Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật sản xuất khoai tây vụ đông tại tỉnh thái nguyên

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––

HOÀNG THỊ MINH THU

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
SẢN XUẤT KHOAI TÂY VỤ ĐÔNG
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2019


2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

–––––––––––––––––––––

HOÀNG THỊ MINH THU

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
SẢN XUẤT KHOAI TÂY VỤ ĐÔNG
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 9.62.01.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Trần Ngọc Ngoạn
2. PGS. TS. Trần Văn Điền

THÁI NGUYÊN - 2019


3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả những kết quả nghiên cứu trong công trình này là
trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào khác. Nếu sai tôi xin
chịu trách nhiệm hoàn toàn. Mọi trích dẫn trong luận án đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.

Nghiên cứu sinh

Hoàng Thị Minh Thu


4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tôi luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá
nhân và cơ quan nghiên cứu trong nước. Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc nhất đến GS.TS. Trần Ngọc Ngoạn, PGS.TS Trần Văn Điền với cương vị là
người hướng dẫn khoa học, đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu và hoàn thành
luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, Khoa Sau đại học, Khoa Nông học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt


quá trình thực hiện luận án.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo Khoa Nông học, Viện
Khoa học sự sống, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Trung tâm Nghiên cứu
và phát triển cây có củ - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Bộ môn Nghiên
cứu khoai tây thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây có củ.
Tôi xin cảm ơn Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên,
Phòng Kinh tế Thành Phố Thái Nguyên, Phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương tỉnh
Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi địa bàn tốt để tiến hành các thí nghiệm và thực hiện các
mô hình nghiên cứu.
Thái Nguyên, ngày 10/10/2018
Nghiên cứu sinh

Hoàng Thị Minh Thu


5
MỤC LỤC


6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Cs

: Cộng sự

CT

: Công thức

Đ/c

: Đối chứng

DTTLCPĐ

: Diện tích tán lá che phủ đất

FAO

: Food and Agriculture Organization

H

: Hữu cơ

HX

: Héo xanh

KHKTNNVN

: Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam

KL

: Khối lượng



: Mật độ

MS

: Mốc sương

NSLT

: Năng suất lý thuyết

NSTT

: Năng suất thực thu

PK

: Phân khoáng

PL

: Phú Lương

QCVN

: Quy chuẩn Việt Nam

RCBD

: Rendomized completed block design
(kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh).

SAS

: SAS systemversion8.SAS Inst.,Cary, NC

Sở KH&CN

: Sở khoa học và Công nghệ

ST

: Sinh trưởng

T

: Tưới

TB

: Trung bình

TCN

: Tiêu chuẩn ngành

TGST

: Thời gian sinh trưởng

TPTN

: Thành Phố Thái Nguyên

TV

: Thời vụ

V

: Vun

VR

: Virút


7
DANH MỤC CÁC BẢNG


8
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ


9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây khoai tây (Solanum tuberosum) là cây lương thực của nhiều nước châu
Âu và ở một số nước khoai tây là cây lương thực chủ yếu (Đường Hồng Dật,
2005)[7]. Củ khoai tây chứa 20% lượng chất khô, trong đó có 80 - 85% là tinh bột,
3 - 5% là protein và một số vitamin khác (Nguyễn Văn Thắng và Bùi Thị Mỳ,
1996) [38].
Khoai tây có tiềm năng năng suất khá cao tới 100 - 120 tấn/ha. Tuy nhiên sự
biến động về tiềm năng năng suất giữa các vụ và các vùng là khá lớn (Caldiz et al.,
2001) [65]. Do khoai tây chịu tác động mạnh của những yếu tố từ bên ngoài. Nhiệt
độ thích hợp cho thân lá phát triển là 180C, củ phát triển là 16 - 17oC; ánh sáng ngày
dài thích hợp cho giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, giai đoạn củ hình thành thì cây
lại yêu cầu ánh sáng ngày ngắn. Yêu cầu về ẩm độ cũng thay đổi theo các thời kỳ
sinh trưởng và phát triển, trước khi hình thành củ ẩm độ cần là 60%, thời kỳ hình
thành củ ẩm độ đất phải đạt 80%. Để đạt được năng suất cao, khoai tây còn yêu cầu
lớp đất mặt phải rất tơi xốp, đất thịt nhẹ, đất cát pha thích hợp với cây khoai tây
(Đường Hồng Dật, 2005) [7]. Thời gian sinh trưởng ngắn nhưng khoai tây lại là cây
cho hiệu quả kinh tế cao, 1 ha có thể thu nhập từ 30 - 40 triệu đồng. Theo Nguyễn
Công Chức (2001) [2]. Khoai tây đóng góp từ 42 - 48% thu nhập từ trồng trọt, 4,5 22,5% trong tổng thu nhập của hộ trồng khoai tây.
Ở Việt Nam khoai tây là một trong những cây thực phẩm quan trọng và
đặc biệt là cây hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên hiện nay việc sản
xuất khoai tây chưa khai thác hết tiềm năng, năng suất cây khoai tây ở Việt
Nam còn rất thấp, đạt 73,74% (năm 2017) so với năng suất trung bình của thế
giới (FAOSTAT, 2019) [140].
Đồng bằng Bắc bộ có một mùa đông lạnh với nhiệt độ trung bình khoảng
16,6 - 25,50C, phù hợp cho cây khoai tây sinh trưởng, phát triển, chủ yếu đất phù sa,
đất cát pha, đất thịt nhẹ lớn, hệ thống thuỷ nông hoàn chỉnh là điều kiện thuận lợi
cho phát triển và mở rộng sản xuất khoai tây. Trong những năm gần đây diện tích
khoai tây cả nước dao động trong khoảng 35.000 ha, tập trung chủ yếu ở đồng bằng
sông Hồng (Đào Huy Chiên, 2002) [1]. Có khả năng thích hợp với nhiều vùng sinh
thái, cho năng suất cao, củ giàu dinh dưỡng nên khoai tây được trồng rất phổ biến.


