Tải bản đầy đủ

Những giải pháp nhằm định hình một phong cách tư duy phản biện

M

Giáo Dục & Đào Tạo

ột dân tộc muốn
đứng trên đỉnh cao
của trí tuệ và sự thịnh
vượng không phải phụ thuộc quốc
gia đó có bao tài nguyên thiên nhiên,
có bao nhiêu mỏ dầu khí, dân số có
đông hay không, hay lịch sử dân tộc
đó có hùng vĩ hay không? Vấn đề là
ở chỗ, dân tộc đó có phát huy những
tố chất tư duy đáp ứng sự phát triển
chung của cả nhân loại hay không.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích
một vài đặc điểm thói quen tư duy của người
VN đã có tác động không mấy tích cực cho sự
phát triển bền vững, và từ đó, chúng ta thấy
được vai trò của việc định hình và phát triển tư

duy phản biện – với tư cách là một phong cách
tư duy cho dân tộc VN; đồng thời chúng tôi sẽ
phân tích một số nội dung cơ bản của tư duy
phản biện cũng như chỉ ra những cách hiểu
sai lầm về hình thức tư duy này.
Từ khoá: Người VN, tư duy phản biện, phát
triển bền vững, phong cách tư duy, trí tuệ, sự
thịnh vượng.

ThS. Đỗ Kiên Trung

minh vĩ đại, đã để lại những thành
tựu kỳ vĩ trong quá khứ, như
Ai Cập, Lưỡng Hà, Byzantine,
Maya,… thế nhưng ngày nay,
những quốc gia dân tộc phát triển
trên nền những “lịch sử vĩ đại” đó
(Ai Cập hiện nay, Iraq, Thổ Nhĩ
Kỳ, Mêhicô) giờ đây chỉ là những
cái bóng mờ nhạt, tiêu phí những
khoảng thời gian ròng rã để than
khóc, tiếc nuối cho một quá khứ
huy hoàng.
Lịch sử sẽ là những phế phẩm
bị mục ruỗng trong quá khứ nếu
như dân tộc đó không phát huy và
phát triển để đạt đến sự phồn thịnh
trong hiện tại.
Dân tộc ta có quyền tự hào về
lịch sử hào hùng của mình, một
lịch sử đau thương nhưng oanh
liệt, mất mát nhưng bất khuất, nô
lệ nhưng không mất gốc, bị đô hộ
nhưng không bị đồng hóa. Và trong
hàng nghìn năm văn minh ấy đã
định hình cho dân tộc ta một phong

cách tư duy hết sức đặc trưng, đó là
tư duy nông nghiệp và tư duy chiến
tranh, đặc trưng hệt như chính cái


mảnh đất đã nuôi dưỡng dân tộc
chúng ta. Ở đây, chúng tôi xin phân
tích 3 mặt không tích cực của đặc
điểm tư duy đó đối với sự phát triển
của đất nước ngày nay.
- Thứ nhất, tầm nhìn ngắn hạn.
Điều này không lạ, trong hàng
nghìn năm văn minh ấy cũng là
hàng nghìn năm đất nước ta phải
chống giặc ngoại xâm. Chính vì thế,
đạt được cái mục tiêu trước mắt, đó
là giành độc lập, luôn là mục tiêu
duy nhất và sống còn. Nước mất
thì nhà tan, không ai muốn thế, thói
quen tư duy ngắn hạn trước mắt ấy
qua hàng nghìn năm, đã trở thành
phong cách tư duy khá rõ nét.
Người VN có thói quen nhìn ngắn
hạn, ít khi tính toán đến cái lâu dài,
thường đặt mục tiêu chỉ một vài
năm, dài lắm là mươi mười lăm
năm, ít khi đặt chiến lược phát triển

Trường ĐH Kinh tế TP.HCM
50 hoặc thậm chí 100 năm.
- Thứ hai, tư duy theo đám đông,
cá nhân bị triệt tiêu. Nền văn minh
nông nghiệp buộc người Việt xưa
phải sống thành cộng đồng làng xã,
cùng trồng lúa, làm thủy lợi, tính
cố kết cộng đồng hình thành. Điều
này có cái tích cực là sự gắn kết,
đùm bọc trong cộng đồng dân cư,
như mặt tiêu cực là ở chỗ nó khiến
con người phải lệ thuộc vào cộng
đồng, hay nói cách khác là đám
đông. Tư duy theo đám đông, hành
xử theo đám đông, cái cá nhân đặc
sắc biến mất. Cá nhân không dám,
và cũng không thểj tách ra khỏi
đám đông, nếu thế, anh ta sẽ bị cô
lập và triệt tiêu. Những cái đặc sắc
và độc đáo của cá nhân thường bị
quy là cá biệt, lập dị, ảnh hưởng
đến lợi ích chung.
- Thứ ba, sự lên ngôi của kinh
nghiệm. Nền nông nghiệp dựa vào
thiên nhiên, lối sống dựa vào cộng

