Tải bản đầy đủ

1612370 tran thi hoai nhan BĐKH

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM- SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI
VÀ BIỆN PHÁP THÍCH ỨNG
Trần Thị Hoài Nhân

Lớp Kỷ thuật môi trường, Khoa Môi trường và Tài nguyên, Đại học Bách Khoa TPHCM
1. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang là một trong những thách thức lớn đối với
toàn nhân loại và các hệ sinh thái trên Trái đất. Những bằng chứng rõ ràng về BĐKH
đã được Ủy ban Liên Chính Phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) và các nhà khoa học của
Liên Hợp Quốc công bố thông qua các báo cáo xác thực về các hậu quả của BĐKH
như nhiệt độ tăng, mực nước biển đang dâng cao và các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Việt Nam là một trong những quốc gia sẽ phải gánh chịu tác động nặng nề nhất
của BĐKH. Theo kịch bản biến đổi khí hậu và những nghiên cứu của IPCC cho biết
nếu mực nước biển tại Việt Nam tăng một mét vào cuối thế kỉ 21 và không có biện
pháp ứng phó thì sẽ có 9.3% tổng diện tích đất bề mặt bị ngập lụt và 10.8% dân số
Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. BĐKH tác động đến mọi mặt về kinh tế-xã hội, đến môi
trường toàn cầu và sự phát triển bền vững của Việt Nam.
Từ những tác hại chung của BĐKH đến đời sống toàn cầu, có thể nhìn nhận
những tác hại đặc trưng của BĐKH đến đô thị Việt Nam như ảnh hưởng đến đời sống
sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe của người dân, các hiện tượng của BĐKH làm phá
hủy các công trình hạ tầng kỷ thuật của đô thị, triều cường dâng của với lượng mưa

tăng gây ngập úng ở đô thị. Bên cạnh đó sự bùng nổ của quá trình đô thị hóa cũng là
một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra hiệu ứng nhà kính dẫn đến BĐKH.
Đô thị hóa và BĐKH liên quan chặt chẽ lẫn nhau và thường tác động tiêu cực,
những hậu quả khắc nghiệt của BĐKH đặt ra những thách thức lớn cùng những yêu
cầu cấp bách về ứng phó với BĐKH ở các đô thị của Việt Nam.
2. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Sự bùng nổ của quá trình đô thị hóa trên quy mô lớn nhưng lại thiếu sự kiểm
soát chặt chẽ đã gây ra những tác động xấu đến môi trường tự nhiên, dân số tăng
nhanh và tập trung đông đúc ở các đô thị kéo theo tăng nhu cầu sử dụng đất, nhu cầu
lương thực và năng lượng cũng tăng cao, các hoạt động của con người và sự tăng
trưởng công nghiệp thải ra một lượng lớn khí nhà kính đe dọa trực tiếp sức khỏe con
người và chất lượng cuộc sống.


Bảng 1: Chương trình phát triển hệ thống đô thị quốc gia dựa trên phân loại đô thị
(Do Tu Lan-Tran Thi Lan Anh, 2011)
Đô thị hóa dẫn đến thay đổi trong việc sử dụng đất, diện tích bề mặt bê tông hóa
tăng cao làm ảnh hưởng đến cấu trúc của đất, làm sự trao đổi giữa đất và các yếu tố tự
nhiên bị hạn chế tối đa. Đá, bê tông, nhựa đường hấp thu năng lượng mặt trời rất
mạnh và bức xạ trở lại khí quyển cộng với các hoạt động của con người thải ra nhiệt
và các khí nhà kính tạo ra một vòm nhiệt và biến đô thị thành một đảo nhiệt.
Sự tập trung công nghiệp và đô thị hóa cao độ có tác động lớn tới môi trường.
Các chất khí thải, nước, rắn, chất độc hại thải ra môi trường không phải là cục bộ nữa
mà là có quy mô rộng lớn. Các dòng nước xã thải gây ô nhiễm môi trường nước mặt,
nước ngầm, gây ô nhiễm đất, các loại bụi bẩn hóa chất, silic, vụn thép, mụi bám trên
lá cây, phủ trên mặt đất, đi theo đường hô hấp vào phổi người, gây hại cho sức khỏe
con người. Các hoạt động công nghiệp nặng cũng đóng góp một phần lớn khí nhà
kính vào khí quyển.
Các ngành công nghiệp nặng nằm gần các thành phố là nguồn gốc chính của
không khí, nước và ô nhiễm đất đai. Hầu hết các năng lượng cần thiết để hỗ trợ các
ngành công nghiệp và cuộc sống đô thị được sản xuất bằng cách sử dụng nhiên liệu
hóa thạch ví dụ như than, xăng, diesel hoặc khí tự nhiên làm gia tăng sự phát thải các
khí nhà kính và thủng tầng ozon. Sự phát triển đô thị càng mạnh, ô nhiễm không khí
càng nặng.


