tế, giáo
dục mi n phí, và nhà ở. Những d ch vụ này được tài trợ bởi các hệ thống bảo hiểm quốc gia và từ
nguồn ngân sách nhà nước (Abercrombie et al., 1988, tr. 269-270).
Nhà nước phúc lợi là một nhà nước cam kết trách nhiệm của mình với ngư i dân ít nhất về ba
lĩnh vực: a) bảo đảm công ăn việc làm cho m i ngư i (vì th trư ng tự do tư nhân không thể bảo
đảm được điều này, nên nhà nước phải can thiệp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, khuyến
khích tăng trưởng kinh tế và n đ nh giá cả); b) cung ứng một hệ thống bảo hiểm công cộng
nhằm bảo vệ ngư i dân trước những hoàn cảnh bất trắc như thất nghiệp, già cả và bệnh tật (nhà
nước phải có chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chế độ hưu b ng, và chế độ bảo hiểm y tế); c) nhà
nước nhìn nhận rằng quyền công dân trong một chế độ dân chủ không chỉ bao gồm các quyền
dân sự và quyền chính tr , mà cả những quyền xã hội (Fallis, 2005, tr. 2)(13).
Theo nhà xã hội h c Đức Karl-Heinz Hillmann (1994), nhà nước phúc lợi là "một nhà nước bảo
đảm cho các công dân của mình, ngoài sự an toàn pháp lý, còn được cung ứng ở mức tối thiểu
những sản phẩm vật chất (tùy theo những giá tr văn hóa-xã hội được xác đ nh một cách khác
nhau)". Ông nhận đ nh đây là một mô hình nhà nước đáng hoan nghênh về mặt nhân văn, nhưng
cho rằng nó cũng có nguy cơ "làm suy yếu ý thức hiệu suất, sự chủ động cá nhân, trách nhiệm cá
nhân và trách nhiệm xã hội của những công dân riêng lẻ, khả năng tự lực và khả năng điều hành
của những mạng lưới thân tộc và những mạng lưới xóm giềng, và suy cho cùng, làm suy yếu cả
nguồn lực kinh tế" (Hillmann, 1994, tr. 947).
Philippe Bénéton cho rằng nhà nước phúc lợi là nhà nước có những hệ thống bảo hộ xã hội
(protection sociale) rộng rãi và những chính sách giảm thiểu những sự bất bình đẳng kinh tế và
xã hội. Nhà nước phúc lợi là nhà nước làm thay th trư ng phần nào đó và hoặc sửa chữa những
hậu quả của th trư ng, nhân danh sự an sinh hoặc sự bình đẳng. Theo Bénéton, ngư i ta có thể
phân biệt hai dạng nhà nước phúc lợi kế tiếp nhau tại phần lớn các nước Tây phương: "nhà nước
bảo hộ" (État protecteur), và "nhà nước tái phân phối" (État redistributif). Nhà nước bảo hộ (bắt
đầu phát triển từ thập niên 1930) là nhà nước mang mục tiêu chủ yếu là hạn chế những cái giá
phải trả về mặt xã hội do th trư ng gây ra, và bảo đảm một số điều kiện an sinh trước những bất
trắc kinh tế lớn (thất nghiệp, bệnh tật, già cả, v.v.). Nhà nước tái phân phối (phát triển trong
những thập niên 1960 và 1970) là nhà nước tìm cách thiết lập một sự bình đẳng nào đó, bằng
cách cố gắng làm giảm những sự bất bình đẳng về mặt kinh tế và xã hội (Boudon et al., 1999, tr.
90).
Một hệ thống nhà nước phúc lợi, theo Masayuki Fujimura (2000), bao gồm năm thành tố cơ bản
sau đây: 1) một hệ thống an sinh xã hội; 2) chính quyền trung ương và chính quyền đ a phương