Số 4 (14) - Tháng 5-6/2012 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP

65


Giáo Dục & Đào Tạo
đồng, con người không phát huy
khả năng phân tích, đánh giá vấn
đề, mà tư duy theo kinh nghiệm
được hình thành qua nhiều thế hệ
và được truyền thụ nguyên bản
cũng như được thực hành nguyên
dạng. Đến khi thời đại phát triển
quá nhanh, kinh nghiệm sẽ sụp đổ,
kéo theo đó là sự bế tắc trong tư
duy và ấu trĩ trong hành động.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết
của việc định hình một phong cách
tư duy mới, phù hợp và đáp ứng
yêu cầu phát triển của thời đại.
Sự cần thiết của tư duy phản
biện

Tư duy phản biện (Critical
thinking – chúng tôi chuyển ngữ là
tư duy phản biện, có nhiều ý kiến
của các chuyên gia chưa thống nhất
với chữ “critical – phản biện”, có
chuyên gia lại dùng “critical – phê
phán”) với tư cách là một phong
cách tư duy được hình thành rất
lâu đời ngay trong nền triết học Hy
Lạp cổ đại, và nó liên tục được bổ
sung, phát triển như một nhu cầu tất
yếu của nền văn minh phương Tây.
Ngày nay, tư duy phản biện được
giảng dạy ở hầu hết các trường đại
học ở Mỹ và châu Âu (ở châu Á
chúng tôi có biết là Đại học Hồng
Kông và Đại học Unitar, Malaysia
có đầu tư rất chu đáo môn học này),
Hiệp hội Tư duy phản biện thế giới
(trụ sở tại Long Beach, California)
hàng năm cũng thường xuyên tổ
chức các hội thảo trao đổi toàn thế
giới về vấn đề phát triển tư duy
phản biện.
Về cơ bản, tư duy phản biện có
những yêu cầu và đòi hỏi hết sức
đặc trưng cho một con người có tư
duy phản biện (Critical thinker),
những đòi hỏi này không những
đem đến cho người dùng nó một
phong cách tư duy rõ ràng, mạch
lạc, mà còn giúp cho cộng đồng sử

66

dụng nó một tác phong làm việc
khoa học và hiệu quả. Chúng ta thử
phân tích một vài yêu cầu của tư
duy phản biện.
- Thứ nhất, tư duy phải sáng tỏ
(Clarity). Tư duy phản biện không
chấp nhận bất cứ nhận định hay
phán xét nào mà không có luận
chứng. Hơn nữa, nó cũng đòi hỏi
trong ngôn ngữ không được dùng
những từ ngữ đa nghĩa, mập mờ,
lộn xộn, mà phải rõ nghĩa, rành
mạch. Điều này rất có giá trị đối
với sự phát triển tư duy người VN
chúng ta, những thói quen tư duy
mập mờ, chủ yếu dựa vào sự hoa
mĩ và khéo léo của ngôn từ, của
thói “thâm nho” mà không dựa
vào chứng cứ xác thực có kiểm
chứng,… tất cả đều bị lột trần qua
tư duy phản biện.
- Thứ hai, tư duy phải dựa trên
lập luận (Argument). Điều này đòi
hỏi bất cứ quan điểm nào được đưa
ra phải có lập luận chứng minh
cho nó, không chấp nhận cách tư
duy theo kiểu “điều này đúng vì
truyền thống như thế”, “hàng năm
vẫn như thế nên năm nay cũng sẽ
như thế”, hay “thông lệ là như thế
nên không cần làm khác”,… Mà
lập luận phải rõ ràng (clarity), như
vậy, ngôn ngữ diễn dạt lập luận sẽ
rõ ràng, mà ngôn ngữ là cái vỏ vật
chất của tư duy, nên ngôn ngữ có
rõ ràng, sáng tỏ, thì tư duy cũng sẽ
sáng tỏ, rõ ràng.
- Thứ ba, lập luận phải có luận
chứng (Evidence). Lập luận không
chỉ được nêu ra để che tai bịt mắt
đám đông mà phải có tính thuyết
phục, ở đây chính là luận chứng
(bằng chứng) cho nó. Những luận
chứng này phải thuyết phục, có thể
kiểm chứng, tường minh, tuyệt đối
không chấp nhận những kiểu luận
chứng đại loại như “vì nhiều người
nói đúng nên nó đúng”, “vì lãnh tụ

PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 4 (14) - Tháng 5-6/2012

nói nên điều này đúng”,… chân lý
là khách quan, chân lý không phụ
thuộc vào đám đông, chân lý không
phụ thuộc uy tín cá nhân,…
- Thứ tư, tư duy phải công bằng
(Fairness). Tránh những định kiến
chi phối tư duy chúng ta, mặc dù
những định kiến này không dễ
vượt qua. Tuy nhiên, sự khác biệt
không phải là chống đối, sự đa dạng
không phải là đối đầu, chính những
sự khác biệt làm nên sự đa dạng,
sự đa dạng tạo nên sự lựa chọn, sự
lựa chọn tạo nên tự do. Tư duy một
cách công bằng sẽ giúp ta tự do.
Chính những ưu điểm tích cực
trên của tư duy phản biện nên việc
trang bị và định hình phong cách
tư duy này cho dân tộc Việt có thể
nói là một trong những biện pháp
hữu hiệu để có thể vừa phát huy tố
chất tinh túy vừa nâng tầm tư duy
của dân tộc.
Muốn đạt thành tựu trong nền
kinh tế tri thức thì không thể không
có đội ngũ trí thức trình độ cao,
muốn có trí thức trình độ cao thì
không thể không có tư duy phản
biện.
Tư duy phản biện với tư cách là
một môn học khác với tư duy phản
biện với tư cách là một phong cách
tư duy. Bất kỳ hình thức tư duy
nào cũng không phải là bẩm sinh.
Muốn định hình một phong cách tư
duy mới thì cách hiệu quả nhất là
dạy và thực hành nó.
Theo định nghĩa của Michael
Scriven và Richard Raul More thì
“Tư duy phản biện là một quá trình
hoạt động lý trí có kỷ luật nhằm
khái quát, áp dụng, phân tích, tổng
hợp và đánh giá thông tin một
cách chủ động và khéo léo những
kết luận sinh ra bởi quan sát, kinh
nghiệm, suy nghĩ, lập luận hoặc
truyền đạt; và nhờ đó có thể hướng
dẫn cho niềm tin và hành động”.


Giáo Dục & Đào Tạo
Hay theo Steven D.Schafersman
thì “Tư duy phản biện là tư duy
đúng đắn nhằm theo đuổi tri thức
đáng tin cậy và thích đáng về thế
giới. Là loại tư duy hợp lý, chắc
chắn, có trách nhiệm và khéo léo
nhằm tập trung vào việc quyết định
niềm tin hoặc hành động”.
Một cách khái quát, tư duy phản
biện (Critical thinking) là:
- Tư duy phản biện với tư cách
là một lĩnh vực nhận thức cung cấp
cho chủ thể những kỹ năng vận
dụng lý trí để nhận định, phân tích
và đánh giá những lập luận một
cách hiệu quả.
- Nhận diện và vượt qua những
định kiến của cá nhân và của
nhóm.
- Trình bày những lập luận một
cách rõ ràng và thuyết phục để
chứng minh cho những nhận định.
- Tìm kiếm những quyết định
hợp lý và thuyết phục về điều
chúng ta tin và điều chúng ta làm.
Nói cách khác, tư duy phản
biện đóng vai trò như một công tố
viên, chỉ ra những thiếu xót thường
gặp trong quá trình tư duy và đưa
ra những kiến giải cho một sự lựa
chọn tối ưu có thể có.
Với những đặc trưng nổi bật
trên cho ta thấy sự hiệu quả của
Tư duy phản biện đối với việc định
hình một phong cách tư duy mới
cho người Việt. Vì Tư duy phản
biện luôn đòi hỏi: quá trình tư duy
phải rõ ràng; lập luận phải có dẫn
chứng; luận chứng phải thuyết
phục, đáng tin cậy; thông tin có thể
kiểm chứng được; và hơn hết, ẩn
đằng sau những yêu cầu đó chính
là đòi hỏi một tư duy mở (openminded) và một thái độ mở (openhearted). Nói cách khác, tư duy
phản biện sẽ góp phần (chứ không
phải là công cụ duy nhất) phá tan
tảng băng đang kìm hãm tư duy

