Tải bản đầy đủ

Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại việt nam



i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi
ro trong hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” là bài nghiên cứu
của chính tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Phương
Thảo.
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một
trường đại học nào. Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả
nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước
đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn
nguồn đầy đủ trong luận văn.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 6 năm 2017

Phan Thị Thảo Trinh


ii


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô đã hướng dẫn, truyền đạt
cho tôi những kiến thức trong thời gian học tại trường. Những kiến thức là nền tảng
cơ bản để tôi hoàn thành luận văn này và giúp ích rất nhiều cho công việc của tôi
sau này.
Tôi xin đặc biệt cảm ơn TS. Trần Phương Thảo, giảng viên hướng dẫn tôi
thực hiện luận văn này. Cô là người đã định hướng và hướng dẫn rất nhiệt tình cho
tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 6 năm 2017

Phan Thị Thảo Trinh


iii

TÓM TẮT
Khả năng sinh lời và rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng là vấn đề luôn
được các nhà quản trị quan tâm do đó luận văn này được thực hiện nhằm xác định
mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng
thương mại Việt Nam. Trong đó khả năng sinh lời được đo lường bằng tỷ lệ lợi
nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), rủi ro
gồm rủi ro thanh khoản (tài sản thanh khoản trên tổng nợ phải trả) và rủi ro tín dụng
(dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ). Ngoài ra, tác giả còn đưa vào mô hình các biến
đóng vai trò là biến kiểm soát gồm: an toàn vốn, quy mô ngân hàng, hiệu quả hoạt
động và lạm phát.
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn này là phương
pháp phân tích định lượng với cấu trúc dữ liệu dạng bảng, mẫu nghiên cứu gồm 20
ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007-2014. Tác giả thực
hiện các kiểm định giả thuyết thông qua phương pháp ước lượng hồi quy
Generalized Method of Moment (GMM) nhằm kiểm soát hiện tượng phương sai
thay đổi, tự tương quan và nội sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng có
tác động cùng chiều đến cả ROA và ROE. Ngoài ra, ROA và ROE còn chịu tác
động ngược chiều của quy mô ngân hàng, cùng chiều của hiệu quả hoạt động; biến
an toàn vốn lại có tác động cùng chiều đối với ROA nhưng ngược chiều đối với
ROE. Ngược lại, ROA và ROE lại có tác động ngược chiều đến cả rủi ro thanh
khoản và rủi ro tín dụng của ngân hàng. Nghiên cứu cũng cho thấy khả năng sinh
lời và rủi ro còn chịu tác động bởi giá trị của chúng trong kỳ trước.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tác động của rủi ro đến khả năng sinh lời và
tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro của ngân hàng. Từ đó nghiên cứu đưa ra
các khuyến nghị đối với các nhà quản trị ngân hàng trong việc tăng khả năng sinh


lời và giảm thiểu rủi ro ở mức hợp lý.


iv

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
TÓM TẮT ................................................................................................................ iii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ....................................................................... vii
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................... viii
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ......................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài ...........................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu .................................................3
1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ..............................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................4
1.5. Đóng góp của đề tài .......................................................................................4
1.6. Kết cấu của luận văn .....................................................................................4
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KHẢ
NĂNG SINH LỜI VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG ...6
2.1. Giới thiệu về khả năng sinh lời và rủi ro của ngân hàng...............................6
2.1.1. Khả năng sinh lời ....................................................................................6
2.1.2. Rủi ro của ngân hàng ..............................................................................7
2.1.2.1. Rủi ro thanh khoản ...........................................................................7
2.1.2.2. Rủi ro tín dụng ..................................................................................8
2.2. Lý thuyết về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro ...........................9
2.2.1. Lý thuyết nghịch lý rủi ro và lợi nhuận của Bowman (nghịch lý của
Bowman) ...........................................................................................................9
2.2.2. Giả thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficiency structure) ..............................10
2.3. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu ..............................................................10
2.3.1. Tác động của rủi ro đến khả năng sinh lời của ngân hàng ....................10
2.3.2. Tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro ngân hàng ..........................15
2.4. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu .................................................................21


v

2.4.1. Rủi ro ảnh hưởng đến khả năng sinh lời ...............................................21
2.4.2. Khả năng sinh lời ảnh hưởng đến rủi ro ...............................................22
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................24
3.1. Mô hình nghiên cứu ....................................................................................24
3.1.1. Mô hình nghiên cứu tác động của rủi ro đến khả năng sinh lời của ngân
hàng .................................................................................................................24
3.1.2. Mô hình nghiên cứu tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro của ngân
hàng .................................................................................................................25
3.2. Các biến nghiên cứu ....................................................................................27
3.2.1. Biến đo lường khả năng sinh lời ...........................................................27
3.2.2. Biến đo lường rủi ro ..............................................................................27
3.2.3. Biến đo lường đặc thù ngân hàng .........................................................29
3.2.4. Biến vĩ mô .............................................................................................32
3.3. Dữ liệu nghiên cứu ......................................................................................33
3.3.1. Mẫu nghiên cứu ....................................................................................34
3.3.2. Dữ liệu nghiên cứu ................................................................................34
3.4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................35
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KHẢ
NĂNG SINH LỜI VÀ RỦI RO TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM .........................37
4.1. Mô tả dữ liệu ...............................................................................................37
4.1.1. Kết quả thống kê mô tả .........................................................................37
4.1.2. Phân tích sự tương quan giữa các biến .................................................39
4.1.3. Kiểm định đa cộng tuyến và hiện tượng nội sinh của mô hình nghiên
cứu ...................................................................................................................40
4.2. Kết quả nghiên cứu......................................................................................40
4.2.1. Kết quả nghiên cứu tác động của rủi ro đến khả năng sinh lời của ngân
hàng .................................................................................................................40
4.2.2. Kết quả nghiên cứu tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro ngân
hàng .................................................................................................................45


