Tải bản đầy đủ

Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại của việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN DUY NGỌC

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH


NGUYỄN DUY NGỌC

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 60 34 02 01

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU............................................................................................... 1
1.1 Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
1.2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu ........................................................................... 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 2
1.5 Đóng góp của đề tài................................................................................................. 3
1.6 Kết cấu của luận văn ............................................................................................... 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI............................................................................................................ 4
2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại ...................................................................... 4
2.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại ............................................................... 4
2.1.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại ............................................................. 5
2.1.3 Chức năng ngân hàng thương mại ................................................................... 6
2.2 Hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại ............................................................ 7
2.2.1 Khái niệm về hiệu quả ..................................................................................... 7
2.2.2 Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động.............................................................. 8
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại..........9
2.3.1 Các nhân tố bên trong ......................................................................................9
2.3.2 Các nhân tố bên ngoài....................................................................................16
2.4 Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan .................................................................20


2.4.1 Nghiên cứu của các tác giả ngoài nước .........................................................20
2.4.2 Nghiên cứu của các tác giả ở Việt Nam ..................................................... ..22
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .......................................................................25
3.1 Khái quát quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ....25


3.2 Thực trạng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay ...................28
3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại Việt Nam ..................................................................................................35
3.3.1 Mô hình nghiên cứu .......................................................................................35
3.3.2 Giải thích các biến sử dụng trong mô hình ....................................................36
3.3.3 Các giả thuyết kỳ vọng về dấu của các biến trong mô hình ..........................38
3.3.4 Dữ liệu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ...................................................43
3.3.5 Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................43
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................45
4.1 Phân tích mô tả và ma trận tương quan .................................................................45
4.1.1 Phân tích mô tả các biến trong mô hình ........................................................45
4.1.2 Ma trận tương quan ........................................................................................48
4.2 Phân tích thực nghiệm ...........................................................................................49
4.2.1 Mô hình hồi quy.............................................................................................49
4.2.2 Kiểm định các giả thuyết về sự phù hợp của các hệ số hồi quy ....................49
4.2.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy..................................................51
4.3 Thảo luận kết quả ..................................................................................................52
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...........................................................54
5.1 Kết luận .................................................................................................................54
5.2 Kiến nghị về nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam .....................................................................................................................54
5.3 Hạn chế đề tài và hương nghiên cứu tiếp theo ......................................................63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
NHTM
TCTD
NHNN
NH
NHTW
NHTMNN
NHTMCP
NHTMVN
WB
IMF

Tên tiếng Anh

Tên tiếng Việt

Ngân hàng thương mại
Tổ chức tín dụng
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng
Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng thương mại Nhà nước
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại Việt Nam
World Bank
Ngân hàng thế giới
International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế


DANH MỤC CÁC BẢNG
TT

Số thứ tự
bảng

Tên Bảng

1

Bảng 3.1

Số lượng các NHTM ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015

28

2

Bảng 3.2

Qui mô vốn điều lệ các NHTM giai đoạn 2008 - 2015

29

3

Bảng 3.3

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM Việt Nam

31

4

Bảng 3.4

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các NHTM tại thời điểm
31/12/2015

32

5

Bảng 3.5

Tăng trưởng nguồn vốn huy động của các NHTM giai
đoạn 2012 -2015

32

6

Bảng 3.6

Tốc độ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2008 - 2015

34

7

Bảng 3.7

Tóm tắt các biến trong mô hình

36

8

Bảng 3.8

Tóm tắt về kỳ vọng dấu của các biến

43

9

Bảng 4.1

Tóm tắt mô tả các biến

45

10

Bảng 4.2

Ma trận tương quan giữa các biến độc lập

48

11

Bảng 4.3

Kết quả hồi quy

49

12

Bảng 4.4

Kiểm định White phát hiện phương sai thay đổi

51

13

Bảng 4.5

Kiểm định BG phát hiện tự tương quan

51

14

Bảng 4.6

Kiểm định đa cộng tuyến

52

Trang


CHƢƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
vào năm 2007 thì lĩnh vực hoạt động ngân hàng trong nước đã có sự chuyển biến
ngày càng sâu sắc, mà biểu hiện rõ nhất là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt từ
các ngân hàng nước ngoài. Chính vì lẽ đó mà vấn đề quan trọng nhất được đặt ra
đối với các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay là làm sao để tồn
tại và phát triển ngày càng bền vững trước bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, hiệu quả hoạt động của NHTM Việt
Nam vẫn còn khá thấp, nhất là trong 2 năm vừa qua do chịu tác động bởi những
nguyên nhân khách quan do yếu tố vĩ mô bên ngoài cũng như là những yếu tố chủ
quan do vấn đề nội tại bên trong.
Ngoài ra, không thể phủ nhận một điều là hiện tại thị trường tài chính của
Việt Nam bị chi phối mạnh mẽ bởi các NHTM. Thông qua chức năng trung gian tín
dụng, NHTM sẽ điều chuyển vốn từ nơi thặng dư sang nơi thiếu hụt từ đó giúp cho
nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả, là đòn bẩy kích thích phát triển kinh tế. Do đó
mà nền tài chính của Việt Nam có ổn định hay không là phụ thuộc rất lớn vào hiệu
quả hoạt động của các NHTM. Xuất phát từ tầm quan trọng này, việc nghiên cứu
các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM là vấn đề cần thiết vì hai
lý do sau:
+ Thứ nhất: NHTM là tổ chức tài chính trung gian có vai trò đặc biệt
trong bởi vì đây là kênh dẫn vốn gián tiếp lớn nhất và hiệu quả hoạt động của
NHTM có tác động ảnh hưởng rất lớn tới các vấn đề kinh tế vĩ mô như tăng trưởng
kinh tế, thất nghiệp, lạm phát.
+ Thứ hai: Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt
động của NHTM mang lại ý nghĩa giá trị ở chỗ nó giúp cho các nhà quản lý ngân
hàng cũng như những người hoạch định chính sách có cơ sở trong việc ra các quyết
định quản lý điều hành. Từ đó giúp cho chất lượng của việc ra quyết định được
nâng cao hơn.