của cá nhân và cộng đồng.
Vấn đề cốt lõi là nếu chúng ta
muốn thoát khỏi cái gì đi chăng
nữa thì đầu tiên và tối quan trọng
nhất là chúng ta phải “thoát khỏi
chính chúng ta”, thoát khỏi những
cái xưa cũ, lạc hậu, trì trệ đang níu
chân sự phát triển. Chúng ta thường
có thói quen tự giam mình trong
chiếc hàng rào tư duy, và cảm thấy
an toàn trong phạm vi của nó (trong
chiếc hàng rào tư duy do chính
chúng ta dựng lên). Và ở đây, tư
duy phản biện sẽ đánh thức chúng
ta; tất cả những niềm tin theo lối
kinh nghiệm, những thói quen tư
duy theo lối mòn, những định kiến
mang màu sắc hủ tục,… tất cả đều
được tư duy phản biện lột trần và
phơi bày bằng phương pháp phân
tích tường minh, với những luận
chứng xác thực và với sự gợi mở
cho tinh thần phóng vượt.
Tuy nhiên, hiện nay trong thực
tế tồn tại rất nhiều cách hiểu khác
nhau về tư duy phản biện, và nhiều
lúc đã sử dụng sai, dẫn đến những
thái độ thiếu tích cực khi nhắc đến
tư duy phản biện.
Những cách nhìn nhận không
chính xác về tư duy phản biện:
- Tư duy phản biện là đấu tố.
Có một cách hiểu rất lệch lạc là
phản biện có nghĩa là phê phán, chỉ
trích, phản đối một ai đó hay một
quan điểm nào đó. Đây là cách hiểu
vô cùng sai lầm. Về định nghĩa,
chúng tôi đã phân tích bên trên, tư
duy phản biện chẳng chỉ trích hay
phản bác ai cả, nó chỉ ra những sai
lầm thiếu sót trong quá trình tư duy,
và đòi hỏi quá trình tư duy phải dựa
trên cơ sở vững chắc của lập luận và
luận chứng một cách sáng tỏ. Thực
tế cuộc sống chúng tôi đã nhiều lần
chứng kiến người ta đã nhân danh
phát huy tinh thần phản biện để đấu
tố, chỉ trích, tiến đến đạp đổ những

đối tượng đang cần nhận sự phản
biện khoa học và khách quan. Điều
này không những tác động tiêu cực
đến sự phát triển mà còn ảnh hưởng
xấu đến cách nhìn của xã hội về tư
duy phản biện.
- Tư duy phản biện là mục tiêu.
Đề cao vai trò của tư duy phản
biện không có nghĩa là biến nó
thành mục tiêu tối quan trọng mà
cả xã hội phải đạt đến. Thật ra, tư
duy phản biện chỉ là phương tiện,
công cụ của tư duy. Giống như các
hình thức tư duy khác như tư duy
sáng tạo, tư duy tích cực,… tư duy
phản biện là một trong những hình
thức, phương pháp, công cụ để cá
nhân và cộng đồng trang bị, tiến đến
hình thành một phong cách tư duy,
phong cách sống và làm việc khoa
học, hiệu quả; để rồi từ đó hướng
tới mục tiêu chung là sự phát triển
bền vững và thịnh vượng. Nếu ta
xem tư duy phản biện và việc trang
bị tư duy phản biện là mục đích để
hướng tới thì không những chúng
ta nhầm lẫm mục tiêu với phương
tiện mà chúng ta còn khiến tư duy
phản biện mất đi đối tượng mà nó
nhắm tới – đó là sự phát triển năng
lực tư duy của con người.
Muốn có tư duy phản biện phải
được học và được hành

Tư duy phản biện sẽ trở thành
một thứ di sản lạc hậu nếu như
người được trang bị nó không được
sử dụng trong cuộc sống. Sẽ thật vô
lý khi chúng ta dạy cho học sinh,
sinh viên môn tư duy phản biện
trong khi các môn học khác không
phát huy tinh thần phản biện khoa
học này, hay rộng ra hơn là các lĩnh
vực đời sống xã hội lại dành cho tư
duy phản biện một cái nhìn dè dặt
và lệch lạc.
(Tiếp theo trang 80)

Số 4 (14) - Tháng 5-6/2012 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP

67


International Integration
Quan điểm của các nhà quản lý....
(Tiếp theo trang 20)