10
Sản phẩm thu hoạch dễ tiêu thụ và dễ thương mại hoá. Cây khoai tây nếu được đầu
tư thâm canh sẽ có sản lượng cao và lượng hàng hóa lớn, có giá trị xuất khẩu làm
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc thuộc vùng Đông Bắc
nước ta với diện tích đất tự nhiên hơn 3562,82 km2 và dân số khoảng 1,2 triệu người
(Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2017) [4]. Thị trường tiêu thụ khoai tây tại Thái
Nguyên rất lớn do dân số đông, có nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, đơn vị quân đội, Công ty Sam Sung đóng trên địa bàn; mặc dù nhu
cầu tiêu thụ khoai tây lớn, song hầu hết sản lượng tiêu thụ khoai tây của tỉnh đều
nhập từ tỉnh ngoài và Trung Quốc, sản lượng khoai tây trong tỉnh còn thấp chưa đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Thời tiết khí hậu vụ đông tại Thái Nguyên rất phù hợp cho sinh trưởng và
phát triển của cây khoai tây, với nhiệt độ bình quân từ 16,6 - 25,5 0C; lượng mưa từ
0,3 - 322,5 mm; ẩm độ trung bình từ 72 - 75%. Trong những năm gần đây khoai tây
đã được đưa vào cơ cấu cây trồng vụ đông, tỉnh đã có nhiều chính sách để hỗ trợ
phát triển và mở rộng diện tích khoai tây, vì vậy khoai tây đã chiếm một vị trí quan
trọng trong phát triển cây vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên, tiềm năng mở rộng diện
khoai tây vụ đông rất lớn. Tuy nhiên diện tích trồng khoai tây của tỉnh đang giảm
dần, nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trên do thiếu nguồn giống chất lượng
người dân trồng khoai tây chủ yếu trồng giống Trung Quốc chất lượng kém, sâu
bệnh nhiều, năng suất thấp chất lượng khoai tây chưa đảm bảo và đặc biệt các biện
pháp kỹ thuật canh tác như; thời vụ, mật độ, phân bón, tưới nước, vun gốc chưa phù
hợp. Do đó để mở rộng diện tích khoai tây vụ đông tại Thái Nguyên cần phải có
nghiên cứu tổng hợp, sâu rộng về kỹ thuật tuyển chọn giống đến các biện pháp kỹ
thuật. Xuất phát từ hạn chế đó chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu các biện
pháp kỹ thuật sản xuất khoai tây vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sản xuất khoai tây nhằm xác định các yếu tố hạn chế
năng suất khoai tây tại tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định giống khoai tây có năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với điều
kiện vụ đông tại Thái Nguyên để đưa vào sản xuất.


11
- Xác định một số biện pháp kỹ thuật trồng khoai tây phù hợp trong điều kiện
vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở đó bổ sung và hoàn chỉnh biện pháp kỹ
thuật thâm canh khoai tây ở tỉnh Thái Nguyên góp phần mở rộng diện tích khoai tây
trên đất ruộng hai vụ lúa.
- Xây dựng mô hình sản xuất thâm canh khoai tây đạt năng suất và hiệu quả
kinh tế cao trên đất hai vụ lúa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Giống khoai tây: Lựa chọn giống khoai tây có triển vọng gồm 8 giống
khoai tây nhập nội qua thí nghiệm nghiên cứu giống vụ đông trên đất ruộng 2 vụ tại
tỉnh Thái Nguyên.
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất khoai tây vụ đông gồm mật
độ, thời vụ, phân bón, tưới nước, vun.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thí nghiệm nghiên cứu một số đặc điểm của giống và biện pháp kỹ thuật
sản xuất khoai tây bố trí tại xã Thịnh Đức Thành Phố Thái Nguyên và xã Phấn Mễ
huyện Phú Lương.
- Mô hình sản xuất thử nghiệm tại xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, xã Thịnh
Đức Thành Phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
4. Đóng góp mới của luận án
- Đã xác định được giống khoai tây có triển vọng tốt là giống KT1 có thời gian
sinh trưởng trung bình, sinh trưởng phát triển tốt, nhiễm sâu bệnh nhẹ, năng suất
cao (31 - 32 tấn/ha), chất lượng tốt, phù hợp với nhu cầu ăn tươi và chế biến.
- Đã xác định được một số biện pháp kỹ thuật thích hợp đối với giống khoai
tây KT1 vụ đông tại Thái Nguyên. Thời vụ trồng tốt nhất từ ngày 01/11 - 10/11. Đối
với phân khoáng xác định được lượng phân bón 15 tấn phân chuồng + 180kg N +
180 kg P2O5 + 180 kg K2O/ha, với mật độ trồng 5 khóm/m2 đạt năng suất và hiệu
quả kinh tế cao. Phân kali đã xác định được công thức bón 15 tấn phân chuồng +
150 kg N + 150 kg P2O5 + 180 kg K2O/ha cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao nhất.
Tưới nước bổ sung 3 lần (15 ngày sau trồng, 45 ngày sau trồng, 75 ngày sau trồng).


12
Vun luống 2 lần/vụ (15 ngày sau trồng và 45 ngày sau trồng).
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả thu được từ các thí nghiệm về xác định giống và các biện pháp kỹ
thuật là căn cứ khoa học để bổ sung hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất khoai tây
tại tỉnh Thái Nguyên.
- Kết quả nghiên cứu có thể dùng tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu
tuyển chọn giống khoai tây.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Tuyển chọn được một số giống khoai tây có triển vọng cho năng suất cao
và chất lượng tốt phục vụ sản xuất vụ đông trên đất ruộng hai vụ lúa.
- Bổ sung luận cứ khoa học để lựa chọn giống khoai tây nhập nội phù hợp và
xây dựng quy trình sản xuất khoai tây trong điều kiện vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên.