là ngư i quản lý chủ chốt của hệ thống này; 3) việc nhìn nhận về mặt xã hội và việc pháp điển
hóa các quyền nền tảng của con ngư i; 4) sự can thiệp chính đáng của nhà nước vào lĩnh vực
kinh tế để tạo ra đủ công ăn việc làm; và 5) việc thực hiện dân chủ rộng rãi dựa trên cơ sở quốc
hội ra quyết đ nh trong lĩnh vực chính tr (Fujimura, 2000, tr. 3).
Tuy nhiên, ngoài khái niệm nhà nước phúc lợi (welfare state), W. A. Robson (1976) còn khai
triển thêm một khái niệm mới là "xã hội phúc lợi" (welfare society), và đề cập tới mối quan hệ
giữa nhà nước phúc lợi với xã hội phúc lợi. Ông viết như sau: "Nhà nước phúc lợi là cái mà
Quốc hội ban hành bằng sắc lệnh. Còn xã hội phúc lợi là cái mà nhân dân làm, cảm nhận và suy
nghĩ về những chuyện có liên quan tới sự phúc lợi t ng quát. (...) Chỉ có một xã hội phúc lợi dân
chủ mới có khả năng thiết lập và duy trì một nhà nước phúc lợi thực thụ. Vì thế, chúng ta không
thể chỉ nhìn vào các d ch vụ và các chức năng của các cơ quan nhà nước, mà còn phải chú ý tới
các thái độ, ý kiến và ứng xử của chính nhân dân"(14). Robson cho rằng một trong những khó khăn
lớn nhất của chúng ta nằm ở chỗ chúng ta thư ng cố gắng xây dựng một nhà nước phúc lợi mà
không có xã hội phúc lợi. Robson nhấn mạnh rằng một "xã hội phúc lợi" do chính ngư i dân tạo
dựng là điều kiện tiên quyết cho việc thiết lập một nhà nước phúc lợi. Mặt khác, chính ý thức
cộng đồng (sense of community) là điều kiện tiên quyết để vận động ngư i dân tham gia xây
dựng một "xã hội phúc lợi", nếu không thì nhà nước phúc lợi chỉ giống như "được xây trên cát"
(dẫn lại theo Fujimura, 2000, tr. 6).
Tô Duy Hợp (2006) nhận xét rằng cần phân biệt giữa nội hàm "cơ bản" của hệ thống an sinh xã
hội (chỉ chăm lo cho một số đối tượng khó khăn) với nội hàm "đầy đủ" của khái niệm này (chăm
lo cho toàn dân): "Có thể nói, hàm ý cơ bản của an sinh xã hội là sự bảo vệ (bảo đảm) của xã hội
đối với những cá nhân hoặc và nhóm xã hội đặc biệt khó khăn hoặc gặp phải rủi ro bất khả
kháng (như thiên tai, đ ch h a...). (...) Tuy nhiên, hàm ý đầy đủ của an sinh xã hội là hướng tới
phúc lợi xã hội toàn dân, tức là một hệ thống an sinh không chỉ bao gồm sự bảo trợ cho bộ phận
đặc biệt khó khăn hoặc gặp rủi ro bất khả kháng, vì đó mới chỉ là phúc lợi tối thiểu nhằm mục
tiêu mưu sinh, mà còn bao gồm cả sự bảo vệ toàn xã hội, hơn thế nữa, đó còn là phúc lợi cao cấp
của xã hội phát triển" (Tô Duy Hợp, 2006, tr. 25, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).
Ngoài ra, còn có một cách hiểu và cách phân loại về nhà nước phúc lợi hết sức đáng chú ý của
Gøsta Esping-Andersen mà chúng tôi sẽ trình bầy trong mục sau.
3. CÁC LÝ THUYẾT PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG PHÚC LỢI XÃ HỘI
Cho đến nay, giới nghiên cứu đã không ngừng xem xét và tranh luận về cách phân loại các mô
hình hệ thống phúc lợi và nhà nước phúc lợi trên thế giới. Về đại thể, có hai mô hình phúc lợi
tương phản điển hình thư ng được các tác giả nói tới, đó là:
1. Mô hình bảo hiểm xã hội theo hướng Bismarck (các quỹ phúc lợi do ngư i lao động và ngư i
sử dụng lao động cùng quản tr ; mức đóng phí tính theo tỷ lệ so với mức lương; mức trợ cấp theo
tỷ lệ đóng góp)(15).
2. Mô hình bảo hộ xã hội theo hướng Beveridge (các quỹ phúc lợi do nhà nước quản tr ; nguồn
tài trợ lấy từ thuế; mức trợ cấp đồng đều giống nhau) (16).
Theo Tô Duy Hợp (2006), có thể có nhiều cách phân loại khác nhau về hệ thống an sinh xã hội
như sau:
- Phân biệt giữa hệ thống an sinh xã hội cơ bản với hệ thống an sinh xã hội ở trình độ phát triển
cao, theo Yang Tuan(17).
- Phân loại theo các đối tượng xã hội thụ hưởng (như ngư i cao tu i, ngư i thất nghiệp, ngư i
nghèo...).


- Phân loại theo các loại hình d ch vụ phúc lợi.
- Phân loại giữa các biện pháp bảo vệ (protective) đối với những đối tượng d b t n thương (như
trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội), các biện pháp phòng ngừa (preventive), và các biện pháp nhằm
nâng cao năng lực (promotional), theo Lê Bạch Dương và một số tác giả khác(18).
Ngư i ta thư ng ghi nhận những tác giả quan tr ng nhất đã tiến hành công việc loại hình hóa các
hệ thống phúc lợi trên thế giới, đó là Richard Titmuss (1958, 1974), Walter Korpi (1980, 1998)
và Gøsta Esping-Andersen (1990).
Việc loại hình hóa các mô hình hệ thống phúc lợi thư ng được các nhà nghiên cứu tiến hành
bằng cách xem xét những kiểu kết hợp giữa ba khu vực của xã hội (đó là th trư ng, nhà nước, và
gia đình), và trong việc đáp ứng ba chức năng chính (đó là bảo hiểm, tái phân phối, và cung ứng
các d ch vụ xã hội). Ngoài ra, ngư i ta còn xem xét các yếu tố sau đây: mức độ phụ thuộc vào th
trư ng để thỏa mãn các nhu cầu của mình và có được sự bảo hộ của xã hội đối với mình (Gøsta
Esping-Andersen đưa ra khái niệm decommodification, tức mức độ "phi hàng hóa hóa", để nói về
mức độ được thụ hưởng các d ch vụ an sinh xã hội mà không lệ thuộc vào th trư ng); mô hình
phân tầng xã hội mà nhà nước nhắm đến hoặc là hệ quả của sự can thiệp của nhà nước (liên quan
tới mục tiêu bình đẳng xã hội) (Oberti, 1999, tr. 90).
Richard Titmuss (1974) thư ng được coi là tác giả đầu tiên đưa ra một cái khung xếp loại các mô
hình phúc lợi. Dựa trên phương pháp phân tích đa chiều kích, ông đã nhận diện ra ba quan niệm
khác nhau về vai trò của chính sách xã hội, và ông nối kết mỗi quan niệm với những nguyên tắc
cung ứng và hưởng dụng các d ch vụ phúc lợi. Theo ông, trên thế giới, có ba mô hình như sau:
a) Mô hình phúc lợi thặng dư (residual), trong đó vai trò chủ đạo thuộc về gia đình và th trư ng
chứ không phải là sự tái phân phối của nhà nước, và quyền hưởng phúc lợi phụ thuộc vào việc
thẩm tra khả năng thu nhập (means-testing).
b) Mô hình phúc lợi ph quát (universalist) hay cũng có thể g i là mô hình đ nh chế tái phân
phối, trong đó nhà nước thay thế vào chỗ của gia đình và th trư ng trong việc bảo đảm phúc lợi
theo mục tiêu hướng đến sự bình đẳng.
c) Mô hình đóng góp dựa trên mức thu nhập kiếm được (earnings-related contributory systems),
phản ánh quan niệm đặt nặng trên hiệu quả đạt được trong lao động (industrial achievementperformance); trong mô hình này, cả th trư ng lẫn nhà nước đều cùng có mặt, nhưng ngư i ta
ưu tiên nhấn mạnh đến những đóng góp kinh tế của các cá nhân(19).
Theo Gøsta Esping-Andersen (1990), chính l ch sử của các mối liên minh chính tr giữa các giai
cấp mới là nguyên nhân quyết đ nh đối với những biến thể của mô hình nhà nước phúc lợi trong
các xã hội hiện đại (Esping-Andersen, 1991, tr. 1). Tác giả này cho rằng phần lớn các lý thuyết
về nhà nước phúc lợi hiện nay đều dựa trên những phân tích truyền thống về các mức độ công
nghiệp hóa, về hình thái quyền lực chính tr , hay về khả năng chi tiêu của ngân sách nhà nước.
Esping-Andersen muốn vượt qua những khuôn kh phân tích ấy, và cho rằng chìa khóa của một
hình thái nhà nước phúc lợi chủ yếu nằm trong ba khâu sau đây : mức độ phi hàng hóa hóa (decommodification), sự phân tầng xã hội (social stratification), và tình hình nhân dụng
(employment) trong xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr. 2-3).
Ngư i ta thư ng xem sự phát triển của các quyền xã hội (social rights) như là bản chất của chính
sách xã hội. Kế thừa và khai triển các tư tưởng của Karl Polanyi, Esping-Andersen cho rằng cần
xem xét các quyền xã hội dưới góc độ khả năng "phi hàng hóa hóa" các quyền xã hội. "Tiêu
chuẩn nổi bật của các quyền xã hội phải là mức độ mà theo đó chúng cho phép con người có thể
xác lập được mức sống của mình mà không phụ thuộc vào các lực lượng của thị trường. Chính


