Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu thu nhận và đánh giá một số đặc tính hóa học của lectin từ ốc nón đỏ tectus conus

BÔ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU THU NHẬN VÀ ĐÁNH GIÁ
MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÓA HỌC CỦA LECTIN TỪ ỐC
NÓN ĐỎ TECTUS CONUS

Ngành

: Công nghệ kĩ thuật hóa học

Cán bộ hƣớng dẫn

: TS. Lê Đình Hùng

Họ và tên sinh viên : Huỳnh Lê Thanh Thúy
Mã số sinh viên

: 56132057


Khánh Hòa, ngày 05 tháng 07 năm 2018


BÔ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU THU NHẬN VÀ ĐÁNH GIÁ
MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÓA HỌC CỦA LECTIN TỪ ỐC
NÓN ĐỎ TECTUS CONUS

Ngành

: Công nghệ kĩ thuật hóa học

Cán bộ hướng dẫn

: TS. Lê Đình Hùng

Họ và tên sinh viên

: Huỳnh Lê Thanh Thúy

Mã số sinh viên

: 56132057

Khánh Hòa, ngày 05 tháng 07 năm 2018


iii

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Lê Đình Hùng – trưởng
phòng công nghệ sinh học biển – Viện nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ Nha Trang
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt nhiều kiến thức trong suốt quá trình hoàn
thành đồ án tốt nghiệp đại học.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ nghiên cứu phòng Công nghệ sinh
học biển và ban lãnh đạo Viện nghiên cứu và Ứng dụng và công nghệ Nha Trang đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp.


Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong bộ môn Công nghệ kỹ thuật
hóa học - Khoa Công nghệ Thực phẩm, trường đại học Nha Trang đã truyền đạt, trang
bị cho tôi những kiến thức cần thiết và quý báu trong thời gian học tập tại trường.
Và cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động
viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày 11 tháng 07 năm 2018
Sinh viên

Huỳnh Lê Thanh Thúy


iv

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của
giáo viên hướng dẫn và sự giúp đỡ của tập thể cán bộ nghiên cứu Phòng công nghệ
sinh học biển – Viện nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ Nha Trang. Các số liệu và
kết quả trong luận văn là trung thực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những lời cam đoan trên.
Khánh Hòa, ngày 11 tháng 07 năm 2018
Sinh viên

Huỳnh Lê Thanh Thúy


v

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. iii
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................... iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................... ix
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................................... x
DANH MỤC HÌNH ẢNH ............................................................................................. x
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN ........................................................................................ 3
1.1. Tổng quan về động vật thân mềm biển (Mollusca) ................................................ 3
1.2. Tổng quan về ốc nón Tectus conus ......................................................................... 3
1.3. Tổng quan về lectin................................................................................................. 4
1.3.1. . Định nghĩa ........................................................................................................ 4
1.3.2. . Sự phân bố lectin trong sinh giới ..................................................................... 5
1.3.3. . Vai trò sinh học của lectin ................................................................................ 6
1.3.4. . Cấu tạo của phân tử lectin ................................................................................ 6
1.3.4.1. Cấu trúc và phân loại .......................................................................... 6
1.3.4.2. Cấu tạo phân tử ................................................................................... 7
1.3.4.3. Trung tâm hoạt động của lectin .......................................................... 7
1.3.4.4. Khối lượng phân tử của lectin ............................................................. 8
1.3.5. . Một số tính chất hóa lí và sinh học của lectin .................................................. 9
1.3.5.1. Tính tan và kết tủa ............................................................................... 9
1.3.5.2. Khả năng tương tác với đường của lectin ........................................... 9
1.3.5.3. Khả năng gây ngưng kết tế bào ......................................................... 10
1.3.6. . Ảnh hưởng của một số yếu tố tới hoạt độ của lectin ...................................... 10


vi
1.3.6.1. Ảnh hưởng của pH ............................................................................ 10
1.3.6.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường ................................................. 11
1.3.6.3. Ảnh hưởng của một số yếu tố khác ................................................... 11
1.3.7. . Một số ứng dụng của lectin ............................................................................ 12
1.4. .... Lectin từ động vật thân mềm biển .................................................................. 12
1.4.1. . Một số dạng lectin ở động vật thân mềm biển ............................................... 12
1.4.2. . Tình hình nghiên cứu lectin từ động vật thân mềm biển ............................... 13
1.5. Phương pháp thu nhận lectin ................................................................................ 15
1.5.1. . Các kỹ thuật chiết xuất lectin ......................................................................... 15
1.5.2. . Kỹ thuật kết tủa bằng muối trung tính ........................................................... 16
1.5.3. . Kết tủa phân đoạn bằng dung môi.................................................................. 16
1.5.4. . Thẩm tách ....................................................................................................... 16
1.5.5. . Các kỹ thuật tinh sạch bằng sắc ký ................................................................ 16
CHƢƠNG 2- VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................... 18
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ....................................................... 18
2.2. Vật liệu, hóa chất và thiết bị nghiên cứu .............................................................. 18
2.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 20
2.3.1. . Quy trình nghiên cứu tổng quát lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus ................ 20
2.3.2. . Xác định hoạt độ lectin bằng phương pháp Ngưng kết hồng cầu .................. 21
2.3.3. . Xác định hàm lượng Protein bằng phương pháp Lowry ................................ 22
2.3.4. . Phương pháp khảo sát các yếu tố cho quá trình chiết lectin từ ốc nón đỏ
Tectus conus .............................................................................................................. 23
2.3.4.1. Khảo sát dung môi chiết ................................................................... 24
2.3.4.2. Khảo sát tỉ lệ nguyên liệu:dung môi (w/v)........................................ 24
2.3.4.3. Khảo sát thời gian chiết .................................................................... 24


