Tải bản đầy đủ

Rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại công ty bảo minh lâm đồng

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TIẾN DŨNG

RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO
HIỂM TẠI CÔNG TY BẢO MINH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017


NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH


NGUYỄN TIẾN DŨNG

RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY BẢO MINH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học:

TS. LÊ ĐÌNH HẠC

TP. HỒ CHÍ MINH - 2017


TÓM TẮT
Kinh doanh vừa là một nghề, vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật là
một vòng xoáy không ngừng nghỉ, là một cuộc chơi dài hạn với nhiều may rủi,
trong đó vấn đề đáng quan tâm, lo lắng đó là các “rủi ro”… Trong hoạt động kinh
doanh đó, Bảo hiểm là một lĩnh vực tài chính rất quan trọng đối với các quốc gia
nói chung và Việt Nam nói riêng. Thị trường bảo hiểm trong những năm gần đây
ngày càng lớn mạnh và diễn ra rất sôi động và phức tạp. Cùng với quá trình hội
nhập quốc tế, các công ty bảo hiểm trong nước cũng đua nhau thành lập đã tạo ra
sức ép cạnh tranh cho các DNBH, điều này làm cho hoạt động KDBH của các công
ty bảo hiểm ngày càng diễn biến phức tạp và nguy cơ gặp rủi ro là khó tránh khỏi.
Vì vậy, các công ty bảo hiểm, trong đó có Công ty Bảo Minh Lâm Đồng cần phải
nhận thức được công tác quản trị rủi ro trong hoạt động KDBH tại công ty là điều
rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, đồng thời công ty cần có sự quan tâm và đầu
tư đúng mức cho vấn đề này. Dưới mức độ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ
nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro tại một công ty bảo hiểm, điển hình là Công
ty Bảo Minh Lâm Đồng.
Để thực hiện nghiên cứu này, trước tiên tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý
thuyết về rủi ro trong KDBH. Sau đó, tác giả đã tìm hiểu thực tế, tổng hợp và phân
tích dữ liệu thu thập được để có cơ sở đánh giá đúng thực trạng quản trị rủi ro trong
hoạt động KDBH tại Công ty Bảo Minh Lâm Đồng trong giai đoạn nghiên cứu.
Đồng thời, chỉ ra những mặt đạt được cũng như các hạn chế đang tồn tại ở công ty
và nguyên nhân của những hạn chế. Trên cơ sở đó, nhằm đưa ra các giải pháp hợp
lý đối với các vấn đề phát sinh và những kiến nghị kịp thời đến cơ quan Nhà nước,


cơ quan chức năng có liên quan để góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động KDBH
tại Công ty Bảo Minh Lâm Đồng.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích mô tả - giải thích, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp.
Trên cơ sở nguồn tư liệu, số liệu thống kê cùng với ý kiến phỏng vấn chuyên gia,
KH tham gia bảo hiểm.


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài này công trình nghiên cứu của riêng tác giả và
được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết, kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu tình
hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Đình Hạc.
Các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu
nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này ở bất cứ nơi đâu. Các số liệu, bảng
biểu, nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng và minh
bạch.
Một lẫn nữa tác giả xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên.
TP. Hồ Chí Minh, ngày

tháng

Học viên

Nguyễn Tiến Dũng

năm


LỜI CẢM ƠN


Lời cảm ơn đầu tiên và chân thành nhất, tác giả xin gửi đến giảng viên hướng
dẫn luận văn TS Lê Đình Hạc. Cảm ơn Thầy/Cô đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình,
góp ý cụ thể và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Thay mặt tất cả sinh viên, tác giả xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô
Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nói chung, nhất là các Thầy Cô trong
khoa Ngân hàng, khoa Tài chính nói riêng đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức
quí báu cho học viên, những phương pháp nghiên cứu căn bản và các công cụ hỗ trợ
đắc lực cho quá trình làm việc và nghiên cứu hiện tại cũng như trong tương lai cho
các thế hệ sau.
Xin cảm ơn tất cả!
Trân trọng.

Học viên

Nguyễn Tiến Dũng


MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................................... 1
DANH MỤC BẢNG............................................................................................................. 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ............................................................................................... 4
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
............................................................................................................................................. 12
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM ........................................... 12
1.1.1. Khái niệm kinh doanh bảo hiểm ....................................................................... 12
1.1.2. Các sản phẩm bảo hiểm..................................................................................... 12
1.1.3. Vai trò của kinh doanh bảo hiểm ...................................................................... 13
1.2. RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM ................................................... 16
1.2.1. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm .................................................... 16
1.2.2. Phân loại rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm ...................................................... 17
1.2.3. Các tiêu chí phản ánh rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm .................................. 19
1.2.4. Nguyên nhân rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm ............................................... 21
1.3. QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM ............................. 25
1.3.1. Nhận dạng các loại rủi ro và phân tích rủi ro .................................................... 25
1.3.2. Đo lường rủi ro .................................................................................................. 27
1.3.3. Thiết lập các chính sách, qui trình hạn chế rủi ro ............................................. 29
1.3.4. Tổ chức kiểm soát ............................................................................................. 31
1.3.5. Áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro ........................................................ 32
1.4. KINH NGHIỆM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
BẢO HIỂM TẠI MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO CÁC CÔNG TY BẢO
HIỂM VIỆT NAM ......................................................................................................... 33
1.4.1. Kinh nghiệm ...................................................................................................... 33
1.4.2. Bài học .............................................................................................................. 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................................. 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI
CÔNG TY BẢO MINH LÂM ĐỒNG.............................................................................. 40
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO MINH VÀ BẢO MINH LÂM ĐỒNG ....... 40
2.1.1. Giới thiệu về Bảo Minh ..................................................................................... 40
2.1.2. Giới thiệu về Bảo minh – Lâm Đồng ................................................................ 41
2.2. THỰC TRẠNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY BẢO MINH CHI NHÁNH LÂM ĐỒNG .......................................................................................... 43
2.2.1. Một số sản phẩm dịch vụ Bảo Minh Lâm Đồng đang triển khai ...................... 43
2.2.2. Kết quả kinh doanh bảo hiểm tại Bảo Minh trong thời gian qua ...................... 44
2.3. THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
TẠI BẢO MINH LÂM ĐỒNG ..................................................................................... 49
2.3.1. Thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm ...................................... 49
2.3.2. Một số rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm tại Bảo Minh Lâm Đồng ................. 51


