Tải bản đầy đủ

Thực hiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng đối với hàng hoá có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm – qua thực tế ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

MỤC LỤC
Phương Thúy(2016). Những tác nhân gây ung thư có trong thực phẩm bẩn,
, xem 13/04/2016..............................................................................3
KẾT LUẬN.................................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................74
PHỤ LỤC.................................................................................................................... 76

PHỤ LỤC 1. DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG, BIỂU ĐỒ............................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................79
PHỤ LỤC................................................................................................................... 81

1


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
NTD

Thuật ngữ
Người tiêu dùng


EU

Liên minh Châu Âu

EVFTA

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU

TPP

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

KT VSATTP

Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm

VINASTAS

Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
(Vietnam Standard and Consumers Association)

2


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lương thực, thực phẩm là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, nó
không những cung cấp dinh dưỡng mà còn cung cấp năng lượng cho con người duy trì sự
sống và hoạt động. Tuy nhiên, với sự mở rộng và phát triển của nền kinh tế thị trường thị
trường đã dẫn đến một hệ quả to lớn đó là con người đang phải đối mặt với việc tiêu thụ
một lượng lớn hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm. Những loại thực phẩm
này ẩn chứa những mối nguy hiểm dần “tích tụ” trong cơ thể con người, gây ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe con người, thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu
dùng. Theo nhận định của giáo sư Nguyễn Bá Đức – Chuyên gia hàng đầu về ung thư của
Việt Nam thì hàng năm Việt Nam có khoảng 126.000 ca mới mắc và 35% số đó có
nguyên nhân do ăn phải thực phẩm bẩn chứa chất gây ung thư. Số người chết do ung thư
ở Việt Nam khoảng 94.700/năm theo số liệu năm 2010. Như vậy số người chết do ung thư
gây ra bởi thực phẩm bẩn là 33.145 người 1. Có thể thấy, tình hình hàng hóa có khuyết tật
trong lĩnh vực thực phẩm tràn lan trên thị trường nước ta nói chung và tại thành phố Huế,
tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, gây ra sự lo lắng


cho người dân, vậy nên việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm
đang là vấn đề cấp bách nhất hiện nay.
Trong những năm gần đây, mặc dù Nhà nước ta đã quy định một hành lang pháp
lý vững chắc nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm. Vấn đề
này đã được đề cập tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự
(2005), Bộ luật Hình sự (1999, sửa đổi bổ sung 2009), Luật Thương mại (2005), Luật
Cạnh tranh (2004), Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (2005), Pháp lệnh Chất lượng sản
phẩm (1999), Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (2003), Pháp lệnh Quảng cáo (2001),
Luật Bảo vệ môi trường… Đồng thời nhà nước còn ban hành Luật Tiêu chuẩn và quy
chuẩn kỹ thuật năm 2006 (có hiệu lực từ 01/1/2007) và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng
hóa năm 2007 (có hiệu lực từ 1/8/2008). Đây là các đạo luật chuyên ngành về chất lượng
1

Phương Thúy(2016). Những tác nhân gây ung thư có trong thực phẩm bẩn, , xem 13/04/2016

3


sản phẩm, hàng hoá với phạm vi điều chỉnh tương đối đầy đủ, hệ thống phục vụ yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Tuy nhiên, trên
thực tế, việc công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vẫn còn nhiều hạn chế khiến các
quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng vẫn còn bị xâm phạm một cách trầm trọng.
Xuất phát từ lý do trên, nhóm sinh viên nghiên cứu đã chọn đề tài “Thực hiện
pháp luật bảo vệ người tiêu dùng đối với hàng hoá có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm
– qua thực tế ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” để nghiên cứu làm rõ hơn việc thực
hiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng đối với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực
phẩm, cũng như đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng trong
phạm vi lĩnh vực này.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI
Vấn đề mà nhóm lựa chọn để nghiên cứu là một trong những vấn đề rất được
quan tâm hiện nay. Các phương tiện truyền thông đại chúng (báo chí, truyền hình…) đều
thường xuyên đưa những thông tin liên quan đến việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng và thực trạng vi phạm những vi phạm đó, cùng những nguyên nhân,
hậu quả của vấn đề này. Khi tiến hành lựa chọn đề tài nghiên cứu, nhóm thực hiện đã tìm
được một số bài viết liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau:
Cục quản lý cạnh tranh (2015). Trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh
doanh trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Một số lưu ý cho người tiêu dùng và
doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Thư (2013). Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa Học xã hội, Viện Hàn Lâm
Khoa Học xã hội Việt Nam.
Lê Thanh Bình (2012). Thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiên dùng
Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Lê Thanh Bình (2010). Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng ở Việt Nam. Tạp chí quản lý nhà nước số 11.
Từ các bài viết, công trình nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy được tầm
quan trọng của việc đảm bảo thực hiện các quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng nói chung và đối với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm nói riêng, từ
4


đó, mong muốn phân tích tình hình thực hiện pháp luật trên thực tế, tìm hiểu nguyên
nhân, hậu quả và các giải pháp hoàn thiện. Khi tiến hành nghiên cứu, nhóm sinh viên lựa
chọn kế thừa một số kiến thức lý luận và các số liệu đã được nghiên cứu liên quan đến nội
dung đề tài. Đồng thời, bổ sung thêm những nội dung mới thông qua việc phân tích
những kiến thức lý luận sẵn có, thu thập và đánh giá số liệu thu thập được trên thực tế. Từ
đó, tìm ra được hướng hướng giải quyết khả thi cho vấn đề mà nhóm đang nghiên cứu
trên cơ sở quan điểm của nhóm.
3. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Trên cơ sở lý luận, làm rõ các quy định của pháp luật, những người thực hiện đề tài
hướng tới các mục tiêu sau:
Đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, hậu quả của việc vi phạm pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng nói chung và đối với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực
thực phẩm nói riêng trong phạm vi cả nước và tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Khảo sát, thăm dò ý kiến, nhận thức một số người dân trên địa bàn về tình hình vi
phạm quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm tại địa bàn thành phố Huế, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng đối với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm.
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng đối với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, đề tài tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng đối với hàng hóa có khuyết tật trong phạm vi cả nước và tại
thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng đối với hàng hóa khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm từ năm 2011
đến nay.
5