vii
2.3.4.4. Khảo sát nồng độ muối (NH4)2SO4 thích hợp để kết tủa lectin ........ 24
2.3.5. . Tinh sạch bằng kỹ thuật sắc ký trao đổi ion DEAE-Sepharose ..................... 25
2.3.6. . Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của pH, nhiệt độ lên hoạt tính ngưng kết
hồng cầu của lectin .................................................................................................... 26
2.3.6.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ .................................................................... 26
2.3.6.2. Ảnh hưởng của pH ............................................................................ 26
2.3.7. . Phương pháp khảo sát đặc tính liên kết carbohydrate của lectin ................... 26
2.3.8. . Phương pháp xử lý số liệu .............................................................................. 28
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................................ 30
3.1. Ảnh hưởng của điều kiện chiết đến hoạt tính ngưng kết hồng cầu của lectin từ ốc
nón đỏ T.conus ...................................................................................................... 30
3.1.1. . Ảnh hưởng của dung môi chiết ...................................................................... 30
3.1.2. . Ảnh hưởng của tỉ lệ dung môi chiết ............................................................... 31
3.1.3. . Ảnh hưởng của thời gian chiết ....................................................................... 32
3.2. Tinh sạch lectin ..................................................................................................... 33
3.2.1. . Khảo sát nồng độ ammonium sunfate (NH4)2SO4 để kết tủa lectin ............... 33
3.2.2. . Kết quả tinh sạch bằng kỹ thuật sắc ký trao đổi ion trên nhựa DEAESepharose .................................................................................................................. 34
3.2.3. . Kết quả tổng hợp quá trình tinh sạch sơ bộ lectin từ ốc nón đỏ T.conus ....... 35
3.3. Kết quả khảo sát một số đặc tính hóa lý và sinh học của lectin từ ốc nón đỏ
Tectus conus ......................................................................................................... 38
3.3.1. . Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt độ NKHC của lectin từ ốc nón đỏ Tectus
conus. ........................................................................................................................ 38
3.3.2. . Ảnh hưởng của pH đến hoạt độ NKHC của lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus40
3.3.3. . Khả năng liên kết carbohydrate của lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus .......... 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 43


viii
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 46


ix

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BSA

: Albumin huyết thanh bò

TBS

: Dung dịch đệm Tris (hydroxymethyl) aminomethane – HCl chứa muối
natri clorua

PBS

: Dung dịch đệm phosphate chứa muối natri clorua

C

: nồng độ của đường và glycoprotein

Cmin

: nồng độ nhỏ nhất của đường (mM) hoặc glycoprotein ( g/ml) mà tại đó
hiện tượng NKHC do lectin gây ra bị ức chế hoàn toàn

DC

: dịch chiết

HĐR

: hoạt độ riêng

HĐTS

: hoạt độ tổng số

NKHC

: ngưng kết hồng cầu


x

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Các thiết bị chính sử dụng trong nghiên cứu ............................................... 19
Bảng 2.2. Các loại đường và glycoprotein sử dụng để khảo sát đặc tính liên kết đường
của lectin ........................................................................................................................ 27
Bảng 3.1. Kết quả tinh sạch lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus ...................................... 35

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Ốc nón đỏ Tectus conus ................................................................................... 4
Hình 2.2. Phương trình đường chuẩn protein theo phương pháp Lowry ...................... 23
Hình 2.3. Ảnh hưởng của các gốc đường đến khả năng liên kết giữa lectin với các tế
bào hồng cầu .................................................................................................................. 27
Hình 3.1. Ảnh hưởng của dung môi chiết đến hoạt độ tổng số và hoạt độ riêng của
lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus ................................................................................... 30
Hình 3.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ nguyên liệu:dung môi (w/v) đến hoạt độ tổng số và hoạt
độ riêng của lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus............................................................... 31
Hình 3.3. Ảnh hưởng của thời gian chiết đến hoạt độ tổng số và hoạt độ riêng của
lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus ................................................................................... 32
Hình 3.4. Ảnh hưởng của nồng độ tủa ammonium sulfate đến hoạt độ tổng số và hoạt
độ riêng của lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus............................................................... 33
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn độ hấp thụ (λ=280nm)và hoạt độ ngưng kết hồng cầu của
quá trình sắc ký trao đổi ion DEAE - Sepharose ........................................................... 35
Hình 3.6. Sơ đồ quy trình thu nhận và tinh sạch sơ bộ lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus37
Hình 3.7. Ảnh hưởng của nhiệt độ lên hoạt độ NKHC của lectin từ ốc nón đỏ Tectus
conus .............................................................................................................................. 39
Hình 3.8. Ảnh hưởng của pH tới hoạt độ NKHC của lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus40


1

MỞ ĐẦU
Đại dương là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của con người và là nơi sinh
sống của hơn 80% các loài sinh vật trên Trái Đất [28]. Sinh vật biển không chỉ đa dạng
về số loài, dồi dào về số lượng, mà chính trong những điều kiện sống khắc nghiệt về
nồng độ muối, ánh sáng, áp lực dòng chảy, nhiệt độ… chúng còn sản sinh ra nhiều hợp
chất để tồn tại và phát triển, mà phần lớn trong số đó không được tìm thấy ở các sinh
vật trên cạn [22],[57]. Các hợp chất hữu cơ ở sinh vật biển như acid béo,
polysaccharide, polyether, peptide, protein và enzyme đã được chứng minh có các
hoạt tính sinh học đa dạng như hoạt tính kháng vi sinh vật, kháng viêm, kháng virus,
kháng u [45],[27],[43]… Do đó, các hợp chất tự nhiên từ sinh vật biển đã thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực y dược nhằm
nghiên cứu phát triển các loại thuốc mới tiềm năng kháng các vi sinh vật gây bệnh,
kháng virus HIV, kháng ung thư và thuốc chữa bệnh Alzhemer….[52],[56].
Trong số các sinh vật biển, nhuyễn thể là một trong những ngành có số lượng
loài lớn nhất với hơn 85000 loài đã được xác định [63]. Cũng như các sinh vật biển
khác, nhuyễn thể không có hệ miễn dịch đáp ứng. Do đó, để tồn tại trong môi trường
biển với mật độ vi sinh vật cao lên đến 106 tế bào vi khuẩn/ml-1 và 109 virus/ml-1 nước
biển, đa số là các loài gây bệnh, các loài nhuyễn thể phải phát triển hệ thống bảo vệ cơ
thể bằng các cơ chế sinh học nhằm phát hiện và xử lý các kháng nguyên hiện diện trên
bề mặt tế bào vi sinh vật gây bệnh như Lipopolysaccharides (LPS), lipoteichoic acid,
lipoproteins, peptidoglycan bằng cách sản sinh ra các hợp chất hóa học, các enzymes,
các peptides, proteins… Nhiều hợp chất trong số này đã được chứng minh có các hoạt
tính sinh học như kháng vi sinh vật, kháng ung thư, kháng viêm có tiềm năng sử dụng
để phát triển thành các loại thuốc mới [25] Trong đó phải kể đến lectin.
Lectin từ các sinh vật biển nói chung, và từ nhuyễn thể nói riêng là tiềm năng để
phát triển thành các loại thuốc mới kháng virus, kháng vi khuẩn, kháng u và điều biến
miễn dịch… Các cấu trúc proteoglycan, glycoprotein và glycolipid liên quan đến một
số loại tế bào nhất định, cũng như các chức năng sinh lý và bệnh lý của chúng bao
gồm khả năng tương tác với tế bào chủ, mối liên hệ giữa tế bào – tế bào, là điều kiện
ban đầu để gây nên nhiều bệnh lý. Lectin có thể nhận biết các dạng carbohydrate khác


