Tải bản đầy đủ

NGHIÊN cứu BIẾN ĐỘNG DIỆN TÍCH đất NÔNG NGHIỆP tại TỈNH NAM ĐỊNH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA BẤT ĐỘNG SẢN & KINH TẾ TÀI NGUYÊN

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG DIỆN TÍCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI
TỈNH NAM ĐỊNH

Tên sinh viên

:

Phạm Thị Trang

Lớp chuyên ngành

:

Kinh tế Tài nguyên 56

Giảng viên hướng dẫn

:


Ts. Nguyễn Hữu Dũng

Hà Nội, 2017


MỤC LỤC

2


DANH MỤC BẢNG

3


DANH MỤC HÌNH

4


LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất đai là yếu tố đầu vào không thể thiếu đối với tất cả các ngành sản
xuất, đặc biệt là tư liệu sản xuất chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong bối
cảnh nền kinh tế nước ta đang vận động theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa
đã làm gia tăng nhu cầu về đất ở, đất xây dựng cơ sở hạ tầng, đất sản xuất kinh
doanh phi nông nghiệp... Do đặc tính giới hạn của đất đai dẫn tới xu hướng
chuyển đổi mục đích sử dụng đất diễn ra trên diện rộng. Diện tích đất nông
nghiệp ngày càng bị thu hẹp chuyển dần sang các mục đích phi nông nghiệp.
Các công trình nghiên cứu về biến động sử dụng đất còn rất hạn chế. Có
thể kể đến các Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử
dụng đất được tiến hành 5 năm một lần theo kỳ kế hoạch sử dụng đất của UBND
tỉnh. Tại tỉnh Nam Định những nghiên cứu có tính định lượng về biến động diện
tích đất, đặc biệt là biến động diện tích đất nông nghiệp nhằm phân tích được
nguyên nhân gây biến động còn chưa đầy đủ.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề án được nghiên cứu nhằm đánh giá biến động về diện tích đất nông
nghiệp tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2010-2015 gắn trong mối quan hệ với sự


phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng; từ
đó xác định, phân tích nguyên nhân gây biến động diện tích đất nông nghiệp. Kết
quả đánh giá sẽ là căn cứ để đề xuất những quan điểm, định hướng nhằm tối ưu
hóa tiềm năng đất nông nghiệp của tỉnh Nam Định; giúp chính quyền địa phương
có cái nhìn thấu đáo trong việc đề xuất bố trí, quy hoạch đất nông nghiệp, phát
triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả và bền vững trong giai đoạn tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2010 – 2015, bao gồm: đất trồng lúa; đất trồng cây
hàng năm; đất trồng cây lâu năm; đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản; đất
làm muối và đất nông nghiệp khác.
3.2
-

Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu: Tổng diện tích đất nông nghiệp tỉnh Nam Định

5


-

Về nội dung và thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu, phân tích số liệu diện
tích và biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2015.

4. Kết cấu nội dung đề án
Chương 1: Cơ sở lý luận, phương pháp luận nghiên cứu, đánh giá biến động diện
tích đất nông nghiệp tại tỉnh nam định giai đoạn 2010 - 2015
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và thực trạng sử dụng đất nông
nghiệp tại tỉnh nam định
Chương 3: Đánh giá biến động diện tích đất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định giai
đoạn 2010 – 2015

5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin
-

Thu thập số liệu thứ cấp
Là phương pháp khá phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong quá trình
nghiên cứu. Trong phương pháp này, thông qua các cơ quan quản lý chuyên
ngành, các cơ quan nghiên cứu và những cá nhân, đơn vị có liên quan như Tổng
cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Nam Định, Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định; Sở Nông nghiệp và phát triển nông
thôn tỉnh Nam Định… thu thập các loại bản đồ, ảnh vệ tinh, các số liệu thống kê
về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sử dụng đất, các báo cáo, các dự
án nhằm kế thừa các tư liệu đã có qua các năm trong kỳ nghiên cứu.
-