2.3. ĐÁNH GIÁ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI
BẢO MINH LÂM ĐỒNG ............................................................................................. 53
2.3.1. Những mặt được ................................................................................................ 53
2.3.2. Một số hạn chế .................................................................................................. 55
2.3.3. Nguyên nhân hạn chế ........................................................................................ 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................................. 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
TẠI CÔNG TY BẢO MINH LÂM ĐỒNG ..................................................................... 65
3.1. CƠ SỞ ĐỀ RA GIẢI PHÁP .................................................................................. 65
3.1.1. Cơ hội thị trường bảo hiểm Việt Nam .............................................................. 65
3.1.2. Chiến lược phát triển của Công ty Bảo Minh ................................................... 66
3.2. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO
HIỂM TẠI CÔNG TY BẢO MINH LÂM ĐỒNG ..................................................... 67
3.2.1. Nhóm các giải pháp chung ................................................................................ 68
3.2.2. Nhóm các giải pháp cụ thể cho từng nghiệp vụ ................................................ 75
3.3. KIẾN NGHỊ ............................................................................................................ 82
3.3.1. Kiến nghị đối với Cơ quan Nhà nước ............................................................... 82
3.3.2. Kiến nghị đối với Ngành, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và các tổ chức khác có
liên quan ...................................................................................................................... 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................................. 87
KẾT LUẬN CHUNG ......................................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 90
PHỤ LỤC................................................................................ Error! Bookmark not defined.


1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Nguyên nghĩa

Chữ viết tắt
AEC

Asean Economic Community
Cộng đồng kinh tế Asean

BHNT

Bảo hiểm nhân thọ

BHTM

Bảo hiểm thương mại

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

CAR

Contractors’ all risks
Bảo hiểm mọi rủi ro công trình

CBNV

Cán bộ nhân viên

CIP

Cost, Insurance and Freight
Giá thành, Bảo hiểm và Cước

DN

Doanh nghiệp

DNBH

Doanh nghiệp bảo hiểm

EAR

Erection all risks
Bảo hiểm mọi rủi ro trong quá trình lắp đặt

ERP

Enterprise Resource Planning
Hệ thống quản lý nguồn lực doanh nghiệp

EU

European Union
Liên minh Châu Âu

FOB

Free On Board
Miễn trách nhiệm Trên Boong tàu nơi đi

GDP

Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội

HĐQT

Hội đồng quản trị

IAIS

International Association of Insurance Supervisors
Hiệp hội Quốc tế các cơ quan quản lý nhà nước về kinh
doanh bảo hiểm

KH

Khách hàng

NH

Ngân hàng


2

BẢO MINH

Tổng công ty Cổ Phần Bảo Minh

TNDS

Trách nhiệm dân sự

TP

Thành phố

TPP

Trans-Pacific Partnership Agreement
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

TTCK

Thị trường chứng khoán

TW

Trung ương


3

DANH MỤC BẢNG
Bảng a.1: Tiến độ thực hiện đề tài............................ Error! Bookmark not defined.
Bảng 1.1: Ma trận đo lường rủi ro ............................................................................ 29
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Bảo Minh Lâm Đồng ......... 42
Bảng 2.2: Kết quả doanh thu theo sản phẩm bảo hiểm ............................................ 44
Bảng 2.3: Kết quả doanh thu bảo hiểm xe cơ giới ................................................... 45
Bảng 2.4: Doanh thu bảo hiểm tài sản kỹ thuật ....................................................... 47
Bảng 2.5: Doanh thu bảo hiểm hàng hóa ................................................................. 48
Bảng 2.6: Doanh thu bảo hiểm tai nạn và con người ............................................... 49
Bảng 2.7: Bồi thường trong kinh doanh bảo hiểm trách nhiệm dân sự ................... 51
Bảng 2.8: Rủi ro trong kinh doanh cháy nổ ............................................................. 52
Bảng 2.9: Rủi ro trong kinh doanh xây dựng lắp đặt ............................................... 52
Bảng 2.10: Rủi ro bảo hiểm con người .................................................................... 53


4

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1.1: Mô tả chuỗi Domino của Henrich........................................................... 27
Hình 2.1: Tổ chức Bảo Minh Lâm Đồng ................................................................. 42
Hình 2.2: Tổ chức kiểm tra thường xuyên ............................................................... 51
Hình 2.3: Tổ chức kiểm tra định kỳ ......................................................................... 51