2
nhau trong cấu trúc proteoglycan, glycoprotein và glycolipid, kết quả là chúng có thể
điều chỉnh các tế bào thông qua sự hình thành glyco liên hợp, do đó ngăn chặn sự
tương tác giữa các tác nhân gây bệnh với vật chủ qua liên kết với các oligosaccharide
trên bề mặt của tác nhân gây bệnh [49].
Lectin từ nhuyễn thể đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới. Ở Việt nam cũng có
một số nghiên cứu của Nguyễn Quốc Khang và Cao Đăng Nguyên. Tuy nhiên, số
lượng các nghiên cứu này còn rất hạn chế và chưa tương xứng với số lượng các loài
nhuyễn thể tại vùng biển Việt Nam (có hơn 903 loài thuộc lớp chân bụng và 228 loài
thuộc lớp 2 mảnh vỏ). Do đó, cần đẩy mạnh các nghiên cứu về lectin từ nhóm đối
tượng này. Cũng theo kết quả sàng lọc sơ bộ trên hơn 20 loài thuộc lớp chân bụng và 2
mảnh vỏ thu nhận tại vùng biển Nha Trang của tác giả Trần Thị Ngọc Kiều (2016) đã
cho thấy lectin hiện diện ở khá nhiều loài. Trong đó, lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus
là một trong những lectin thể hiện hoạt tính NKHC tương đối tốt. Do đó, trong phạm
vi đồ án tốt nghiệp, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ―Nghiên cứu thu nhận và đánh
giá một số đặc tính hóa học của lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus‖ nhằm:
Xây dựng quy trình tách chiết và thu nhận lectin từ ốc nón đỏ Tectus conus thu
nhận tại Nha Trang, Khánh Hòa.
Đánh giá sơ bộ một số tính chất hóa lý và sinh học của lectin từ ốc nón đỏ Tectus
conus.
Ý nghĩa đề tài
Kết quả đề tài là cơ sở quan trọng cho các nghiên cứu về lectin từ động vật biển,
bổ sung vào nguồn tư liệu các hợp chất có hoạt tính sinh học từ sinh vật biển tại vùng
biển Việt Nam.


3

CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về động vật thân mềm biển (Mollusca)
Ngành thân mềm (Mollusca, còn gọi là nhuyễn thể hay thân nhuyễn) là một
ngành trong phân loại sinh học có các đặc điểm như cơ thể mềm, có thể có vỏ đá vôi
che chỡ và nâng đỡ, tùy lối sống mà vỏ và cấu tạo cơ thể có thể thay đổi.
Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới. Phía Đông và Nam đều giáp biển,
có nhiều vũng, vịnh, cửa sông đổ ra biển, nền đáy đa dạng tạo nên khu hệ động vật
phong phú về thành phần loài. Động vật thân mềm là một trong các loài đem lại lợi ích
kinh tế cao. Do đó việc nghiên cứu động vật Thân mềm được tiến hành sâu rộng từ thế
kỉ XX, nhất là sau khi viện Hải Dương học Nha Trang được thành lập (năm 1922).
Năm 1996, Nguyễn Chính nghiên cứu, tổng kết và giới thiệu 88 loài Thân mềm có giá
trị kinh tế ở biển Việt Nam [12].
1.2. Tổng quan về ốc nón Tectus conus
Ốc nón đỏ T.conus (Gmelin, 1791) [21]
T.conus, là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong
họ Tegulidae, thuộc ngành thân mềm. Ốc nón đỏ sống ở các rạn san hô, từ vùng triều
thấp đến độ sâu 5m, phân bố rộng ở vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, xuất hiện ở Biển
Đỏ, ngoài khơi Philippines, Indonesia-Malaysia và từ phía bắc đến phía nam Nhật
Bản. Tại Việt Nam, ốc nón đỏ Tectus conus được tìm thấy ở nhiều vùng biển như
Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Quốc…
Ốc nón đỏ T.conus còn có tên gọi khác Trochus conus (Gmelin, 1791) Chiều cao
của vỏ ốc thay đổi từ 45 mm đến 70 mm, đường kính từ 45 mm đến 60 mm. Lớp vỏ
dày, chắc chắn có hình dạng hình chóp.


4

Hình 1.1. Ốc nón đỏ Tectus conus
Phân loại khoa học [64]
Giới (Kingdom): Động vật
Ngành (Phylum): Thân mềm (Mollusca)
Lớp (Class): Chân bụng (Gastropoda)
Họ (Family): Tegulidae
Chi (Genus): Tectus
Loài (Species): T. conus
1.3. Tổng quan về lectin
1.3.1.

Định nghĩa

Thuật ngữ ―Lectin‖ (Lectin bắt nguồn từ chữ ―Lectus‖, dạng quá khứ của động từ
―Legre‖, trong tiếng Latin có nghĩa là ―lựa chọn‖) - được Boyr và Shapleigh bắt đầu sử
dụng vào năm 1954 để chỉ nhóm các chất từ thực vật có khả năng ngưng kết đặc hiệu
nhóm máu, đây có thể được coi là khái niệm đầu tiên về lectin [20].
Sau đó, có thêm nhiều định nghĩa khác về lectin. Năm 1980, Goldstein và các
cộng sự đã đưa ra định nghĩa ―Lectin là những protein hoặc glycoprotein có khả năng
gây ngưng kết tế bào hồng cầu‖. Khái niệm này đồng nhất với định nghĩa về lectin mà
Houston và Dooley đã đưa ra năm 1982: ―Lectin là protein tương tác đặc hiệu đường,
đặc tính cơ bản của nó là khả năng gây ngưng kết tế bào hồng cầu‖. Năm 1995, Peuman
và Van Dame đã đưa ra một khái niệm mới về cấu trúc liên quan đến tính chất của


5
lectin: ―Lectin là protein mà cấu trúc phân tử có chứa ít nhất một vị trí liên kết đặc hiệu
đường‖ [31],[50].
Và một trong những định nghĩa khá đầy đủ về lectin như sau: ―Lectin là một loại
protein không gây đáp ứng miễn dịch có khả năng liên kết thuận nghịch, phi hóa trị
với carbohydrate mà không làm thay đổi cấu trúc của carbohydrate được liên kết. Sự
hiện diện của hai hay nhiều vị trí gắn kết đối với mỗi phân tử lectin cho phép nó gắn
kết nhiều loại tế bào và phản ứng gắn kết với hồng cầu được sử dụng rất rộng rãi để
kiểm tra sự hiện diện của lectin trong dịch chiết từ các sinh vật khác nhau‖[40].
1.3.2.