5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu tiếp cận từ cơ sở quy định của pháp luật, tham khảo các công
trình nghiên cứu và số liệu thống kê từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời, tiến
hành điều tra thực tiễn, thu thập số liệu cụ thể thông qua khảo sát thực tế. Từ đó, phân
tích đánh giá những kết quả thu được nhằm đưa ra kết luận của nhóm nghiên cứu về đề
tài đang thực hiện. Từ đó, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết sẽ được sử dụng trong chương 1, nhóm
nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp này để tiếp những vấn đề mang tính lý luận
chung, những quy định của pháp luật, đồng thời phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng
của các vấn đề này trong quá trình triển khai trên thực tế.
Phương pháp điều tra sẽ được sử dụng trong chương 2, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng
phương pháp này để thu thập những số liệu thực tiễn về những vụ vi phạm quyền lợi
người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm nói chung và đối với hàng hóa có khuyết tật
trong lĩnh vực này nói riêng.
Phương pháp đàm thoại sẽ được sử dụng trong chương 2, nhóm nghiên cứu sử dụng
phương pháp này để thu thập những thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu thông qua
việc phỏng vấn các chủ thể liên quan đến việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng đối với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực phẩm, từ đó rút ra được một số
kết luận sơ bộ về mức độ hiệu quả của việc thực hiện pháp luật trên thực tế.
Phương pháp thống kê, so sánh sẽ được sử dụng trong chương 2, nhóm nghiên cứu
sử dụng phương pháp này để tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh các số liệu mà nhóm
đã thu thập từ các nguồn thông tin đại chúng, từ số liệu thống kê của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cũng như từ khảo sát độc lập của nhóm tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên
Huế để chỉ ra tình hình thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đối với hàng
hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm ở Việt Nam nói chung và thành phố Huế nói
riêng.
Phương pháp đánh giá, quy nạp được sử dụng ở chương 2 và chương 3 để đánh giá
những tác động của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên thực tế, trách nhiệm
của cơ quan tổ chức liên quan trong việc ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật bảo
6


vệ quyền lợi người tiêu dùng. Từ đó, kiến nghị những giải pháp nhằm giải quyết những
vấn đề còn tồn tại, hướng tới tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đối với hàng
hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm.
6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, phần nội dung của đề tài nghiên cứu khoa học bao
gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
đối với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm.
Chương 2. Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người liêu dùng đối với
hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm qua thực tiễn tại thành phố Huế, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
Chương 3. Nhu cầu và giải pháp đảm bảo việc thực hiện pháp luật bảo vệ người
tiêu dùng đối với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm.

7


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN
LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA CÓ KHUYẾT TẬT TRONG
LĨNH VỰC THỰC PHẨM
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng
Quá trình hình thành và phát triển của xã hội kéo theo sự xuất hiện của phân công
lao động xã hội – đây là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra các
ngành nghề, lĩnh vực khác nhau; là tiền đề của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Gắn liền với
quá trình sản xuất và trao đổi hành hóa là quá trình hình thành và phát triển của khoa học
hành vi người tiêu dùng.
Người tiêu dùng là bộ phận quan trọng cấu thành nên nền kinh tế, ảnh hưởng sâu
sắc đến sự phát triển của hàng hóa, dịch vụ, tác động đến việc điều chỉnh giá cả, số lượng
cũng như chất lượng của hàng hóa, dịch vụ. Khái niệm Người tiêu dùng với tư cách là
một chủ thể tham gia vào thị trường hàng hóa là một khái niệm đã được đề cập từ rất lâu
và có nhiều cách định nghĩa.
Theo hiệp hội Marketing Mỹ: Người tiêu dùng là người cuối cùng sử dụng, tiêu
dùng hàng hóa, ý tưởng, dịch vụ nào đó. Người tiêu dùng cũng được hiểu là người mua
hoặc ra quyết định như là người tiêu dùng cuối cùng. Một cách định nghĩa khác được quy
định tại luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đài Loan: “Người tiêu dùng” là những
người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng 2.
Ở nước ta, người tiêu dùng được coi là một chủ thể trong các giao dịch thương
mại - dân sự. Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã
định nghĩa: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu
dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.
Như vậy, nói một cách chung nhất, người tiêu dùng bao gồm các cá nhân, hộ gia
đình hay một nhóm người – là người mua sắm các hàng hóa hay dịch vụ nhằm phục vụ
nhu cầu sinh hoạt, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Đây là người tiêu dùng hàng hóa cuối cùng
mua và trực tiếp sử dụng mà không nhằm mục đích bán lại nào. Người tiêu dùng là trung
tâm của nền kinh tế, sự phát triển toàn diện và lâu dài. Do đó người tiêu dùng có quyền