5

PHẦN MỞ ĐẦU
1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Bên cạnh việc có những đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước,
trong những năm qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam còn khẳng định vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện môi
trường kinh doanh của Việt Nam.
Thị trường bảo hiểm ngày càng thể hiện được vai trò, vị trí trong nền kinh tế xã hội, góp phần thực hiện thành công các giải pháp chủ yếu về chỉ đạo, điều hành
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Điều này được minh chứng cụ thể:
Thứ nhất, thực hiện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, củng
cố các cân đối lớn của nền kinh tế và hỗ trợ tái cơ cấu nền kinh tế. Thị trường bảo
hiểm đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư dài hạn, ổn định cho nền kinh tế, góp
phần củng cố cân đối lớn của nền kinh tế về đầu tư và tiết kiệm với tổng số tiền đầu
tư trở lại nền kinh tế tăng trưởng bình quân 17%/năm trong giai đoạn 2011-2015.
Theo thống kê của các DNBH, khoảng 80% các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng,
công trình kinh tế lớn của Nhà nước đã được các DNBH bảo vệ về mặt tài chính
trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm mà không cần phải sử dụng đến nguồn
kinh phí hỗ trợ thiệt hại từ ngân sách nhà nước. Nhờ đó, góp phần triển khai thành
công chính sách tài khóa thắt chặt, tiết kiệm chi tiêu ngân sách.
Bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm còn góp phần vào công cuộc tái cơ cấu nền
kinh tế, từ đó đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, khả năng
cạnh tranh với việc thực hiện tái cơ cấu toàn diện các DNBH về bộ máy, tổ chức,
mạng lưới kinh doanh, năng lực tài chính, sản phẩm bảo hiểm và năng lực quản trị
DN theo Quyết định 1826/2012/QĐ-TTg.
Thứ hai, bổ trợ cho các chính sách an sinh xã hội. Cho đến hết năm 2015, thị
trường bảo hiểm đã tạo lập công ăn việc làm cho trên 580.000 lao động với thu nhập
ổn định, được đào tạo về tài chính, bảo hiểm. Ngoài ra, hiện nay khoảng 10 triệu
người có bảo hiểm y tế, sức khỏe (6 triệu bảo hiểm nhân thọ, 4 triệu bảo hiểm phi
nhân thọ); Hơn 12 triệu học sinh được bảo hiểm sức khỏe, tai nạn (tỷ lệ thâm nhập
bảo hiểm hơn 60%); 18 triệu lượt khách được bảo hiểm trách nhiệm hàng không (tỷ
lệ thâm nhập 100%); Trên 12 triệu lượt khách được bảo hiểm tai nạn đường sắt (tỷ lệ


6

thâm nhập 100%); Trên 1.620 triệu lượt khách được bảo hiểm trách nhiệm hành
khách vận chuyển đường bộ (tỷ lệ thâm nhập khoảng 61%). Những người được bảo
hiểm nói trên đã có thể tự thu xếp, bảo vệ về mặt tài chính và được bảo hiểm chi trả
bồi thường khi không may xảy ra tai nạn, ốm đau, mà không cần tới sự hỗ trợ tài
chính từ ngân sách nhà nước.
Thứ ba, bảo vệ tài chính cho các nhà đầu tư. Cho đến nay, thị trường bảo hiểm
đã và đang bảo vệ cho hầu hết các loại hình tài sản bao gồm công trình xây dựng, tài
sản của mọi thành phần kinh tế từ Nhà nước, tư nhân đến đầu tư nước ngoài; Mọi
ngành kinh tế từ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; Với đa dạng loại hình bảo hiểm
từ bảo hiểm tài sản thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm hàng không,
bảo hiểm hàng hải cho đến bảo hiểm bảo lãnh, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính,
gián đoạn kinh doanh, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm thủy sản...
Theo báo cáo của các DNBH, tổng giá trị kinh tế tài sản được bảo hiểm của
khu vực DN thuộc mọi thành phần kinh tế lên tới hơn 10 triệu tỷ đồng. Một số tài
sản, công trình lớn đã và đang được bảo hiểm bao gồm vệ tinh Vinasat 1 và Vinasat 2
(hơn 1.034 triệu USD), Thủy điện Sơn La (hơn 15.066 tỷ đồng), Nhà máy lọc dầu
Dung Quất (hơn 3.300 triệu USD). Có thể nói, bảo hiểm đã thể hiện vai trò là một
công cụ, giải pháp tài chính hữu hiệu giúp cho các nhà đầu tư yên tâm sản xuất kinh
doanh mà không cần sử dụng đến các giải pháp tín dụng và dự phòng tài chính khác.
Thứ tư, thúc đẩy hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế. Trong quá trình đàm phán
các hiệp định thương mại song phương và đa phương của Việt Nam, bảo hiểm là một
trong các điều kiện đàm phán quan trọng góp phần vào thành công của tiến trình đàm
phán. Các cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm trong các hiệp định thương mại đã
góp phần thúc đẩy hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào các thị trường lớn có mức độ
bảo hộ cao như: Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản...
Thứ năm, thực hiện các chương trình mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách của Chính
phủ thông qua các chương trình bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm thủy sản, xây dựng
chương trình bảo hiểm thiên tai, bảo hiểm năng lượng nguyên tử.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài:
Do đặc thù của ngành bảo hiểm, các đơn bảo hiểm có hiệu lực và kết thúc tại
các thời điểm khác nhau, nên nếu chỉ nhìn vào các con số tài chính của một DNBH,