là theo ý ngh a này mà các quyền xã hội có thể làm giảm bớt tư cách 'hàng hóa' của các công
dân" (Esping-Andersen, 1991, tr. 3).
Esping-Andersen viết: "Những động cơ chính của chính sách xã hội hiện đại nằm trong quá trình
trong đó cả nhu cầu của con ngư i lẫn sức lao động đều trở thành hàng hóa, và vì thế, phúc lợi
của chúng ta trở nên phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chúng ta với hệ thống tiền tệ". Trong th i
Trung c , khi mà chế độ sử dụng lao động chưa chuyển sang chế độ khế ước (hay hợp đồng,
contract), thì chính gia đình, giáo hội hoặc v lãnh chúa là những ngư i quyết đ nh khả năng sinh
tồn của mỗi ngư i. "Sự khuếch trương của chủ nghĩa tư bản di n ra cùng với sự lụi tàn dần dần
của phương thức bảo hộ xã hội 'tiền hàng hóa hóa' ('pre-commodified' social protection)"
(Esping-Andersen, 1991, tr. 35).
Esping-Andersen g i sự "phi hàng hóa hóa" (de-commodification) là tình trạng trong đó sở dĩ
ngư i ta được hưởng các d ch vụ phúc lợi là do ngư i ta có quyền được hưởng, và ngư i ta có
thể duy trì cuộc sống của mình mà không cần dựa trên thị trường (Esping-Andersen, 1991, tr.
21-22). Ông nói rõ rằng cho dù có những chính sách trợ giúp xã hội hay bảo hiểm xã hội thì điều
này không nhất thiết dẫn đến một tình hình "phi hàng hóa hóa" thực thụ nếu chúng không thực
sự giải phóng các cá nhân ra khỏi sự phụ thuộc vào th trư ng. Khi ngư i công nhân b lệ thuộc
hoàn toàn vào th trư ng, h sẽ rất khó mà đoàn kết với nhau và rất khó mà tập hợp lại được
trong những phong trào hành động tập thể. Chỉ khi nào các quyền xã hội của h được "phi hàng
hóa hóa" thì lúc ấy h mới thực sự có sức mạnh, và đồng th i, quyền lực tuyệt đối của giới chủ
lúc ấy mới yếu bớt đi; chính vì thế mà giới nghiệp chủ thư ng không có thiện cảm và cũng
không sẵn lòng tham gia vào các chương trình phúc lợi xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr. 22).
Esping-Andersen đã phân biệt ba loại hình nhà nước phúc lợi căn cứ trên những khác biệt giữa
các quốc gia về: l ch sử chính tr , đặc biệt là khả năng huy động của giai cấp công nhân và khả
năng liên minh giữa các giai cấp, mức độ ảnh hưởng của nhà nước và của th trư ng, và mức độ
mà việc tiếp cận các khoản an sinh xã hội có thể cho phép ngư i dân giảm bớt sự lệ thuộc vào th
trư ng (Williams, 1999, tr. 912).
Khi nghiên cứu về các loại hình nhà nước phúc lợi, Gøsta Esping-Andersen nhận đ nh rằng có
nhiều kiểu cấu hình sắp xếp (arrangements) khác nhau giữa nhà nước, th trư ng và gia đình.
Tác giả này đã dựa trên bảy chỉ báo sau đây để tiến hành việc loại hình hóa: số lượng các chế độ
trợ cấp hưu b ng riêng biệt theo ngành nghề; mức độ bao phủ bảo hiểm trong dân cư; mức chênh
lệch giữa mức trợ cấp trung bình với mức trợ cấp tối đa; mức chi tiêu tính theo qui mô tương đối
của số ngư i hưu trí thuộc diện công chức nhà nước; số trợ cấp dựa trên sự thẩm tra khả năng thu
nhập; số ngư i hưu trí thuộc khu vực tư nhân; và y tế thuộc khu vực tư nhân (Esping-Andersen,
1991, tr. 69-77). Từ đó, Esping-Andersen đã nhận diện ra ba loại hình nhà nước phúc lợi điển
hình như sau:
a) Loại hình nhà nước phúc lợi theo quan điểm tự do (liberal), trong đó các đặc trưng chính là:
trợ giúp dựa trên sự thẩm tra thu nhập; hạn chế chế độ trợ cấp ph quát (universal transfer); hoặc
chỉ có những chương trình bảo hiểm xã hội hạn hẹp. Các khoản tiền trợ cấp thư ng rất thấp, và
chủ yếu chỉ được dành cho những ngư i có thu nhập thấp hoặc buộc phải sống phụ thuộc vào
nhà nước. Điển hình cho loại hình này là Mỹ, Canada và Úc.
b) Loại hình nhà nước phúc lợi bảo thủ và mang nặng tính chất "nghiệp hội" (corporatist). Chế
độ phúc lợi ở đây dựa trên những khác biệt về v thế (status), do đó các quyền ở đây luôn đi đôi
với các giai cấp và các v thế. Nhà nước đóng vai trò chính trong việc cung ứng các d ch vụ phúc
lợi xã hội, và hệ thống bảo hiểm tư nhân chỉ đóng vai trò m nhạt. Đặc trưng của chế độ phúc lợi