vi

4.2.2.1. Tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro thanh khoản của ngân
hàng .............................................................................................................45
4.2.2.2. Tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
.....................................................................................................................48
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ......................................................................................52
5.1. Kết luận .......................................................................................................52
5.2. Khuyến nghị ................................................................................................53
5.3. Hạn chế của luận văn và các hướng nghiên cứu tiếp theo ..........................55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................57
PHỤ LỤC


vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
TỪ

NGHĨA TIẾNG VIỆT

VIẾT TẮT
NHNN
ctg

Ngân hàng Nhà nước
Các tác giả

TCTD

Tổ chức tín dụng

NHTM

Ngân hàng thương mại

TMCP

Thương mại cổ phần

TIẾNG ANH
TỪ
VIẾT TẮT

NGHĨA TIẾNG ANH
Method

NGHĨA TIẾNG VIỆT
of Phương pháp hồi quy Mômen
tổng quát

GMM

Generalized
Moment

ROA

Return on Asset

Lợi nhuận trên tổng tài sản

ROE

Return on Equity

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

LIQR

Liquidity Risk

Rủi ro thanh khoản

CRR

Credit Risk

Rủi ro tín dụng

CAP

Capital Adequacy

An toàn vốn

SIZE

Size bank

Quy mô ngân hàng

CIR

Operation Cost Efficiency

Hiệu quả hoạt động

CPI

Consumer Price Index

Chỉ số giá tiêu dùng

NIM

Net Interest Margin

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên


viii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và
rủi ro trong hoạt động của ngân hàng .......................................................................18
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt các biến của mô hình nghiên cứu........................................33
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến số của các ngân hàng trong mẫu (2007-2014) .37
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu ........39
Bảng 4.3: Kết quả chạy hồi quy mô hình 1 và mô hình 2 .........................................40
Bảng 4.4: Kết quả chạy hồi quy mô hình nghiên cứu 3 ............................................46
Bảng 4.5: Kết quả chạy hồi quy mô hình nghiên cứu 4 ............................................48


1

CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính hoạt động vì mục tiêu tối đa
hóa giá trị của cổ đông với mức rủi ro có thể chấp nhận như những doanh nghiệp
khác. Tuy nhiên hoạt động ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro xuất phát từ
những nguyên nhân và mức độ tác động khác nhau, có thể gây tổn thất về tài chính
như thua lỗ, làm giảm giá trị vốn của ngân hàng hoặc làm ngân hàng mất khả năng
thanh toán dẫn đến đỗ vỡ… Khác với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh
vực khác, ngân hàng thương mại với vai trò là trung gian tài chính cung ứng vốn
cho mọi lĩnh vực kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh nên với một sự bất ổn trong hoạt động cũng có thể ảnh hưởng rất lớn đến nền
kinh tế. Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam cả trong lĩnh
vực tài chính – ngân hàng thì sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gây gắt,
đặc biệt là với các ngân hàng nước ngoài. Để tồn tại và phát triển bền vững vấn đề
tăng khả năng sinh lời, giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an toàn hoạt động luôn được
các nhà quản trị quan tâm, chú trọng. Nhưng để gia tăng khả năng sinh lời và giảm
thiểu rủi ro là điều không phải dễ.
Theo báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động
của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2011 trở lại đây đối mặt với sự
giảm sút mạnh trong khả năng sinh lời và gia tăng nhanh về rủi ro, tình hình xáo
trộn thanh khoản, nợ xấu tăng cao ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Trước tình hình hoạt động yếu kém của một số ngân hàng thương
mại Việt Nam và tình hình nợ xấu tăng cao, Đề án “Tái cơ cấu lại hệ thống các tổ
chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” theo Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012
của Thủ tướng Chính phủ và Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín
dụng” theo Quyết định 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ
được ban hành và triển khai thực hiện quyết liệt. Với đặc điểm sự đổ vỡ của một
ngân hàng có thể gây nên hiệu ứng lan truyền tác động đến toàn hệ thống, do đó để