1


Từ hai lý do trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm luận
văn tốt nghiệp.
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu: Luận văn sẽ tiến hành tập trung phân tích các yếu tố
ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của NHTM tại Việt Nam và tác động các yếu tố
này như thế nào đến hiệu quả hoạt động của của NHTM.
Mục tiêu nghiên cứu:
+ Chỉ ra các yếu tố cụ thể tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM;
+ Đo lường tác động của các yếu tố đã được chỉ ra thông qua mô hình
hồi quy OLS;
Từ kết quả đó, sẽ phân tích và đánh giá ảnh hưởng các yếu tố này đến hiệu
quả hoạt động của NHTM.
Để giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ làm rõ các câu hỏi nghiên
cứu sau:
+ Những nhân tố nào tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM?
+ Tác động của những nhân tố này tác động đến hiệu quả hoạt động
NHTM thế nào?
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động của NHTM (được đo lường
thông qua biến ROE), yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của NHTM và tác
động của các yếu tố này đến hiệu quả hoạt động của NHTM.
Phạm vi nghiên cứu: Các NHTM ở Việt Nam trong khoảng thời gian 2008 2015.
1.4 Phƣơng pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với
phương pháp định lượng thông qua mô hình hồi quy đa biến bằng phương pháp
OLS. Phần mềm được sử dụng cho việc nghiên cứu là Eview.

2


Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu được sử dụng trong
nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp về các NHTM được nghiên cứu. Dữ liệu này được thu
thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các NHTM. Những dữ liệu về
tình hình kinh tế vĩ mô được thu thập Tổng cục thống kê và Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF).
1.5

Đóng góp của đề tài:
Với đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng

thương mại tại Việt Nam” tác giả kỳ vọng mang lại những đóng góp như sau:
+ Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của
NHTM.
+ Thứ hai: Phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM tại
Việt Nam trong giai đoạn 2008-2015 từ đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế cũng
như là nguyên nhân của những hạn chế ấy.
+ Thứ ba: Chỉ ra cụ thể những nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động
của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2008 -2015 và lượng hóa sự tác động
của các nhân tố này nhằm giúp cho các nhà quản lý ngân hàng có thêm cơ sở trong
quá trình ra quyết định để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng mình trong
thời gian sắp tới.
+ Thứ tư: Là nguồn tài liệu tham khảo đối với các độc giả quan tâm,
nghiên cứu về ngân hàng.
1.6 Kết cấu của luận văn
Chương 1. Mở đầu.
Chương 2: Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và các yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại.
Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại Việt Nam.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị.

3


CHƢƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ CÁC
YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI
2.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại.
2.1.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại.
NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền
kinh tế. Hiện nay có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về Ngân hàng như:
Ở Pháp: NHTM là những doanh nghiệp và cơ sở thường xuyên nhận của
công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho
chính họ vào nghiệp vụ tín dụng, chứng khoán hay dịch vụ tài chính.
Ở Mỹ: NHTM là môt tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch
vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở chuyên nhận các khoản ký thác để cho vay
hay tài trợ đầu tư.
Ở Việt Nam: Theo luật tổ chức tín dụng 2010 thì NHTM được định
nghĩa là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các hoạt động
kinh doanh này bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
qua tài khoản.
Như vậy từ những quan điểm và định nghĩa như trên có thể rút ra:
NHTM là một trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và
khu vực đầu tư của nền kinh tế với chức năng cơ bản là trung gian tín dụng. Theo
đó, NHTM sẽ huy động và tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền
kinh tế để tạo lập nguồn vốn cho vay nhằm đáp các nhu cầu thiếu hụt vốn của các
chủ thể trong nền kinh tế.
Hoạt động của NHTM cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính nhất bao
gồm hoạt động tín dụng, tiền gởi và các dịch vụ thanh toán.

4


2.1.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc
một số các nghiệp vụ sau đây:
Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ
tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có
hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản
tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn
trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cụ thể:
+ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc
cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi.
+ Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc
bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải
thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
+ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín
dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ
tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ
chức tín dụng theo thỏa thuận.
+ Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy
đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước
khi đến hạn thanh toán.
+ Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ
có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.