2

Xem Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đài Loan

8


được hưởng một cuộc sống lành mạnh, hạnh phúc, có quyền sử dụng các sản phẩm, hàng
hóa an toàn nhằm phục vụ lợi ích, thỏa mãn nhu cầu cho chính bản thân họ.
1.1.2. Khái niệm hàng hóa có khuyết tật
Sự phát triển của thị trường hàng hóa đã mang lại nhiều điểm tích cực cho đời
sống, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của mỗi người, mỗi gia đình và mỗi đất nước.
Thế nhưng bên cạnh những lợi ích mà nó mang lại thì vẫn đang tồn tại những hạn chế,
tiêu cực nhất định. Cùng với sự phát triển hàng hóa với chất lượng ngày càng cao, đáp
ứng đầy đủ nhu cầu và mang đến sự hài lòng của người tiêu dùng thì vẫn còn không ít
hàng hóa với chất lượng kém, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho người tiêu dùng
đã và đang được hình thành, tồn tại và hiện diện quanh ta. Dù cố ý hay vô ý, những người
sản xuất đã và đang mang làm mất niềm tin trong người tiêu dùng, gây ảnh hưởng không
chỉ riêng với người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng lớn đối với các cá nhân, tổ chức kinh
doanh, sản xuất hàng hóa và nguy hại hơn nữa, nó còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển
lành mạnh đối với nền kinh tế của quốc gia.
“Khuyết tật” – khái niệm mà người ta thường nhắc đến đối với những thiếu sót
mà không ai mong muốn. Ngay tại Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng đã nêu rõ khái niệm hàng hóa có khuyết tật như sau:
“Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu
dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể
cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật
hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp
cho người tiêu dùng, bao gồm:
a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật;
b) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận
chuyển, lưu giữ;
c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng
không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng.”
Dựa vào quy định trên ta có thể thấy rằng hàng hóa khuyết tật ở đây bao gồm:
Thứ nhất, hàng hóa bị lỗi do quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ.
Thứ hai, hàng hóa bị lỗi phát sinh do thiết kế kỹ thuật.

9


Thứ ba, hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng
không có hướng dẫn, cảnh báo hoặc không hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu
dùng.
Thứ tư, hàng giả chất lượng và công dụng: là hàng hóa không có giá trị sử dụng
hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng
của hàng hóa.
Thứ năm, hàng kém chất lượng: hàng hóa không đạt chuẩn, không phù hợp với
nhu cầu và một số các đặc tính nhất định, không đáp ứng được mục đích và nhu cầu của
người tiêu dùng.
Đây đều là những loại hàng hóa không đảm bảo chất lượng, mức độ an toàn và
chất chứa nguy cơ xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng, từ đó
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và xã hội.
1.2. Vai trò của việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đối
với hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm
Cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng, hàng hoá
sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú, con người không ngừng chạy đua để
tìm kiếm danh vọng và tiền bạc. Trong khi một số người chọn cho mình một con đường
chân chính để tìm kiếm vị thế vững chắc, thì cũng không ít người đã lợi dụng khe hở của
pháp luật, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát thiếu chặt chẽ và chính tâm lý thích ngon
mà ham rẻ của người tiêu dùng để kiếm lợi nhuận bằng cách tăng sản lượng hàng hóa,
giảm chi phí sản xuất, không ngừng sử dụng chất kích thích tăng trưởng sản phẩm một
cách tràn lan hay đội lốt thương hiệu uy tín gây cho người tiêu dùng những nhầm lẫn rằng
mình đang sử dụng hàng hóa chất lượng cao gây ra nguy hại khôn lường đến sức khỏe
của người tiêu dùng. Có thể khẳng định rằng, các vụ việc xâm phạm quyền lợi người tiêu
dùng ở nước ta đang có xu hướng ngày càng tăng nhanh.
Từ đó, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một vấn đề đang được rất chú ý và là
trách nhiệm của mọi người và của toàn xã hội. Trong tình hình nước ta đang trên đà hội
nhập ngày càng sâu rộng với thế giới và đứng trước những vấn đề cấp thiết mà nước ta
gặp phải thì yêu cầu đặt ra là phải làm sao để ngăn chặn những vấn đề trên. Để có thể
phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững và để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì
bên cạnh sự tham gia quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu
10


dùng, tổ chức xã hội như Bộ Công thương, Sở Công thương các tỉnh, thành phố, hay Hội
tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng… thì pháp luật cũng góp phần quan trọng
trong công cuộc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Chính vì vậy, để thực hiện sự quan
tâm đến quyền lợi người tiêu dùng, ngày 27 tháng 4 năm 1999, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng. Đây có thể coi là một bước ngoặt
quan trọng trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta, một lần nữa khẳng định giá
trị của con người khi tham gia vào các quan hệ xã hội luôn luôn được đặt lên hàng đầu.
Đồng thời sự ra đời của Pháp lệnh cũng cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta
đối với công tác bảo vệ quyền và lợi ích của người dân. Bên cạnh Pháp lệnh Bảo vệ người
tiêu dùng, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Việt Nam còn
được quy định bởi rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như: Bộ luật Dân sự; Bộ
luật Hình sự; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật cạnh tranh; Luật thương mại;
Luật an toàn thực phẩm…
Tuy nhiên trên thực tế, việc áp dụng, thực thi các quy định của pháp luật hiện
hành còn nhiều bất cập, gây khó khăn, nhất là trong quá trình phát hiện và xử lý các vi
phạm quyền lợi của người tiêu dùng và đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế pháp lý hoàn
thiện và hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Vì vậy, việc Quốc Hội cho ban
hành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là hoàn toàn phù hợp. Nó chính là
căn cứ để pháp luật, nhà nước bảo vệ quyền lợi, để bảo vệ cuộc sống của người dân. Luật
đã quy định rõ những quyền lợi và nghĩa vụ của người tiêu dùng và cá nhân,tổ chức kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ, đồng thời quy định rõ chức năng của các cơ quan quản lý nhà
nước trong việc hỗ trợ việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ Trung
ương đến địa phương, đồng thời luật góp phần ngăn chặn sự lưu thông của hàng hóa
khuyết tật, bảo đảm quyền và lợi ích của mọi người khi tham gia giao dịch, khẳng định
quyền và lợi ích của người tiêu dùng luôn luôn được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Việc
thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời đóng vai trò to lớn với những
nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng góp phần
bảo đảm việc thực hiện quyền con người. Như chúng ta đã biết, quyền con người bao
11