13
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Tăng năng suất cây trồng là mục tiêu quan trọng nhất của mọi tiến bộ kỹ
thuật về giống và canh tác. Dân số ngày càng tăng kéo theo nhu cầu lương thực
không ngừng tăng lên, trong khi đất canh tác bị thu hẹp và để ứng phó với biến đổi
khí hậu, chúng ta cần phải thường xuyên chọn tạo giống cây trồng phù hợp với điều
kiện ngoại cảnh luôn thay đổi, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh
tăng năng suất.
Giống có vai trò rất quan trọng, góp phần nâng cao năng suất và sản lượng
cây trồng. Năng suất cây trồng có thể tăng lên một cách đáng kể nếu chọn được
giống có tiềm năng năng suất cao và ổn định. Hiện nay các giống khoai tây đang
phổ biến trong sản xuất tại Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng chủ yếu
là nhập nội. Do vậy trước khi đưa vào sản xuất ở một vùng nào đó cần đánh giá khả
năng thích ứng của giống với các điều kiện sinh thái khác nhau, đồng thời áp dụng
các biện pháp kỹ thuật phù hợp.
Khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật cho khoai tây, nhiều tác giả đã kết
luận khoai tây trồng an toàn trong thời tiết vụ đông ở miền Bắc nước ta (từ 15/10
trở đi) và có thể trồng thêm khoai tây vụ xuân. Tuy nhiên, việc xác định thời vụ
trồng khoai tây còn phụ thuộc vào yếu tố đất đai và khí hậu từng vùng (Trương Văn
Hộ, 1992) [15].
Các kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ và khoảng cách trồng, số thân trên
một đơn vị diện tích có ảnh hưởng rất rõ rệt đến năng suất và chất lượng khoai tây.
Khoai tây được trồng bằng phương pháp làm đất tối thiểu, mật độ và khoảng cách
trồng được khuyến cáo như sau: Trồng 2 hàng cách mép luống 30 - 35 cm, hàng
cách hàng 35 - 40 cm; củ cách củ 30 cm, tương đương 5 - 6 vạn củ giống/ha (Trung
tâm Khuyến nông Quốc gia, 2013) [147].
Khoai tây là một trong những loại cây trồng cho năng suất cao, do đó đòi hỏi
nhiều chất dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng và phát triển. Lượng phân bón cho
khoai tây phụ thuộc vào loại đất, độ phì nhiêu của đất, tình trạng luân canh và canh


14
tác, giống và thời gian sinh trưởng của khoai tây, độ ẩm và mật độ trồng (Smith,
1987) [123]. Khi trồng khoai tây giống mới theo hướng thâm canh để có năng suất,
hiệu quả cao nhất thiết phải bón phân. Cần thực hiện tưới rãnh nhẹ để khoai tây
nhanh mọc trong trường hợp đất bị khô. Thực hiện vun xới 2 lần kết hợp bón thúc.
Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho khoai tây, tốt nhất bằng biện pháp tưới rãnh
(Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2015) [148].
Như vậy, để trồng khoai tây đạt hiệu quả kinh tế cao thì mỗi vùng sinh thái
cần nghiên cứu để tìm ra bộ giống tốt và biện pháp canh tác phù hợp.
1.2. Một số nghiên cứu về yêu cầu ngoại cảnh đối với cây khoai tây
1.2.1. Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và năng
suất củ. Nhiệt độ trong vụ trồng bình quân 16°C - 18°C là thích hợp và cho năng
suất cao nhất. Khi nhiệt độ cao, cây khoai tây bị giảm sự đồng hóa, tăng dị hóa;
nhiệt độ ban đêm cao sẽ làm giảm sản lượng chất khô của cây. Sự phát triển tối ưu
của cây khoai tây khi nhiệt độ ban ngày 20°C, ban đêm 14°C. Nếu nhiệt độ ban
ngày ở mức 21°C - 24°C, ban đêm 10°C hoặc thấp hơn một chút, khoai tây cũng có
năng suất cao. Nhưng khi nhiệt độ bình quân dưới 10°C sẽ làm giảm sự sinh trưởng
của cây, dưới 5°C cây ngừng sinh trưởng.
Cây khoai tây có ba giai đoạn: Giai đoạn phát triển thân lá, giai đoạn hình
thành củ và giai đoạn phình to củ. Mỗi giai đoạn có yêu cầu nhiệt độ khác nhau. Từ
mọc đến phát triển thân lá, cây khoai tây cần nhiệt độ tương đối cao, thay đổi từ
16°C - 24°C, ở giai đoạn này thân lá phát triển đầy đủ thì năng suất củ mới cao.
Giai đoạn hình thành củ cần nhiệt độ thấp hơn. Rashid năm 1974 có nhận xét, củ
khoai tây hình thành nhanh nhất ở nhiệt độ ban ngày 20°C - 21°C và ban đêm 14°C.
Giai đoạn phình củ cần nhiệt độ thấp hơn kết hợp với ngày dài và cường độ ánh
sáng cao (Trương Văn Hộ, 2010) [17].
Nhiệt độ không khí thích hợp nhất cho củ khoai tây phát triển từ 18-19 0C và
nhiệt độ đất 16- 170C. nếu nhiệt độ từ 200C trở lên quá trình hình thành củ của khoai
tây bắt đầu bị kìm hãm. Nhiệt độ lên cao quá 25 0C sẽ trở ngại cho quá trình hình
thành và phát triển củ. Trong thời kỳ hình thành củ, nhiệt độ cao kéo dài gây ra hiện
tượng củ không được tích lũy chất khô một cách đầy đủ, dẫn đến năng suất và chất
lượng giống giảm rõ rệt ở các đời sau. (Trương Văn Hộ, 2010) [17].