Sự phân bố lectin trong sinh giới

Lectin được phát hiện ở gần như tất cả các sinh vật ở mọi cấp bậc phân loại
từ virus đến vi khuẩn, thực vật và động vật.
Ở thực vật: Lectin phân bố khá rộng ở các loài thực vật từ bậc thấp đến bậc cao,
từ trên cạn xuống dưới nước. Hơn 1000 loài được phát hiện có sự có mặt của lectin,
tuy nhiên mới chỉ biết rõ 4-5% lectin ở những họ thực vật có hoa. Đa số các lectin
được nghiên cứu chi tiết nhất đều thuộc họ đậu, chiếm 60% các lectin được nhiều
người biết đến. Lectin được phát hiện ở hầu hết các mô thực vật, nhưng sự phân bố
của chúng trong các mô thay đổi theo các họ đã được nghiên cứu. Chúng có nhiều ở
hạt (họ đậu, họ đại kích, hòa thảo), quả và củ (họ cà, họ hành), rễ (họ bầu bí, họ đậu),
ở chồi và lá (họ xương rồng và họ lan) [18]. Không chỉ ở thực vật bậc cao, lectin còn
được tìm thấy ở nhiều loài thực vật bậc thấp như ở một số loài nấm, địa y và rong. Vẫn
còn nhiều loài thực vật chưa được nghiên cứu, tuy nhiên, những dẫn chứng khoa học
được công bố đã cho thấy được sự phân bố khá rộng của lectin ở các loài thực vật [5].
Ở động vật: lectin cũng đã được nghiên cứu ở một số đối tượng và chúng được
phát hiện ở hầu hết các sinh vật có xương sống lẫn không xương sống. Lectin ở sinh
vật không xương sống có chủ yếu ở dịch hoặc dịch tiết, như huyết thanh cá, nọc rắn,
tinh dịch, huyết tương. Lectin ở động vật có xương sống tồn tại ở dạng tự do hoặc
protein cấu trúc màng ở dịch phôi, các cơ quan và mô ở cơ thể trưởng thành [59].
Ở vi sinh vật: Lectin có nguồn gốc từ vi sinh vật được Alfred Gottschalk phát
hiện lần đầu tiên trên virus cúm vào đầu những năm 1950 và được Don Wiley cùng
cộng sự kết tinh cũng như xác định cấu trúc vào năm 1981. Sau đó, một lượng lớn các


6
hemagglutinin từ virus đã được phát hiện và kết tinh. Sự có mặt hemagglutinin trên
virus cúm đã mở ra một cái nhìn mới về sự hiện diện của hợp chất này trên vi khuẩn
và động vật nguyên sinh [62]. Trên đối tượng vi khuẩn, các nghiên cứu về lectin bắt
đầu vào những năm 1950 bởi nhóm nghiên cứu của Duguid ở Anh và Brinton ở Mỹ.
Theo đó, hoạt tính ngưng kết hồng cầu được thể hiện ở nhiều loài vi khuẩn, phần lớn
thuộc họ Enterobacteriacae. Lectin ở vi khuẩn liên quan đến các fimbrae (hay còn gọi
là pili) trên bề mặt tế bào vi khuẩn. Lectin giữ vai trò quan trọng trong cơ chế bám
dính của vi khuẩn vào tế bào chủ - tạo điều kiện tiên quyết cho quá trình gây bệnh của
vi khuẩn [53].
1.3.3.

Vai trò sinh học của lectin

Ở động vật: lectin phục vụ nhiều chức năng sinh học quan trọng như quyết định
độ bám dính của tế bào; tham gia vào quá trình tổng hợp glycoprotein; điều chỉnh
lượng protein trong máu. Lectin có thể liên kết được với các glycoprotein nội và ngoại
bào. Một số lectin liên kết đặc hiệu với đường galactose cũng được tìm thấy trên bề
mặt tế bào gan của động vật có vú. Những lectin này đóng vai trò như những thụ thể
bề mặt tế bào và có khả năng loại bỏ một số glycoprotein nhất định trong hệ tuần hoàn.
Thêm vào đó, lectin cũng giữ một vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch của động vật.
Ở thực vật có hai giả thuyết về vai trò của lectin. Một giả thuyết cho rằng giúp
thực vật chống lại vi khuẩn gây bệnh và các sinh vật gây hại. Giả thuyết này được đưa
ra dựa trên quan sát ở Rehovot cho thấy lectin ức chế quá trình tạo bào tử nấm. Ngoài
ra, một quan sát của Lierner về sự chết của ấu trùng bọ cánh cứng khi ăn thức ăn có
lectin đậu đen cũng góp phần làm rõ thêm cho giả thuyết này [37]. Giả thuyết thứ hai
là sự kết hợp đặc hiệu của một giống đậu nào đó với một số vi khuẩn cố định đạm
nhất định. Thành phần đường của các polysaccharide hoặc lipopolysaccharide trên
màng tế bào các loài vi khuẩn là khác nhau, và khả năng liên kết của lectin của các họ
đậu khác nhau với các gốc đường này cũng có sự khác biệt [55].
Lectin cũng đóng vai trò quan trọng đối với quá trình gắn virus vào tế bào vật
chủ, mở đầu cho quá trình tấn công tế bào vật chủ của virus.
1.3.4.
1.3.4.1.