"nghiệp hội" còn là dựa vào các t chức của giáo hội và gia đình. Điển hình cho loại hình này là
Áo, Pháp, Đức và Ý.
c) Loại hình nhà nước phúc lợi thứ ba là chế độ dân chủ-xã hội, trong đó những nguyên tắc về
tính ph quát và về việc phi hàng hóa hóa các quyền xã hội được mở rộng cho tới cả các tầng lớp
trung lưu. Mục tiêu của khuynh hướng dân chủ-xã hội là xây dựng một nhà nước phúc lợi hướng
đến sự bình đẳng ở mức độ cao nhất, chứ không chỉ sự bình đẳng đối với những nhu cầu tối thiểu
như ở các nước khác. Nguyên tắc của nhà nước phúc lợi này là không đợi đến khi các nguồn lực
của gia đình cạn kiệt thì mới trợ cấp, mà là "xã hội hóa các chi phí của đ i sống gia đình ngay từ
đầu" ("to preemptively socialize the costs of familyhood"), không phải nhằm tăng cư ng sự phụ
thuộc vào gia đình, mà ngược lại, nhằm tăng cư ng những khả năng độc lập của cá nhân. Nhà
nước phúc lợi này cung ứng các khoản trợ cấp trực tiếp cho trẻ em, đảm nhận trách nhiệm trực
tiếp chăm lo cho trẻ em, ngư i già và những ngư i không nơi nương tựa. Điển hình cho loại hình
nhà nước phúc lợi này là các nước Bắc Âu (Esping-Andersen, 1991, tr. 26-27).
Tương tự như Esping-Andersen, nhà xã hội h c Marco Oberti (1999) phân biệt ba mô hình nhà
nước phúc lợi như sau:
a) Mô hình tự do (libéral) hoặc thặng dư (résiduel) (Mỹ, Canada, Úc) có đặc điểm là nhà nước
chỉ can thiệp và giúp đỡ một cách có giới hạn đối với những ngư i không còn khả năng sinh
sống dựa trên th trư ng, gia đình hoặc sự trợ giúp tư nhân.
b) Mô hình nghiệp hội bảo thủ (conservateur-corporatiste) (Đức, Pháp, Áo) đặt nền tảng trên lao
động làm công ăn lương (travail salarié), mang mục tiêu bảo vệ ngư i lao động và gia đình của
h trước những nguy cơ (như tai nạn, bệnh tật, già cả, thất nghiệp) bằng cách bảo đảm cho h
một mức thu nhập tối thiểu. Do đó, các quyền hưởng phúc lợi đều gắn liền với giai cấp và v thế,
bởi lẽ việc tái phân phối được thực hiện theo các nhóm ngành nghề và theo mức độ đóng góp của
h .
c) Mô hình định chế tái phân phối (institutionnel-redistributif), hay phổ quát (universaliste), hay
còn g i là dân chủ-xã hội (các nước Bắc Âu) là mô hình theo đó nhà nước bảo đảm sự phúc lợi
cho toàn dân một cách đồng đều. Mô hình này mang đặc điểm là có mức độ bảo hộ xã hội cao
đối với các bất trắc trong cuộc sống, có mức thuế suất cao, và cam kết với mục tiêu công bằng xã
hội tái phân phối (Oberti, 1999,tr.90-91).
Walter Korpi và Joakim Palme (1998) đã đưa ra một kiểu phân loại các mô hình chi tiết hơn so
với Gøsta Esping-Andersen và Marco Oberti, bằng cách dựa trên quá trình phát triển l ch sử của
các mô hình này. Korpi và Palme phân biệt năm mô hình bảo hiểm xã hội ở các nước Tây
phương, đó là: a) mô hình nhắm tới những đối tượng nhất đ nh; b) mô hình bao gồm những
chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp; c) mô hình phúc lợi theo nghiệp hội; d)
mô hình an sinh cơ bản; và e) mô hình phúc lợi bao quát (xem Hình 1).
Hình 1. Các mô hình điển hình của các đ nh chế bảo hiểm xã hội ở các nước Tây phương, xét theo quá trình phát
triển l ch sử của các đ nh chế này, theo Walter Korpi và Joakim Palme, 1998


a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất
định

b. Mô hình bao gồm những chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước
trợ cấp


c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội

d. Mô hình an sinh cơ bản

e. Mô hình phúc lợi bao quát

Ghi chú: các hình thoi là biểu tượng của hệ thống phân tầng kinh tế-xã hội, trong đó những ngư i có
thu nhập cao nằm phía trên đỉnh, và những ngư i có thu nhập thấp cũng như ngư i nghèo nằm phía
dưới đáy. Phần trắng thể hiện phần dân cư không nằm trong các chương trình phúc lợi. Các đường


nằm ngang thể hiện những loại phúc lợi có mức trợ cấp đồng đều hoặc mức tối thiểu. Các đường
thẳng đứng thể hiện những loại phúc lợi hưởng theo mức thu nhập. Các hình ê-líp trong mô hình b
thể hiện những chương trình phúc lợi tự nguyện chuyên biệt. Các đường chéo trong mô hình c thể
hiện các chương trình bảo hiểm được t chức riêng cho từng phân khúc ngành nghề khác nhau (xem
thêm Tr nh Duy Luân, 2006, tr. 8).
Ngu n: Walter Korpi, Joakim Palme, "The Paradox of Redistribution and Strategies of Equality:
Welfare State Institutions, Inequality and Poverty in the Western Countries", American Sociological
Review, Vol. 63, No. 5, 1998.