15
Như vậy, cây khoai tây sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao trong
điều kiện nhiệt độ thấp. Nhiệt độ thích hợp cho thân lá phát triển là 18 - 20 0C, thân
củ phát triển là 18 - 190C. Tuy nhiên, nhiệt độ quá thấp làm cây bị chết rét, còn nhiệt
độ cao thì củ hình thành kém, nhanh thoái hóa và bệnh virút phát triển mạnh. Để
nâng cao năng suất và chất lượng củ khoai tây cần nghiên cứu để có thời vụ thích
hợp với từng vùng.
1.2.2. Yêu cầu về ánh sáng
Khoai tây là cây ưa sáng, năng suất khoai tây phụ thuộc vào khả năng hấp
thu và hiệu quả của việc sử dụng năng lượng ánh sáng để tổng hợp nên chất khô của
củ và chỉ số thu hoạch. Cường độ ánh sáng thích hợp cho sự hình thành củ và năng
suất khoai tây là 20.000 - 50.000 lux (Allen and Scott .,1980) [50]. Trong điều kiện
khí hậu giống nhau, không thiếu nước hoặc dinh dưỡng và không xuất hiện sâu
bệnh hại thì sự khác nhau về sinh trưởng, phát triển và năng suất là do khả năng hấp
thu ánh sáng khác nhau giữa các giống (Spitter, 1987; Van der Zaag and Doombos
JH, 1987) [124], [132].
Độ dài ngày ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây khoai
tây. Ở điều kiện ngày dài trên 14 giờ chiếu sáng/ngày của mùa xuân và mùa hè ở
các nước ôn đới, thời gian sinh trưởng của cây khoai tây dài tới hơn 4 tháng gần 5
tháng, có thời gian phát triển thân lá dài, sau đó mới đến giai đoạn hình thành củ và
phình to củ. Người ta thấy rằng cây khoai tây trong điều kiện dài ngày có hàm
lượng hoomon gibberellin cao, nên đã làm chậm sự hình thành củ. Do thời gian sinh
trưởng dài nên năng suất khoai tây ở vùng ôn đới khá cao, về tiềm năng nhiều nơi
tới 100 - 120 tấn củ/ha, nhiều nước đạt năng suất bình quân 35 - 40 tấn/ha.
Những nước vùng nhiệt đới trồng khoai tây trong điều kiện ngày ngắn, dưới
12 giờ/ngày nên hình thành củ sớm ngay khi thân lá còn trong giai đoạn đang phát
triển. Vì vậy, thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ trên dưới 3 tháng, nên năng suất củ
thấp, tiềm năng năng suất không cao. Những giống khoai tây ở vùng ôn đới đem
trồng ở Việt Nam sẽ rút ngắn khoảng 30% thời gian trồng ở vùng ôn đới (Trương
Văn Hộ, 2010) [17].
Trong điều kiện ngày dài, cây khoai tây ra hoa, kết quả nhiều hơn ngày
ngắn. Nếu ở nhiệt độ thấp trong điều kiện ngày dài hoặc ngắn, khoai tây đều ra
củ sớm. Về cường độ ánh sáng với khoai tây, ánh sáng có cường độ mạnh sẽ làm


16
cho quá trình quang hợp tăng lên, cây phát triển thuận lợi. Nếu cường độ ánh
sáng yếu, trời nhiều mây âm u kéo dài, cây quang hợp kém, năng suất khoai tây
thấp. Mặt khác cường độ ánh sáng quá cao cũng gây ra tạo củ sớm, ra hoa nhanh
dẫn đến thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất củ thấp.
1.2.3. Yêu cầu về nước
Nước là một trong những yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng, phát triển
của cây khoai tây, đến năng suất và chất lượng của củ khoai tây. Muốn cây khoai tây
có hiệu suất quang hợp cao, đất phải đủ ẩm để cho bộ rễ hút đủ lượng nước cần thiết
và chất khoáng để điều tiết nhiệt độ của cây. Nếu đất khô hạn, lá khô sẽ bị héo, khí
khổng khép lại, hiệu suất quang hợp của cây sẽ giảm sút. Nếu thiếu nước kéo dài
trầm trọng thì cây sẽ chết. Nếu quá nhiều nước sẽ gây nên yếm khí, trong đất thiếu O 2
sẽ làm cho bộ rễ bị chết, đồng thời những khí khổng trên vỏ củ bị trương nước sẽ là
nơi để vi khuẩn và nấm xâm nhập làm thối củ (Trương Văn Hộ, 2010) [17].
Trong suốt thời gian sinh trưởng, phát triển cây khoai tây cần rất nhiều nước.
Theo một số nghiên cứu, một héc ta khoai tây cho năng suất củ từ 19-33 tấn/ha thì
cần từ 2.800 - 2.900 m 3 nước. Để tạo ra 100 kg củ khoai tây cần 12 - 15 m 3 nước
(Ngô Đức Thiệu và Nguyễn Văn Thắng, 1978) [41].
Nghiên cứu của Deblonde et al., (1999) [70] chỉ rõ, năng suất và yếu tố cấu
thành năng suất bị tác động mạnh bởi tổng lượng nước tưới. Tuy nhiên tác động của
hạn đến cây trồng phụ thuộc vào thời gian, giai đoạn và mức độ nghiêm trọng của
khô hạn (Jefferies, 1995) [96]. Hạn thường tác động mạnh ở 3 giai đoạn: sinh
trưởng, phình to củ và chín. Thiếu nước ở giai đoạn cuối của thời gian sinh trưởng
sinh dưỡng làm cho khoai tây có năng suất thấp nhất, thiếu nước ở giai đoạn chín
thì củ khoai tây lại to nhất (Fabeiro et al., 2001) [78].
Nghiên cứu của Iqbal et al., (1999) [94] cũng cho kết quả là, hạn xuất hiện
vào giai đoạn chín làm giảm năng suất ít nhất, xuất hiện sớm sẽ ảnh hưởng mạnh
nhất đến năng suất, tiếp theo là giai đoạn hình thành củ. Điều đó được Kashyap et
al., (2003) [99] giải thích rằng, hầu hết các giai đoạn nhạy cảm với sự thiếu nước là
ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng nên thiếu nước ở giai đoạn này ảnh hưởng đến
năng suất mạnh nhất.