gồm quyền được đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản; quyền được thông tin
chính xác về nguồn gốc cũng như chất lượng hàng hóa; quyền được đóng góp ý kiến,
tham gia xây dựng và thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của
chính minh; quyền được khiếu nại, tố cáo và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi quyền và lợi
ích hợp pháp của bản thân bị xâm phạm… Đây đều là những biểu hiện của quyền con
người và cần thiết phải đảm bảo những quyền này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người tiêu dùng trên thực tế.
Thứ hai, thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng góp phần bảo
vệ sức khỏe, tính mạng của tất cả mọi người, từ đó nâng cao mức sống cho mọi tầng lớp
nhân dân. Có thể thấy rõ, thực phẩm đảm bảo chất lượng là cơ sở duy nhất để đảm bảo
sức khỏe, tính mạng và tài sản của người tiêu dùng.
Thứ ba, việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng sẽ thúc
đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách lành mạnh của các tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ. Chỉ khi các tổ chức cá nhân, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực
hiện đúng và đủ những quy định mà pháp luật đặt ra nhằm bảo vệ người tiêu dùng, từ đó
sản xuất, kinh doanh, lưu thông những loại hàng hóa thực phẩm đảm bảo chất lượng được
người tiêu dùng lựa chọn sử dụng thì kinh tế nhà nước mới có thể phát triển bền vững và
lành mạnh.
Thứ tư, thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng góp phần tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng chính là căn cứ, cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể liên
quan khác thực hiện những hoạt động đúng đắn trên thực tế. Như vậy, bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng chính là bảm đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Đó là những vai trò quan trọng của việc thực hiện pháp luật dưới góc nhìn toàn
diện nhất. Ngoài ra việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn có
những vai trò cơ bản sau đây: Thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân với tư
cách người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước những mối nguy hại về sức
khỏe, bên cạnh đó cũng góp phần bảo vệ quyền lợi của các cá nhân, tổ chức sản xuất,
phân phối hàng hóa, dịch vụ; Khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho người
sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ. Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ
12


chức sản xuất và phân phối đáp ứng được những nhu cầu nguyện vọng của người tiêu
dùng; Tạo thuận lợi cho sự phát triển của các tổ chức xã hội như Hội tiêu chuẩn và bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng; Khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hàng
hóa và dịch vụ hơn; Khuyến khích tiêu dùng bền vững; Là cơ sở để các cơ quan nhà nước
quản lý, kiểm tra, giám sát và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Bảo đảm sự cân bằng
trong giao dịch dân sự giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh và bảo đảm
sự bình đẳng cho người tiêu dùng.
Ngoài những vai trò to lớn của Pháp luật trong công tác bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng nói chung ở trên, thì pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đóng góp
to lớn trong công cuộc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm. Hiện
nay, có những văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề này, cụ thể: Nghị quyết số 46NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức
khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg ngày 05/10/2005
của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Quyết định số 154/2006/QĐTTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Quản lý nhà
nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm giai đoạn 2006-2010”; (10)
Luật an toàn thực phẩm năm 2010 của Quốc hội ban hành ngày 17 tháng 06 năm 2010;…
Những văn bản quy phạm pháp luật này đều hướng đến vấn đề đảm bảo sức khỏe, tính
mạng cho mỗi người dân thông qua việc bảo đảm an toàn thực phẩm. Trong đó, với sự ra
đời của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, chúng ta đã tiến hành một cuộc đổi mới tư
duy từ việc quản lý trực tiếp sản phẩm sang quản lý cả quá trình sản xuất ra sản phẩm
nhằm đảm bảo tốt hơn chất lượng thực phẩm. Như vậy, có thể thấy, chỉ khi người tiêu
dùng – lực lượng đông đảo của xã hội được tôn trọng và bảo vệ thì xã hội mới phát triển,
tạo tiền đề cho đất nước ta phát triển sánh bằng với các cường quốc trên thế giới. Bởi
nhân tố quan trọng nhất của một xã hội, một đất nước đó là con người. Con người có
khỏe mạnh thì đất nước mới phát triển được.
13


1.3. Chủ thể thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đối với
hàng hóa có khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm
Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy
định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các
chủ thể. Như vậy, việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thể hiểu là
quá trình hoạt động của các chủ thể pháp luật nhằm biến các quy định pháp luật bảo vệ
người tiêu dùng thành những xử sự trong thực tế đời sống để bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của người tiêu dùng, cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh và lợi ích chung
của xã hội. Thông qua 4 hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp
luật và áp dụng pháp luật, các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật phối hợp chặt chẽ
với nhau từng bước thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Hiện nay, pháp luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng đã có nhiều quy định cụ thể đối với việc tham gia của các cơ
quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các hiệp hội… vào công tác bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng.
1.3.1. Người tiêu dùng
Trong những quan hệ mang tính chất giao dịch, người tiêu dùng thường đứng về
bên yếu thế. Trong nhiều trường hợp, họ chưa biết cách bảo vệ bản thân khi quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm. Bởi những lí do khác nhau mà họ vẫn chưa nhận thức được
đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong việc bảo vệ quyền lợi của mình cũng
như những người tiêu dùng khác trong xã hội.
Trong hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc đã thừa nhận 8 quyền cơ bản của người
tiêu dùng bao gồm: Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được đảm bảo
an toàn; Quyền được cung cấp thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe;
Quyền được bồi thường; Quyền được giáo dục về tiêu dùng; Quyền được có môi trường
lành mạnh và bền vững. Kế thừa tư tưởng từ bản hướng dẫn của Liên Hợp Quốc cùng các
quy định pháp luật trước đây, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng đã
quy định cụ thể 8 quyền của người tiêu dùng được hưởng khi tham gia giao dịch hoặc sử
dụng hàng hóa dịch vụ, từ các vấn đề về đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và
lợi ích hợp pháp, quyền được cung cấp thông tin, được lựa chọn, được đóng góp ý kiến,
được tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật… đến quyền được khiếu nại, tố
14