Sau đây là đặc trưng của từng mô hình, theo Walter Korpi và Joakim Palme.
Mô hình a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất định (targeted): sự trợ cấp được thực hiện
dựa trên sự thẩm tra thu nhập (means-tested), với mức trợ cấp tối thiểu hoặc tương đối đồng đều
dành cho những ngư i nằm dưới ngưỡng nghèo hoặc những ngư i được coi là túng thiếu.
Mô hình b. Mô hình bao g m những chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp:
trong truyền thống nhiều nước Tây phương, có điểm đặc trưng là có những chương trình phúc lợi
tự nguyện được nhà nước trợ cấp, trong đó tiền thuế được dùng để giúp các hiệp hội phúc lợi
tương trợ và các t chức tự nguyện khác trong việc cung ứng bảo hiểm cho các thành viên của
mình khi lâm vào hoàn cảnh mất khả năng thu nhập. Vì loại phúc lợi này đặt cơ sở trên sự đóng
góp tự nguyện của các thành viên, nên các chương trình phúc lợi này chủ yếu nhắm tới tầng lớp
trung lưu và giới công nhân lành nghề hơn là giới công nhân không có tay nghề và các tầng lớp
nghèo. Các chế độ phúc lợi tự nguyện này có thể bao gồm cả loại phúc lợi có mức trợ cấp đồng
đều (flat rate) (thể hiện bằng những đường nằm ngang trên các sơ đồ trên đây) lẫn loại phúc lợi
tương ứng với mức thu nhập kiếm được (earnings-related) (đường thẳng đứng).
Mô hình c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội (corporatist): các chương trình bảo hiểm xã hội đầu
tiên được khởi xướng ở Đức bởi Bismarck vào thập niên 1880 không còn áp dụng cách thức
thẩm tra thu nhập lẫn các loại phúc lợi tự nguyện, nhưng áp dụng những chương trình phúc lợi
cưỡng bách theo đó các thành viên nằm trong những loại ngành nghề nhất đ nh sẽ được quyền
hưởng những khoản phúc lợi khi mà nguồn thu nhập bình thư ng của h b gián đoạn một cách
bất khả kháng. Hệ thống bảo hiểm xã hội này của Đức đi theo mô hình phúc lợi "nghiệp hội" vốn
xuất phát từ truyền thống tư tưởng Công giáo và tư tưởng bảo thủ của thế kỷ XIX. Có thể nói ý
tưởng cốt lõi của mô hình nghiệp hội này là nhằm tạo ra những "cộng đồng chính tr -xã hội"
trong những nhóm ngành nghề khác nhau của lực lượng lao động, với mục tiêu khuyến khích sự
hợp tác giữa giới chủ với giới thợ trong những nhóm ngành nghề này.
Trong mô hình phúc lợi theo nghiệp hội, các chương trình được đề ra nhằm vào những ngư i
đang lao động. Để được hưởng những loại phúc lợi này, ngư i ta vừa phải đóng phí, vừa phải
thuộc về một thành phần nghề nghiệp nhất đ nh. Những chương trình bảo hiểm xã hội riêng biệt
với những quyền lợi đặc thù được t chức cho những loại nghề nghiệp hoặc những ngành sản
xuất khác nhau, tạo nên sự phân khúc giữa các loại ngành nghề. Lúc đầu, hệ thống phúc lợi này
được khởi sự nơi giai cấp công nhân công nghiệp, nhưng sau đó dần dà được triển khai trong
nhiều thập niên sau nơi các loại ngành nghề khác với những dạng bảo hiểm chuyên biệt. Các
khoản phúc lợi được cung ứng dựa trên mức thu nhập kiếm được (đường thẳng đứng), nhưng các
quyền lợi và các qui tắc có thể hết sức khác biệt tùy theo từng loại ngành nghề khác nhau. Khác
hẳn với bốn loại đ nh chế phúc lợi còn lại, và với quan điểm cơ bản là tạo ra những cộng đồng
chính tr -xã hội và thúc đẩy sự hợp tác giữa những thành phần có thể đối kháng nhau trong th
trư ng lao động, mô hình phúc lợi này có đặc điểm là được điều hành bởi những ngư i đại diện