Dân số tăng nhanh do nhu cầu việc làm và có xu hướng tập trung ở các đô thị lớn
làm tăng nhu cầu tiêu thụ thực phẩm, nước, năng lượng, đặt ra những căng thẳng lớn
về môi trường. Sự phát triển của mật độ dân số dẫn đến điều kiện vệ sinh kém và mất
điều kiện vệ sinh, các cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, thoát nước và cấp nước


đã không hoàn toàn đáp ứng sự di cư ngày càng gia tăng, khan hiếm nước sạch cũng
đang là nguy cơ đe dọa đến đời sống sinh hoạt của người dân.

(Do Tu Lan-Tran Thi Lan Anh, 2011)
Nếu đô thị hóa không có kế hoạch tăng trưởng dẫn đến gây thiệt hại lan rộng đến
hệ sinh thái hiện tại, nạn phá rừng và mất đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến khí hậu và
môi trường. Đa dạng sinh học trong môi trường đô thị so với các môi trường khác đã
bị giảm thiểu, cân bằng sinh thái bị phá vỡ.


Một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với môi trường là sự tăng trưởng các
thành phố lớn, nhất là khi các thành phố này nằm gần bờ biển và các dòng sông. Việc
này có thể hủy diệt hệ sinh thái ven biển, ven sông và các vùng đất ngập nước. Chu
trình nước tự nhiên bị hạn chế nhiều ở quá trình thấm, dòng chảy tự nhiên và tăng
cường quá trình bốc hơi. Hệ thống nước sông, rạch được thay bằng cống rãnh hoặc
kênh đào, hệ thống nước ngầm cũng bị khai thác tối đa và có nhiều nơi bị ô nhiễm
hoặc sụt lún.
3. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐÔ THỊ
Dựa trên đánh giá lần thứ 4 của IPCC, liệt kê những khía cạnh khác nhau của
BĐKH, bằng chứng cho những tác động hiện tại, dự báo các tác động cho tương lai và
các khu vực hoặc nhóm chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Báo cáo nhấn mạnh những loại
tác động khác nhau phát sinh từ sự thay đổi mang tính cực đoan và bất ngờ của
BĐKH, trong khi cũng cần chú ý những mức độ tác động hiếm khi được xác định một
cách rõ ràng.
Trong số các trung tâm đô thị ở các quốc gia có thu nhập thấp-trung bình, có lẽ
những rủi ro rõ nhất nằm ở số lượng và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực
đoan như các cơn mưa bão lớn, lốc xoáy. Đối với bất kì một thành phố nào, mức độ
rủi ro do những hiện tượng thời tiết cực đoan chịu ảnh hưởng nhiều bởi chất lượng
của công trình và cơ sở hạ tầng của thành phố đó. Mức độ rủi ro cũng được phản ánh
bởi mức độ thành công trong quy hoạch và quản lí sử dụng đất theo hướng giảm thiểu
tác động của BĐKH trong bối cảnh xây dựng và mở rộng đô thị.
Đối với các điểm dân cư ven biển, tính toàn vẹn của hệ sinh thái ven bờ đặc biệt
là rừng ngập mặn được bảo vệ và hệ thống đầm lầy nước mặn cũng ảnh hưởng đến
mức độ rủi ro. Thêm vào đó, các thành phố cũng dễ bị tổn thương khi xảy thiệt hại
cho các hệ thống lớn hơn mà chúng phụ thuộc-ví dụ như hệ thống cấp và xử lý nước,
giao thông, cấp điện và tất cả những gì phụ thuộc vào điện, bao gồm chiếu sáng, bơm
và viễn thông.
Với các thành phố lớn và mật độ dân cư cao, nhiệt độ tại các “đảo nhiệt” có thể
cao hơn vài độ so với các khu vực lân cận. Rất nhiều thành phố sẽ phải đối mặt với
một số vấn đề nhất định như ô nhiễm không khí khi nồng độ chất ô nhiễm thay đổi để
đáp ứng với BĐKH vì sự thay đổi nồng độ các thành phần của ô nhiễm phụ thuộc,
một phần, vào nhiệt độ và độ ẩm, việc tăng tần suất và mức độ nghiêm trọng của hiện
tượng sóng nhiệt ở các thành phố có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, năng suất lao động
và hoạt động giải trí của người dân đô thị. Nó cũng ảnh hưởng đến kinh tế, như chi
phí bổ xung cho việc điều hòa khí hậu trong các tòa nhà, và ảnh hưởng đến môi
trường, như sự hình thành của khói ở các thành phố hay sự xuống cấp của không gian