Cấu tạo của phân tử lectin
Cấu trúc và phân loại


7
Năm 1988, khi Drickamer xem xét những gì đã được biết đến trong cấu trúc chính
của lectin ở động vật, có thể kết luận rằng hầu hết lectin thuộc về một trong 2 nhóm
chính: C-type (phụ thuộc Ca2+) và S-type (phụ thuộc lưu huỳnh hoặc liên kết beta galactoside). Cả 2 loại đều có một miền bảo tồn khoảng 120 amino acid, mặc dù C-type
và S-type hoàn toàn không liên quan đến nhau. Các trường hợp ngoại lệ được biết đến
vào thời điểm đó là một nhóm không đồng nhất được gọi là ―N-type‖.
Lectin động vật hiện nay ít nhất có 25 loại khác nhau về nếp gấp bao gồm Ctype, I-type (nếp gấp Ig), P-type, β-sandwich (thạch cuộn, có mặt trong gallectins),
calnexin/calreticulin,

ERGIC-53

(endoplasmatic

reticulum-Golgi

intermediate

compartment-53—L-type), G-domain thuộc họ LNS (laminin, agrin), β-trefoil, domain
giàu cysteine thuộc thụ thể mannose đại thực bào C-type, fibrinogen-like domain
(ficolins), intelectins và tachylectin-5 [60],[50].
1.3.4.2.

Cấu tạo phân tử

Lectin có bản chất là protein hoặc glycoprotein, điển hình là ConA
(Concanavalin A) chiết từ Canavalia ensiformis và lectin mầm lúa mì WGA (wheat
germ agglutinin).
Thành phần carbohydrate của lectin bao gồm các đường mannose, glucose,
galactose. Ngoài ra, còn có axit sialic (là dẫn xuất N-acyl của axit neuraminic) thường
nằm ở phần cuối oligosaccaride của các glycoprotein hoà tan.
Lectin của mỗi loài chứa thành phần axit amin khác nhau, nhưng phổ biến nhất
là axit aspartic, serin, arginin và threonin. Các axit amin này chiếm tới 30% thành
phần phân tử lectin. Trong khi đó, các axit amin chứa lưu huỳnh như cystein,
methionin chỉ chiếm tỉ lệ thấp, hoặc hầu như không có trong thành phần lectin.
1.3.4.3.

Trung tâm hoạt động của lectin

Bất cứ một dạng lectin nào dù có cấu trúc bậc 1 hay cấu trúc không gian phức
tạp đều chứa trung tâm hoạt động. Đó là trung tâm liên kết carbohydrate. Chính trung
tâm này quyết định hoạt tính của lectin. Nếu như ở enzyme, trung tâm hoạt động của
chúng là các gốc acid amin hoặc phần phi protein thì ở hầu hết các lectin, trung tâm
hoạt động của chúng là do một số acid amin như tyrosin, serin, threonin,


8
tryptophan…có khả năng liên kết mạnh với các gốc đường tạo nên [26]. Các dạng
lectin khác nhau thì có thành phần acid amin trong trung tâm hoạt động là khác nhau.
Cho đến nay, vấn đề về trung tâm hoạt động của lectin vẫn còn rất phức tạp.
Về cơ chế hoạt động của lectin, các nhà khoa học đều thống nhất như sau: Các
trung tâm hoạt động của các phân tử lectin đều có khả năng liên kết các gốc đường
trong các thụ thể tiếp nhận (receptor) trên bề mặt màng tế bào. Các liên kết sẽ được
hình thành giữa các receptor trên bề mặt màng tế bào với các trung tâm hoạt động của
lectin. Nhờ các liên kết này mà lectin đã kết dính các tế bào, tạo nên hiện tượng
ngưng kết tế bào. Các dạng lectin khác nhau, khả năng liên kết với các receptor trên
bề mặt tế bào cũng khác nhau. Giống như enzyme, trung tâm hoạt động của lectin chỉ
hoạt động khi nó nằm trong một cấu trúc hoàn chỉnh của phân tử. Bất kì một tác nhân
nào phá vỡ cấu trúc phân tử lectin đều sẽ làm giảm hoặc mất khả năng hoạt động của
trung tâm này. Chính vì vậy, hoạt độ của lectin phụ thuộc chặt chẽ vào một số tác
nhân lý hóa của môi trường [26].
1.3.4.4.

Khối lƣợng phân tử của lectin

Bằng các phương pháp xác định khối lượng phân tử như: phương pháp điện di
trên gel polyacrylamide, phương pháp siêu li tâm và phương pháp quang phổ khối ion
hóa phun điện tử (electronsprayionization–massspectrometry) khối lượng phân tử của
khá nhiều dạng lectin đã được xác định. Có thể kết luận khối lượng phân tử của các
loại lectin có nguồn gốc khác nhau thì khối lượng có thể giống hoặc khác nhau và dao
động trên một dải rất rộng từ vài nghìn Dalton (lectin của rễ cây tầm ma Urtica
dioica: 8500 Da) cho tới vài trăm nghìn Dalton (lectin của sam biển châu Á:
Tachypleus tridentatus 700.000Da) [35].
Do phân tử lectin có thể được cấu tạo từ nhiều tiểu đơn vị, nên khối lượng phân
tử của chúng phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc không gian. Các yếu tố này làm thay
đổi cấu trúc không gian của lectin như: pH, dung dịch urê nồng độ cao, guanidinclorit
đều có thể ảnh hưởng đến khối lượng phân tử lectin.
Cho đến nay, khoa học không tìm thấy mối liên quan nào giữa khối lượng phân
tử và hoạt tính của letin. Khối lượng phân tử của lectin không mang tính đặc trưng và
không phụ thuộc vào mức độ tiến hoá của loài hay cá thể.


9
1.3.5.
1.3.5.1.

Một số tính chất hóa lí và sinh học của lectin
Tính tan và kết tủa

Lectin có khả năng hoà tan trong nước, đặc biệt lectin rất dễ tan trong dung môi
là muối loãng, vì vậy trong quy trình tinh chế, các nhà khoa học thường sử dụng các
dung dich đệm chứa muối ở nồng độ sinh lý làm dung môi chiết xuất. Do bản chất là
protein nên lectin dễ kết tủa với: aceton, alcohol ở nhiệt độ thấp một số muối trung
tính nồng độ cao (đặc biệt là ammonium sulfate) và muối kim loại nặng.
1.3.5.2.