Phương pháp chuyên gia

Lấy các ý kiến của chuyên gia thông qua các cuộc trao đổi với các nhà
quản lý ở các cấp, các ngành của địa phương về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp,
các nguyên nhân dẫn đến việc thay đổi mục đích sử dụng đất, đặc biệt là biến
động diện tích đất nông nghiệp.
5.2
-

Phương pháp xử lý số liệu

Phương pháp phân tích, so sánh
Đây là phương pháp có tính khoa học cao, đã được áp dụng thiết thực vào
quá trình nghiên cứu các vấn đề về địa lý tự nhiên và kinh tế- xã hội của một địa
phương cụ thể. Phương pháp này thì sẽ tìm thấy mối quan hệ cũng như sự khác
biệt của các yếu tố tác động đến tài nguyên đất, những nguyên nhân làm biến đổi

6


mục đích sử dụng đất, bởi thế không thể có được kết luận đúng bản chất vấn đề
trong mối quan hệ tổng hợp.
-

Phương pháp thống kê

Dựa vào các số liệu thu thập được, thống kê tạo thành các bảng biểu, tính
toán các chỉ số về diện tích, cơ cấu các loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp so
với tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Nam Định qua các năm của kỳ nghiên
cứu.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
BIẾN ĐỘNG DIỆN TÍCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH
NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
1.1

Tổng quan tình hình nghiên cứu về biến động diện tích đất
1.1.1

Trên thế giới

Trên thế giới, trong thời gian đầu bằng kỹ thuật viễn thám và GIS các nhà
nghiên cứu đã phát hiện những thay đổi diện tích đất ở những khu vực nghiên
cứu cụ thể. Những nghiên cứu về biến động diện tích đất về sau càng chú ý hơn
đến việc phân tích những nguyên nhân, động lực thúc đẩy và ảnh hưởng đến biến
động diện tích và môi trường sinh thái.
Trước tiên phải đề cập đến dự án quốc tế về “Nghiên cứu biến động lớp
phủ mặt đất” (land cover change) được thực hiện và điều hành bởi nhiều trường
đại học và các viện nghiên cứu như Đại học Clark, Mỹ (1994-1996), Viện
Cartografic de Catalunya, Tây Ban Nha (1997-1999) và Trường Đại học Công
giáo Leuven, Bỉ (2000 - 2005). Mục tiêu của dự án là tăng cường sự hiểu biết về
những tác động của con người và động thái của biến động đất đai đến những thay
đổi về độ che phủ đất. Dự án cũng nghiên cứu phát triển các mô hình toàn cầu để
cải thiện năng lực dự đoán biến động sử dụng đất và lớp phủ ở những khu vực
nhạy cảm.
Đáng chú ý còn có công trình “Nghiên cứu về hiện tại, xu hướng và tương
lai của biến động sử dụng đất dưới tác động của chính sách” được thực hiện bởi
các tác giả thuộc Trung tâm thí nghiệm trọng điểm về sử dụng đất, Cục Điều tra
và Quy hoạch đất đai, Bộ Tài nguyên và Đất đai Trung Quốc. Nghiên cứu đã chỉ
ra rằng, không thể giữ được mục tiêu 0,12 tỷ ha đất canh tác trong tương lai nếu
sử dụng các phương thức phát triển kinh tế trong giai đoạn 1996 – 2008. Kết quả
nghiên cứu cũng khẳng định việc thực hiện pháp luật và các quy định về bảo tồn
đất canh tác ảnh hưởng đáng kể đến biến động sử dụng đất (Wang et al., 2012).
1.1.2