xanh đồng thời khí nhà kính tăng để đáp ứng nhu cầu làm mát nếu hệ thống làm mát
dùng điện tạo ra từ nhiên liệu hóa thạch.
Các khu vực đô thị luôn hiện diện một số rủi ro lũ lụt khi mưa lớn xảy ra. Nhà
cửa, đường phố, cơ sở hạ tầng và những khu vực bê tông hóa khác ngăn chặn nước
mưa thấm xuống mặt đất và do vậy tạo ra nước chảy tràn nhiều hơn. Mưa lớn và kéo
dài nhiều ngày tạo ra một lượng rất lớn nước chảy tràn bề mặt gây ra hiện tượng ngập
lụt đô thị làm tê liệt các hệ thống giao thông. IPCC cũng nhấn mạnh những tác động
lớn tới cấp nước do các hiện tượng thời tiết cực đoan, các công trình khai thác và xử
lý nước thường được xây dựng bên cạnh các dòng sông và đây là hệ thống cơ sở hạ
tầng đầu tiên chịu tác động của lũ lụt, hệ thống điện và máy bơm cũng rõ ràng sẽ bị
tác động. Lũ lụt ven sông với vận tốc dòng chảy cao cũng sẽ làm ảnh hưởng đến hệ
thống đường ống. Vệ sinh môi trường cũng là một vấn đề, ngập lụt làm cho các nhà
máy xử lý nước thải, các bãi rác cũng bị ngập lụt gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng, gây ra những hạn chế về cấp nước và nguồn nước sạch không đảm bảo chất
lượng.

BĐKH có khả năng làm tăng rủi ro lũ lụt ở các đô thị theo ba cách: từ biển (mực
nước biển dâng cao và bão), từ mưa-ví dụ lượng mưa tăng hoặc mưa kéo dài và từ
những thay đổi gây ra tăng lưu lượng dòng chảy-ví dụ do băng tan. Nhóm công tác số
2 của IPCC nhấn mạnh rằng những trận mưa lớn có xu hướng ngày càng xảy ra
thường xuyên hơn và sẽ làm tăng thêm nguy cơ lũ lụt (Adger, Aggarwal, Agrawale et
al.,2007). Bên cạnh nguy hiểm của lũ lụt, hiện tượng mưa lớn do BĐKH cũng sẽ làm
tăng nguy cơ lở đất ở nhiều đô thị.
BĐKH cũng liên quan tới các rủi ro về sức khỏe của dân cư, nhiệt độ tăng kết
hợp vớ quá trình đô thị hóa mạnh mẽ làm gia tăng hiện tượng đảo nhiệt ảnh hưởng