17
Như vậy, nước rất cần thiết cho sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất của
cây khoai tây. Thiếu nước ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng ảnh hưởng nhiều nhất
đến năng suất. Vì vậy trong điều kiện ở miền Bắc Việt Nam, vụ đông thường có
lượng mưa thấp và biến động giữa các vùng khá lớn nên cần nghiên cứu chế độ tưới
nước hợp lý cho khoai tây trong từng điều kiện cụ thể.
1.2.4. Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng của khoai tây
Củ khoai tây khi phát triển có khả năng dịch chuyển các phân tử đất yếu hơn
so với nhiều loại rễ củ khác nên đòi hỏi lớp đất mặt, là nơi khoai tây hình thành củ
phải rất tơi xốp. Các loại đất cát pha, đất nhẹ, thậm chí là đất cát là thích hợp với
cây khoai tây. Các loại đất nặng và quá ẩm ướt, cây khoai tây phát triển không tốt
và thường bị bệnh thối ướt gây hại. Trên các loại đất nặng, hàm lượng tinh bột trong
củ giảm, củ cũng nhỏ đi nhiều. Mặt khác khoai tây còn sinh trưởng, phát triển và
cho năng suất giảm dần khi trồng liên tiếp từ vụ này sang vụ khác trong nhiều năm
trên cùng một chân đất (Đường Hồng Dật, 2005) [7].
Đất trồng khoai tây thích hợp là đất phù sa nhẹ, đất cát pha, đất nhẹ tơi xốp
có lượng mùn cao, lớp đất canh tác dày, giữ ẩm tốt, có điều kiện tưới nước và thoát
nước. Nếu trồng trên đất thịt nặng, củ sẽ phát triển không đều, bị méo mó, mã củ
xấu. Khoai tây có thể phát triển được trên đất có độ pH từ 4,8 - 7,1. Do chịu được
chua mặn nên ở Hà Lan đã dùng khoai tây là cây tiên phong trồng trên đất mới lấn
biển có độ chua cao. Tuy nhiên, độ pH lý tưởng với khoai tây là 5,2 - 6,4. Nếu đất
có độ pH kiềm trên 7, khoai tây dễ bị nhiễm bệnh ghẻ củ. Đất có hàm lượng clo cao
sẽ giảm hàm lượng chất khô của củ (Trương Văn Hộ, 2010) [17].
Đất có tầng canh tác dày và tơi xốp khả năng giữ nước và thông khí tốt là
thích hợp nhất với khoai tây và sẽ cho năng suất cao nhất. Đất có pH từ 5 - 7, nhưng
thích hợp nhất là 6 - 6,5.
Đất lý tưởng cho sự phát triển của khoai tây là đất tiêu nước tốt, dễ vỡ vụn.
Đất có hàm lượng sét cao cần được xử lý đặc biệt như luân canh cây trồng thích
hợp, trồng cây che phủ và các hoạt động cày xới đúng cách để duy trì năng suất
trong một thời gian dài. Các loại đất có hữu cơ cao, nếu thoát nước đầy đủ, cũng có
thể sản xuất khoai tây chất lượng cao, đặc biệt cho thị trường ăn tươi. Đất cát, có
chứa ít đất sét hoặc ít chất hữu cơ khi được tưới tiêu và bón phân đúng cách, sẽ cho
năng suất và chất lượng chế biến cao. Mặc dù, khoai tây chịu được đất có tính axít
nhưng sẽ có lợi khi nâng pH đất đến 6,0 - 6,5 giúp gia tăng hấp thụ lượng P và K


18
trong đất, làm tăng hoạt tính của vi sinh vật, tăng sự phân huỷ của chất hữu cơ để
giải phóng N và tăng khả năng trao đổi cation đất (Bohl và Johnson, 2010) [61].
Đất trồng khoai tây có pH nằm trong khoảng 5,5 - 6,8. Ở pH này khoai tây ít
bị bệnh ghẻ hay sần lỗ vỏ. Hàm lượng tinh bột của khoai tây thu được cao nhất khi
trồng trên đất kiềm yếu hoặc trung tính. Tuy nhiên, nghiên cứu khác đã ghi nhận
hàm lượng tinh bột của củ ở pH đất trồng trong phạm vi 5,4 - 6,05 cao hơn cả. Khi
trồng ở đất chua yếu có pH = 5 thì khoai tây chín sớm hơn, điều này làm giảm hàm
lượng chất khô của cây. Để đạt năng suất cao nên duy trì độ ẩm của đất khoảng
65%. Tùy thuộc vào nhiệt độ ngày và giai đoạn phát triển của cây mà lượng nước
tưới được tính toán nhằm duy trì độ ẩm của đất. Tưới sát ngày thu hoạch làm giảm
độ cứng và gia tăng các vấn đề trong lưu trữ (Kader và Rolle, 2004) [97].
Khoai tây có thể trồng được trên các loại đất: đất cát pha, đất thịt nhẹ,
đất phù sa có tầng canh tác dày, nhiều mùn. Để cây khoai tây sinh trưởng tốt, năng
suất cao thì cần bố trí trồng trên các chân đất vàn, vào cao; đất có độ tơi xốp, thuận
tiện trong việc tưới tiêu và thoát nước tốt. Khoai tây đông thường được bố trí trên
chân đất 2 vụ lúa (lúa đông xuân + lúa mùa + khoai tây đông). Cày bừa, làm đất nhỏ
vơ sạch cỏ dại, tàn dư cây trồng vụ trước. Lên luống càng cao càng tốt, lên luống
đơn, luống rộng 0,6 - 0,7 m (trồng 1 hàng) hoặc lên luống kép, luống rộng 1,2 - 1,4
m (trồng 2 hàng). Rãnh luống rộng từ 30 - 40 cm, sâu từ 15 - 25 cm (Thái Hà và
Đằng Mai, 2011; Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2015) [12], [148].
Khoai tây yêu cầu một lượng dinh dưỡng lớn và đầy đủ các nguyên tố đa
lượng và vi lượng. Trung bình một tấn củ khoai tây (kể cả thân lá tương ứng) lấy đi
từ đất là 5,68 kg N, 1,11 kg P2O5, 8,92 kg K2O. Với năng suất 15 tấn/ha cây khoai
tây đã lấy đi 88 kg N, 17 kg P 2O5, 134 kg K2O, 19 kg CaO và 16 kg MgO. Rasco và
Aromin, (1994) [116] cũng kết luận rằng, năng suất khoai tây phụ thuộc nhiều vào
dinh dưỡng đất và khả năng cung cấp của con người. Trong hầu hết các trường hợp
có sự tương quan giữa khối lượng chất khô và nồng độ N, P, K. Tuy nhiên mỗi
nguyên tố dinh dưỡng đều tác động đến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai
tây theo góc độ khác nhau.
Khoai tây là một trong những loại cây trồng cho năng suất cao, do đó đòi hỏi
nhiều chất dinh dưỡng để phục vụ quá trình sinh trưởng và phát triển. Nitơ (N), phốt
pho (P) và kali (K) là những yếu tố quan trọng nhất cần thiết cho việc hình thành
năng suất và sản lượng khoai tây. Ở nhiều khu vực sản xuất khoai tây, lượng phân