Tại Việt Nam

Năm 2003, tác giả Muller thuộc chương trình Hỗ trợ Sinh thái Nhiệt đới
của Tổ chức Phát triển Cộng hòa Liên bang Đức đã nghiên cứu nhằm đánh giá
ảnh hưởng của các yếu tố địa vật lý, sinh thái nông nghiệp và kinh tế xã hội biến
động sử dụng đất từ năm 1975 đến năm 2000 tại hai huyện của tỉnh Đắc Lắc. Kết
quả nghiên cứu cho thấy nguyên nhân biến động đất đai ở khu vực Tây Nguyên
8


giai đoạn đầu từ 1975 đến 1992 được đặc trưng bởi sự mở rộng đất nông nghiệp
và chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp. Trong giai đoạn thứ hai, từ 1992
đến 2000, sự đầu tư vào nguồn lao động và vốn, cải thiện về công nghệ, giao
thông nông thôn, thị trường và hệ thống thủy lợi đã thúc đẩy phát triển nông
nghiệp. Độ che phủ rừng trong giai đoạn thứ hai tăng mà chủ yếu là do sự tái
sinh của các khu vực canh tác nương rẫy trước đây.
Luận án tiến sĩ địa lý - Học viện Khoa học và Công nghệ của Phạm Vũ
Chung (2017) với đề tài“Nghiên cứu, đánh giá biến động sử dụng đất trong bối
cảnh biến đổi khí hậu tại tỉnh Hà Tĩnh” đã phân tích, đánh giá được thực trạng,
nguyên nhân gây biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2015 tại
tỉnh Hà Tĩnh đồng thời đề xuất các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý,
đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội bền vững trong bối cảnh biến đổi khí
hậu tại Hà Tĩnh.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền trong luận án Tiến sĩ năm 2015 (chuyên
ngành Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam)“Nghiên cứu biến động
và đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng
Ninh” đã đánh giá biến động sử dụng đất và xác định ảnh hưởng của các yếu tố
tự nhiên, xã hội đến biến động sử dụng đất huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh.
Cùng với đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm quản lý sử dụng đất hợp lý
trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.
1.1.3

Các công trình nghiên cứu về tỉnh Nam Định

Các công trình nghiên cứu về biến động sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Nam
Định còn rất hạn chế. Có thể kể đến các Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai và xây
dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất được tiến hành 5 năm một lần theo kỳ kế
hoạch sử dụng đất của Ủy ban nhân dân tỉnh. Một số nghiên cứu về tỉnh Nam
Định có liên quan như:
Tác giả Phạm Thị Phin đã “Nghiên cứu sử dụng bền vững đất nông nghiệp
huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định” (Luận án tiến sĩ nông nghiệp chuyên ngành
quy hoạch và sử dụng đất nông nghiệp năm 2012, Học viện Nông nghiệp Việt
Nam). Nghiên cứu đã góp phần làm rõ đặc tính và tính chất đất đai ở huyện
Nghĩa Hưng, bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận khoa học cho việc sử dụng đất
nông nghiệp bền vững khu vực ven biển. Trên cơ sở luận cứ khoa học đã xây
dựng, đề xuất được các loại hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững cho huyện
Nghĩa Hưng,

9


Luận án tiến sỹ - Học viện Nông nghiệp Việt Nam của tác giả Trần Thị
Giang Hương (2015) với đề tài“Thực trạng quản lý sử dụng đất tỉnh Nam Định
trong điều kiện biến đổi khí hậu” đã xác định được một số ảnh hưởng chính do
biến đổi khí hậu đến sử dụng đất tỉnh Nam Định. Qua đó đánh giá và lựa chọn
được các mô hình sử dụng đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp theo mức độ
sử dụng đất thích ứng với biến đổi khí hậu; xây dựng được cơ sở dữ liệu về khu
vực đất có nguy cơ ngập và mặn hóa trên địa bàn tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất
sử dụng đất có tính đến tác động của biến đổi khí hậu.
Trên địa bàn huyện Giao Thủy – tỉnh Nam Định tác giả Lê Thị Thu Hà với
“Nghiên cứu biến động sử dụng đất trong mối quan hệ với một số yếu tố nhân
khẩu học thuộc khu vực huyện Giao Thủy, Tỉnh Nam Định” đã chỉ ra mối tương
quan giữa các yếu tố nhân khẩu học và nhu cầu về các loại đất.
Như vậy, có thể thấy tại các khu vực khác nhau, dưới tác động của các
điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khác nhau thì nguyên nhân và ảnh hưởng của
biến động diện tích đất đều có những khác biệt nhất định. Ở Việt Nam, những
nghiên cứu về biến động diện tích đất hầu hết là các nghiên cứu ứng dụng tư liệu
viễn thám và GIS xác định biến động theo thời gian và không gian. Còn những
nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế nhằm xác định nguyên nhân cũng như ảnh
hưởng của biến động diện tích đất trong giai đoạn nhất định còn rất hạn chế.
1.2