cáo, được yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bị xâm phạm quyền lợi 3. Từ đó, những căn cứ
pháp lý rõ ràng này đã nâng cao hiệu quả việc bảo đảm các quyền của người tiêu dùng
trên thực tế.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rõ trách nhiệm của người tiêu dùng tại
Điều 9 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đây đều là những việc người tiêu dùng cần
thiết phải thực hiện để chủ động bảo vệ quyền lợi của chính bản thân mình tránh khỏi
những hành vi cố ý xâm phạm đến những quyền và lợi ích hợp pháp đó, thay vì chỉ biết
trông chờ vào sự giải quyết của cơ quan có thẩm quyền sau khi đã bị vi phạm quyền lợi.
Có thể nói chính bản thân người tiêu dùng là người trong cuộc, tham gia quan hệ
mua bán hàng hóa, sử dụng chúng và trực tiếp chịu ảnh hưởng tiêu cực từ hành vi vi
phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Vì vậy, việc thực hiện pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng của chính họ phải mang tính chủ động, mạnh mẽ, tính cấp
thiết, thực tiễn và chính xác cao.
1.3.2. Hệ thống cơ quan nhà nước
Cơ quan nhà nước là các bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, tổ chức và
hoạt động trên những nguyên tắc thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện
chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Cơ quan nhà nước là một trong những chủ thể không thể thiếu trong việc thực
hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và đối với hàng hóa có khuyết
tật trong lĩnh vực thực phẩm nói riêng. Các cơ quan nhà nước đóng vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, có trách nhiệm đảm bảo các quy định của
pháp luật được nghiêm chỉnh chấp hành, đồng bộ và dễ dàng đi vào thực tế đời sống. Vai
trò của cơ quan nhà nước trong việc tham gia tích cực quản lý; phổ biến pháp luật, quy
chế; điều hành thực hiện… có ý nghĩa to lớn cho quyền lợi người tiêu dùng được bảo vệ
trong thực tế.
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không chỉ là trách nhiệm của cơ quan nhà nước
mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức,
cá nhân chủ động tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, song song cùng
với đó là việc khuyến khích tổ chức, cá nhân ứng dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất
hàng hóa, cung ứng dịch vụ an toàn, bảo đảm chất lượng. Nhà nước cần có những chính
3

Xem Điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.

15


sách nhằm triển khai thường xuyên, đồng bộ các biện pháp quản lý, giám sát việc tuân
thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ; Huy động mọi nguồn lực
nhằm tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phát triển năng lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện
công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Thường xuyên tăng cường tư vấn, hổ trợ,
tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn cho người tiêu dùng; Đẩy mạnh hội nhập, mở rộng hợp
tác quốc tế, chia sẽ thông tin kinh nghiệm quản lý trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng.
Hiện nay, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã
được quy định cụ thể tại Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 4. Từ đó, nhóm
nghiên cứu nhận thấy hệ thống cơ quan nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng bao gồm: Các cơ quan nhà nước thuộc bộ máy hành chính nhà nước và
cơ quan nhà nước thuộc bộ máy tư pháp.
1.3.2.1. Các cơ quan nhà nước thuộc bộ máy hành chính nhà nước
Dưới sự thống nhất quản lý của Chính phủ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
các cơ quan có trách nhiệm trong quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
bao gồm:
Thứ nhất, về vai trò của Bộ Công thương, Bộ Công thương là một trong những
cơ quan nhà nước có trách nhiệm chính trong việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trước Chính phủ. Trách nhiệm của Bộ Công Thương trong quản lý nhà
nước về vấn đề được thể hiện ở các phương diện như sau: Ban hành một số các văn bản
quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
Quản lý hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các tổ chức xã hội; Tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cũng như tư vấn, hỗ trợ và nâng cao nhận thức của
mọi thành viên trong xã hội về vấn đề này; Xây dựng cơ sở dữ liệu, đào tạo nguồn nhân
lực có năng lực; Xử lý vi phạm, tổ chức hòa giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như
thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện những quy định pháp luật
và tổ chức hợp tác quốc tế về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thực
phẩm5.
4
5

Xem Điều 47 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
Xem Điều 48 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010