19
bón đạm và lân được sử dụng rộng rãi, trong khi kali thường bị bỏ qua (Pervez et
al., 2013) [111].
1.2.5. Yêu cầu về độ ẩm đất
Kết quả nghiên cứu cho thấy các loại đất khác nhau có khả năng giữ nước, giữ
nhiệt, trao đổi dinh dưỡng khác nhau nên có ảnh hưởng khác nhau đến sự sinh trưởng
của khoai tây và qua đó ảnh hưởng đến hàm lượng chất khô, hàm lượng tinh bột trong
củ. Loại đất hấp thụ nước tốt và thoáng khí là cần thiết cho sự phát triển và hình thành
củ (Brandenberger et al., 2012) [ 63].
Độ ẩm đất có ảnh hưởng đến hàm lượng chất khô của khoai tây và chất
lượng chế biến của chúng. Trong những vùng hạn hoặc bán hạn, biện pháp tưới là
không thể thiếu khi trồng khoai tây. Ở những vùng ẩm hơn, ngoài việc lợi dụng
nước trời qua mưa cũng cần phải bổ sung một lượng nước tưới nhất định. Điều kiện đất
đủ độ ẩm sẽ đảm bảo khoai tây có năng suất cao, tốt nhất nên duy trì một độ ẩm đồng
nhất trong đất trong suốt quá trình sinh trưởng của cây khoai tây. Việc tưới quá dư thừa
nước hoặc khoảng cách giữa hai lần tưới quá xa có thể làm giảm năng suất hoặc cây có
sinh trưởng lại hoặc làm nứt củ. Để thu được khoai tây có hàm lượng chất khô cao cần
phải tránh tưới quá muộn vào lúc thu hoạch. Mưa quá nhiều hoặc tưới quá muộn
thường làm giảm năng suất và làm giảm tỷ trọng của củ (Smith, 1987) [123 ].
Khoai tây là một cây rất mẫn cảm với sự thiếu hụt nước trong đất. Ngay cả
khi được tưới, đôi khi khoai tây vẫn bị stress nước, đặc biệt là những ngày nắng và
nóng. Sự thiệt hại do stress nước của khoai tây phụ thuộc vào thời điểm bị thiếu
nước, thời gian và cường độ stress (Costa và MacKerron, 2000) [68].
Tại Nam Phi, thiếu nước xảy ra vào lúc bắt đầu hình thành củ cho đến lúc tạo
củ là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành sinh khối và năng suất
củ. Khi được tươi đầy đủ trong điều kiện này, củ cho năng suất cao nhất. Hiệu suất tưới
nước thay đổi tùy theo phương pháp tưới và thời gian trồng, hiệu quả tưới nước vào vụ
thu cao hơn vụ đông (Steyn et al., 2007) [126].
Đã có nghiên cứu về ảnh hưởng của tưới đến chất lượng chế biến của khoai
tây, nhận thấy ở công thức khoai tây có tưới, khoai tây chưa thành thục vào lúc thu
hoạch. Trong củ có chứa nhiều đường khử dẫn đến màu sắc của chip sau khi rán có
màu đậm hơn. Khi tưới nước cho khoai tây ở các mức độ ẩm đất đạt 25, 50 và 75%
không gây ảnh hưởng đến tỷ trọng của củ, trong khi đó ở độ ẩm cao hơn gây ra sự
giảm sút hàm lượng tinh bột. Điều kiện thời tiết bất thường có thể làm cho khoai tây


20
có củ có hình dạng bất thường hoặc nảy mầm, tạo củ thứ cấp, làm đen thịt củ hoặc
tim rỗng. Lượng mưa ảnh hưởng đến hàm lượng nước và sự nhạy cảm của cây trồng
đến các tổn thương cơ học và thối hỏng. Thời tiết khô hạn, rồi mưa có thể làm phát
sinh vết nứt hoặc sinh trưởng thứ cấp ở khoai tây. Nhiệt độ đất cao, thiếu độ ẩm tạm
thời của đất và thiếu hay dư thừa nitơ gây hàm lượng đường cao và tinh bột thấp ở
phần cuống củ ở khoai tây chế biến làm nâu thịt củ khi chế biến. Do thiếu nước gây
ra những thay đổi trong hoạt động hoặc các enzyme chuyển hóa cacbohidrat
chuyển từ chức năng tổng hợp tinh bột thành chức năng huy động tinh bột
(Thompson et al., 2008) [128].
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai tây trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới và Việt Nam
1.3.1.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới
Khoai tây được trồng rộng rãi ở 130 nước trên thế giới, từ 71 độ vĩ tuyến Bắc
đến 40 độ vĩ tuyến Nam. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới 5 năm gần đây
được trình bày ở bảng 1.1.
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới
giai đoạn 2013 - 2017
Năm

Diện tích
(triệu ha)

Năng suất
(tấn/ha)

Sản lượng
(triệu tấn)

2013

19,29

19,39

374,07

2014

18,88

20,14

380,26

2015

18,91

19,91

376,58

2016

19,08

19,62

374,25

2017

19,30

20,11

388,91

(Nguồn: FAO, 2019) [140]
Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy, diện tích khoai tây của thế giới trong những năm
gần đây tăng giảm không đáng kể, từ 19,29 triệu ha (năm 2013), đến 19,30 triệu ha
(năm 2016). Năng suất biến động từ 19,39 - 20,14 tấn/ha, đạt cao nhất năm 2014
(20,14 tấn/ha) và sản lượng khoai tây đạt cao nhất năm 2017 (388,91 triệu tấn).
Do điều kiện sinh thái, mức độ thâm canh và trình độ sản xuất khác nhau nên
năng suất khoai tây chênh lệch rất lớn. Tình hình sản xuất khoai tây ở các châu lục


21
năm 2016 được thống kê ở bảng 1.2.
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất khoai tây ở các châu lục năm 2017