đến sức khỏe cộng đồng như gia tăng các biến chứng về hô hấp và tim mạch, ung thư
da và đục thủy tinh thể. BĐKH cũng có thể làm gia tăng bệnh tiêu chảy và thay đổi sự
phân bố không gian của một số vecto bệnh truyền nhiễm-ví dụ nhiệt độ trung bình ấm
hơn có thể mở rộng diện tích nhiễm bệnh mà trong đó nhiều bệnh “nhiệt đới” có thể
xảy ra. Việc mở rộng có thể xảy ra đối với những khu vực mà trong đó muỗi truyền
bệnh sốt rét, sốt xuất huyết và giun có thể tồn tại và sinh sản (Adger, Aggarwal,
Agrawala et al., 2017; WHO, 1992).Những hiện tượng thời tiết cực đoan có thể tạo ra
mối nguy hiểm mới tới sức khỏe con người và gây gián đoạn cho các dịch vụ y tế
công cộng dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh tăng lên.
Nước biển dâng cùng với sự gia tăng lượng mưa gây ra những rủi ro ngập lụt
ảnh hưởng đến hạ tầng công. Các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp ven
biển sẽ chịu những ảnh hưởng nặng nề. Nước biển dâng khoảng 1m vào cuối thế kỷ
21 sẽ làm cho hầu hết các khu công nghiệp ở Việt Nam bị ngập, thấp nhất là trên 10%
diện tích, cao nhất là khoảng 67% diện tích. Theo các kịch bản BĐKH của Bộ Tài
nguyên và Môi trường (năm 2012), đến cuối thế kỷ 21, sự gia tăng 1 m của mực nước
biển có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sinh kế của khoảng 20% dân số
và tổn thất có thể lên tới 10% GDP mỗi năm.
Ngoài ra nước biển dâng cộng với lượng mưa tăng làm giảm diện tích đô thị,
trong khi người dân có xu hướng chuyển vào các đô thị lớn để sinh sống và làm ăn,
đất thì không tự sinh sôi nảy nở mà còn có nguy cơ bị giảm diện tích gây ra nhiều ảnh
hưởng về nơi cư trú, tăng sức ép lên nhiều mặt của xã hội.
4. NHỮNG NỖ LỰC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Khi BĐKH là thách thức thực sự cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương
lai, thì công tác ứng phó với biến đổi khí hậu được đánh giá là hoạt động ưu tiên của
bất kỳ địa phương, quốc gia, lãnh thổ nào trên thế giới.
Nhận thức rõ tác động của BĐKH, Việt Nam đã sớm tham gia Công ước Khung
của Liên Hợp Quốc về BĐKH (1992), Nghị định thư Kyoto (1998) và gần đây nhất,
năm 2008 đã xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về BĐKH (CTMTQG). Đồng
thời kêu gọi cộng đồng các nhà tài trợ cùng với các bộ, ngành và địa phương triển
khai nhiều dự án nghiên cứu tình hình diễn biến và tác động của BĐKH cũng như các
biện pháp ứng phó với BĐKH.
Dự án “Tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH ở Việt Nam, nhằm giảm nhẹ
tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính” (CBCC), do Chương trình Phát triển
Liên hợp quốc tài trợ, Viện Khí tượng thủy văn và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi
trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện, kéo dài từ năm 2009


đến năm 2012 tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Bình Định và Ninh Thuận. Mục tiêu phát
triển của dự án đó là ”Giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của dân chúng và các vùng
cảnh quan của Việt Nam thông qua các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ phù hợp”

Mục tiêu dự án

Kết quả mong đợi

a) Chính sách BĐKH và kế hoạch hành động Kết quả 1: Chính sách BĐKH và kế hoạch
được xây dựng và lồng ghép vào các hành động được xây dựng và lồng ghép vào
Chương trình/chính sách liên quan, đặc các Chương trình/chính sách liên quan
biệt liên quan đến những nhiệm vụ của  Khung thể chế cho việc thực hiện
CTMTQG được cải thiện
CTMTQG
 Việc tích hợp BĐKH vào các chính sách
 Tích hợp các vấn đề BĐKH vào các chiến
quốc gia và các kế hoạch hành động được
lược, quy hoạch, kế hoạch và công tác lập
nâng cao
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, ngành  Việc tích hợp BĐKH vào các kế hoạch
và địa phương
hành động cấp tỉnh và việc triển khai
thực hiện dự án được nâng cao
 Tăng cường năng lực các tổ chức, thể chế
nhằm xây dựng chính sách và chiến lược
về BĐKH