được bầu ra từ giới chủ và giới thợ, và thông thư ng nhà nước cũng có mặt như là một thành
phần thứ ba mang tính chất thứ yếu. Nguồn tài chính được hình thành chủ yếu từ việc đóng phí
của giới chủ và giới thợ. Do chỉ giới hạn vào bộ phận dân cư hoạt động kinh tế (tức những ngư i
đang lao động), nên mô hình này đi đến chỗ loại ra ngoài những ngư i nội trợ và những ngư i
nằm ngoài lực lượng lao động. Vì thư ng có qui đ nh một mức trần thu nhập để được hưởng
phúc lợi, nên những ngư i có thu nhập cao thư ng tìm thêm những biện pháp phúc lợi khác từ
khu vực bảo hiểm tư nhân.
Mô hình d. Mô hình an sinh cơ bản (basic security): trong mô hình này, quyền được hưởng phúc
lợi đặt cơ sở trên sự đóng phí hoặc trên tư cách công dân (nơi cư trú). Mô hình an sinh cơ bản
này xuất phát từ những ý tưởng chính yếu do William Beveridge đề xướng ở Anh vào năm 1942.
Một trong những ý tưởng này là đề ra những mức trợ cấp đồng đều hoặc có một mức trần thấp
đối với mức thu nhập, để chừa chỗ cho những ngư i có thu nhập cao có thể tìm cách bảo vệ mức
sống cao của h thông qua những chương trình bảo hiểm tư nhân. Theo Beveridge, "nguyên tắc
cơ bản đầu tiên của chế độ bảo hiểm xã hội này là cung ứng một mức trợ cấp bảo hiểm đồng đều,
bất kể mức thu nhập đã b gián đoạn là bao nhiêu... Nguyên tắc này là hệ quả của sự nhìn nhận
về v trí của bảo hiểm tự nguyện trong hệ thống an sinh xã hội..."(20) Một ý tưởng cơ bản khác là
làm sao bao phủ được một cách rộng rãi hoặc toàn bộ các tầng lớp dân cư có liên quan.
Tuy nhiên, trong mô hình an sinh cơ bản này, ngư i ta thấy có hai biến thể khác nhau với một số
mức độ bảo hiểm khác nhau. Trong biến thể "công dân" (citizenship), quyền được hưởng phúc
lợi dựa trên tư cách công dân hoặc nơi cư trú, nghĩa là dựa trên quan điểm "bảo hiểm nhân dân"
(People’s Insurance) với mức độ bảo hiểm ph quát. Còn trong biến thể "bảo hiểm" (insurance),
quyền được hưởng phúc lợi lại dựa trên việc đóng phí của ngư i được bảo hiểm và hoặc của
ngư i sử dụng lao động; trong trư ng hợp này, chúng ta thấy mức độ bảo hiểm kém tính ph
quát hơn. Tuy nhiên, nếu trong mô hình phúc lợi theo nghiệp hội, những ngư i tham gia thuộc
những ngành nghề khác nhau sẽ được hưởng những chế độ bảo hiểm khác nhau, thì trong mô
hình an sinh cơ bản này, tất cả những ngư i được bảo hiểm sẽ được hưởng chế độ giống nhau
trong cùng một chương trình.
Mô hình e. Mô hình phúc lợi bao quát (encompassing): mô hình này đã phối hợp những ý tưởng
của mô hình Bismarck lẫn mô hình Beveridge để tạo ra một dạng mới. Trong mô hình này,
quyền được hưởng phúc lợi dựa trên sự đóng phí và tư cách công dân. Do đó, những chương
trình phúc lợi ph quát bao phủ m i công dân và bảo đảm an sinh cơ bản cho h được phối hợp
với những chế độ trợ cấp tương ứng với mức thu nhập kiếm được dành cho bộ phận đang hoạt
động kinh tế (đang lao động) trong dân cư. Loại đ nh chế phúc lợi này có khuynh hướng giảm
bớt nhu cầu tìm đến khu vực bảo hiểm tư nhân và có khả năng bao quát m i công dân trong cùng
một chương trình. Điểm khác biệt chủ yếu giữa mô hình phúc lợi bao quát này với mô hình an
sinh cơ bản nằm ở mức độ trợ cấp có liên quan với mức thu nhập kiếm được và mức độ bao phủ
của các chế độ bảo hiểm.
Những đặc điểm chính của các mô hình nêu trên được tóm tắt trong bảng sau đây.
Bảng 1. Đặc điểm của các mô hình điển hình của các đ nh chế bảo hiểm xã hội ở các nước Tây
phương, xét theo quá trình phát triển l ch sử của các đ nh chế này, theo Walter Korpi và Joakim
Palme, 1998
Các mô hình
a. Mô hình nhắm tới những đối tượng nhất định
b. Mô hình bao gồm những chương trình phúc

Cơ sở để được hưởng
phúc lợi
Phải chứng minh nhu cầu
cần trợ cấp
Tư cách thành viên; phải

Nguyên tắc trợ cấp
Mức tối thiểu
Mức trợ cấp đồng đều, hoặc mức trợ cấp


lợi tự nguyện được nhà nước trợ cấp
c. Mô hình phúc lợi theo nghiệp hội
d. Mô hình an sinh cơ bản
e. Mô hình phúc lợi bao quát

đóng phí
Loại ngành nghề, và sự
tham gia lao động
Tư cách công dân, hoặc
phải đóng phí
Tư cách công dân, và sự
tham gia lao động

dựa trên mức thu nhập kiếm được
Dựa trên mức thu nhập kiếm được
Mức trợ cấp đồng đều
Mức trợ cấp đồng đều, và mức trợ cấp dựa
trên mức thu nhập kiếm được

Ngu n: Walter Korpi, Joakim Palme, "The Paradox of Redistribution and Strategies of Equality:
Welfare State Institutions, Inequality and Poverty in the Western Countries", American Sociological
Review, Vol. 63, No. 5, 1998.