7

người ta không thể thấy hết được đầy đủ bức tranh hoạt động kinh doanh, hiệu quả
nghiệp vụ, cũng như xu thế phát triển của DN đó.
Ví dụ, một tỷ lệ tổn thất của ô tô là 50%, nếu được hiểu theo nghĩa thông
thường, đó là, trong năm tài chính này, giả sử tổng doanh thu phí thu về là 300 tỷ
đồng thì DN phải trả tiền bồi thường cho KH là 150 tỷ đồng thì vẫn chưa đầy đủ.
Thực chất, các con số đó còn phản ánh thêm nhiều điều khác nữa. Chẳng hạn, trong
con số 150 tỷ đồng bồi thường, có nhiều vụ đã phát sinh và thuộc các hợp đồng bảo
hiểm đã cấp và hoạch toán từ năm trước, Đồng thời, ngoài 150 tỷ đồng đã chi trả, có
thể còn nhiều hồ sơ bảo hiểm đã phát sinh nhưng chưa được giải quyết và phải được
dự phòng và tính toán đầy đủ.
Bên cạnh đó, con số doanh thu phát sinh trong năm cũng cần được tính toán
phí thực hưởng để có thể phản ánh phần doanh thu phù hợp với thời gian hiệu lực của
hợp đồng.
Ví dụ, hợp đồng bảo hiểm cấp vào tháng 12 của năm thì thực chất, phần lớn
xác xuất rủi ro phát sinh theo đơn này sẽ rơi vào năm sau, do vậy, nếu tính doanh thu
theo năm nghiệp vụ thì công ty bảo hiểm chỉ được hưởng doanh thu theo tỷ lệ số thời
gian còn lại của năm đó.
Như vậy, số liệu doanh thu phí cũng như tỷ lệ bồi thường cần phải được thống
kê theo năm nghiệp vụ để phản ánh trung thực hơn bức tranh về hiệu quả khai thác,
từ đó phản ánh trung thực hơn hiệu quả khai thác của DN qua từng giai đoạn, cũng
như trách nhiệm bồi thường của các DN.
Đằng sau mỗi chỉ số tài chính của DN bảo hiểm có thể ẩn chứa rủi ro, chẳng
hạn như số liệu về tỷ lệ tổn thất bồi thường … Làm thế nào để soi thấy hết thông tin
từ những con số để kiểm soát rủi ro tiềm ẩn nếu có.
Một vấn đề rất đáng quan tâm hiện nay là vấn đề trục lợi bảo hiểm. Trong việc
cấp đơn bảo hiểm, do tính minh bạch chưa cao nên người tham gia bảo hiểm có xu
hướng trục lợi bảo hiểm. Tình trạng KH tham gia bảo hiểm ở nhiều công ty bảo hiểm
tại cùng một thời điểm để trục lợi không phải là hiếm (như vụ ông Nguyễn Văn U. ở
Hải Dương tham gia bảo hiểm nhân thọ tại hai DNBH lớn với tổng số tiền bảo hiểm
lên tới trên 1 tỷ đồng Việt Nam trong khi biết mình có căn bệnh nan y không thể
chữa khỏi là một ví dụ điển hình đã được nhiều cơ quan báo chí đưa tin)…


8

Đối với một số lĩnh vực, KH thực hiện hành vi trục lợi như một điều “hiển
nhiên” và có tính “thường xuyên”! Cụ thể: Hàng hóa được yêu cầu bảo hiểm trong
hành trình vận chuyển, nhưng chưa đóng phí bảo hiểm; khi biết hàng về đến nơi an
toàn rồi KH xin hủy đơn bảo hiểm hoặc hủy hợp đồng bảo hiểm để trốn tránh trách
nhiệm đóng phí. Có chủ hàng biết tin hàng hóa của mình bị tổn thất rồi mới đến mua
bảo hiểm hoặc thông đồng với cán bộ của DNBH để mua bảo hiểm và nhận bồi
thường cho tổn thất đó. Cũng có trường hợp trục lợi bị phát hiện khi hàng hóa được
mua bảo hiểm vận chuyển trên một con tàu ma tức là con tàu đó không tồn tại thực
tế. KH lừa đảo mua bảo hiểm rồi quy cho tàu “mất tích” để trục lợi đòi bồi thường
toàn bộ…
Trong bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tàu thuyền, trục lợi bảo hiểm được thực
hiện thông qua việc hợp lý hóa ngày và hiệu lực bảo hiểm. Còn có việc tạo hiện
trường giả các vụ tai nạn xe cơ giới, cháy hoặc chìm tàu, cố ý gây tai nạn trong bảo
hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm, gian lận đối với người thứ ba (không bồi
thường cho người thứ ba, mặc dù đã nhận tiền bảo hiểm, hoặc đã đòi người thứ ba có
liên đới bồi thường, song không khai báo với DNBH…) v.v…
Trục lợi bảo hiểm làm giảm lợi nhuận, khiến cho hiệu quả sản xuất kinh doanh
bị hạn chế, thậm chí có những tác động xấu đến uy tín của DNBH. Thế nhưng trục
lợi bảo hiểm đã và đang diễn ra hết sức phức tạp, tinh vi ở nhiều nghiệp vụ bảo hiểm.
Đó cũng là niềm trăn trở của các DNBH hiện nay.
Nhằm tìm ra các rủi ro trong KDBH cũng như các nguyên nhân rủi ro tại
Công ty Bảo hiểm Bảo minh – Lâm Đồng. Tác giả chọn đề tài “RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY BẢO MINH LÂM
ĐỒNG”. Qua đó, đề ra các giải pháp nhằm hạn chế các rủi ro, giúp công ty hoạt
động bền vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Phân tích các rủi ro và nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động KDBH tại Công
ty Bảo Minh- Lâm Đồng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro
trong hoạt động KDBH tại Công ty Bảo Minh Lâm Đồng.
2.2 Mục tiêu cụ thể:


9

- Phân tích thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm tại Công ty
Bảo Minh Lâm Đồng
- Đánh giá những hạn chế trong quản trị rủi ro và nguyên nhân của những hạn chế
trong quản trị rủi ro tại Công ty Bảo Lâm Minh Đồng
- Đề xuất các giải pháp cho Công ty Bảo Minh Lâm Đồng nhằm hạn chế các rủi ro
có thể xảy ra với công ty.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1) Tại Công ty Bảo Minh Lâm Đồng hiện nay có những rủi ro thực tế gì mà công ty
gặp phải?
2) Những nhân tố nào là nguyên nhân chính gây nên các rủi ro cho Công ty Bảo
Minh Lâm Đồng hiện nay?
3) Giải pháp nào để giúp Công ty Bảo Minh Lâm Đồng hạn chế các rủi ro?
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là rủi ro trong KDBH tại Bảo Minh Lâm Đồng.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Phạm vi không gian: Bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ 2012 đến 2015.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: Phương
pháp phân tích mô tả - giải thích, so sánh – đối chiếu, phân tích – tổng hợp. Trên cơ
sở:
- Nguồn tư liệu, số liệu thống kê.
- Ý kiến phỏng vấn chuyên gia, KH tham gia bảo hiểm.
6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết về quản trị rủi ro trong hoạt động KDBH.
Tổng quan về quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động KDBH, từ đó tìm ra các
khe hở trong quy trình làm cho KH có thể trục lợi bảo hiểm.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động
KDBH tại Bảo Minh Lâm Đồng.
Phân tích đánh giá các số liệu liên quan đến doanh thu với tỷ lệ bồi thường
trên từng nhóm nghiệp vụ để phân loại đánh giá đối tượng KH.