Xây dựng các chương trình hành động của
các bộ, ngành và địa phương ứng phó với
BĐKH;



Xây dựng và triển khai các dự án thí điểm
của CTMTQG;



Tăng cường hợp tác quốc tế

b) Kiến thức và năng lực nghiên cứu trong
nước về đánh giá tác động, thích ứng với
BĐKH và giảm nhẹ khí nhà kính được nâng
cao, đặc biệt liên quan tới các nhiệm vụ của
CTMTQG

Kết quả 2: Kiến thức và năng lực nghiên cứu
trong nước về đánh giá tác động, thích ứng
với BĐKH và giảm nhẹ khí nhà kính được
nâng cao


Các kịch bản BĐKH



Đánh giá mức độ và tác động của BĐKH
ở Việt Nam;



Tác động và mức độ tổn thương do
BĐKH gây ra



Xác định các giải pháp ứng phó với
BĐKH



Các giải pháp ứng phó với BĐKH



Các chương trình nghiên cứu về BĐKH




Phát triển chương trình khoa học công
nghệ về BĐKH



Nâng cao nhận thức và phát triển nguồn
nhân lực



Nâng cao nhận thức về BĐKH

c) Năng lực xây dựng và thực hiện các biện Kết quả 3: Năng lực xây dựng và thực hiện
pháp thích ứng với BĐKH và kiểm soát phát các biện pháp thích ứng với BĐKH và kiểm
thải khí nhà kính được tăng cường, liên quan soát phát thải khí nhà kính được tăng cường
tới nhiệm vụ của CTMTQG
 Thích ứng với BĐKH
 Tăng cường năng lực tổ chức, thể chế
 Giảm nhẹ BĐKH
nhằm xây dựng các văn bản pháp quy và
các cơ chế ứng phó với BĐKH

Bảng 2: Các mục tiêu và kết quả của dự án CBCC
5. KẾT LUẬN
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, thích ứng với biến đổi khí hậu trở
thành một thách thức quan trọng đối với quản lý quy hoạch đô thị thành phố. BĐKH
đã bắt đầu tác động trực tiếp đến đời sống người dân đô thị như ngập lụt, đảo nhiệt đô
thị, thời tiết bất thường… Những nguy cơ này đang gia tăng nhanh chóng và trở thành
nhân tố quan trọng đối với quy hoạch đô thị. Cụ thể là, vấn đề sử dụng năng lượng
hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu cần được cải thiện trong quy hoạch đô thị.
Thực hiện đô thị hóa theo định hướng phát triển bền vững, việc tích hợp các giải pháp
thích ứng vào quá trình thiết kế quy hoạch đô thị hiện hữu là hết sức cần thiết. Những
biện pháp ứng phó với BĐKH cần được tăng cường và phổ biến rộng rãi trong toàn
cộng đồng, nhận thức về BĐKH phải được nâng cao, cũng như đại dương không thể
tự mặn nếu như mỗi hạt nước không tự ngậm muối, công cuộc ứng phó với những tác
động tiêu cực của BĐKH không thể thực hiện thành công nếu không được nhận thức
là nhiệm vụ chung của cả cộng đồng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Adger, W.N., S. Agrawala, M.M.Q. Mirza, C. Conde, K. O’Brien, J. Pulhin, R. Pulwarty, B. Smit and
K. Takahashi, 2007: Assessment of adaptation practices, options, constraints and capacity. Climate
Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability. Contribution of Working Group II to the Fourth
Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, M.L. Parry, O.F. Canziani,
J.P. Palutikof, P.J. van der Linden and C.E. Hanson, Eds., Cambridge University Press, Cambridge,
UK, 717-743.


Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2012. Kịch bản Biến Đổi Khí Hậu và Nước biển dâng cho Việt Nam,
s.l.: Nhà Xuất Bản Tài Nguyên-Môi Trường và Bản Đồ Việt Nam.
Đo Tu Lan and Tran Thi Lan Anh, 2011. Urban development in Viet Nam challenges and adaptation
program to climate change.
Viện khoa học Khí tượng hải văn và Môi trường, 2011. Dự án Tăng cường năng lực quốc gia ứng
phó với Biến đổi khí hậu tại Việt Nam, giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải nhà kính.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×