Khả năng tƣơng tác với đƣờng của lectin

Khả năng tương tác với đường của lectin là một trong những tính chất điển hình
của lectin. Lectin có thể liên kết với cả phân tử đường đơn lẫn cả gốc đường nằm trên
bề mặt tế bào. Các loại đường như là: glucose và glucosamin, galactose và
galactosamin, fucose, manose... tương tác với nhiều loại lectin.
Có rất nhiều giả thuyết về bản chất sự tương tác giữa lectin với gốc đường, tuy
nhiên các nhà khoa học đều thống nhất là: sự bền vững của phức hợp lectin - đường
được duy trì nhờ các liên kết phân cực (liên kết hidro giữa các nhóm -OH của đường
với các đầu phân cực của các gốc axit amin trên phân tử lectin) và liên kết không phân
cực hay liên kết không gian (liên kết bằng lực Van der -Walls).
Phương pháp xác định sự tương tác giữa đường và lectin đang được sử dụng hiện
nay là xác định hoạt độ NKHC của lectin khi có mặt một loại đường nào đó. Trường
hợp hoạt độ lectin giảm hoặc mất hoàn toàn chứng tỏ đường đã kìm hãm hoạt tính của
lectin. Ngược lại, hoạt độ lectin vẫn ổn định chứng tỏ đường không ức chế.
Có thể nói rằng cơ chế của sự tương tác giữa đường và lectin còn khá phức tạp.
Mặc dù vậy, đặc tính này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong các nghiên cứu sử dụng
lectin. Với các loại lectin tương tác đặc hiệu với một glycoprotein nào đó thì có thể sử
dụng lectin này để nghiên cứu sâu cấu trúc màng tế bào có mặt glycoprotein đó. Một
số nhà khoa học cũng đã sử dụng lectin tương tác đặc hiệu với glycoprotein để xác
định kháng nguyên trên bề mặt màng tế bào hồng cầu. Gần đây, dựa vào các loại
đường ức chế đặc hiệu hoạt độ lectin mà người ta đã sử dụng chúng để tinh chế nhiều
loại lectin bằng sắc kí ái lực, hơn nữa người ta cũng sử dụng cột ái lực letin để tinh
chế và nghiên cứu nhiều loại glycoprotein có chức năng sinh học[32].


10
1.3.5.3.

Khả năng gây ngƣng kết tế bào

Ngưng kết tế bào là đặc tính sinh học điển hình của lectin, các nhà khoa học
dùng đặc tính này để phát hiện sự có mặt của lectin ở các đối tượng nghiên cứu.Đặc
tính này còn giúp phân biệt lectin với những hợp chất sinh học khác cũng có khả năng
tương tác với đường như là glycosidase, glycotranferase.
Để có thể gây ngưng kết tế bào, lectin phải tạo ra nhiều cầu nối giữa các tế bào
bị gắn kết. Tuy nhiên khả năng ngưng kết không chỉ phụ thuộc đơn thuần vào số
lượng lectin, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc tính phân tử của lectin, đặc
ktính màng (số trung tâm liên kết đường, kích thước phân tử, số lượng thụ thể, tính
chất và tình trạng trao đổi chất của màng)… Ngoài ra, một số yếu tố như nồng độ tế
bào, các yếu tố môi trường như: pH, nhiệt độ, chất kích thích, chất kìm hãm, ion kim
loại... cũng là những nhân tố tác động lên khả năng ngưng kết tế bào của lectin.
Số lượng lectin có khả năng gây NKHC duy nhất một nhóm máu rất ít vì chúng
đồng thời có thể gây ngưng kết với nhiều loại hồng cầu như: thỏ, gà, cừu, dê hay
ngựa…. Theo nghiên cứu, trong hơn 800 dạng lectin được nghiên cứu thì chỉ có 90
loại lectin đặc hiệu nhóm máu, 711 loại lectin không đặc hiệu nhóm máu [14],[38].
Các lectin đặc hiệu nhóm máu này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng.
Theo Sharon (2003), lectin không chỉ gây ngưng kết tế bào hồng cầu người và
động vật mà còn có khả năng gây ngưng kết tế bào của vi sinh vật và một số dạng tế
bào khác như: tế bào giao tử, tế bào khối u, tế bào ung thư hay các tế bào phôi [54]…
1.3.6.
1.3.6.1.

Ảnh hƣởng của một số yếu tố tới hoạt độ của lectin
Ảnh hƣởng của pH

Các nghiên cứu về điểm đẳng điện của lectin cho thấy: tại điểm đẳng điện (pHi)
thì hoạt độ của lectin là bé nhất. Tại đó, lectin dễ bị kết tủa. pH ngoài điểm đẳng điện,
lectin ở trạng thái phân li tích điện, dễ hòa tan và có hoạt độ. Mỗi dạng lectin thường
có pH thích hợp với hoạt độ của nó, đó là giá trị pH mà ở đó hoạt độ lectin mạnh nhất
hoặc duy trì ở trạng thái ổn định. Ở pH vùng acid và kiềm mạnh, hoạt độ lectingiảm
hoặc mất hoàn toàn. Thường thì lectin từ thực vật bậc cao, lectin từ động vật có
khoảng pH hẹp. Đối với lectin từ thực vật bậc thấp có khoảng pH thích hợp rất rộng,


11
ví dụ như lectin từ tỏi Allium sativum có khoảng pH thích hợp từ 3 đến 10, lectin từ
rong biển hầu hết có khoảng pH từ 3 đến 9, đặc biệt có ở một số loại rong như Boodlea
composite, Dictyosphaeria versluysii hay Valonia fastigiata và một số loài rong biển
Việt Nam đã được công bố như: Kappaphycusalvarezii, Kappaphycus striatum và
Eucheuma [9],[10],[48].
1.3.6.2.

Ảnh hƣởng của nhiệt độ môi trƣờng

Do bản chất là protein, lectin cũng chịu ảnh hưởng của nhiệt độ tác động lên cấu
trúc không gian bậc bốn, làm ảnh hưởng đến ái lực liên kết với đường của các trung
tâm hoạt động và làm thay đổi hoạt tính của lectin.
Đa số lectin bị mất hoạt tính ở nhiệt độ cao, do tác dụng của nhiệt độ làm đứt gãy
liên kết hoá trị của phân tử lectin khiến cấu trúc không gian của chúng không thể phục
hồi lại (bị biến tính không thuận nghịch), ở nhiệt độ thấp hoạt tính lectin giảm, khi
tăng dần nhiệt độ thì hoạt tính lectin cũng cũng tăng dần đến một giá trị cực đại ở nhiệt
độ tối thích. Khoảng nhiệt độ tối thích còn tùy thuộc vào từng loại lectin.
1.3.6.3.