16


Thứ hai, về vai trò của Cục Quản lý cạnh tranh, đây là cơ quan trực thuộc Bộ
Công thương có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước và tổ
chức quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực, trong đó có bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Cụ thể, đối với lĩnh vực này, Cục Quản lý cạnh tranh tiếp nhận đăng ký hợp đồng theo
mẫu, điều kiện giao dịch chung trong trường hợp hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch
chung áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương; Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi thẩm quyền của Cục;
xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý vi phạm pháp luật; Công khai danh sách tổ chức, cá
nhân kinh doanh vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trên các phương tiện thông tin đại
chúng, niêm yết tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của Cục để mỗi người
dân đều có thể tiếp cận thông tin6.
Thứ ba, về vai trò của Cục Quản lý thị trường, đây là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ
Công thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức chỉ đạo thực hiện việc
kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt
động thương mại ở thị trường trong nước, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
thương mại theo quy định của pháp luật, trong đó có hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị
trường, phát hiện và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trách nhiệm của Cục Quản lý thị trường được quy định
cụ thể tại Quyết định số 19/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/02/2009.
Hiện nay, ngoài Cục Quản lý thị trường (thuộc Bộ Công thương) ở cấp Trung ương, ở địa
phương đều có Chi cục Quản lý thị trường (cấp tỉnh) và các Đội quản lý thị trường (cấp
huyện).
Thứ tư, về vai trò của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, đây là cơ quan chuyên
ngành thuộc Bộ Y tế, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm đối với các sản phẩm đã
thành thực phẩm có nguồn gốc sản xuất trong nước và nhập khẩu lưu thông trên thị
trường trong phạm vi cả nước. Cục An toàn vệ sinh thực phẩm có vai trò vô cùng to lớn
trong việc bảo vệ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm, đảm bảo
6

Bộ Công thương – Cục Quản lý cạnh tranh. Chức năng nhiệm vụ, id=4&CateID=12>

17


chất lượng của thực phẩm phục vụ những nhu cầu thiết yếu của con người hàng ngày.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Cục được quy định tại Quyết định số 48/2008/QĐ-BYT ngày
30/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Thứ năm, về vai trò của Ủy ban nhân dân các cấp, đây là cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, có chức năng tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện nhiệm vụ do
cơ quan nhà nước cấp trên giao. Trong đó, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm trong
quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương như sau: Ban hành
theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực
hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương;
Quản lý về hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức xã hội, tổ chức hòa
giải tại địa phương; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng; tư vấn hỗ trợ và nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại
địa phương; Thanh tra, kiểm ra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền7.
1.3.2.2. Cơ quan nhà nước thuộc bộ máy tư pháp
Trong bộ máy tư pháp, Tòa án có vai trò hết sức đặc biệt trong công tác bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng. Khi phát hiện các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người tiêu dùng, Tòa án nhân danh Nhà nước và tuân theo trình tự, thủ tục chặt
chẽ do pháp luật quy định để xử lý và áp dụng các chế tài phù hợp đối với từng đối tượng
xâm phạm lợi ích của người tiêu dùng trong trường hợp cần thiết. Việc áp dụng chế tài
đối với từng đối tượng vi phạm là biện pháp nghiêm khắc có tính răn đe và giáo dục
mạnh mẽ. Mỗi quyết định của Tòa án đều bảo vệ triệt để quyền lợi của người tiêu dùng.
Tuy nhiên, hiện nay, vẫn chưa tồn tại Tòa án chuyên trách về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ở nước ta. Vì vậy, các vụ kiện trong lĩnh vực này đều được xếp vào loại vụ kiện dân
sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết nếu có đơn khởi kiện của người tiêu dùng. Trình tự, thủ
tục khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được áp dụng theo trình tự chung của Bộ
luật tố tụng dân sự đã quy định.
1.3.3. Các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
7

Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010

18


Trong quá trình thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi tiêu dùng, các tổ chức bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng như các hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (VINASTAS),
các tổ chức xã hội là cầu nối quan trọng giữa các cơ quan nhà nước và người tiêu dùng,
góp phần truyền tải ý chí, nguyện vọng giữa các chủ thể trên, cung cấp cái nhìn sâu sát,
thực tế hơn về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và đối với hàng hóa có
khuyết tật trong lĩnh vực thực phẩm nói riêng.
Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được tổ chức ở cả cấp Trung ương và địa
phương (cấp tỉnh). Ở Trung ương, Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có tên chính thức
là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vietnam Standard and
Consumers Association – VINASTAS). Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các
Hội thành viên, các phân hội chuyện ngành, các chi hội cơ sở, các tổ chức trực thuộc.
Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, được
thành lập theo quy định của pháp luật và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản
trên phạm vi toàn quốc. Hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà nhằm tập hợp,
đoàn kết, giúp đỡ các hội viên nâng cao trình độ nghề, xây dựng và áp dụng các biện
pháp kỹ thuật, công nghệ theo lĩnh vực tiêu chuẩn, chất lượng và bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của người tiêu dùng. Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Hội phải
tuân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Bên cạnh Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các tổ chức xã hội cũng góp
phần không nhỏ trong công tác bảo vệ người tiêu dùng. Mặc dù những tổ chức xã hội đều
hoạt động theo nguyên tắc tự quản, tự trang trải về mặt kinh phí, Nhà nước vẫn hỗ trợ
một phần kinh phí để các tổ chức này thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao. Các tổ
chức xã hội đã góp phần bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thông qua các hoạt động
sau: Hướng dẫn và giúp đỡ người tiêu dùng khi có yêu cầu cũng như đại diện cho người
tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng; Cung cấp cho cơ quan
có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về những hành vi vi phạm pháp luật của
tổ chức, kinh doanh hàng hóa dịch vụ; Độc lập khảo sát, thử nghiệm, công bố những kết
quả khảo sát, thử nghiệm do mình thực hiện; Thông tin, cảnh báo cho mỗi thành viên
trong xã hội về hàng hóa, dịch vụ cũng như chịu trách nhiệm trước pháp luật về vấn đề
đó; Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
19