5


+ Môi giới tiền tệ là việc làm trung gian có thu phí môi giới để thu
xếp thực hiện các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác giữa các
tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính khác.
+ Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách
hàng mở tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng.
+ Sản phẩm phái sinh là công cụ tài chính được định giá theo biến động
dự kiến về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền
tệ hoặc tài sản tài chính khác.
+ Góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng là việc tổ chức tín dụng
góp vốn cấu thành vốn điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín
dụng khác, bao gồm cả việc cấp vốn, góp vốn vào công ty con, công ty liên kết
của tổ chức tín dụng; góp vốn vào quỹ đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức
khác góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức nêu trên. Khoản đầu tư dưới hình
thức góp vốn, mua cổ phần nhằm nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp bao gồm
khoản đầu tư chiếm trên 50% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết
của một doanh nghiệp hoặc khoản đầu tư khác đủ để chi phối quyết định của Đại
hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên.
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện
thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy
nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách
hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Mặc dù hoạt động ngân hàng rất đa dạng và phong phú nhưng các ngân hàng
chỉ được thực hiện các hoạt động được nêu trong giấy phép của họ. Những chức năng
này sẽ do NHTW quyết định theo từng trường hợp cụ thể.
2.1.3 Chức năng của ngân hàng thƣơng mại:
Chức năng trung gian tín dụng: Đây là chức năng quan trọng nhất của
NHTM. Thông qua chức năng này, NHTM là cầu nối giữa người thừa vốn và người
thiếu vốn. Khi đó, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay (huy động) vừa đóng vai
trò là người cho vay (cấp tín dụng). Với chức năng này, NHTM làm cho nguồn vốn

6


nhàn rỗi của nền kinh tế được sử dụng có hiệu quả. Tuy nhiên, cũng vì chức năng
quan trọng này mà hoạt động của hệ thống NHTM có sức ảnh hưởng và tác động vô
cùng to lớn đối với nền kinh tế, xã hội. Một khi hoạt động của hệ thống NHTM có
nhiều bất ốn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực và đe dọa sự ổn định và phát triển của nền
kinh tế.
Chức năng thủ quỹ: Bằng chức năng này, NHTM thực hiện các nghiệp vụ
nhận tiền gởi, giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện các yêu cầu rút tiền, chi trả tiền của
khách hàng là các chủ thể trong nền kinh tế. Đối với NHTM, thực hiện chức năng
thủ quỹ là cơ sở để NHTM thực hiện chức năng thanh toán, đồng thời tạo lập nguồn
vốn để thực hiện chức năng trung gian tín dụng.
Chức năng trung gian thanh toán: Trên cơ sở thực hiện chức năng thủ quỹ,
thay mặt cho khách hàng, NHTM thực hiện trích tiền trên tài khoản trả cho người
được hưởng, chuyển tiền hoặc nhận tiền vào tài khoản theo ủy nhiệm của khách
hàng. Đối với nền kinh tế, chức năng thanh toán có ý nghĩa lớn vì tạo điều kiện
thuận lợi giúp khách hàng thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn. Từ đó thúc
đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, kích thích tăng trưởng kinh tế.
2.2 Hiệu quả hoạt động ngân hàng thƣơng mại
2.2.1 Khái niệm về hiệu quả:
Trong lĩnh vực kinh tế học, hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ việc sử dụng
các nguồn lực đầu vào một cách tối ưu nhất để tối đa hóa kết quả đầu ra. Xét về mặt
tương đối, một hệ thống được gọi là hiệu quả hơn khi cùng với một nguồn lực đầu
vào nó có thể cho ra nhiều đơn vị đầu ra hơn. Xét về mặt tuyệt đối, một hệ thống
được coi là hiệu quả hơn nếu: (i) Không có cách nào để thực hiện tốt hơn để một
thành phần nào đó được lợi hơn mà không làm cho thành phần khác bị thiệt đi; (ii)
Không thể tăng được sản lượng đầu ra mà không tăng thêm yếu tố đầu vào; (iii) Chi
phí để tạo ra 1 đơn vị đầu ra là thấp nhất.
Hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào có
tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với đối thủ
cạnh tranh (Daft, 2008). Hiệu quả hoạt động của NHTM có thể được đánh giá qua 2

7


nhóm chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối. Hiệu quả tuyệt đối cho phép
đánh giá hiệu quả theo chiều sâu và chiều rộng. Tuy nhiên loại chỉ tiêu này lại gặp
phải khó khăn khi sử dụng để so sánh các ngân hàng có quy mô khác nhau. Hiệu
quả tương đối có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh (được đo lường bằng kết quả
kinh tế/chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó) hoặc dưới dạng động (được đo lường
bằng mức tăng kết quả kinh tế/mức tăng chi phí).
2.2.2 Chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả hoạt động
Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, công cụ phổ biến nhất để đánh giá hiệu
quả hoạt động của các NHTM là các chỉ số tài chính. Có nhiều loại chỉ số tài chính
được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM trên nhiều khía cạnh khác
nhau. Trong đó, chỉ số ROE và ROA phản ánh rõ nét nhất hiệu quả sử dụng các yếu
tố đầu vào để tạo ra lợi nhuận (yếu tố đầu ra) của NHTM.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): Chỉ tiêu này phản ánh một đồng
tài sản khi đưa vào sử dụng sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, không phân
biệt tài sản đó từ nguồn nào. Như vậy, hiệu quả chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận
được phản ánh thông qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng kiếm được
nhiều tiền hơn (đầu ra) trên lượng đầu tư (tài sản – đầu vào) ít hơn. Một ngân hàng
có tỷ lệ ROA càng cao thì được đánh giá hoạt động càng có hiệu quả do có khả
năng quản lý tốt các chi phí, có chiến lược đầu tư đúng đắn do vậy mang lại lợi
nhuận cao. Ngược lại, tỷ số ROA thấp sẽ đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân
hàng kém. Điều này có thể là do ban quản trị của ngân hàng đã không kiểm soát tốt
chi phí trong quá trình hoạt động làm cho lợi nhuận suy giảm. Hay có thể do quá
chú trọng trong vấn đề an toàn hoạt động, ngại đối mặt với rủi ro nên hoạt động đầu
tư không mang lại lợi nhuận cao. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau trong
việc tính toán ROA như sau:
à
à ã
à