Châu Á

Diện tích
(triệu ha)
10,21

Năng suất
(tấn/ha)
19,17

Sản lượng
(triệu tấn)
195,67

Châu Âu

5,37

22,69

121,76

Châu Mỹ

1,80

24,58

44,17

Châu Phi

1,89

13,22

25,01

Châu Đại dương

0,38

41,08

1,57

Châu lục

(Nguồn: FAO, 2019) [140]
Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy năm 2017, châu Á có diện tích khoai tây lớn nhất
thế giới (10,21 triệu ha), gần đây khoai tây ở vùng này có xu hướng phát triển
mạnh. Song năng suất khoai tây của châu Á còn thấp (năm 2017: 19,17 tấn/ha), thấp
hơn năng suất trung bình của thế giới và một số châu lục khác. Tuy nhiên do diện
tích trồng lớn nên sản lượng khoai tây của châu Á cao nhất thế giới (năm 2017 đạt
195,67 triệu tấn), chiếm 50,56% sản lượng khoai tây toàn thế giới. Khoai tây châu
Á được trồng tập trung ở các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn
Quốc, Mông Cổ...
Khoai tây là cây trồng quan trọng trong khẩu phần ăn và là nguồn dinh
dưỡng rất tốt cho nhiều người dân châu Âu. Vì thế khoai tây là cây trồng chính và
được trồng nhiều ở các nước như Ba Lan, Đức, Pháp, Hà Lan…Năm 2017 diện tích
trồng khoai tây của châu Âu là 5,37 triệu ha, chiếm 27,82% diện tích khoai tây toàn
thế giới, nhưng do năng suất cao (22,69 tấn/ha) nên sản lượng khoai tây của châu
Âu đạt cao nhất năm 2017 đạt 121,76 triệu tấn, chiếm 31,31% sản lượng khoai tây
thế giới.
Năm 2017, diện tích trồng khoai tây của châu Mỹ và châu Phi tương đương
nhau (1,80 - 1,85 triệu ha), nhưng năng suất khoai tây châu Mỹ cao (24,58 tấn/ha)
nên sản lượng đạt 44,17 triệu tấn. Trong khi đó năng suất khoai tây của châu Phi rất
thấp (13,22 tấn/ha) nên sản lượng chỉ đạt 24,01 triệu tấn, gần bằng 1/2 sản lượng
của châu Mỹ. Châu Đại dương có diện tích khoai tây thấp nhất (0,38 triệu ha), năng


22
suất khoai tây châu lục này lớn nhất (41,08 tấn/ha). Song do diện tích ít nên sản
lượng khoai tây của châu lục này thấp nhất thế giới (1,57 triệu tấn).
1.3.1.2. Tình hình sản xuất khoai tây của Việt Nam
Trước những năm 70 của thế kỷ XX, diện tích trồng khoai tây ở nước ta chỉ
khoảng 2.000 ha. Sau năm 1970, khoai tây mới được chính thức quan tâm và xem
như là một cây lương thực quan trọng (Trương Văn Hộ, 1992) [15]. Thời điểm Việt
Nam có tổng diện tích trồng khoai lớn nhất là năm 1979 với 104.700 ha, sau đó
giảm dần. Tình hình sản xuất khoai tây của Việt Nam 5 năm gần đây được thể hiện
ở bảng 1.3.
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của Việt Nam
giai đoạn 2013 - 2017
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(ha)

(tấn/ha)

(tấn)

2013

23.077

13,58

313.383

2014

22.823

14,09

321.700

2015

21.767

14,62

318.321

2016

21.173

14,27

302.229

2017

20.480

14,83

303.675

Năm

(Nguồn: FAOSTAT, 2019) [140]
Diện tích khoai tây của Việt Nam giảm dần trong 5 năm gần đây, từ
23,077 ha (năm 2013) đến năm 2017 chỉ còn 20,480 ha, giảm 2.597 ha.
Năng suất khoai tây Việt Nam còn thấp, năm 2017 là 14,83 tấn/ha, bằng
73,74% năng suất trung của thế giới và sản lượng đạt 303.675 tấn (FAOSTAT,
2019) [140].
Hiện nay ở nước ta, khoai tây được sản xuất nhiều ở các tỉnh như Thái Bình,
Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, và
Vĩnh Phúc. Khoai tây là cây trồng chủ lực được đưa vào cơ cấu giống cây trồng vụ
đông, các giống khoai tây được nông dân ưa chuộng và trồng phổ biến như: Solara,
Marabel, Diamond và VT2 phục vụ cho ăn tươi; Atlantic và Sinora phục vụ chế biến.


23
Sau vùng đồng bằng sông Hồng, Lâm Đồng là vùng sản xuất khoai tây quan
trọng thứ 2 của cả nước. Diện tích khoai tây của Lâm Đồng biến động từ 2.5003.000 ha/năm với năng suất khoai tây trung bình cao hơn 20 - 30% so với năng suất
khoai tây trung bình ở vùng đồng bằng sông Hồng. Các giống khoai tây được sản
xuất chủ yếu là giống Utatlan (07) và PO3 phục vụ ăn tươi; các giống Atlantic,
FL2215, FL2027 và FL2137 phục vụ chế biến (Phạm Xuân Tùng và cs., 2003,
2008) [43], [44].
Diện tích khoai tây vụ đông nước ta có tiềm năng phát triển lớn, mục tiêu
trong 5 năm tới (2018-2023), đưa diện tích ổn định khoảng xung quanh 30.000 ha, 5
năm tiếp theo đạt 35.000 - 40.000 ha; năng suất bình quân 18 - 20 tấn/ha, giá trị thu
nhập là 100 - 120 triệu đồng/ha/vụ (trong 3 tháng) với quan điểm phát triển bền vững
gắn với chế biến, tiêu thụ, sản xuất bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao chuỗi giá trị,
tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân (Cục Trồng trọt, 2017) [6].
Như vậy, diện tích và năng suất bình quân của Việt Nam như hiện nay là thấp
và không ổn định, chưa khai thác được tiềm năng to lớn của khoai tây, cây khoai tây
còn có thể đóng góp nhiều hơn nữa vào tổng thu nhập sản phẩm nông nghiệp của
nước ta. Nguyên nhân chính của hiện tượng trên là do việc sử dụng giống đã thoái
hóa, chất lượng củ giống thấp làm giảm năng suất, giảm hiệu quả sản xuất khoai
tây. Điều kiện khí hậu ở Việt Nam ít thuận lợi cho khoai tây sinh trưởng, phát triển:
Nhiệt độ cao, ngày ngắn và điều kiện khí hậu không thích hợp nên khoảng cách
giữa năng suất thực tế với tiềm năng năng suất là rất lớn (chỉ bằng 10%) và thời vụ
gieo trồng ngắn, chỉ trồng được 1 đến 2 vụ/năm (Caldiz, D. O., et al., 2001) [65].
Thời vụ gieo trồng ngắn không chỉ trồng được ít vụ mà năng suất cây trồng cũng
không cao (Hunt, 1993) [92]. Do điều kiện khí hậu không thuận lợi nên thời gian
sinh trưởng của các giống khoai tây nhập nội khi trồng ở Việt Nam thường bị rút
ngắn, chỉ khoảng 85 - 115 ngày (Nguyễn Văn Thắng và cs, 1996) [38]. Thời gian
sinh trưởng ngắn là yếu tố bất lợi, hạn chế nhiều đến năng suất và phẩm chất khoai
tây (Trương Văn Hộ và cs, 1990) [14].
1.3.1.4. Sản xuất khoai tây hàng hóa tại Việt Nam
Sản xuất khoai tây hàng hóa tại Việt Nam đang được quan tâm và có điều
kiện để phát triển. Hiện nay Việt Nam có nhiều giống khoai tây năng suất cao, sạch
bệnh vừa phục vụ chế biến và ăn tươi, nhiều mô hình sản xuất khoai tây hàng hóa
được xây dựng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.