10

Phân tích mối quan hệ giữa các phòng bồi thường, kế toán tổng hợp, các
phòng khai thác thực hiện, tuân thủ quy trình quản lý rủi ro.
Đánh giá ý thức, hành vi của KH tham gia bảo hiểm theo khu vực và theo địa
bàn dựa theo số liệu tổng hợp.
Dựa trên cơ sở lý thuyết nghiên cứu, kết quả phân tích thực trạng được minh
họa bằng biểu đồ, từ đó đề xuất một số biện pháp quản trị rủi ro và đề xuất phương
pháp thực hiện.
7. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Tổng hợp lý thuyết liên quan đến rủi ro nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận.
- Tìm ra được những giải pháp hữu hiệu giúp công ty hạn chế rủi ro trong hoạt động
KDBH.
8. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Lĩnh vực nghiên cứu là rủi ro trong hoạt động KDBH là lĩnh vực được nhiều
DNBH đầu tư nghiên cứu nhằm đưa gia các biện pháp phòng ngừa trục lợi bảo hiểm
một cách tốt nhất đáp ứng tương xứng với mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Đề tài
này đang là vấn đề nhức nhối mà các DNBH đang lỗ lực hết sức nhằm tìm ra giải
pháp hạn chế rủi ro trục lợi làm thất thoát lợi nhuận của doanh nghiệp.
Ngoài ra, đây cũng là vấn đề được nhiều học viên lựa chọn nghiên cứu để thực
hiện luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành kinh tế, tài chính, NH. Tuy nhiên, các
nghiên cứu chủ yếu đánh giá các rủi ro một cách tổng quan không tập trung chi tiết
và các đối tượng KH trục lợi hay là lỗ hổng trong việc phân cấp khai quyền hạn cho
các phòng ban và phẩm chất đạo đức của CBNV.
- Tác giả Huyền Đỗ Cẩm hà với đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của Trường Đại học
kinh tế và quản trị kinh doanh năm 2014 là: “ Quản lý rủi ro bảo hiểm phi nhân thọ
tại Công ty Bảo Hiểm PVI Sông Hồng”. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích thực
trạng quản lý rủi ro trong hoạt động KDBH tại Công ty Bảo hiểm PVI Sông Hồng và
đưa ra giải pháp hạn chế.
- Tác giả Nguyễn Tuấn Hoàng với đề tài luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 2010 :
“Quản trị rủi ro trong kinh doanh tái bảo hiểm tại Việt Nam “; của Trường Đại học
Ngoại Thương Hà Nội. Mục đích nghiên cứu: Lý luận về các phương pháp tái bảo
hiểm, các rủi ro trong hoạt động tái bảo hiểm và quy trình quản trị rủi ro, luận văn


11

nghiên cứu các rủi ro tiềm tàng, mức độ rủi ro, công tác quản lý rủi ro tại một số
DNBH tại Hà Nội, từ đó đưa ra giải pháp quản lý rủi ro.
- Tác giả Trần Thị Thanh Thúy với đề tài: “Quản trị rủi ro tại Tổng công ty Bảo Việt
nhân thọ ”; Luận văn thạc sỹ tài chính NH của Trường Đại học Kinh tế Hà Nội năm
2012. Luận văn đề cập tới các rủi ro trong hoạt động KDBH nhân thọ, các rủi ro
trong lĩnh vực đầu tư tài chính góp phần mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, các
phương pháp nhằm nâng cao quản trị rủi ro kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm và
quản trị rủi ro trong hoạt động đầu tư.
Như vậy, đã có các luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề rủi ro trong KDBH
tại Việt Nam và tại các Công ty bảo hiểm. Nhưng các đề tài này đều đánh giá, phân
tích tổng quan, không đi vào chi tiết .
Luận văn “Rủi ro trong hoạt động KDBH tại Công ty Bảo Minh Lâm Đồng ”
ngoài việc hệ thống hóa lại kiến thức các vấn đề lý thuyết về quản trị rủi ro trong hoạt
động KDBH còn phân tích và đánh giá sự kết hợp giữa các phòng ban trong Công ty,
đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, nhân viên, phân loại đối tượng KH có rủi ro cao
trong từng loại nghiệp vụ, rủi ro từ các quy trình thực hiện quản lý rủi ro, từ đó đề ra
các biện pháp khắc phục và phương hướng quản trị rủi ro trong điều kiện nên kinh tế
hội nhập và đa dạng ngày nay. Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có sự
khác biệt và sẽ có ý nghĩa thực tiễn khi áp dụng tại Công ty Bảo Minh Lâm Đồng.