8


Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): Ngoài chỉ tỷ số ROA thì đây
là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động được rất nhiều nhà đầu tư và cổ đông quan
tâm vì nó cho biết một đồng vốn do chủ sở hữu bỏ ra sẽ mang lại được bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ với chủ nợ và nhà nước. ROE được tính
theo công thức:

Do ROE vừa liên quan tới chi phí lãi vay, vừa liên quan đến chi phí thuế
thu nhập doanh nghiệp nên nó được xem là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử
dụng vốn chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính.
Tỷ số ROE càng cao càng chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng
vốn của cổ đông, nghĩa là ngân hàng đã cân đối hài hòa giữa vốn chủ sở hữu và vốn
vay để khai thác được lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình hoạt động, mở
rộng quy mô. Vì thế, tỷ số ROE càng cao ngân hàng sẽ càng thu hút nhiều các nhà
đầu tư hơn.
2.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại
2.3.1 Các nhân tố bên trong
Những nhân tố này thể hiện đặc trưng riêng và phản ánh hoạt động của từng
ngân hàng bao gồm:
2.3.1.1 Cấu trúc vốn
Theo lý thuyết về cấu trúc vốn thì việc sử dụng các loại vốn khác nhau trong
cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ đưa đến chi phí sử dụng vốn khác nhau, mỗi loại
vốn sẽ có ưu nhược điểm riêng. Vì vậy khi lựa chọn cấu trúc vốn thì doanh nghiệp
phải dựa trên đặc trưng riêng của mình để việc đạt được một cấu trúc vốn tối ưu
nhằm đạt được các yêu cầu: rủi ro thấp nhất, chi phí sử dụng vốn thấp nhất và gia
tăng giá trị doanh nghiệp cao nhất. Bản thân ngân hàng là một loại hình doanh
nghiệp đặc biệt nhưng xét cho cùng thì đây cũng vẫn là doanh nghiệp nên nó cũng
bị chi phối bởi những nguyên tắc tương tự như những loại hình doanh nghiệp thông
thường khác. Tuy nhiên mỗi loại vốn có ưu nhược điểm riêng. Như nợ vay thường

9


có chi phí sử dụng vốn thấp hơn và bên cạnh đó khi sử dụng vốn vay doanh nghiệp
sẽ tận dụng được lợi thế tấm chắn thuế của nợ vay. Mặt khác khi sử dụng nợ vay
doanh nghiệp còn có thể tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính. Ngược lại, đối với vốn
chủ sở hữu thì lại có lợi thế ở tính ổn định, tuy nhiên, nó lại có các nhược điểm mà
đối với nợ vay lại là ưu điểm như không tận dụng được lợi thế đòn bẩy cũng như
lợi ích của tấm chắn thuế. Đó là tác động thông thường đối với các loại hình doanh
nghiệp bình thường. Tuy nhiên do ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt so
với những doanh nghiệp thông thường khác ở chỗ nguồn vốn chủ yếu mà ngân
hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài. Trong khi đó vốn tự
có của ngân hàng lại chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn. Về phương diện lý
thuyết, cấu trúc vốn tối ưu đối với doanh nghiệp là nghiêng về nợ là do bởi việc sử
dụng nợ có nhiều ưu điểm. Điều này có thể đưa doanh nghiệp đạt được hiệu quả
hoạt động kinh doanh tối đa mà vốn chủ sở hữu không có. Việc này cũng phù hợp
với đặc điểm kinh doanh đặc biệt của lĩnh vực ngân hàng đó là huy động vốn từ
nhiều nguồn khác nhau để cho vay với mục đích sinh lời. Vì vậy, vốn vay luôn
chiếm tỷ trọng lớn trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng. Nhưng bên cạnh đó, sức
mạnh vốn là một trong những yếu tố chính quyết định khả năng sinh lời của ngân
hàng. Nghiên cứu của tác giả Kosmidou (2005) đã tìm thấy một mối quan hệ thuận
và có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và tỷ suất lợi
nhuận ròng (NIM). Vì vậy, các ngân hàng đang tìm cách giảm chi phí tỷ lệ vốn
tương đối cao bằng cách yêu cầu NIM cao hơn. Điều này phù hợp với giải thích
rằng vốn là một tín hiệu của khả năng thanh toán của ngân hàng. Vì thế, độ nhạy
của yếu tố lợi nhuận có liên quan đến tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có thể
được giải thích bởi hành vi của người gửi tiền. Điều này có thể giảm chi phí huy
động của các ngân hàng và từ đó dẫn đến tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Kết quả này
cũng phù hợp với các nghiên cứu khác của Demirguc - Kunt và Huizinga (1999),
Naceur (2003), Kosmidou và Pasiouras (2005).
2.3.1.2 Quy mô Ngân hàng