2

đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam buộc phải mua lại với giá 0 đồng đối với 03 ngân hàng yếu kém và nhiều
ngân hàng đã được cơ cấu lại thông qua hợp nhất, sáp nhập. Như vậy, đây là tiếng
còi cảnh báo về rủi ro trong hoạt động và sự an toàn của hệ thống ngân hàng Việt
Nam.
Sự hiểu biết về tác động của các rủi ro tài chính đến khả năng sinh lời của
các ngân hàng là một vấn đề quan trọng bởi vì nó sẽ cho phép các ngân hàng quản
trị các rủi ro có hiệu quả. Hơn nữa, một hệ thống ngân hàng vững mạnh và có lợi
nhuận sẽ thúc đẩy sự ổn định tài chính rộng hơn và tăng khả năng phục hồi của nền
kinh tế trước những cú sốc kinh tế vĩ mô bất lợi. Do đó, để tăng lợi nhuận, các ngân
hàng nên biết rằng những yếu tố rủi ro nào có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lời
(Tafri và ctg, 2009). Bên cạnh đó, để biết được xu hướng chấp nhận rủi ro của ngân
có chịu tác động của khả năng sinh lời mà ngân hàng đạt được hay không cần phải
nghiên cứu tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro ngân hàng. Như vậy, việc
nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro sẽ giúp cho nhà quản trị
xác định được sự tác động rủi ro đến khả năng sinh lời cũng như sự tác động của
khả năng sinh lời đến rủi ro ngân hàng để đưa ra các quyết định về kinh doanh và
quản trị rủi ro sao cho với mức rủi ro chấp nhận sẽ làm tăng khả năng sinh lời của
ngân hàng.
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tác động
của một số loại rủi ro ngân hàng (rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng,
rủi ro tỷ giá…) đến khả năng sinh lời của ngân hàng tại một quốc gia hay tại các
quốc gia khác nhau vào những giai đoạn khác nhau và cho ra những kết quả không
tương đồng như: Bourke (1989); Molyneux và Thornton (1992); Athanasoglous và
ctg (2008), Tafri và ctg (2009), Shen và ctg (2009), Al-Khouri (2011), Ruziqa
(2013)…. Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu về tác động của khả năng sinh lời
đến rủi ro ngân hàng tại các quốc gia khác nhau như: Behr và ctg (2010); BaselgaPascual và ctg (2015); Rahman và ctg (2015)…. Tại Việt Nam, tính đến thời điểm
luận văn được thực hiện có nhiều bài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến khả


3

năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam hay nhiều nghiên cứu về rủi ro
lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương
mại Việt Nam, tuy nhiên tác giả chưa tìm thấy các nghiên cứu đã được công bố
nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro trong hoạt động của hệ
thống ngân hàng Việt Nam.
Dựa trên tình hình thực tế của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam và các
nghiên cứu trước của Tafri và ctg (2009), Ruziqa (2013) và Baselga-Pascual và ctg
(2015), theo đó tác giả đã chọn đề tài “Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro
trong hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam” cho luận văn Thạc sỹ của
mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm mục tiêu xác định mối quan hệ giữa khả năng
sinh lời và rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, trong đó bao gồm việc xác định
mức độ tác động của rủi ro đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại
Việt Nam và ngược lại là mức độ tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro ngân
hàng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị
giúp giảm thiểu rủi ro và tăng khả năng sinh lời của ngân hàng.
Luận văn đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng có tác động đến khả năng
sinh lời của ngân hàng không? Nếu có thì mức độ và chiều hướng tác động đến khả
năng sinh lời của ngân hàng như thế nào?
Câu hỏi 2: Khả năng sinh lời của ngân hàng có tác động đến rủi ro trong hoạt
động của ngân hàng hay không? Nếu có thì mức độ và chiều hướng tác động của
khả năng sinh lời đối với rủi ro của ngân hàng như thế nào?
1.3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng
sinh lời và rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Cụ thể


4

khả năng sinh lời được nghiên cứu qua 2 chỉ tiêu là Lợi nhuận trên tổng tài sản
(ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); rủi ro được giới hạn nghiên cứu
gồm hai rủi ro chính là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện đối với 20 ngân hàng
thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2007-2014.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Trong đó phương
pháp thống kê mô tả được thực hiện để khái quát về dữ liệu nghiên cứu, phương
pháp phân tích để phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên
cứu. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy để ước lượng các hệ số hồi quy của
mô hình nghiên cứu và sau đó thực hiện kiểm định các giải thuyết.
Nguồn dữ liệu: tác giả thu thập dữ liệu liên quan đến ngân hàng từ báo cáo
tài chính kiểm toán được công bố của các ngân hàng, dữ liệu vĩ mô tác giả thu thập
từ website Ngân hàng Nhà nước Việt nam.
1.5. Đóng góp của đề tài
Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa khả năng
sinh lời và rủi ro (rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng) của các ngân hàng thương
mại Việt Nam. Sự hiểu biết về mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro này đến khả
năng sinh lời cũng như sự tác động của khả năng sinh lời đến các loại rủi ro này của
ngân hàng sẽ giúp nhà quản lý điều hành, nhà quản trị ngân hàng có sự chú trọng,
điều chỉnh đối với công tác quản trị rủi ro để giảm tổn thất và tăng khả năng sinh lời
một cách có hiệu quả. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ đưa ra những
khuyến nghị phù hợp.
1.6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia
thành năm chương, gồm:


5

Chương 1: Giới thiệu. Chương này nêu lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục
tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng
góp của đề tài.
Chương 2: Tổng quan lý thuyết về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro
trong hoạt động của ngân hàng. Chương trình này trình bày tổng quan về khả năng
sinh lời và rủi ro và các lý thuyết về mối quan hệ giữa chúng, các nghiên cứu trước
về tác động của rủi ro đến khả năng sinh lời và tác động của khả năng sinh lời đến
rủi ro trong hoạt động của ngân hàng và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày rõ mô hình nghiên
cứu, cách đo lường các biến, cách thu thập dữ liệu và chọn mẫu, phương pháp
nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các kết quả phân tích
thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy cùng với kết quả kiểm định
các giải thiết của mô hình và trình bày phần thảo luận về kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá
trình phân tích đồng thời đưa ra các khuyến nghị dựa trên các kết luận đã nêu.
Trong chương cũng nêu lên hạn chế của luận văn trong quá trình nghiên cứu và đề
xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.


6

CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KHẢ
NĂNG SINH LỜI VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
2.1. Giới thiệu về khả năng sinh lời và rủi ro của ngân hàng
2.1.1. Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời của ngân hàng được phản ánh qua các chỉ tiêu chủ yếu
như: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA); tỷ lệ
thu nhập lãi cận biên (NIM); tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên và một số tỷ lệ khác.
ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng quản trị
của ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.
ROE là một chỉ tiêu đo lường tỉ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, nó thể
hiện thu nhập mà cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Tỷ lệ thu nhập
lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên là các thước đo chỉ ra năng lực của
hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các
nguồn thu so với mức tăng của chi phí (Rose, 1999).
Có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện để xác định các yếu tố tác động đến
khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng của một quốc gia hay một nhóm các nước
trong những khoảng thời gian khác nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng
sinh lời của ngân hàng chịu tác động bởi các yếu tố bên trong ngân hàng và các yếu
tố bên ngoài liên quan đến tình hình kinh tế vĩ mô. Yếu tố bên trong bao gồm rủi ro
ngân hàng (rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất…) và các yếu tố thuộc
đặc điểm ngân hàng (quy mô ngân hàng, an toàn vốn, hiệu quả hoạt động, mức độ
đa dạng hóa thu nhập…). Yếu tố bên ngoài là các yếu tố vĩ mô như lãi suất, lạm
phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế… Trong các nghiên cứu trước đây, khả năng sinh
lời của ngân hàng được đo lường qua các chỉ tiêu như: ROA, ROE (Athanasoglou
và ctg, 2005; Athanasoglou và ctg, 2008; Tafri và ctg, 2009; Hồ Thị Hồng Minh và
Nguyễn Thị Cành, 2015); ROA (Sufia và Chong, 2008); ROAA, ROAE (Said và
Tumin, 2011); ROA, ROE, NIM (Ruziqa, 2013). Như vậy, đa số các nghiên cứu về
khả năng sinh lời thường được đo lường bằng 2 chỉ tiêu chính là ROA và ROE.


7

2.1.2. Rủi ro của ngân hàng
Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất
về tài sản của ngân hàng, sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ
ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất
định (Trần Huy Hoàng, 2011).Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng phải đối
mặt với nhiều loại rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi
ro tác nghiệp, rủi ro hối đoái, rủi ro vỡ nợ, rủi ro pháp lý và nhiều rủi ro khác. Theo
Athonasoglou (2008) sự cần thiết của việc quản lý rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng
là điều vốn có trong bản chất của kinh doanh ngân hàng, chất lượng tài sản thấp và
mức độ thanh khoản thấp là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của ngân
hàng. Hơn thế nữa, đây cũng là hai loại rủi ro đặc thù trong hoạt động của hệ thống
ngân hàng tại Việt Nam. Do đó, luận văn chủ yếu tập trung vào hai loại rủi ro chính
là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.
2.1.2.1. Rủi ro thanh khoản
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) rủi ro thanh
khoản phát sinh từ sự bất lực của một ngân hàng để ứng phó với sự sụt giảm của nợ
phải trả hay để tài trợ cho sự tăng lên của tài sản. Khi một ngân hàng có thanh
khoản không đầy đủ thì không thể có đủ nguồn tài trợ bằng việc tăng nợ phải trả
hay bằng việc chuyển đổi các tài sản một cách nhanh chóng với một chi phí hợp lý
do đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Theo Tafri và ctg (2009), Dimitropoulos và ctg (2010) rủi ro thanh khoản là
rủi ro của việc ngân hàng không đủ tiền mặt hay không có khả năng vay mượn để
đáp ứng nhu cầu rút tiền gởi hay nhu cầu vay mới của khách hàng. Theo Trần Huy
Hoàng (2011) rủi ro thanh khoản là rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng
thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc
không thể vay mượn để đáp ứng các yêu cầu của hợp đồng thanh toán.
Theo Rose (1999) các ngân hàng cũng rất quan tâm tới sự nguy hiểm của
tình trạng thiếu tiền mặt và không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu rút