12

CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM
1.1.1. Khái niệm kinh doanh bảo hiểm
Trong khi khái niệm “bảo hiểm” có thể được tìm thấy trong rất nhiều nghiên
cứu, thì khái niệm “KDBH” lại rất ít được đề cập.
Theo Dennis Kessler (1994): “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự
bất hạnh của số ít”.
Theo M. N. Mishra (1995): “Bảo hiểm là hoạt động trong đó một bên (người
bảo hiểm) cam kết sẽ chi trả cho bên kia (người năm giữ hợp đồng bảo hiểm) một số
tiền nhất định khi xảy ra sự kiện rủi ro được bảo hiểm”.
Theo Nguyễn Phong (1988): “Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách
hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến
tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự đoán được”.
Theo Luật KDBH Việt Nam (2000): “KDBH là hoạt động của DNBH nhằm
mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ
sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
1.1.2. Các sản phẩm bảo hiểm
Tại Khoản 3 Điều 1 của Luật số 61/2010/QH12 Luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật KDBH Việt Nam quy định các nghiệp vụ và sản phẩm bảo hiểm như
sau:
Bảo hiểm nhân thọ bao gồm: Bảo hiểm trọn đời; Bảo hiểm sinh kỳ; Bảo hiểm
tử kỳ; Bảo hiểm hỗn hợp; Bảo hiểm trả tiền định kỳ; Bảo hiểm liên kết đầu tư; Bảo
hiểm hưu trí.
Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; Bảo
hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và
đường hàng không; Bảo hiểm hàng không; Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháy, nổ;
Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; Bảo hiểm trách nhiệm; Bảo
hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; Bảo hiểm nông
nghiệp.


13

Bảo hiểm sức khoẻ bao gồm: Bảo hiểm tai nạn con người; Bảo hiểm y tế; Bảo
hiểm chăm sóc sức khoẻ.
Các nghiệp vụ bảo hiểm khác do Chính phủ quy định.
1.1.3. Vai trò của kinh doanh bảo hiểm
Trong thời đại ngày nay khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, ở hầu
hết mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động KDBH đã trở thành một ngành kinh doanh
hấp dẫn, thu hút đươc sự tham gia đông đảo của các DN, các tổ chức và dân cư. Bảo
hiểm đã và đang chứng minh được vai trò quan trọng đối với đời sống của con người.
Điều này được thể hiện bởi vai trò quan trọng của bảo hiểm với tư cách là một loại
hình dịch vụ tài chính và là một trong những cơ chế giúp đảm bảo an sinh xã hội
trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động KDBH không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế
mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội, đặc biệt là đối với KH. Những lợi ích kinh tế và
công dụng xã hội của hoạt động KDBH được thể hiện trên các mặt chủ yếu như sau:
Đối với khách hàng
Hoạt động KDBH trước tiên là nhằm khắc phục hậu quả của những rủi ro. Bảo
hiểm vận hành dựa trên như một cơ chế chuyển giao rủi ro. Khi tham gia đóng phí
bảo hiểm, người được tham gia bảo hiểm đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về mặt
tài chính sang cho công ty bảo hiểm. Hậu quả của rủi ro có nhiều dạng và nói chung
đều liên quan đến khía cạnh tài chính – phát sinh các khoản chi phí, chi tiêu bất
thường mà người mua bảo hiểm phải gánh chịu. Khi ấy sự có mặt của các tổ chức
bảo hiểm là để cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho KH đáp ứng nhu cầu đảm bảo về
mặt vật chất, tài chính trước rủi ro đối với họ, tạo cho KH sự an tâm hơn về mặt tinh
thần. Việc nhận được khoản bồi thường, khoản tiền bảo hiểm được trả từ bên bảo
hiểm sẽ giúp các tổ chức bảo toàn vốn liếng tài sản, các cá nhân và gia đình khắc
phục khó khăn và không phải rơi vào tình trạng kiệt quệ về vật chất lẫn tinh thần.
Hơn nữa, khi tham gia bảo hiểm, KH có thể chủ động về mặt chi phí. Bằng việc đóng
những khoản phí bảo hiểm (rất nhỏ so với những thiệt hại, tổn thất khi rủi ro xảy ra),
KH sẽ được đảm bảo an toàn bởi các công ty bảo hiểm.
Đối với KH doanh nghiệp: Nếu người giám đốc quan tâm, tham gia bảo hiểm
hỏa hoạn, bảo hiểm hỗn hợp cho cán bộ công nhân viên thì không chỉ lãnh đạo đơn vị
mà mọi thành viên sẽ yên tâm làm việc, phát triển sản xuất kinh doanh.


14

Bên cạnh đó, các tổ chức bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng
các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần đảm bảo
an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người.
Ngoài ra, bảo hiểm đã tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư
duy của mỗi cá nhân, chủ hộ gia đình, chủ DN. Bởi vì, họ phải suy nghĩ, tính toán và
dần dã từ đó sẽ có một ý thức, thói quen về việc giành ra một khoản thu nhập để có
một sự an toàn trong tương lai cho chính mình và các bên liên quan. (Nguồn: Bảo
hiểm Bảo Việt, 2016)
Đối với các ngân hàng
Trong thời gian qua và hiện nay, các DNBH đã bắt đầu hợp tác với các NH
trong việc thu phí, điển hình là sự hợp tác giữa Bảo Minh với NH TMCP Ngoại
Thương Việt Nam, giữa Prudential với NH Á Châu…
Hiện tại, một số NH đã chính thức đi vào hoạt động dịch vụ tư vấn bảo hiểm
nhân thọ cùng với các sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú với nhiều hình thức
đóng phí linh hoạt và tạo ra những điều kiện thuận tiện hơn cho KH Từ đó, giúp cho
thương hiệu của NH được biết đến nhiều hơn, đa dạng hoạt động kinh doanh của NH,
mở rộng danh mục sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh do tăng doanh thu và có cơ
hội bán chéo sản phẩm. Đồng thời, NH có thể tăng doanh thu từ việc cung cấp các
dịch vụ NH cho KH mua bảo hiểm; Tận dụng cơ sở KH, mối quan hệ dài hạn với
KH, NH sẽ có thêm những KH mới (KH từ công ty bảo hiểm); Tăng năng suất hoạt
động của nhân viên NH thông qua việc cung cấp thêm các sản phẩm bảo hiểm, do
vậy giúp giảm chi phí cố định một cách tương đối cho NH. Đồng thời, nhân viên NH
cũng có thêm động lực làm việc và có khoản thu nhập cao hơn; Giúp tăng nguồn vốn
huy động của NH từ phía bảo hiểm; Bên cạnh đó, sự gắn kết giữa NH và công ty bảo
hiểm giúp NH quảng bá thương hiệu, duy trì và phát triển cơ sở KH do KH tin tưởng
và trung thành hơn với NH. Từ đó, làm tăng uy tín và vị thế cho các NH. (Nguồn:
Nguyễn Hữu Hiểu, 2017).
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm
Một trong những đặc điểm của hoạt động KDBH là phí nộp trước, việc bồi
thường, chi trả tiền bảo hiểm chỉ được thực hiện khi có sự kiện quy định trong hợp
đồng xảy ra. Do vậy, các DNBH có một quỹ tiền tệ tập trung khá lớn và cần phải
quản lý chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm. Khi ấy, các