10


Những ngân hàng có quy mô lớn sẽ có nhiều cơ hội trong kinh doanh hơn,
khả năng tiếp cận với các nguồn vốn huy động đa dạng hơn. Hơn nữa theo quy
luật của tính hiệu quả kinh tế nhờ quy mô thì ngân hàng có quy mô càng lớn thì
càng có lợi thế trong việc tiết kiệm chi phí, nhờ đó gia tăng lợi nhuận, gia tăng
hiệu quả kinh doanh. Các ngân hàng có qui mô lớn sẽ tận dụng được các lợi thế
như hiệu quả của việc mua sắm các yếu tố đầu vào với khối lượng lớn nhờ được
hưởng chiết khấu, hiệu quả marketing thu được nhờ việc sử dụng phương tiện
quảng cáo đại chúng và mật độ sử dụng lực lượng bán hàng lớn hơn, hiệu quả tài
chính thu được do có điều kiện huy động vốn với điều kiện thuận lợi (lãi suất, chi
phí đi vay thấp hơn). Theo tác giả Peter S. Rose (2004), các ngân hàng lớn sẽ có
thể hoạt động với chi phí thấp hơn các ngân hàng nhỏ vì các ngân hàng lớn hoạt
động trong môi trường cạnh tranh hơn từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động tốt hơn.
2.3.1.3 Cấu trúc tài sản
Cấu trúc tài sản của ngân hàng thể hiện danh mục đầu tư của ngân hàng.
Danh mục đầu tư này sẽ có tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Cũng
giống như các hoạt động kinh doanh khác, hoạt động kinh doanh của ngân hàng
chịu sự chi phối bởi nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Nếu ngân hàng
đầu tư nhiều vào các tài sản có tỷ suất sinh lời cao thì đồng nghĩa với rủi ro kinh
doanh của ngân hàng tăng. Ngược lại, nếu ngân hàng đầu tư vào các tài sản có tính
thanh khoản cao thì rủi ro của ngân hàng giảm xuống nhưng tỷ suất sinh lời đạt
được của ngân hàng sẽ thấp. Những tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt
nếu ngân hàng đầu tư nhiều thì sẽ làm tăng tính thanh khoản của ngân hàng và
giảm rủi ro cho ngân hàng nhưng ngược lại tiền mặt là tài sản có tỷ suất sinh lời
thấp nhất và lại tốn nhiều chi phí cho nó như chi phí bảo quản, quản lý … Vì vậy
nếu trong kết cấu tài sản của ngân hàng mà tiền mặt chiếm tỷ trọng quá lớn thì
đồng nghĩa với hiệu quả hoạt động của ngân hàng không cao. Ngược lại, các khoản
cho vay của ngân hàng là các tài sản đầu tư của ngân hàng. Bởi vì các khoản cho
vay của ngân hàng có tỷ suất sinh lời cao, nên nếu tỷ trọng các khoản này lớn sẽ

11


làm tăng tỷ suất sinh lời trên tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên đây cũng là loại tài
sản có rủi ro lớn, vì nếu ngân hàng không kiểm soát được cơ cấu tài sản ở mức độ
hợp lý chẳng hạn như để các khoản này chiếm tỷ trọng quá lớn so với tài sản có
tính thanh khoản cao thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Theo tác
giả Peter S. Rose (2004), một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản lý
phải thực hiện là làm sao đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng.
Một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như nó có thể có
được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp ngay tại những thời điểm cần
thiết. Vì vậy việc xây dựng một cơ cấu hợp lý giữa các tài sản có tính thanh khoản
cao với các khoản cho vay trong tài sản của ngân hàng sẽ tác động đến hiệu quả
hoạt động của ngân hàng.
2.3.1.4 Hiệu quả quản lý
Hiệu quả quản lý của ngân hàng được thể hiện ở nhiều khía cạnh như quản
lý nhân sự, quản lý chi phí… Trong các lĩnh vực phải quản lý thì quản lý hiệu quả
chi phí là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ lên hiệu quả hoạt động của
một ngân hàng. Khi đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng nói riêng cũng
như của doanh nghiệp nói chung thì một trong những thước đo thường được sử
dụng là so sánh giữa kết quả đạt được, thường là lợi nhuận hay doanh thu với chi
phí bỏ ra. Bất kỳ sự gia tăng chi phí nào không dẫn đến sự gia tăng tương ứng
doanh thu sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Kiểm soát chi phí cũng
là một vấn đề mà ngân hàng phải quan tâm để nâng cao hiệu quả hoạt động của
mình. Vấn đề này đặt ra câu hỏi liệu ngân hàng nên đa dạng hóa sản phẩm kinh
doanh hay chỉ tập trung vào một phân khúc thị trường phù hợp với mình đã xác
định từ đầu. Nếu ngân hàng tập trung đa dạng hóa sản phẩm thì có lợi thế là tiếp
cận được với nhiều loại khách hàng, từ đó huy động được nhiều nguồn vốn và
đây cũng là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của
ngân hàng. Tuy nhiên vấn đề đặt ra bên cạnh đó là khi ngân hàng mở rộng danh
mục sản phẩm thì chí phí tương ứng cũng phải tăng thêm như chi phí tập huấn
cho nhân viên về các sản phẩm mới, quảng báo sản phẩm,… nhưng nếu trong