8

tiền gửi, yêu cầu vay vốn và những yêu cầu về tiền mặt khác. Đối mặt với rủi ro
thanh khoản, một ngân hàng có thể buộc phải vay “nóng” với mức chi phí quá cao
để chi trả cho những yêu cầu tiền mặt cấp bách và do vậy làm giảm lợi nhuận của
ngân hàng. Việc tăng cường sử dụng nguồn vốn vay rất có thể gây ra rủi ro thanh
khoản nếu như nhu cầu rút tiền gửi tăng và chất lượng của các khoản cho vay giảm.
Rủi ro thanh khoản được đo lường bằng nhiều cách và qua các chỉ tiêu khác
nhau. Theo Rose (1999) rủi ro thanh khoản được đo lường qua 04 chỉ tiêu sau: tỷ số
giữa các khoản vay của ngân hàng so với tổng tài sản, tỷ số giữa cho vay ròng so
với tổng tài sản, tỷ số giữa tiền mặt và số dư tiền gửi tại các ngân hàng khác so với
tổng tài sản, tỷ lệ giữa khoản mục tiền mặt và chứng khoán chính phủ so với tổng
tài sản. Đặc biệt trong các nghiên cứu gần đây rủi ro thanh khoản được đo lường
gián tiếp thông qua tỷ lệ thanh khoản như trong nghiên cứu của Tafri và ctg (2009)
và Ruziqa (2013) rủi ro thanh khoản được đo lường bằng tỷ lệ tài sản thanh khoản
trên tổng nợ phải trả. Các nghiên cứu này cho rằng tỷ lệ tài sản thanh khoản càng
cao cho thấy rủi ro thanh khoản càng thấp.
2.1.2.2. Rủi ro tín dụng
Theo Trần Huy Hoàng (2011) rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người vay
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn
dẫn đến tổn thất tài chính cho ngân hàng. Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày
21/01/213 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện
một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Đối với một ngân hàng, cho vay là hoạt động chính và đem lại lợi nhuận chủ
yếu nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Theo Dimitropoulos và ctg
(2010) rủi ro tín dụng là nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm
trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Vì hầu hết tài sản của ngân hàng là
dưới hình thức các khoản cho vay, do đó bất kể vấn đề nào phát sinh từ sự không có


9

khả năng thực hiện nghĩa vụ của người vay có thể là nguyên nhân chính dẫn đến sự
thất bại của ngân hàng. Các dấu hiệu của các khoản vay chất lượng kém bao gồm
nợ xấu, khoản vay bị thiệt hại và khoản vay được phân loại ở nhóm cao. Cụ thể là
một tỷ lệ cho vay cao so với tài sản hoặc sự tăng trưởng nhanh của danh mục cho
vay có thể là dấu hiệu cảnh báo về vấn đề chất lượng các khoản cho vay.
Theo Rose (1999) có 4 chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường rủi ro
tín dụng của ngân hàng, bao gồm: Tỷ số giữa giá trị các khoản nợ quá hạn so với
tổng dư nợ cho vay và cho thuê, tỷ số giữa các khoản xóa nợ ròng so với tổng cho
vay và cho thuê, tỷ số giữa phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với
tổng cho vay và cho thuê hay với tổng vốn chủ sở hữu, tỷ số giữa dự phòng tổn thất
tín dụng so với tổng cho vay và cho thuê hay với tổng vốn chủ sở hữu. Khi 2 chỉ
tiêu đầu tăng, rủi ro của ngân hàng cũng gia tăng, ngân hàng có thể đứng bên bờ
vực phá sản. Trong khi đó 2 chỉ tiêu cuối cùng lại nói lên sự chuẩn bị của ngân hàng
cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quỹ dự phòng tổn thất tín
dụng hàng năm từ thu nhập hiện tại. Trong các nghiên cứu trước đây, rủi ro tín dụng
thường được đo lường qua 02 chỉ tiêu: tỷ lệ nợ xấu (Ruziqa, 2013; Hồ Thị Hồng
Minh và Nguyễn Thị Cành, 2015) và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (Shen và ctg,
2009; Tafri và ctg, 2009; Athanasoglou và ctg, 2008; Sufian và Chong, 2008;
Dietrich và Wanzenried, 2014).
2.2. Lý thuyết về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro
2.2.1. Lý thuyết nghịch lý rủi ro và lợi nhuận của Bowman (nghịch lý của
Bowman)
Trong khi nghiên cứu về lợi nhuận và rủi ro của các công ty trong các ngành,
lĩnh vực khác nhau, Bowman (1980) đã phát hiện ra rằng rủi ro không chỉ có mối
tương quan thuận với lợi nhuận như các nghiên cứu trước đây mà nó còn có mối
tương quan nghịch với lợi nhuận được gọi là nghịch lý Bowman, có nghĩa là một
công ty có lợi nhuận cao và rủi ro thấp và ngược lại lợi nhuận thấp nhưng rủi ro lại
cao. Để giải thích cho sự nghịch lý giữa lợi nhuận và rủi ro này ông đưa ra nhiều