15

DNBH sẽ tiến hành đầu tư để phát triển kinh tế. Lượng vốn này sẽ được các DNBH
tính toán đầu tư sao cho có hiệu quả, bởi vì khả năng cạnh tranh của mỗi DNBH phụ
thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động đầu tư. Trên cơ sở của kết quả đầu tư, các công
ty sẽ có điều kiện giảm phí để từ đó thu hút KH, đóng góp vào sự phát triển của nền
kinh tế. Các tổ chức bảo hiểm đầu tư vào nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau,
trong đó có thị trường bất động sản, thị trường vốn và đặc biệt là thị trường chứng
khoán.
Ví dụ: Bảo Việt hàng năm đã thực hiện đầu tư dưới nhiều hình thức trên thị
trường tài chính Việt Nam: Bảo Việt tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán qua
công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt; tham gia góp vốn vào Công ty vui chơi giải
trí Hồ Tây, NH thương mại cổ phần hàng hải, NH thương mại cổ phần Á Châu; mua
trái phiếu Kho bạc Nhà nước…(Nguồn: Bảo hiểm Bảo Việt, 2016).
Với nền kinh tế - xã hội
Sự phát triển của kinh tế thị trường đã tạo một môi trường kinh doanh cho các
hoạt động bảo hiểm. Đồng thời, chính sự phát triển của ngành bảo hiểm đã khuyến
khích sự phát triển chung của nền kinh tế với vai trò ổn định tài chính và đảm bảo
cho các khoản đầu tư.
Vai trò ổn định tài chính: Đó là sự ổn định về thu nhập nếu tham gia BHXH,
BHNT, BHYT hay BHTM. Bởi lẽ, khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối
tượng bảo hiểm, nếu bị tổn thất, các DNBH sẽ trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời để
người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống và tiếp tục vào
việc sản xuất làm cho sản xuất kinh doanh hoạt động và phát triển bình thường.
Vai trò đảm bảo cho các khoản đầu tư: Trong nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm
đã trực tiếp đảm bảo cho các khoản đầu tư. Nhà kinh tế học người Pháp Jerome
Yeatman đã viết: “Không phải các kiến trúc sư mà là các nhà bảo hiểm đã xây nên
New York, chính là vì không một nhà đầu tư nào dám mạo hiểm hàng tỷ đô la cần
thiết để xây dựng những tòa nhà chọc trời ở Manhattan mà lại không có đảm bảo
được bồi thường nếu hỏa hoạn hoặc có sai phạm về xây dựng xảy ra. Chỉ có các nhà
bảo hiểm mới dám đảm bảo điều đó nhờ cơ chế bảo hiểm”. Bởi vậy, bảo hiểm là một
hoạt động kích thích đầu tư, tạo ra một sự an toàn cho nhà đầu tư.
Thực tế cho thấy, ở nhiều quốc gia phát triển, các tổ chức bảo hiểm hoạt động
rất mạnh mẽ trên thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán đặc biệt là thị


16

trường vốn. Bảo hiểm là một trong những kênh huy động vốn rất hữu hiệu để đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội. Giống như một loại hình trung gian tài chính, các tổ chức
bảo hiểm thu hút vốn, cung ứng vốn, góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy
sự tăng nhanh sự luân chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh
tế.
Bảo hiểm xã hội còn có sự tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các ngành
kinh tế, khu vực kinh tế đặc biệt (lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, khu vực kinh tế đối
ngoại); góp phần vào sự đảm bảo xã hội, sự ổn định và tăng thu cho ngân sách Nhà
nước thông qua việc tổ chức bảo hiểm phải nộp các thuế doanh thu, thuế lợi tức vốn,
thuế vốn, tăng tích lũy tiền cho nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, bảo hiểm thúc đẩy
phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước trong khu vực và trên cả thế giới.
Bên cạnh vai trò kinh tế, vai trò xã hội của bảo hiểm cũng không hề thua kém
gì. Điều này thể hiện ở chỗ: Bảo hiểm góp phần ngăn ngừa, đề phòng và hạn chế tổn
thất, giúp cho cuộc sống của con người được an toàn hơn, xã hội được ổ định và trật
tự hơn; Các loại hình bảo hiểm phát triển đã tạo thêm công ăn việc làm cho người lao
động, giảm tình trạng thất nghiệp, hạn chế các tệ nạn xã hội, Đồng thời tạo nên một
nếp sống tiết kiệm trên phạm vi toàn xã hội…(Nguồn: Nguyễn Văn Định, 2012)
1.2. RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
1.2.1. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm
Thực tế, trong công việc và cuộc sống hàng ngày, luôn luôn có sự tiềm ẩn của
rủi ro ở mọi lĩnh vực và có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, nơi nào mà không loại trừ
một ai, một quốc gia hay một dân tộc nào và rủi ro trong KDBH không là ngoại lệ.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro:
Theo Frank Knight (1921) cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường
được”.
Theo Allan H. Willett (1951): "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc

xuất hiện một biến cố không mong đợi", quan điểm này nhận được sự ủng hộ của
một số học giả như Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell...
Trong một nghiên cứu của JohnHaynes (1895) và được Irving Pfeffer (1956)
nhắc lại lần nữa rủi ro là: “Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên
có thể đo lường được bằng xác suất”.