12


nhóm sản phẩm mà ngân hàng đã phát triển mở rộng ra có những sản phẩm
không mang lại lợi nhuận như mong muốn, tỷ suất sinh lời thấp thì hiệu quả về
mặt chí phí của ngân hàng không đạt được, hay nói cách khác tỷ lệ chi phí tăng lên
làm hiệu quả hoạt động giảm xuống. Tuy nhiên theo Peter S.Rose ở đây cũng phải
thấy một vấn đề là khi chi phí hoạt động gia tăng khuyến khích các ngân hàng
năng động hơn trong việc nâng cao thu nhập. Nhiều dịch vụ trước đây miễn phí,
hiện nay đã bị đánh phí và ngân hàng nhấn mạnh tới việc thu phí đối với khách
hàng để bù đắp toàn bộ chi phí. Hầu hết các ngân hàng hiện đang nỗ lực tìm kiếm
các dịch vụ mới cho phép tạo ra những nguồn thu phí mới đủ bù đắp chi phí và có
lãi.
2.3.1.5 Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản
Trong kinh doanh ngân hàng cũng như các loại hình doanh nghiệp khác
phải đối mặt với nhiều loại rủi ro. Trong các rủi ro mà NHTM phải đối mặt thì đầu
tiên phải kể đến rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro đặc trưng
và phổ biến trong hoạt động NHTM. Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân
hàng thiếu khả năng thanh toán, do không có khả năng chuyển đổi tài sản thành
tiền, hoặc không có khả năng huy động, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã
cam kết trước đó. Theo Peter. S. Rose, hầu hết các vấn đề thanh khoản đều xuất
hiện từ ngoài ngân hàng do những hoạt động tài chính của khách hàng. Trên thực
tế các vấn đề về thanh khoản của khách hàng thường chuyển về phía ngân hàng.
Nếu khách hàng doanh nghiệp thiếu hụt trong dự trữ thanh khoản, nó sẽ có thể
thực hiện vay vốn ngân hàng hoặc rút tiền ra khỏi tài khoản tiền gửi. Cả hai điều
này đều buộc ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung. Một ví dụ đậm nét về
hiện tượng này xảy ra tháng 10 năm 1987 trong sự sụp đổ thị trường chứng khoán
toàn cầu. Các nhà đầu tư, những người đã vay rất nhiều từ ngân hàng để kinh
doanh chứng khoán theo tài khoản bảo chứng buộc phải tìm vốn bổ sung nhằm
đảm bảo các khoản nợ chứng khoán của họ. Một số lượng lớn người kinh doanh
chứng khoán đã đến các ngân hàng của họ và biến một cuộc khủng hoảng thanh
khoản trên thị trường vốn thành một cuộc khủng hoảng thanh khoản trong hệ

13


thống ngân hàng. Với đặc trưng đặc biệt của mình sự bền vững của hệ thống
NHTM đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển và bền vững của cả nền
kinh tế. Sở dĩ như vậy vì đặc điểm của hệ thống NHTM là việc một ngân hàng
sụp đổ vì mất khả năng thanh khoản sẽ có tác động mạnh mẽ về mặt tâm lý tới
các khách hàng của các ngân hàng khác trong hệ thống có thể kéo theo sự sụp đổ
dây chuyền của cả hệ thống NHTM. Mà hệ thống NHTM đóng một vai trò quan
trọng trong nền kinh tế, là cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và đầu tư, khơi thông
các luồng vốn trong nền kinh tế. Vì vậy việc đảm bảo sự bền vững của hệ thống
NHTM có vai trò rất quan trọng hay nói cách khác đảm bảo cho NHTM tránh
được rủi ro thanh khoản là vấn đề sống còn của cả hệ thống. Nhưng rủi ro
thanh khoản thì có tác động như thế nào lên hiệu quả hoạt động của NHTM. Theo
Ayadi và Boujelbene (2012) tính thanh khoản của ngân hàng giảm là một trong
các nhân tố quan trọng tác động lên khả năng sinh lời của ngân hàng. Nếu rủi ro
thanh khoản của ngân hàng cao thì khi có hiện tượng rút tiền hàng loạt ngân
hàng sẽ gặp khó khăn có thể dẫn tới phá sản, nhưng ngược lại như vậy là ngân
hàng đã tận dụng tối đa hết nguồn lực đã huy động và trong trường hợp này nếu
các dự án mà ngân hàng đầu tư có hiệu quả thì dĩ nhiên hiệu năng hoạt động của
ngân hàng cũng gia tăng theo. Bên cạnh đó, việc cân đối giữa dự trữ thanh khoản
và tài sản đầu tư cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Chúng ta đều biết với tầm quan trọng của hệ thống NHTM trong nền kinh tế nên
việc đảm bảo cho hệ thống ngân hàng ổn định và vững chắc là một nhiệm vụ mà
Ngân hàng nhà nước ( NHNN) phải thực hiện được. Vì vậy đảm bảo tính
thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng là một trong các giải pháp mà
NHNN phải quan tâm. Để thực hiện được việc này, NHNN phải yêu cầu tỷ lệ
dự trữ bắt buộc đối với các NHTM. Nhưng mặt khác bên cạnh tỷ lệ dự trữ bắt
buộc NHNN đặt ra cho các ngân hàng thì tùy theo tình hình cụ thể của mình các
NHTM có thể gia tăng mức dự trữ của mình để phục vụ các mục tiêu quản lý.
Việc các NHTM tăng tỷ lệ dự trữ của mình lên sẽ có một tác động tốt là làm tăng
tính thanh khoản của ngân hàng, đây cũng là một vấn đề nóng hổi mà các