tiêu dùng; Tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp
nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho
người tiêu dùng.
1.3.4. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Theo quy định của pháp luật, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bảo
gồm thương nhân theo quy định của Luật Thương mại hiện hành và cá nhân hoạt động
thương mại độc lập thường xuyên, không phải đăng kí kinh doanh 8. Trong quá trình hoạt
động của mình, các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện từng công
đoạn cho đến cả quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu thụ vì mục địch lợi nhuận. Họ
tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp lý, từ đó có những trách nhiệm khác nhau trong
từng lĩnh vực tương ứng như nộp thuế, phải đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ của các cá
nhân, tổ chức khác… Nếu các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không đảm
bảo các trách nhiệm này thông qua việc thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì phải
gánh chịu những hậu quả pháp lý do pháp luật quy định.
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người
tiêu dùng được pháp luật nước ta đã được bổ sung, và quy định cụ thể tại các Điều 12, 13,
20, 21, 22 và 23 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Về vấn đề trách nhiệm
của loại chủ thể này, nhóm nghiên cứu đưa ra một số đặc điểm cơ bản như sau: Đây là
loại trách nhiệm được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, luôn
luôn thể hiện ý chí của nhà nước đối với việc điều chỉnh mối quan hệ giữa tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng; Loại trách nhiệm này chỉ phát
sinh trong mối quan hệ có một bên tham gia là người tiêu dùng và có xu hướng bất lợi đối
với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tùy theo mức độ vi phạm mà tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải chịu những chế tài tương ứng theo quy định
của pháp luật.
Riêng đối với cá nhân hoạt động thương mại độc lập thường xuyên, không đăng
kí kinh doanh9, tuy chỉ là những cá nhân kinh doanh có quy mô nhỏ, nhưng lại chiếm một
tỉ lệ tương đối lớn trong nhóm các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là trong lĩnh
8

Xem Khoản 2 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Xem Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc
lập, thường xuyên không phải đăng kí kinh doanh
9

20


vực thực phẩm. Trước tình hình này, việc đảm bảo loại chủ thể này thực hiện đúng đắn và
đầy đủ các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải đối mặt với
nhiều khó khăn và thách thức. Đây chính là lí do khiến Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng đã quy định một điều khoản riêng biệt về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
giao dịch với cá nhân hoạt động thương mại độc lập thường xuyên, không phải đăng kí
kinh doanh10. Trong đó, quy định cụ thể về thẩm quyền của Chính phủ, Ủy ban nhân dân
cấp xã cùng ban quản lý chợ, khung thương mại – những địa điểm thường xuyên diễn ra
hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa nhằm đảm bảo việc thực hiện công tác bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người dân trong xã hội đạt hiệu quả.
1.4. Các phương thức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Phương thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là tổng thể phương pháp, cách
thức do pháp luật quy định mà các chủ thể có thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp giữa
người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Hiện nay, Luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định 4 hình thức để giải quyết loại tranh chấp
này, bao gồm: Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài và Giải quyết tranh chấp tại Tòa án 11.
Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta đưa giải quyết tranh chấp tại Trọng tài vào các phương
thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ và được xem là điểm mới đáng khen ngợi của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng năm 2010. Quy định này có ý nghĩa quan trọng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho
việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện hiệu quả trên thực tế.
Việc lựa chọn phương thức nào để giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào quyết
định của người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên,
đối với hai phương thức thương lượng và hòa giải, việc lựa chọn phương thức tranh chấp
sẽ bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định: trường hợp tranh chấp gây thiệt hại đến
lợi ích của nhiều người hoặc lợi ích công cộng, thì không được lựa chọn phương thức
thương lượng hay hòa giải mà phải đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa
án12.
1.4.1. Thương lượng
10

Xem Điều 7 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
Xem Khoản 1 Điều 30 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
12
Xem Khoản 2 Điều 30 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
11

21


Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên chủ
động tự bàn bạc để thống nhất cách thức loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp
hay tác động của bất kỳ bên thứ ba nào. Khi lựa chọn phương thức thương lượng để giải
quyết tranh chấp, mỗi người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ để thương lượng nếu cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của
mình bị xâm hại. Trong thời hạn không qua 7 ngày, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hàng thương lượng với người gửi yêu cầu 13.
Đây là phương án giải quyết được thực hiện trên cơ sở sự tự nguyện của các bên,
là phương thức Nhà nước khuyến khích áp dụng bởi những ưu điểm sau đây: Giải quyết
tranh chấp bằng thương lượng là một phương thức giải quyết nhanh chóng, hiệu quả và ít
tốn kém, đồng thời đảm bảo những bí mật kinh doanh cũng như uy tín của tổ chức, cá
nhân kinh doanh. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp giữa các bên bằng phương thức
này lại khó được đảm bảo trong thực tế. Chỉ cần một bên thiếu sự hợp tác, tôn trọng, thiện
chí và trung thực với các bên còn lại thì tranh chấp sẽ không thể giải quyết. Bên cạnh đó,
việc tôn trọng kết quả của cuộc thương lượng cũng như thực hiện theo những nội dung đã
thương lượng cũng không được đảm bảo bởi không có một cơ chế pháp lý nào giám sát
vấn đề này. Mọi hành vi của các bên chỉ phụ thuộc vào tinh thần tự nguyện của họ.
1.4.2. Hòa giải
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức. cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với sự tham gia, hỗ trợ của bên thứ ba. Đối với
phương thức giải quyết tranh chấp này, bên thứ ba đóng vai trò hết sức quan trọng trong
việc tháo gỡ các khúc mắc, mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp. Bên thứ ba có thể là cá
nhân hoặc tổ chức, phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên.
Có thể thấy, đối với cả hai phương thức thương lượng và hòa giải, sự thiện chí,
hợp tác, trung thực của các bên tranh chấp đều có tác động không nhỏ đến kết quả của
việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hòa
giải, kết quả của việc hòa giải còn chịu tác động từ sự uy tín, kỹ năng, kinh nghiệm của
hòa giải viên. Đây là phương pháp được ưu tiên áp dụng trong trường hợp các bên tranh