17

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Thân (1991) đưa ra quan điểm: “Rủi ro là sự
bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại”.
Như vậy, có thể kết luận: Rủi ro là khả năng xảy ra biến cố bất thường có hậu quả
thiệt hại hoặc mang lại kết quả không mong đợi.
Rủi ro trong KDBH là gì?

Theo tác giả Đinh Thị Phạm Mai (2013): “Rủi ro trong KDBH là những sự
kiện bất ngờ không mong đợi khi xảy ra dẫn đến một sự sai lệch, trái nghịch với kết
quả mong muốn gây lỗ trong KDBH cho DNBH. Nó luôn vận động, luôn biến đổi
theo môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội, khả năng làm chủ của DNBH”.
Khi đề cấp đến rủi ro trong KDBH là liên quan đến các khái niệm sau:
Nguy cơ rủi ro: Là những đe dọa nguy hiểm có thể xảy ra, những tình huống có thể
tạo nên rủi ro bất kỳ lúc nào. Như vậy, nguy cơ rủi ro là những biến cố chưa xảy ra.
Tổn thất: Là những thiệt hại, mất mát về con người, tài sản do nguyên nhân từ các
rủi ro gây ra, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các DNBH. Mối quan hệ giữa rủi ro và
tổn thất là mối quan hệ nhân quả, rủi ro là những sự kiện bất ngờ xảy ra còn tổn thất
là những hậu quả, những thiệt hại, mất mát được xác định do các rủi ro gây ra.
Chi phí rủi ro: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí trong việc phòng ngừa,
hạn chế được phân chia thành chi phí vô hình và chi phí hữu hình. Chi phí hữu hình
là những chi phí chi ra cho việc phòng ngừa, hạn chế, bồi thường tổn thất và phục hồi
sản xuất kinh doanh cho người được bảo hiểm. Chi phí vô hình là những thiệt hại,
mất mát, lợi nhuận mất hưởng, mất thời cơ, mất uy tín, mất KH và thị trường gây ra.
Những chi phí này có khi tốn gấp nhiều lần chi phí hữu hình.
Mức độ rủi ro: Rủi ro xảy ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau và mức độ tổn thất
cũng khác nhau. Khi nói đến mức độ rủi ro là nói đến hai khái niệm liên quan đến tần
số và mức độ nghiêm trọng.
1.2.2. Phân loại rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm
Căn cứ về mặt giá trị, rủi ro trong KDBH được chia thành hai loại:
- Rủi ro tài chính: Là rủi ro mà DN có thể tính toán và xác định được hậu quả bằng
tiền;
- Rủi ro phi tài chính: Là rủi ro phi ảnh hưởng chủ yếu về mặt tinh thần và những vấn
đề xã hội vì thế việc tính toán và xác định hậu quả bằng một giá trị tài chính là không


18

thể thực hiện được. Đối với một DNBH thì rủi ro phi tài chính đó có thể là hình ảnh,
uy tín của DN trong mắt KH và trên thị trường bảo hiểm.
Căn cứ vào tính chất của rủi ro, rủi ro có thể phân chia thành:
- Rủi ro động là những rủi ro vừa có thể dẫn đến khả năng xảy ra tổn thất vừa có khả
năng kiếm lời. Cũng vì khả năng kiếm lời đó mà người ta còn gọi những rủi ro này là
rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ;
- Rủi ro tĩnh là những rủi ro chỉ có khả năng dẫn đến tổn thất hoặc không tổn thất chứ
không có khả năng kiếm lời. Do nó luôn luôn và chỉ gắn liền với một khả năng xấu,
khả năng tổn thất nên người ta gọi là rủi ro thuần tuý (hay rủi ro thuần). Rủi ro tĩnh
phát sinh có thể làm tổn thất xảy ra đối với cả ba đối tượng: Tài sản, con người, trách
nhiệm.
Ba điểm khác nhau cơ bản giữa rủi ro động và rủi ro tĩnh là: Rủi ro tĩnh
thường liên quan đến sự huỷ hoại vật chất, còn rủi ro động liên quan đến sự thay đổi
giá cả, giá trị; Rủi ro tĩnh tồn tại với cả tổng thể nhưng chỉ phát động ảnh hưởng tới một
vài phần tử, ngược lại, rủi ro động khi phát động sẽ ảnh hưởng đến tất cả các phần tử
trong tổng thể đó; Xét về mặt thời gian, rủi ro tĩnh phổ biến hơn rủi ro động.
Căn cứ vào phạm vi tác động, rủi ro được chia thành:
- Rủi ro cơ bản là những rủi ro xuất phát từ những biến cố khách quan và ảnh hưởng
đến toàn xã hội như: chiến tranh, khủng bố, khủng hoảng kinh tế, lạm phát, thất
nghiệp, bất ổn về chính trị xã hội.... Những tổn thất hậu quả do rủi ro cơ bản gây ra
không chỉ do từng cá nhân và ảnh hưởng đến từng nhóm người nào đó trong xã hội;
- Rủi ro riêng biệt là các rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan, khách quan của
từng cá nhân, tổ chức là KH của DNBH. Tác động của các rủi ro không ảnh hưởng
tới toàn bộ xã hội mà chỉ có tác động đến một số ít con người.
Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro, gồm có:
- Rủi ro thiên tai: Là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như động đất, giông
bão…;
- Rủi ro do tai nạn bất ngờ: Đâm va, lật đổ…;
- Rủi ro do các hiện tượng xã hội: Chiến tranh, đình công, bạo động, nổi loạn,…
Căn cứ vào tác động của môi trường gây ra rủi ro, chia thành:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×