Cơ sở lý luận đánh giá biến động diện tích đất nông nghiệp
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1

Đất

V.V.Dokuchaev(1846 – 1903), nhà khoa học người Nga cho rằng: “Đất
như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng, là thực thể
với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trong nó. Đất được coi là khác
biệt với đá. Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một loạt các yếu tố tạo thành
đất như khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi”.
Theo FAO: “Đất đai là một vùng đất xác định về mặt địa lý, là một thuộc
tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của
sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: không khí, đất, điều kiện
địa chất, thủy văn, thực vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở
chừng mực mà những thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng
đất đó của con người hiện tại và trong tương lai”.
Viện Nghiên cứu phổ biến trí thức Bách Khoa, 1998 “Đất đai có vị trí cố
định, tính chất hữu hạn về diện tích, tính năng bền lâu, chất lượng khác nhau”.
Nói cách khác, đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và các thuộc tính
10


tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa
hình, địa mạo, địa chất, thủy văn, động vật, thực vật và hoạt động sản xuất của
con người.
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên đặc
biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo
pháp luật”.
Nông nghiệp sản xuất chủ yếu dựa trên đất đai và hầu hết sản phẩm nông
nghiệp đều hình thành từ đất đai nên đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong
nông nghiệp.
1.2.1.2

Biến động diện tích đất

Được hiểu là xem xét quá trình thay đổi của diện tích đất thông qua thông
tin thu thập được theo thời gian để tìm ra quy luật và những nguyên nhân thay
đổi từ đó có biện pháp sử dụng đúng đắn với nguồn tài nguyên này
1.2.1.3

Đất nông nghiệp

Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục
đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao
gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm
muối và đất nông nghiệp khác.
Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất nông nghiệp gồm:
Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất
nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.
Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất khoanh nuôi
phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng
bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để
trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng). Theo loại
rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc
dụng.
Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng
thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước
ngọt.
Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối.
11


Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn
ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng
trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và
các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại
nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây
dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia
đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công
cụ sản xuất nông nghiệp.
1.2.2

Những đặc trưng của biến động diện tích đất

Từ trước đến nay chưa có khái niệm chính xác về đánh giá biến động.
Nhưng đánh giá biến động có thể được hiểu là việc theo dõi, giám sát và quản lý
đối tượng nghiên cứu để từ đó thấy được sự thay đổi về đặc điểm, tính chất của
đối tượng nghiên cứu, sự thay đổi có thể định lượng được.
Biến động diện tích đất có các đặc trưng cơ bản:
-

Quy mô biến động:

Biến động về diện tích sử dụng đất đai nói chung.
Biến động về diện tích của từng loại hình sử dụng đất.
-

Mức độ biến động:

Mức độ biến động thể hiện qua số lượng diện tích tăng hoặc giảm của các loại
hình sử dụng đất giữa đầu thời kỳ và cuối thời kỳ nghiên cứu. Mức độ biến động
được xác định thông qua việc xác định diện tích tăng, giảm và số phần trăm tăng
giảm của từng loại hình sử dụng đất giữ cuối và đầu thời kỳ nghiên cứu.
-

Xu hướng biến động:

Xu hướng biến động thể hiện theo hướng tăng hoặc giảm của các loại hình sử
dụng đất.
Xu hướng biến động theo hướng có lợi hay không có lợi cho việc sử dụng.
1.2.3

Những nhân tố ảnh hưởng đến biến động diện tích đất

Đất đai vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính lịch sử luôn tham gia vào
các mối quan hệ xã hội. Do vậy, quá trình sử dụng đất bao gồm phạm vi, cơ cấu
và phương thức sử dụng đất... luôn chịu sự chi phối của các điều kiện tự nhiên,
trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng
đất bao gồm:
12


-

Nhân tố tự nhiên:

Các yếu tố tự nhiên như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm không khí,
địa hình, nguồn nước... luôn chi phối sự biến động diện tích đất. Do vậy, khi sử
dụng đất ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự
nhiên, quy luật sinh thái của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất.
Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu là nhân tố hạn chế hàng đầu của việc sử
dụng đất đai, sau đó đến điều kiện đất đai (chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng) và
các nhân tố khác.
-

Nhân tố kinh tế - xã hội:

Các yếu tố kinh tế - xã hội có tác động lớn đến sự thay đổi diện tích các
loại hình sử dụng đất đai bao gồm các yếu tố sau:
 Sự phát triển các ngành kinh tế như: Dịch vụ, xây dựng, giao thông và các
ngành kinh tế khác.
 Gia tăng dân số.
 Các dự án đầu tư phát triển kinh tế.
 Thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa.
-

Nhân tố không gian:

Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất hay phi vật chất đều cần đến
đất đai như điều kiện không gian (bao gồm cả vị trí và mặt bằng) để hoạt động.
Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban
phát cho con người. Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn
chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất.

13


CHƯƠNG 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KT-XH VÀ THỰC TRẠNG SỬ
DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
2.1

Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội tỉnh Nam Định
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1

Vị trí địa lý

Nam Định thuộc phía Nam vùng đồng bằng sông Hồng, nằm ở tọa độ
19 54’ đến 20°40’ vĩ độ Bắc và từ 105°55’ đến 106°45’ kinh độ Đông;
°

Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam;
Phía Đông giáp tỉnh Thái Bình với ranh giới là sông Hồng;
Phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình lấy sông Đáy làm ranh giới;
Phía Nam giáp biển Đông;

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Nam Định

14


2.1.1.2

Địa hình

Địa hình tỉnh Nam Định chủ yếu là đồng bằng với độ chênh cao thấp từ
khoảng 0,8-2,5 (m) so với mực nước biển, hướng dốc dần về phía Nam, Đông
Nam;
Tỉnh Nam Định tồn tại hai dạng địa hình khá khác biệt là vùng đồng bằng
thấp trũng và vùng ven biển:
Vùng đồng bằng thấp trũng gồm 06 huyện: Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực,
Trực Ninh, Xuân Trường và thành phố Nam Định với địa hình khá bằng phẳng.
Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chỗ cao nhất từ đỉnh núi Gôi
cao 122m, chỗ thấp nhất -3m (so với mặt biển) ở vùng đồng bằng trũng huyện Ý
Yên, Vụ Bản. Đây là vùng có nhiều khả năng thâm canh phát triển nông nghiệp,
công nghiệp và các ngành nghề truyền thống.
Vùng ven biển có bờ biển có dạng hình cung lõm và chia cắt bởi các cửa sông Ba
Lạt, Hà Lạn, Ninh Cơ, Cửa Đáy dài 72 km gồm 03 huyện Giao Thủy, Hải Hậu và
Nghĩa Hưng, địa hình khá bằng phẳng. Do sự bồi lắng phù sa ở các vùng cửa
sông ven biển và chế độ hải văn đã hình thành các vùng cồn bãi không đồng
nhất. Đây là vùng thâm canh lúa và phát triển mạnh nuôi trồng thủy hải sản.
2.1.1.3