10

hướng tiếp cận khác nhau trong đó có hướng tiếp cận về sự quản trị tốt (good
management). Một công ty có sự quản trị tốt sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn và rủi ro
thấp hơn, một sự quản trị tốt vừa làm tăng lợi nhuận vừa bảo vệ công ty trước
những thay đổi bất thường của thiên nhiên, thị trường, xã hội và sự cạnh tranh.
Trong tất cả các ngành công nghiệp, công ty có lợi nhuận cao thì có nhiều hoạt động
trên thị trường quốc tế, đây là một dạng đa dạng hóa có thể làm giảm rủi ro và có
nhiều cơ hội đầu tư hơn. Sự quản trị tốt cùng với một Hội đồng quản trị hoạt động
hiệu quả có thể giải quyết và đối phó với những rủi ro và biến đổi cả bên trong lẫn
bên ngoài của công ty.
2.2.2. Giả thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficiency structure)
Demsetz (1973) là người đầu tiên xây dựng một cách giải thích khác về mối
quan hệ giữa cấu trúc thị trường và khả năng sinh lời và đề xuất các giả thuyết hiệu
quả. Áp dụng cho lĩnh vực ngân hàng, giả thuyết này quy định rằng một ngân hàng
mà hoạt động hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh thì đạt được lợi nhuận cao hơn
do kết quả từ chi phí hoạt động thấp hơn. Berger (1995) chia giả thuyết cấu trúc
hiệu quả thành giả thuyết hiệu quả X và giả thuyết hiệu quả theo quy mô. Theo giả
thuyết hiệu quả X, chi phí phát sinh cho việc quản lý hiệu quả hay hiện đại công
nghệ thấp hơn dẫn đến mang lại khả năng sinh lời cao hơn. Một ngân hàng có hiệu
quả X càng cao thì có thị phần càng rộng và sự tập trung càng cao. Theo giả thuyết
cấu trúc hiệu quả, sự khác biệt về hiệu quả giữa hai công ty không chỉ vì sự khác
biệt về chất lượng quản lý mà còn ở sự khác biệt về mức độ hiệu quả về quy mô
(Mensi và Zouari, 2010). Như vậy, việc ngân hàng tăng cường hiệu quả quản lý chi
phí, rủi ro và tận dụng lợi thế quy mô có thể làm tăng khả năng sinh lời của ngân
hàng.
2.3. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
2.3.1. Tác động của rủi ro đến khả năng sinh lời của ngân hàng
Bất kỳ hoạt động đầu tư, kinh doanh nào thì luôn có sự đánh đổi giữa khả
năng sinh lời và rủi ro. Tuy nhiên chiều hướng và mức độ tác động như thế nào còn


11

tùy thuộc vào đặc điểm của hoạt động đó. Trong hoạt động, ngân hàng phải đối mặt
với rất nhiều rủi ro, trong đó có các loại rủi ro chính: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín
dụng, rủi ro lãi suất. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về tác động của từng loại rủi
ro chính này đến khả năng sinh lời của ngân hàng và cả những nghiên cứu về tác
động của các loại rủi ro này đối với khả năng sinh lời của ngân hàng cho những kết
quả không đồng nhất, có thể có tác động cùng chiều, ngược chiều hoặc không có ý
nghĩa thống kê như sau:
Bourke (1989) nghiên cứu về sự tập trung và các yếu tố khác ảnh hưởng đến
khả năng sinh lời của ngân hàng khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Úc. Kết quả
nghiên cứu cho thấy thanh khoản có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời hay
rủi ro thanh khoản có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Trong khi nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992) về các yếu tố ảnh hưởng
đến khả năng sinh lời của ngân hàng khu vực Châu Âu lại cho kết quả thanh khoản
có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời hay rủi ro thanh khoản có tác động
cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Shen và ctg (2009) đã thực hiện nghiên cứu tác động của rủi ro thanh khoản
đến khả năng sinh lời của 12 ngân hàng thương mại tại các nước có nền kinh tế phát
triển trong giai đoạn từ 1994-2006. Nghiên cứu thực hiện hồi quy dữ liệu bảng bằng
phương pháp bình phương tối thiểu hai giai đoạn (2SLS). Khả năng sinh lời được
đo lường bằng ROAA, ROAE và NIM, rủi ro thanh khoản được đo lường bằng hai
chỉ tiêu là Chênh lệch giữa cho vay và tiền gửi của khách hàng/Tổng tài sản và Cho
vay ròng/Tổng tiền gửi và nguồn vốn ngắn hạn, rủi ro tín dụng được đo lường bằng
dự phòng rủi ro cho vay trên tổng dư nợ, quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn, các biến về
thị trường và vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro thanh khoản có thể làm
giảm lợi nhuận ngân hàng (ROAA, ROAE) vì chi phí vốn cao, nhưng lại làm tăng
tỷ lệ lãi cận biên (NIM), rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều đến ROAA và
ROAE nhưng lại tác động cùng chiều đến NIM. Quy mô ngân hàng lúc đầu làm
tăng khả năng sinh lời của ngân hàng nhưng sau đó sẽ làm giảm khả năng sinh lời
của ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản làm tăng khả năng sinh lời của