14


NHTM quan tâm trong thời gian qua. Tuy nhiên gia tăng dự trữ đồng nghĩa với
tăng tính thanh khoản những một mặt lại làm giảm hiệu quả hoạt động kinh
doanh của NHTM. Sở dĩ như vậy là vì khoản dự trữ gia tăng đó tồn tại dưới
hình thức tiền mặt hay tiền gởi của NHTM, cả hai hình thức này đều có tỷ suất
sinh lời thấp. Trong khi đó nếu NHTM không dự trữ tăng thêm mà đưa vào kinh
doanh thì có thể mang lại mức lợi nhuận cao hơn. Như vậy ở đây luôn có sự đánh
đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời.
Rủi ro thứ hai ngân hàng cũng phải đối mặt đó là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín
dụng là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay
khi đến hạn phải thanh toán, luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp
nhận một hợp đồng cho vay tín dụng. Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có
rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng hiện tại cũng là một vấn đề nhức nhối đối với
các NHTM. Những thay đổi của rủi ro tín dụng có thể phản ánh những thay đổi
về sức khỏe của một danh mục đầu tư vay vốn ngân hàng mà có thể ảnh hưởng
đến hiệu suất của các doanh nghiệp (Cooper, 2003). Điều này đặt ra một cuộc
tranh luận liên quan đến chất lượng của khoản vay. Duca và Mclaughlin (1990)
đã kết luận rằng sự biến động trong lợi nhuận ngân hàng chủ yếu là do sự biến
đổi của rủi ro tín dụng bởi vì sự gia tăng của rủi ro tín dụng thường được kết nối
với sự sụt giảm của lợi nhuận ngân hàng. Điều này bắt đầu một cuộc thảo luận
không liên quan đến khối lượng, nhưng chất lượng của các khoản cho vay. Sở dĩ
như vậy là do trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay, vấn đề cạnh tranh
giữa các ngân hàng đã và đang diễn ra hết sức khốc liệt. Vấn đề huy động vốn
đã là một vấn đề khó khăn đối với ngân hàng. Tuy nhiên sau khi huy động được
thì việc tìm được khách hàng để giải ngân các khoản vốn đã huy động được cũng
là một bài toán khó đối với các ngân hàng. Việc thẩm định các hồ sơ vay vốn của
ngân hàng nếu không được làm cẩn thận có thể sẽ gia tăng rủi ro tín dụng của
ngân hàng. Khi rủi ro tín dụng gia tăng chúng ta thấy ngân hàng không chỉ phải
đối mặt với vấn đề hiệu quả hoạt động giảm mà thậm chí còn mất vốn và nặng
hơn đứng trước nguy cơ phá sản.

15


2.3.2 Các nhân tố bên ngoài
2.3.2.1 Môi trƣờng về kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nƣớc
Do hàng hóa đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng là tiền tệ nhưng
bản thân tiền tệ là công cụ được sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế. Nó
quyết định đến sự phát triển và suy thoái của cả một nền kinh tế, do vậy được
NHNN quản lý rất chặt chẽ. Chính vì thế, các điều kiện kinh tế chính trị xã hội
trong và ngoài nước có tác động lên các quyết định điều hành chính sách tiền tệ
của NHNN. Và vì vậy nó gián tiếp tác động đến hoạt động của NHTM. NHTM là
một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực
đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính
trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng.
Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động của các NHTM, vì đây cũng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của
nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả
vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao
và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản
xuất, kinh doanh do dó nhu cầu vay vốn tăng làm cho các NHTM dễ dàng mở
rộng hoạt động tín dụng của mình, đồng thời khả năng nợ xấu có thể giảm vì năng
lực tài chính của các doanh nghiệp cũng được nâng cao.
Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì
lại là những nhân tố bất lợi cho hoạt động của các NHTM như nhu cầu vay vốn
giảm; nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt động của các
NHTM.
Hơn nữa, hiện nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh
mẽ trên thế giới. Các nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc
vào nhau, luồng vốn quốc tế đã và đang dồn vào khu vực Châu Á mạnh mẽ, điều
này đang tạo ra nhiều cơ hội cho Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói
riêng nhiều cơ hội mới như có thể tranh thủ được các nguồn vốn, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý từ các nền kinh tế phát triển...tuy nhiên, bên cạnh đó ngành ngân

16


hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình hội nhập, như phải cạnh
tranh với những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực (về vốn, công nghệ, năng lực
quản lý...). Trong khi thực tế hiện nay cho thấy các NHTM Việt Nam còn yếu về
mọi mặt từ năng lực tài chính, kinh nghiệm quản trị ngân hàng, công nghệ đến
nguồn nhân lực.
Ngoài ra, với quá trình hội nhập kinh tế quốc ngày càng sâu rộng, thì sự
biến động của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của các nước trên thế giới mà
nhất là các bạn hàng của Việt Nam cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến
hiệu quả hoạt động của các NHTM.
2.3.2.2 Tăng trƣởng kinh tế
Do đối tượng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và
dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực đặc biệt vì trước hết nó liên quan trực tiếp
đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Do
đó, sự biến động của nền kinh tế sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động
của ngân hàng. Sự biến động này được đo lường bởi tốc độ tăng trưởng GDP. Sự
tác động của tăng trưởng GDP lên hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng là tác
động hai chiều, trước tiên hệ thống ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong
việc làm gia tăng GDP của nền kinh tế, sau đó sự gia tăng này sẽ tác động ngược
lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Trong nền kinh tế
luôn xuất hiện những chủ thể ở tình trạng thặng dư tạm thời. Họ có nhu cầu đầu
tư để bảo toàn vốn và sinh lời. Tuy vậy, không phải ai cũng có cơ hội thực hiện
điều đó. Các NHTM huy động những khoản vốn này dưới nhiều hình thức: nhận
tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, tích tụ chúng và cho vay lại nền kinh tế. Như
vậy, thay vì bị rút khỏi lưu thông, tồn tại dưới dạng cất trữ, tiền được chuyển
thành vốn đầu tư, sinh lời. Thông qua hệ thống NHTM, các dòng vốn được hình
thành và luân chuyển một cách dễ dàng trong nền kinh tế. Một số bộ phận của
các dòng vốn này có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế như các khoản
đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng..... Đến đây sự tăng trưởng kinh tế sẽ mang lại
lợi nhuận cho chủ thể gởi tiền ở ngân hàng cũng như hệ thống ngân hàng trung