13

Xem Điều 31 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010

22


chấp không quen thuộc nhau. Khi thực hiện việc hòa giải phải tuân thủ các nguyên tắc
nhất định được quy định tại Điều 34 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hòa giải tạo điều kiện thuận lợi
cho các bên trong việc giải quyết trang chấp: Việc hòa giải giữa các bên mang tính tự
nguyện, thiện chí, diễn ra nhanh chóng và tiết kiệm chi phí. Các bên có quyền tự định
đoạt, chủ động lựa chọn bất kỳ cá nhân hay tổ chức làm trung gian hòa giải cũng như địa
điểm, thời gian thực hiện việc hòa giải. Mục đích của việc hòa giải chính là để giải quyết
vụ việc ổn thỏa, đảm bảo quyền lợi chính đáng và ngăn ngừa tình trạng đối đầu giữa các
bên. Bên cạnh đó, việc cho phép lựa chọn cá nhân hoặc tổ chức thực hiện việc hòa giải
khiến cho hình thức giải quyết này đặc biệt hiệu quả trên thực tế bởi các bên tranh chấp
có thể lựa chọn những hòa giải viên có đủ kiến thức hiểu biết về lĩnh vực đang tranh chấp
cũng như có thể bảo vệ bí mật kinh doanh. Đây là hai yếu tố không thể đảm bảo nếu các
bên giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa
giải vẫn chứa đựng một số nhược điểm nhất định: Thứ nhất, xuất phát từ sự tự nguyện
của các bên, việc hòa giải theo đó có thể tiến hành hay không phải phụ thuộc vào sự nhất
trí của cả người tiêu dùng lẫn tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; Thứ hai,
tương tự như thương lượng, kết quả của việc hòa giải không có tính bắt buộc thi hành,
không có bất cứ quyết định ràng buộc hay bất cứ biện pháp pháp lý nào để đảm bảo việc
tuân thủ kết quả hòa giải của các bên. Vì vậy, ít có trường hợp lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp là hòa giải nếu các bên có một sự tin tưởng lẫn nhau nhất định.
1.4.3. Trọng tài
Đây là phương thức giải quyết tranh chấp được tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ ưa chuộng. Giải quyết tranh chấp tại Trọng tài là phương thức giải quyết
tranh chấp thông qua bên thứ ba độc lập là Trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài. Trọng
tài viên hoặc Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp giữa các bên bằng việc đưa ra phán
quyết có hiệu lực bắt buộc.
Khi người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thỏa
thuận trọng tài14, việc giải quyết tranh chấp giữa các bên này sẽ giải quyết theo phương
thức Trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài phải tuân theo những điều kiện
14

Xem Khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010

23


nhất định do Pháp luật quy định 15. Tại Điều 38 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
2010, pháp luật đã công nhận một trong những hình thức của thỏa thuận trọng tài là điều
khoản trọng tài trong các hợp đồng giao kết với người tiêu dùng và các điều kiện giao
dịch chung cũng như xác định hiệu lực của loại điều khoản này. Việc giải quyết tranh
chấp tại Trọng tài đảm bảo tính linh hoạt và quyền chủ động của các bên, tiết kiệm được
thời gian. Bên cạnh đó, do quyết định trọng tài theo nguyên tắc không được công bố công
khai nên việc lựa chọn phương thức Trọng tài giải quyết tranh chấp có thể đảm bảo được
bí mật kinh doanh cũng như danh dự và uy tín của các bên. Khác với thương lượng và
hòa giải, phán quyết của Trọng tài có tính chung thẩm. Khi Trọng tài đã đưa ra phán
quyết, cả người tiêu dùng lẫn tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không có
quyền kháng cáo trước bất kì tổ chức hay Tòa án nào. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh
chấp bằng phương thức Trọng tài có chi phí tương đối cao và chi phí này sẽ tỉ lệ thuận với
thời gian giải quyết vụ việc. Trong một số trường hợp thực tế, việc thực thi quyết định
trọng tài vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, chưa giải quyết triệt để tranh chấp bằng phương
thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
1.4.4. Giải quyết tranh chấp tại Tòa án
Giải quyết tranh chấp tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan
xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được thực hiện theo một trình tự thủ tục luật định,
nghiêm ngặt chặt chẽ theo quy định của pháp luật. Quyết định hay bản án của Tòa án về
việc giải quyết tranh chấp giữa các bên đã có hiệu lực pháp luật được bảo đảm thực hiện
bởi quyền lực nhà nước. Khác với ba phương thức giải quyết tranh chấp đã được đề cập,
đây là phương thức giải quyết tranh chấp duy nhất thông qua bộ máy cơ quan tư pháp.
Thẩm phán nhân danh quyền lực Nhà nước đưa ra các bản án hoặc quyết định có tính
chất bắt buộc thi hành. Các bên nếu không thực hiện các nghĩa vụ bắt buộc quy định tại
các bản án, quyết định đó thì phải chịu những biện pháp cưỡng chế thi hành nhất định.
Việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho
các chủ thể.
Tuy nhiên, thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án có thể phức tạp, từ đó thời
gian cho việc giải quyết triệt để tranh chấp sẽ kéo dài hơn so với những phương thức giải
15

Xem Điều 5 Luật trọng tài thương mại 2010

24


quyết tranh chấp khác. Việc Tòa án xét xử công khai cũng dẫn đến việc không đảm bảo
được bí mật kinh doanh cũng như uy tín của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×