12

ngân hàng trong khi đó tỷ lệ lạm phát lại làm giảm ROAA nhưng lại làm tăng
ROAE và NIM.
Tafri và ctg (2009) nghiên cứu tác động của rủi ro tài chính lên khả năng sinh
lời của các ngân hàng thương mại Malaysia giai đoạn 1996-2005. Khả năng sinh lời
được đo lường bằng chỉ tiêu ROA và ROE, rủi ro tài chính gồm: rủi ro tín dụng (Dự
phòng rủi ro cho vay/Tổng dư nợ), rủi ro thanh khoản (Tài sản thanh khoản/Tổng
nợ phải trả) và rủi ro lãi suất ((Tài sản nhạy cảm lãi suất-Nợ nhạy cảm lãi
suất)/Tổng nguồn vốn). Ngoài ra, trong mô hình nghiên cứu còn có biến quy mô
ngân hàng, vốn ngân hàng, hoạt động ngoại bảng và tốc độ tăng trưởng GDP.
Nghiên cứu thực hiện hồi quy dữ liệu bảng với phương pháp bình phương nhỏ nhất
tổng quát (GLS). Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng có tác động ngược
chiều đến ROA và ROE của cả ngân hàng thông thường và ngân hàng Hồi giáo ở
Malaysia, rủi ro lãi suất có tác động cùng chiều đến ROA và ngược chiều đến ROE
đối với ngân hàng thông thường, sự tác động của rủi ro thanh khoản lên ROA và
ROE thì không có ý nghĩa thống kê. Quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều
đến ROA nhưng không có tác động đối với ROE của các ngân hàng thương mại
Malaysia, vốn ngân hàng có tác động đối với ROA và ROE của cả ngân hàng thông
thường và ngân hàng Hồi giáo ở Malaysia. Nghiên cứu cũng cho thấy ROA và ROE
còn chịu tác động bởi giá trị của chúng trong kỳ trước.
Ruziqa (2013) nghiên cứu về tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín
dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng Indonesia có tổng tài sản trên 10
nghìn tỷ Rupiah từ năm 2007-2010. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ
liệu bảng với mô hình tác động cố định (FEM). Biến phụ thuộc là khả năng sinh lời
(ROA, ROE và NIM), biến độc lập là rủi ro thanh khoản (Tài sản thanh khoản/Tổng
nợ phải trả), rủi ro tín dụng (Nợ xấu/Tổng dư nợ), vốn ngân hàng và quy mô ngân
hàng. Ông chỉ ra rằng rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản có tác động ngược chiều
đến cả ROA và ROE. Vốn ngân hàng có tác động cùng chiều đến cả ROA, ROE và
NIM nhưng quy mô ngân hàng chỉ tác động ngược chiều đến NIM.


13

Al-Khouri (2011) nghiên cứu về rủi ro và khả năng sinh lời của 43 ngân hàng
hoạt động tại 6 nước trong Hội đồng hợp tác vùng Vịnh giai đoạn 1998-2008.
Nghiên cứu sử dụng mô hình tác động cố định (FEM) với biến phụ thuộc là ROA
và ROE, biến độc lập là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro vốn và quy mô
ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng, rủi ro vốn, quy mô ngân
hàng có tác động cùng chiều đến ROA, trong khi rủi ro thanh khoản tác động ngược
chiều với ROA và cùng chiều với ROE. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy các yếu
tố khác như yếu tố sở hữu nhà nước… cũng có tác động đến khả năng sinh lời của
ngân hàng.
Athanasoglou và ctg (2008) trong nghiên cứu xác định các yếu tố thuộc đặc
điểm ngân hàng, đặc điểm ngành và đặc điểm kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến khả
năng sinh lời của các ngân hàng Hy Lạp giai đoạn 1985-2001. Nghiên cứu sử dụng
phương pháp GMM để ước lượng mô hình với khả năng sinh lời được đo lường
bằng ROA, ROE, rủi ro tín dụng được đo lường bằng dự phòng rủi ro cho vay trên
tổng dư nợ, ngoài ra còn có biến quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn, quản trị chi phí hoạt
động, các biến thuộc đặc điểm ngành, lạm phát và các biến vĩ mô khác. Kết quả
nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều đến cả ROA và ROE,
trong khi tỷ lệ vốn, quản trị chi phí hoạt động và lạm phát lại có tác động cùng
chiều đến ROA và ROE, đồng thời kết quả nghiên cứu còn cho thấy khả năng sinh
lời còn chịu tác động cùng chiều của độ trễ bậc nhất của chúng.
Sufian và Chong (2008) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh
lời của ngân hàng tại Philipines giai đoạn 1990-2005. Nghiên cứu sử dụng phương
pháp SGMM để ước lượng các hệ số hồi quy của mô hình với biến phụ thuộc là
ROA, biến độc lập gồm rủi ro tín dụng (dự phòng rủi ro cho vay/tổng dư nợ), quy
mô ngân hàng, mức độ đa dạng hoá thu nhập, quản trị chi phí, mức an toàn vốn và
các biến vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng và
chi phí hoạt động tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng, trong
khi thu nhập ngoài lãi và mức an toàn vốn lại có tác động cùng chiều đến khả năng
sinh lời.