17


gian. Bên cạnh đó, NHTM về bản chất là các doanh nghiệp, kinh doanh vì mục
tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Họ phải lựa chọn những doanh
nghiệp hay dự án có khả năng thu hồi nợ, có hiệu quả để cho vay. Nhờ quá trình
sàng lọc, vốn trong nền kinh tế được tập trung vào những khu vực có khả năng
sinh lời cao, mang lại nhiều lợi ích. Những lĩnh vực hay ngành nghề kém hiệu
quả sẽ không nhận được vốn. Nhờ các trung gian tài chính này, vốn được phân
bổ hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực. Và dĩ nhiên việc phân bổ tốt nguồn lực
sẽ đưa đến sự tăng trưởng chung cho nền kinh tế và ngược lại khi nền kinh tế
hoạt động hiệu quả thì cũng góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống
ngân hàng. Hơn nữa, việc chuyển dịch vốn diễn ra trực tiếp giữa các chủ thể thặng
dư và thiếu hụt vốn đòi hỏi phải tiêu tốn rất nhiều chi phí của cả hai bên: chi phí
thu thập và xử lý thông tin, chi phí về thời gian, trong nhiều trường hợp, các
nhu cầu này không thể tương thích và giao dịch không thể diễn ra. Xét đến cùng,
những chi phí phát sinh như vậy gây thiệt hại cho toàn bộ nền kinh tế vì làm lãng
phí, tổn thất nguồn lực. Các NHTM với tư cách là những tổ chức trung gian tài
chính, có thể giảm thiểu tới mức thấp nhất những chi phí này. NHTM thu thập
và nắm giữ thông tin về một lượng lớn người có nhu cầu về vốn cũng như
những người khác sẵn sàng cung ứng vốn. Cũng do được chuyên môn hóa,
NHTM có các nghiệp vụ kỹ thuật để san sẻ và phân tán rủi ro. Họ có khả năng
thu thập được lượng lớn thông tin liên quan đến số lượng đông đảo các đối
tượng khác nhau, có thể giám sát các khoản tín dụng, giảm các nguy cơ về rủi ro
đạo đức cũng như thông tin không cân xứng. Và như vậy chi phí tiết kiệm được sẽ
được đầu tư một cách hiệu quả hơn, đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh
tế hay nói cách khác làm gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Không những
vậy, NHTM còn ảnh hưởng đến tăng trưởng bằng cách làm thay đổi tỷ lệ tiết
kiệm và thông qua sự tài trợ vốn cho các doanh nghiệp trong việc mở rộng sản
xuất cả về chiều rộng và chiều sâu, mà chủ yếu là đầu tư vào công nghệ, nâng
cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Sự biến đổi công nghệ vì vậy chịu sự tác
động từ vai trò của các hệ thống tài chính. Và nếu hệ thống doanh nghiệp hoạt

18


động hiệu quả thì ngược lại sẽ gia tăng nhu cầu mở rộng kinh doanh, nhu cầu vốn
tạo nên thị trường tốt hơn cũng như mở rộng thị trường cho các NHTM.
2.3.2.3 Lạm phát
Đối với các NHTM hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, lạm phát tăng cao,
sức mua đồng tiền giảm xuống, đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động huy động
vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Ví dụ đối với hoạt
động huy động vốn, khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng
sẽ gặp khó khăn. Vì vậy, để huy động vốn hoặc không muốn vốn của mình chạy
qua các ngân hàng khác thì phải nâng lãi suất huy động, làm tăng chi phí, giảm
hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Nghiên cứu của tác giả Demirguç - Kunt
và Huizinga (1999) cho thấy, với lạm phát, chi phí ngân hàng có xu hướng
tăng do những nguyên nhân này. Bên cạnh đó lạm phát tăng cao tạo áp lực
cho NHNN thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông.
Tuy nhiên nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn
cao, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp
đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả với mức độ rủi ro cho phép.
Mặt khác do lãi suất huy động tăng cao thì lãi suất cho vay cũng tăng theo, điều
này làm xấu đi môi trường đầu tư của ngân hàng và rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện.
Do lạm phát tăng cao sức mua của đồng tiền nội địa giảm, giá vàng và ngoại tệ
tăng cao, việc huy động vốn trung và dài hạn trở nên thật sự khó khăn đối với mỗi
ngân hàng. Trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với khách hàng rất
lớn. Cho nên việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn xảy ra với
mức độ thường xuyên hơn. Điều này đã ảnh hưởng đến tính thanh khoản của
các ngân hàng đồng thời kéo theo rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá.
2.3.2.4 Yếu tố pháp luật
Những thay đổi về quy định pháp luật đối với ngành ngân hàng nói riêng
cũng như toàn nền kinh tế nói chung cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây
bất lợi cho các ngân hàng. Một trong những lý thuyết quản lý đầu tiên được nhà
kinh tế học George Stingler (1971) đưa ra với nội dung là các công ty trong

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×