Phân tích căn cứ trên những dữ kiện của năm 1985 liên quan tới các phúc lợi bảo hiểm y tế và
hưu b ng tại 18 nước thuộc khối T chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Walter Korpi
và Joakim Palme đã xếp loại như sau:
- Có ba nước thuộc nhóm mô hình phúc lợi bao quát, bao gồm Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển;
ba nước này đã phát triển mô hình này kể từ những thập niên 1950, 1960 và 1970 sau khi đã trải
qua mô hình an sinh cơ bản và những dạng chương trình phúc lợi tự nguyện có sự tài trợ của nhà
nước.
- Có sáu nước nằm trong nhóm mô hình phúc lợi nghiệp hội, đó là: Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Ý và
Nhật Bản.
- Có tám nước nằm trong nhóm mô hình an sinh cơ bản, trong đó mô hình biến thể theo hướng
"tư cách công dân" bao gồm Canada, Đan Mạch, Hà Lan, New Zealand và Thụy Sĩ, còn mô hình
biến thể theo hướng "bảo hiểm" thì bao gồm Ireland, Anh và Mỹ.
- Và một nước thuộc mô hình phúc lợi nhắm tới những đối tượng nhất định là Úc.
Liên quan đến việc phân loại các hệ thống phúc lợi trên thế giới, Bùi Thế Cư ng (2002) cho rằng
đại thể có ba mô thức cơ bản của chính sách xã hội mà các nước đang đi theo: hệ thống "bảo đảm
toàn dân", hệ thống "bảo hiểm xã hội", và hệ thống "bảo đảm ch n l c" (Bùi Thế Cư ng, 2002,
tr. 16).
Mô hình "bảo đảm toàn dân" là mô hình trong đó nhà nước chủ động tái phân phối các nguồn lợi
quốc gia để chăm lo phúc lợi cho toàn dân, không phân biệt sự khác nhau về đ a v kinh tế, xã
hội và nghề nghiệp (mô hình này cũng còn được g i là mô hình tái phân phối). Các đặc điểm của
mô hình này là: về mặt t chức, nguyên tắc là bảo hiểm xã hội thống nhất; các trợ cấp xã hội
được tái phân phối mạnh mẽ nhằm thu hẹp sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội; về mặt tài
chính, phần lớn ngân sách phúc lợi được trực tiếp lấy từ thuế khóa; sự chuyển d ch thu nhập
thư ng được thực hiện thông qua các t chức d ch vụ xã hội do nhà nước quản lý (chẳng hạn y tế
công cộng). Mô hình này được áp dụng ph biển ở các nước Bắc Âu, nhất là Thụy Điển và Đan
Mạch, và kể cả Anh (đặc biệt là th i k trước nhiệm k của nữ thủ tướng Thatcher). Tuy không
hẳn tương đồng, nhưng cũng có thể xếp vào loại mô hình này các hệ thống bảo đảm xã hội của
Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây.
Mô hình thứ hai, "bảo hiểm xã hội", là mô hình trong đó tuy nhà nước cũng đóng vai trò chính
trong việc đảm bảo phúc lợi cho ngư i dân, nhưng cho phép có thêm nhiều dạng bảo hiểm xã hội
của khu vực tư nhân mà ngư i dân có thể tự nguyện tham gia. Những đặc trưng chính của mô
hình này là: mức đóng phí và mức chi trả trợ cấp bảo hiểm phụ thuộc vào mức thu nhập của
ngư i được bảo hiểm (do đó, mô hình này "phiên d ch" v thế thu nhập của mỗi ngư i trên th
trư ng lao động vào lĩnh vực chính sách xã hội); về mặt t chức, hệ thống bảo hiểm không được
t chức thống nhất, mà theo các loại rủi ro và các nhóm nghề nghiệp; mức độ tái phân phối kém


hơn mô hình trên; nguồn tài chính được lấy từ thỏa ước đóng góp giữa ba bên (nhà nước, ngư i
sử dụng lao động, và ngư i lao động), hoặc hai bên (ngư i lao động và ngư i sử dụng lao động);
sự chuyển d ch thu nhập bằng tiền đóng vai trò lớn hơn là thông qua các d ch vụ xã hội do nhà
nước t chức. Mô hình này được áp dụng ở những nước như Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Áo,
Ý.
Còn mô hình thứ ba, "bảo đảm chọn lọc", theo Bùi Thế Cư ng, là mô hình chủ yếu áp dụng hình
thức bảo hiểm tự nguyện, nhà nước chỉ trợ giúp phúc lợi đối với một số nhóm dân cư ch n l c
nhất đ nh mà thôi (mô hình này còn được g i là mô hình tự do hóa). Những đặc trưng chính của
mô hình này là: dựa trên các hệ thống bảo hiểm tự nguyện (tư nhân hoặc tập thể); mục tiêu chính
của mô hình này là bảo đảm mức hoạt động tự do cao cho các lực lượng th trư ng, đồng th i chỉ
tập trung chính sách xã hội cho ngư i nghèo và yếu thế; mức độ và th i gian trợ cấp thư ng rất
hạn chế; mức độ tái phân phối thấp, và chỉ tập trung vào những nhóm dân cư nghèo. Những nước
đi theo mô hình này là Mỹ, Úc, Canada (Bùi Thế Cư ng, 2002, tr. 16-19).
Ba mô hình trên được tóm tắt trong bảng sau đây.
Bảng 2. Ba mô hình chính sách xã hội trên thế giới, theo Bùi Thế Cư ng, 2003
Mục tiêu
Nguyên tắc tổ chức
Mức độ tái phân
phối
Nguồn tài chính
Mức can thiệp của
nhà nước

Bảo đảm toàn dân
Phúc lợi toàn dân

Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm toàn dân

Bảo hiểm xã hội tập
trung thống nhất
Cao

Nhiều loại hình bảo
hiểm xã hội
Trung bình

Thuế

Đóng góp hai hoặc ba
bên
Trung bình

Cao

Bảo đảm chọn lọc
Bảo hiểm tự nguyện kết hợp với sự trợ giúp
của nhà nước có chọn lọc
Bảo hiểm tư nhân. Trợ giúp của nhà nước
Thấp
Đóng góp hai bên. Trợ giúp của nhà nước lấy
từ thuế
Thấp

Ngu n: Bùi Thế Cư ng, "Phúc lợi xã hội ở Việt Nam: Hiện trạng, vấn đề và điều chỉnh", Báo cáo đề tài nghiên cứu
cấp Bộ, Hà Nội, Trung tâm Khoa h c Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Xã hội h c, 2003, tr. 15.