24
Kết quả nghiên cứu của đề tài “Xây dựng mô hình nhân giống và sản xuất
khoai tây hàng hoá cho hiệu quả kinh tế cao đối với giống Sinora và Marabel” tại
huyện Nam Sách và Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương cho năng suất trung bình từ 18,5 - 19,9
tấn/ha (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, 2011) [150].
Tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, vụ đông năm 2018, huyện đẩy mạnh
liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cây khoai tây giúp người nông dân duy trì, phát
triển vụ đông bền vững. Việc hình thành mối liên kết “4 nhà” trong chuỗi sản xuất
nông nghiệp, tạo tiền đề cho việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung
và nâng cao hiệu quả của các hình thức sản xuất, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu cây trồng gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp hướng tới một nền nông nghiệp
hiện đại, bền vững (Báo Nam Định, 2018) [137].
Tại Vĩnh Phúc, mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân là mô
hình liên kết sản xuất cây khoai tây theo hướng hàng hóa. Doanh nghiệp đã liên kết
chặt chẽ với người nông dân, hỗ trợ máy móc phục vụ làm đất, tập huấn kỹ thuật
chăm sóc và thu mua toàn bộ sản phẩm. Phương thức liên kết sản xuất giữa doanh
nghiệp và nông dân đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Người nông dân được hỗ trợ
giống, vật tư và từng bước tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa lớn, giúp người nông
dân học hỏi được nhiều kinh nghiệm, kiến thức sản xuất mới và dần từ bỏ thói quen
sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và lạc hậu. Doanh nghiệp đã xây dựng được vùng
nguyên liệu, ổn định đầu vào của sản xuất, đảm bảo đầu ra cho nông dân (Báo Điện
tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014) [135].
Tại Hà Nội, việc liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân đã thành
công trong việc triển khai mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Mô
hình đã được xây dựng trên diện tích 100 ha tại huyện Sóc Sơn, Mỹ Đức và Ứng
Hòa trên giống khoai tây Marabel. Mô hình đã cho hiệu quả vượt trội, là động lực
cho người dân yên tâm phát triển sản xuất (Báo Kinh tế và Đô thị, 2018) [136].
Tại Thái Nguyên, nhiều đề tài, dự án đã được triển khai nhằm xây dựng mô
hình sản xuất khoai tây theo hướng hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Dự án “Xây dựng
mô hình sản xuất khoai tây theo hướng hàng hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
được thực hiện từ năm 2009 - 2010. Dự án được tiến hành trên hai giống Sinora và
Eben trong điều kiện vụ đông tại huyện Đại Từ và Định Hóa. Dự án đã xây dựng được
mô hình sản xuất khoai tây theo hướng hàng hóa tạo vùng nguyên liệu phục vụ chế


25
biến, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, nâng cao được hiệu quả kinh tế của cây khoai tây
trên một đơn vị diện tích (Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên, 2010) [142].
Dự án “xây dựng mô hình sản xuất khoai tây hàng hóa trên giống Atlantic và
Marabel tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên” (do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
làm chủ trì) đã được tiến hành từ năm 2010-2011 trên địa bàn 3 huyện Định Hóa,
Phổ Yên và Đại Từ. Đã xây dựng được vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ ăn tươi
và cho chế biến công nghiệp. Thông qua mô hình canh tác về khoai tây cho nông
dân tại các điểm triển khai dự án và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao nhận
thức của người dân về sản xuất khoai tây hàng hóa và thương mại hóa sản phẩm, tạo
điều kiện để nông dân làm quen dần với kinh tế thị trường về sản xuất khoai tây
theo hướng hàng hóa (Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên, 2011) [143].
1.3.2. Tình hình tiêu thụ khoai tây trên thế giới và Việt Nam
1.3.2.1. Tình hình tiêu thụ khoai tây trên thế giới
Sản lượng khoai tây tươi năm 2016 - 2017 của Trung Quốc đạt ở mức trên
100 triệu tấn, tăng khoảng 3% so với 97 triệu tấn trong năm 2015-2016 do sự mở
rộng diện tích khoai tây và các điều kiện thời tiết bình thường ở các khu vực sản
xuất chính, ở phía Bắc Trung Quốc. Tứ Xuyên, Cam Túc, Quý Châu, Vân Nam và
Nội Mông là những tỉnh sản xuất khoai tây lớn nhất ở Trung Quốc, chiếm khoảng
60% tổng sản lượng khoai tây tươi của Trung Quốc (Global Agricultural
Information Network, 2016) [83].
Tổng sản lượng tinh bột khoai tây của Trung Quốc trong giai đoạn 2016
-2017 đạt khoảng 600.000 tấn, tăng khoảng 9% so với 550.000 tấn vào năm 2015 2016, do sản lượng khoai tây tươi tăng và nhu cầu ngày càng tăng của ngành chế
biến thực phẩm. Sản lượng khoai tây chiên của Trung Quốc tiếp tục xu hướng tăng
trưởng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thị trường. Trong niên vụ 2016 -2017,
sản lượng khoai tây chiên thái lát và khoai tây chiên của Trung Quốc đạt 430.000 tấn
và 310.000 tấn, tương ứng tăng 9 và 13% so với các năm trước. Sản lượng khoai tây
chiên đông lạnh 2016 - 2017 đạt khoảng 230.000 tấn, tăng 9% so với 210.000 tấn
trong năm 2015 - 2016 (Global Agricultural Information Network, 2016) [83].


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×