14

Dietrich và Wanzenried (2014) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng sinh lời của ngân hàng ở các nước có thu nhập thấp, trung bình và cao với mẫu
nghiên cứu gồm 10.165 ngân hàng từ 118 nước trong giai đoạn 1998-2012. Nghiên
cứu sử dụng phương pháp SGMM để ước lượng các hệ số hồi quy của mô hình với
biến phụ thuộc là ROAA, ROAE và NIM; biến độc lập gồm tỷ lệ vốn chủ sở hữu
trên tổng tài sản, hiệu quả hoạt động (tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập), tỷ
lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ, tốc độ tăng tiền gửi, quy mô ngân hàng, tỷ lệ thu
nhập từ lãi trên tổng thu nhập và các biến vĩ mô khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy
tỷ lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ có tác động ngược chiều đến ROAA nhưng
cùng chiều đến NIM, tỷ lệ vốn có tác động ngược chiều đến ROAA và ROAE
nhưng cùng chiều đến NIM, hiệu quả hoạt động có tác động cùng chiều đến cả
ROAA, ROAE và NIM; đồng thời khả năng sinh lời còn chịu tác động cùng chiều
bởi giá trị của chúng trong kỳ trước.
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) nghiên cứu đa dạng hóa thu
nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại
Việt Nam giai đoạn 2006-2013. Nghiên cứu sử dụng phương pháp SGMM để ước
lượng các hệ số hồi quy của mô hình với biến phụ thuộc là khả năng sinh lời (ROA
và ROE), biến độc lập là độ trễ bậc một của khả năng sinh lời (ROAt-1, ROEt-1), cấu
trúc tài sản (dư nợ cho vay/tổng tài sản), chất lượng tài sản (nợ xấu/tổng dư nợ), tỷ
lệ vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu/tổng tài sản), cấu trúc tài trợ (tiền gửi khách
hàng/tổng nợ phải trả, hiệu quả hoạt động (chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động),
quy mô (logarit tổng tài sản), đa dạng hóa thu nhập (HHIRD), GDP và lạm phát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài
sản có tương quan nghịch đến khả năng sinh lời của các ngân hàng, trong khi chỉ
tiêu đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi khách
hàng, hiệu quả hoạt động và lạm phát đều có tương quan thuận với khả năng sinh
lời của ngân hàng. Nghiên cứu cũng cho thấy ROA và ROE còn chịu tác động cùng
chiều bởi giá trị của chúng trong kỳ trước.


15

Như vậy, qua các nghiên cứu trước đây có thể thấy rằng rủi ro thanh khoản
có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng (Molyneux và
Thornton, 1992) hoặc ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng (Bourke,
1989; Ruziqa, 2013) hay có tác động hỗn hợp đến các chỉ tiêu đại diện cho khả năng
sinh lời của ngân hàng (Shen và ctg, 2009; Al-Khouri, 2011). Đối với rủi ro tín
dụng thì đa số các nghiên cứu cho thấy nó có tác động ngược chiều đến khả năng
sinh lời của ngân hàng (Tafri và ctg, 2009; Ruziqa, 2013; Athanasoglou và ctg,
2008; Sufian và Chong, 2008; Dietrich và Wanzenried, 2014; Hồ Thị Hồng Minh và
Nguyễn Thị Cành, 2015) tuy nhiên cũng có nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng có
tác động cùng chiều đến ROA theo kết quả nghiên cứu của Al-Khouri (2011).
Ngoài ra trong các nghiên cứu của Athanasoglou và ctg (2008), Tafri và ctg (2009),
Dietrich và Wanzenried (2014), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015)
chỉ ra rằng khả năng sinh lời của ngân hàng còn chịu tác động bởi khả năng sinh lời
trong kỳ trước.
2.3.2. Tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro ngân hàng
Trên thế giới có các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến rủi ro ngân hàng
tại một quốc gia hay một nhóm quốc gia. Trong đó, tác động của vốn lên rủi ro
được nghiên cứu rất nhiều, ngoài ra còn có các biến thuộc đặc điểm ngân hàng như
khả năng sinh lời, quy mô, hiệu quả hoạt động… và những biến vĩ mô như lạm
phát, GDP cũng được nghiên cứu để xem xét tác động của nó lên rủi ro. Các nghiên
cứu trước đây về tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro hầu hết có kết quả tương
đồng nhau và tạo ra sự đồng thuận rộng rãi về sự tác động ngược chiều này. Cụ thể
như sau:
Baselga-Pascual và ctg (2015) nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro
ngân hàng. Nghiên cứu sử dụng mô hình dữ liệu bảng động với phương pháp ước
lượng SGMM để phân tích các yếu tố thuộc đặc điểm ngân hàng và các yếu tố vĩ
mô tác động đến rủi ro của các ngân hàng hoạt động ở khu vực Châu Âu trong giai
đoạn từ 2001-2012. Trong đó, biến phụ thuộc gồm rủi ro tín dụng được đại diện


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×