Phạm Xuân Nam (2008) cho rằng, trên thế giới, có ba mô hình kinh tế tiêu biểu trong việc giải
quyết mối quan hệ giữa việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện sự công bằng xã hội,
đó là:
- Mô hình kinh tế thị trường tự do (dựa trên lý thuyết của Hayek, Milton Friedman...), trong đó
"ngư i ta hạ thấp vai trò của nhà nước, đề cao v trí của khu vực tư nhân, giảm chi tiêu từ ngân
sách quốc gia cho các lợi ích công cộng", và chủ trương rằng "tăng trưởng kinh tế phải đi trước,
công bằng xã hội sẽ theo sau".
- Mô hình kinh tế thị trường xã hội (dựa trên lý thuyết của John Maynard Keynes) trong đó "kết
hợp sử dụng kinh tế th trư ng tư bản chủ nghĩa với việc thi hành một hệ thống các chính sách
phúc lợi để tạo ra sự đồng thuận xã hội cho phát triển", bao gồm: trợ cấp cho giáo dục, y tế, trẻ
em, ngư i già, ngư i tàn tật, ngư i thất nghiệp Điển hình của mô hình này là nhà nước phúc
lợi Thụy Điển.
- Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung phi thị trường ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
trước đây, từng có th i gian "phát huy tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế
theo chiều rộng" và "tạo nên sự bình n xã hội bằng những chính sách quan tâm đến các mặt của
đ i sống con ngư i", nhưng về sau "do cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ dần biến thành tập
trung quan liêu và thực hiện chế độ bao cấp về cơ bản theo chủ nghĩa bình quân" (Phạm Xuân
Nam, 2008).


4. Ý NGHĨA CỦA HỆ THỐNG PHÚC LỢI XÃ HỘI

Karl Polanyi từng cho rằng l ch sử xã hội các nước công nghiệp trong th i k ban đầu là kết quả
của cả hai luồng vận động cùng một lúc (double movement): luồng thứ nhất là sự khuếch trương
của th trư ng, và luồng vận động thứ hai đi kèm theo, đó là sự kiềm chế và ngăn chặn của các
đ nh chế chính tr và xã hội đối với luồng vận động thứ nhất nhằm chống lại những tác động tai
hại của một nền kinh tế do th trư ng kiểm soát. Ông cho rằng đặc trưng quan tr ng nhất của l ch
sử xã hội th i k ấy là "xã hội đã tự bảo vệ mình trước những mối hiểm h a cố hữu của một hệ
thống th trư ng tự điều tiết" (Polanyi, 2001, tr. 79-80).
Theo Bùi Đình Thanh, mối quan hệ giữa nền kinh tế th trư ng với tính công bằng xã hội cần
được hiểu như sau: "Một điều cần nhấn mạnh là bản thân kinh tế thị trường không tự động đảm
bảo cho công bằng xã hội. Phải có những điều tiết của xã hội thông qua nhà nước để phân phối
lại những kết quả hoạt động kinh tế theo hướng bảo đảm công bằng xã hội (...). Không thể đồng
ý với quan niệm cho rằng nếu coi tr ng công bằng xã hội thì khó lòng tập trung các nguồn lực
bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế. Xét về ngắn hạn thì có thể như vậy, nhưng nếu xét
theo triển v ng lâu dài thì quan niệm này rất có hại. (...) Theo tư duy kinh tế mới, đầu tư cho các
l nh vực xã hội cũng là trực tiếp đầu tư cho kinh tế, nhất là xét theo triển v ng dài hạn" (Bùi
Đình Thanh, 2001, tr. 48, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q).
Một hệ thống phúc lợi xã hội tự nó không thể giải quyết được vấn đề bất bình đẳng trong xã hội,
bởi lẽ điều này phụ thuộc vào cả một hệ thống các chính sách vĩ mô của nhà nước như chiến
lược đầu tư, chính sách tài chính, chính sách thuế khóa, chính sách lương b ng... Tuy vậy, hệ
thống phúc lợi vẫn là một thành tố không thể thiếu trong một hệ thống chính sách kinh tế-xã hội
quốc gia nhằm giúp cho xã hội có thể "tự bảo vệ mình trước những mối hiểm họa cố hữu của một
hệ thống thị trường tự điều tiết", nói theo ngôn từ của Polanyi.
Vì thế, việc xây dựng một hệ thống phúc lợi xã hội vững mạnh là điều cần thiết và tất yếu của
bất cứ xã hội nào thực sự muốn bảo vệ các công dân của mình. Đặc trưng cốt lõi của hệ thống
phúc lợi này chính là bảo vệ các quyền xã hội của công dân, tức là quyền được đáp ứng những
nhu cầu thiết yếu nhất để có được một cuộc sống tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người, bằng
cách "phi hàng hóa hóa" các d ch vụ phúc lợi (decommodification), nói như Gøsta EspingAndersen, nhằm tạo điều kiện cho mỗi ngư i được thụ hưởng các d ch vụ phúc lợi xã hội mà
không lệ thuộc vào th trư ng, và qua đó "giảm bớt tư cách 'hàng hóa' của các công dân"
(Esping-Andersen, 1991, tr. 3).
Sở dĩ hệ thống phúc lợi xã hội mang ý nghĩa lớn lao đối với ngư i dân là vì, trong các xã hội
ngày nay, xu hướng áp đảo là xã hội vận hành phụ thuộc vào th trư ng, trong khi lẽ ra phải là
ngược lại. Theo l i Karl Polanyi, "đáng lý nền kinh tế phải bám chặt (embedded) vào các mối
quan hệ xã hội, thì các mối quan hệ xã hội lại phải bám chặt vào hệ thống kinh tế" (Polanyi,
2001, tr. 60).
Hiểu theo nghĩa đó, có thể nói chính hệ thống phúc lợi xã hội là một đ nh chế quan tr ng giúp
cho ngư i dân xác lập được tư thế con người cũng như tư thế công dân của mình một cách đúng
đắn trong một xã hội dân chủ và văn minh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×