Brav, Alon, John Graham, Campbell
Harvey, and Roni Michaely (2008),
“Managerial Response to the May 2003
Dividend Tax Cut”, Journal Financial
Management, 37(4), p.611–624.
Denis, David J., and Igor Osobov
(2008), “Why Do Firms Pay Dividends?
International Evidence on the Determinants
of Dividend Policy”, Journal of Financial
Economics 89(1), p.62–82.
Gordon, Myron J. (1963), “Optimal
Investment and Financing Policy”, Journal
of Finance 18(2), p.264–272.
Gene Amromin, Paul Harrison, Nellie
Liang, and Steve Sharpe (2005), How Did
the 2003 Dividend Tax Cut Affect Stock

Prices and Corporate Payout Policy?
Finance and Economics Discussion Series,
Divisions of Research & Statistics and
Monetary Affairs Federal Reserve Board,
Washington, D.C
Eije, J. Henk, and William L. Megginson
(2008), “Dividends and Share Repurchases
in the European Union”, Journal of Financial
Economics 89(2), p.347–374
Jensen, Michael C., and William H.
Meckling (1976), “Theory of the Firm:
Managerial Behavior, Agency Costs and
Ownership Structure”, Journal of Financial
Economics 3(4), p.305–360
Lintner, John (1956), “Distribution of
Incomes of Corporations among Dividends,

Retained Earnings and Taxes”, American
Economic Review 46(2), p.97–113
Lazo, Shirley A. (1999), How Do
Corporate Leaders See Payouts? An
Important Signal, Survey Finds, Barrons,
January 4, p.40.
Miller, Merton H., and Franco Modigliani
(1961), “Dividend Policy, Growth, and the
Valuation of Shares”, Journal of Business
34(4), p.411–433.
Mueller, Dennis C. (1972), “A Life Cycle
Theory of the Firm”, Journal of Industrial
Economics 20(3), p.199–219.
Talla
M.
Al-Deehani
(2003),
“Determinants of Dividend Policy: The
Case of Kuwait”, Journal of Economic &
Administrative Sciences 19(2), p.59 -76.
Trần Ngọc Thơ (2005), Tài chính doanh
nghiệp hiện đại, NXB Thống kê.

Những giải pháp nhằm định hình....
(Tiếp theo trang 67)

Muốn định hình một phong cách
tư duy mới, giảng dạy và truyền bá
hình thức tư duy đó đã khó, thực
hành và phát triển nó trong cộng
đồng còn khó hơn, điều này đòi
hỏi sự đồng bộ của cả xã hội, và tất
nhiên cũng cần những người đi tiên
phong. Đúng là một cánh én không
làm nên mùa xuân nhưng nó sẽ báo
hiệu mùa xuân đang đến.
Quá trình tư duy của con người
diễn ra vô cùng phức tạp, ẩn chứa
nhiều rủi ro cho việc đánh giá, nhận
định; cộng với việc thực tiễn cuộc
sống luôn vận động và biến đổi
nhanh chóng khiến cho bản thân
chủ thể tư duy (con người) sẽ gặp
nhiều khó khăn trong việc đưa ra
quan điểm, đánh giá cho hành động
dưới sức ép của thời gian và những
mối quan hệ lợi ích khác. Tư duy
phản biện như một cú đánh mạnh
vào những bức tường thành kiên cố
và bảo thủ của tư duy định kiến, phá

80

vỡ nó và đưa ra những
kiến giải cho những khả
năng nhận thức tối ưu có
thể có. Nó không những
trang bị những nhận
thức được thấm nhuần
trong tư duy, trở thành
một phong cách hay thói
quen tư duy phản biện,
mà còn trang bị những
phương pháp, kỹ năng
giúp người học và ứng
dụng nó có đủ những
điều kiện cần thiết để đối
diện với hiện thực cuộc
sống muôn màu muôn
vẻ, đặc sắc và không lặp lại l
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Brooke Noel Moore, Richard Parker,
Critical Thinking, Mc Graw – Hill, 2005.
Julian Huxley, Bronowski, Gerald Barry,
James Fisher, The Growth of Ideas, Aldus
books limited Publisher, London 1965.

PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 4 (14) - Tháng 5-6/2012

Samuel Enoch Stumpf, Socrates To
Sartre, A History of Philosophy, Mc Graw –
Hill Inc. 1999.
Saxe Commins, Robert N.Linscott, Man
& Man The Social Philosophers, Washington
Square Publisher, 1990.
Sylvan Barnet, Hugo Bedau, Critical
Thinking, Reading and Writing: A Brief Guide
to Argument, Bedford/St. Martin, 2007.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×