Ảnh hƣởng của một số yếu tố khác

Ảnh hƣởng của enzyme
Enzyme có khả năng làm biến đổi tính chất của màng tế bào và làm thay đổi khả
năng ngưng kết tế bào của lectin. Một số enzyme như trypsin, papain... có tác dụng
làm tăng hoạt tính của lectin. Khi hồng cầu được xử lý bằng các enzyme này, một số
protein trên bề mặt hồng cầu sẽ bị thuỷ phân làm bộc lộ rõ các thụ thể có bản chất là
glycoprotein giúp cho lectin gắn vào màng tế bào hồng cầu dễ dàng hơn, do vậy sẽ làm
tăng hoạt tính ngưng kết tế bào hồng cầu của lectin. Ngược lại một số enzyme lại làm
giảm hoặc mất hoạt tính của lectin, khi tiến hành xử lý hồng cầu bằng galactose
oxidase hoặc một số enzyme glycosidase các enzyme này sẽ phân huỷ các gốc đường
đặc hiệu với lectin, do đó làm giảm hoạt tính ngưng kết.
Ảnh hƣởng của các ion kim loại
Một vài ion kim loại cũng ảnh hưởng đến tính chất của lectin. Trong nhiều thí
nghiệm, một số loại ion kim loại sẽ làm giảm hoặc tăng hoạt tính của lectin. Tác động
của chúng khá là phức tạp không tuân theo quy luật nào [51].


12
1.3.7.

Một số ứng dụng của lectin

Lectin chủ yếu được ứng dụng trong một số lĩnh vực sau:
 Phát hiện, cô lập và nghiên cứu cấu trúc của glycoprotein.
 Nghiên cứu carbohydrate trên bề mặt tế bào và các bào quan, hóa mô học và
hóa tế bào học.
 Kích thích phân bào đối với bạch cầu (trong nghiên cứu lâm sàng).
 Nghiên cứu sự sinh tổng hợp glycoprotein…
1.4. Lectin từ động vật thân mềm biển
Ở động vật, các nghiên cứu về lectin chỉ mới được tiến hành ở một số ngành.
Số lượng các lectin đã được phân lập từ động vật là tương đối nhỏ hơn so với từ thực
vật và chủ yếu là từ nhuyễn thể và động vật giáp xác.
1.4.1.

Một số dạng lectin ở động vật thân mềm biển

Dựa vào sự tương đồng về cấu trúc của vùng nhận diện đường (CRD:
carbohydrate recognition domain) lectin được chia thành nhiều dạng khác nhau. Ở
động vật nói chung từ trên cạn xuống dưới nước bao gồm một số dạng lectin như
lectin dạng C, lectin dạng S (galectins), lectin dạng I (họ lectin này còn được gọi là
siglecs), lectin dạng P, [17],[30]…
Lectin dạng C: đây là loại lectin phổ biến nhất, có mặt ở cả thực vật, động vật
và vi khuẩn. Hoạt tính của lectin dạng C phụ thuộc vào Ca2+, hay nói cách khác, hoạt
tính của lectin dạng C chỉ được thể hiện khi có sự hiện diện của ion Ca2+ trong môi
trường. Khi có mặt Ca2+, lectin dạng C thể hiện nhiều hoạt tính sinh học như sự bám
dính, nhập nội bào (endocytocyte) và trung hòa mầm bệnh (pathogen neutralization).
Lectin dạng S (galectins): Galectin có khả năng liên kết đặc hiệu với đường βgalactoside và hoạt tính không phụ thuộc vào ion Ca2+. Dựa vào cách xây dựng cấu
trúc, galectin được chia ra 3 họ nhỏ là proto- (vùng liên kết đường ở dạng monomer
hoặc homodimer), chimera- (vùng liên kết đường và một chuỗi không có khả năng liên
kết đường ở đầu N nằm trên cùng một chuỗi) và tandem-repeated (hai vùng liên kết
đường riêng biệt nằm cùng trên một chuỗi). Galectin có khả năng tạo thành các phân
tử lớn phức tạp khi có mặt của ion Ca2+ nhưng ion Ca2+ không quyết định khả năng


13
liên kết giữa galectin và đường. Galectins được cho là tham gia vào nhiều hiện tượng
sinh lý khác nhau như sự phát triển, hình thái học, miễn dịch [24].
Lectin dạng I: là một thuật ngữ được đề xuất vào năm 1995 để mô tả một trong
IgSF có khả năng liên kết với các oligosaccharides (immunoglobulin superfamily: bao
gồm những protein của bề mặt tế bào và những protein hòa tan có liên quan đến sự
nhận diện, gắn kết, hoặc quá trình bám dính của tế bào). Hiện nay, thuật ngữ lectin
dạng I được mô tả là những lectin có khả năng nhận diện và liên kết đặc hiệu với acid
sialic [23].
Lectin dạng P: được phân biệt với các lectin dạng khác nhờ khả năng nhận
diện các gốc đường mannose được phosphoryl hóa [61].
1.4.2.

Tình hình nghiên cứu lectin từ động vật thân mềm biển

Trên thế giới
Các nghiên cứu về lectin từ động vật thân mềm biển nói chung bao gồm cả các
loài nhuyễn thể đã được tiến hành ở nhiều quốc gia trên thế giới. Kết quả một số
nghiên cứu cho thấy lectin hiện diện ở khá nhiều loài. Như trong nghiên cứu đánh giá
sự hiện diện của lectin 90 loài động vật không xương sống biển thu nhận tại vùng biển
Philippines của Elmer-Rico E. Mojica và cộng sự cho thấy: lectin hiện diện ở 59/90
loài động vật thân mềm biển sử dụng trong nghiên cứu, trong đó nhiều lectin có khả
năng gây ngưng kết cùng lúc nhiều loại tế bào hồng cầu. Những lectin có hoạt tính gây
ngưng kết hồng cầu cao có nguồn gốc từ các loài ốc nón [44].
Các nghiên cứu cũng đã đi vào xác định cấu tạo và mô tả một số đặc điểm của
các lectin thu nhận được. Như trong kết quả nghiên cứu của mình, Linsheng Song và
cộng sự đã công bố trình tự các amino acids của lectin AiCTL-7 thu nhận từ loài sò
điệp Argopecten irradians. Trọng lượng phân tử của lectin này cũng đã được xác định
trong khoảng 35 kDa, bao gồm một trung tâm CRD. Cũng trong nghiên cứu này, thành
phần các amino acid cấu tạo nên vùng CRD, hay vị trí các ion Ca2+ cũng được chỉ rõ
[39]. Trong một nghiên cứu khác, lectin CGL từ loài vẹm Crenomytilus grayanus đã
được thu nhận bằng các kỹ thuật tách chiết và sắc ký cột, trọng lượng phân tử của
lectin này cũng đã được xác định vào khoảng 18 kDa, lectin này ở dạng glycoprotein
với hàm lượng carbohydrate tổng chiếm 1,3%, lectin bao gồm 115 amino acid với


14
thành phần và tỉ lệ các amino acid cũng được xác định [19]. Bằng việc phối hợp các kỹ
thuật tách chiết, tinh chế, các phương pháp phân tích, lectin từ nhiều loài động vật thân
mềm biển khác cũng đã được thu nhận và mô tả như lectin PPL ở loài 2 mảnh vỏ
Pteria penguin [47] lectin AGL-IA, AGL-IB, AGL-III và AGL-IV từ loài Anadara
granosa [15], lectin MCL-4 từ loài nghêu Ruditapes philippinarum [58].
Hoạt tính sinh học của nhiều loại lectin từ động vật thân mềm biển cũng đã được
chứng minh như hoạt tính kháng một số chủng vi khuẩn gây bệnh (lectin PPL, lectin
CGL…), hoạt tính kháng ung thư (lectin từ loài Crenomytilus grayanus [41]. Một
trong những nghiên cứu gần đây nhất về hoạt tính gây độc đối với dòng tế bào ung thư
máu của lectin từ loài M. galloprovincialis (MytiLec) một lần nữa cho thấy tiềm năng
của lectin từ sinh vật biển trong lĩnh vực y dược [29].
Ở Việt Nam
Các nghiên cứu về lectin ở động vật thân mềm biển tại Việt Nam bắt đầu từ
những năm 1980 trong các nghiên cứu hợp tác quốc tế giữa trường Đại học Tổng hợp
Paris IV (Cộng hoà Pháp) và trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (ĐHQGHN).
Một trong những nghiên cứu đi đầu có thể kể đến là nghiên cứu của Cao Phương Dung
và cộng sự (1991) khi tiến hành điều tra sự hiện diện của lectin ở các loài nhuyễn thể
tại vùng biển Nha Trang, Khánh Hòa [11]. Tiếp sau đó, nhiều nghiên cứu khác cũng
đã được tiến hành như nghiên cứu Nguyễn Diệu Thuý và cộng sự (1995) đã chỉ ra có
khoảng 31% loài nhuyễn thể Việt Nam có hoạt tính lectin [1], hay 75% loài nhuyễn
thể thu nhận tại vùng biển Thừa Thiên Huế cũng thể hiện sự hiện diện của lectin trong
kết quả nghiên cứu của Cao Đăng Nguyên và Nguyễn Quốc Khang (1998) [28].
Tuy nhiên, các nghiên cứu về lectin từ động vật thân mềm biển tại Việt Nam chủ
yếu là sàng lọc đánh giá sự hiện diện của lectin. Trong khi đó, số lượng các nghiên
cứu về các lectin cụ thể còn rất hạn chế, chỉ tập trung ở một số nghiên cứu của tác giả
Cao Phương Dung và cộng sự về lectin từ loài trai tượng Tridacna squamosa [3], tai
nghé (Tridacna crocea), trai tai tượng (Tridacna elongata) và điệp ngọc (Pinctada
margaritifera [4], hay nghiên cứu của Nguyễn Quốc Khang và cộng sự về lectin từ
sam biển Tachypleus tridentatu, lectin từ Trìa mỡ (Meretrix Meretrix Linne) [2],[13].
Một vài nghiên cứu khác về lectin


15
Hướng nghiên cứu ứng dụng của các loại lectin đang được các nhà khoa học
Việt Nam chú ý trong những năm gần đây, chủ yếu tập trung vào các lectin ứng dụng
trong y học, hỗ trợ điều trị các căn bệnh khác nhau và cũng đã có một số kết quả đáng
quan tâm. Các nghiên cứu về lectin tại Việt Nam cũng đã đi vào đánh giá khả năng
ứng dụng lectin vào các lĩnh vực, chủ yếu là y sinh. Chẳng hạn như năm 1989, Nguyễn
Quốc Khang sử dụng lectin trong chẩn đoán thai sớm, 7 năm sau được ứng dụng rộng
rãi

[6]. Đỗ Ngọc Liên và Nguyễn Lệ Phi (1992) sử dụng lectin từ mít tố nữ

(Artocarpus champeden) để tinh chế IgAi trong huyết thanh của người [7]. Năm 1994,
Đỗ Ngọc liên sử dụng lectin hạt Chay để chẩn đoán miễn dịch ký sinh trùng
Schistosoma mamsoni [8]. Năm 1999, Cao Đăng Nguyên và Bùi Thái Hằng khi nghiên
cứu lectin Trìa mỡ (Meretrix meretrix) thấy rằng lectin này phản ứng với nhiều protein
có nguồn gốc khác nhau, đặc biệt với các protein có ý nghĩa trong y học như: αfoetoprotein, a-interferon và IgG [2]. Năm 2003, các tác giả Đỗ ngọc Liên và Trần Thị
Phương Liên đã nghiên cứu đáp ứng miễn dịch kháng thể IgA1và IgG trong huyết
thanh bệnh nhân ưng thư gan và bệnh bạch cầu cấp (ung thư máu) bằng phương pháp
ELISA-LECTIN [8]. Năm 2006, tác giả Nguyễn Hạnh Phúc cho thấy vai trò của lectin
từ sam biển Tachypteus tridentatus sử dụng trong chẩn đoán huyết thanh học. Năm
2008, tác giả Trần Thị Phương Liên đã sử dụng lectin để xác định kháng thể và kháng
nguyên của một số bệnh ung thư thường gặp.
Tại Nha Trang từ năm 2008 đến nay cũng đã có các công trình nghiên cứu về
lectin từ rong biển được thực hiện tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha
Trang. Các nghiên cứu đã khảo sát trên hơn 80 loài rong biển khác nhau, thuộc 3 dòng:
rong đỏ, rong nâu và rong xanh. Kết quả cho thấy, lectin hiện diện ở hầu hết các loài
rong biển và có khả năng gây ngưng kết với ít nhất một trong số 4 loại hồng cầu động
vật sử dụng trong các nghiên cứu là thỏ, cừu, gà, ngựa và 3 nhóm máu người A, B, O.
Những lectin có hoạt tính cao từ rong biển cũng đã và đang được nghiên cứu sâu về
trình tự acid amin, các đặc điểm hóa lý và các hoạt tính sinh học.
1.5. Phƣơng pháp thu nhận lectin
1.5.1.

Các kỹ thuật chiết xuất lectin

Lectin có bản chất là protein hay glycoprotein dễ tan trong nước nên việc chiết


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×