Khí hậu

Nhiệt độ: trung bình năm khoảng 23°- 24°C. Mùa đông nhiệt độ trung bình
là 18,9°C, tháng lạnh nhất là vào tháng 1 và tháng 2. Mùa hạ, có nhiệt độ trung
bình là 27°C, tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình là 29,4 °C (nhiệt
độ nóng nhất có thể lên tới hơn 40°C);
Độ ẩm: trung bình trên các tháng đều vượt trên 80%. Độ ẩm không khí
trung bình tháng nhiều năm tại Nam Định vào khoảng 82- 90%. Độ ẩm giữa các
tháng biến đổi rất ít.
Mưa: Tổng lượng mưa bình quân nhiều năm ở Nam Định vào khoảng
1.600mm – 1.800mm. Trong đó mùa hè lượng mưa tương đối dồi dào và tập
trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 70% lượng mưa cả năm;
Gió, bão: Nam Định là một tỉnh ven biển, hàng năm luôn phải chịu ảnh
hưởng lớn của bão. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Khí tượng-Thủy văn,
trung bình mỗi năm ở đây có 2 cơn bão đổ bộ vào và thường xuất hiện từ tháng 5
đến tháng 11, nhiều nhất vào tháng 6 đến tháng 9 gây thiệt hại về người và của
cho các huyện ven biển.
15


2.1.1.4

Đặc điểm thổ nhưỡng

Nguồn gốc từ đất Nam Định chủ yếu là đất phù sa của lưu vực sông Hồng,
kể cả diện tích mới bồi lắng ven biển. Nhóm đất có diện tích lớn nhất là nhóm đất
phù sa trẻ, tiếp đến là nhóm đất mặn, đất cát, đất phèn,...
Theo Tổng cục Quản lý đất đai (2015), đất Nam Định gồm 5 nhóm:
Nhóm đất phù sa: phân bố ở tất cả các huyện trong tỉnh, đây là nhóm đất có diện
tích lớn nhất trong các nhóm đất của tỉnh Nam Định;
Nhóm đất mặn: phân bố ở vùng ven biển, cửa sông xen kẽ với đất phèn vào sâu
trong đất liền từ 25 - 30 km thuộc các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng;
Nhóm đất phèn: phân bố ở hầu hết tất cả các huyện, thành phố, riêng huyện
Nghĩa Hưng không có diện tích nhóm đất này;
Nhóm đất bãi cát, cồn cát và đất cát: phân bố vùng cồn cát, bãi cát thuộc ven biển
các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Nam Trực, Xuân Trường;
Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: phân bố tập trung ở huyện Vụ Bản và Ý Yên.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1

Dân số và lao động

Năm 2015 dân số của tỉnh khoảng 1.845.568 người (bằng 2,09% dân số cả
nước), đứng thứ 3 so với các tỉnh, thành thuộc Đồng bằng sông Hồng; mặc dù tốc
độ gia tăng dân số đã giảm dần nhưng vẫn duy trì ở mức cao khoảng 1,9%/năm
(giai đoạn 2010 -2015). Đây vừa là tiềm năng về nguồn lao động dồi dào, là thị
trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhưng cũng tạo ra sức ép lớn về việc làm và các vấn
đề xã hội. Cơ cấu dân số Nam Định thuộc loại trẻ: nhóm 0-14 tuổi chiếm
22,88%, nhóm 15-59 tuổi chiếm khoảng 64,16%. Dân số nữ chiếm 51,0% tổng
dân số toàn tỉnh, cao hơn so với tỷ lệ tương ứng của cả nước (50,0%). Số người
sống ở vùng nông thôn chiếm 81,7% dân số.
Bảng 2.1 Dân số của tỉnh Nam Định giai đoạn 2010-2015
Đơn vị: Nghìn người
2010
1.830,0
2.1.2.2

2012
1.835,1

2013
2014
2015
1.839,9
1.845,6
1.850,6
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2015

Kinh tế
16


Do chỉ cách thủ đô Hà Nội 60 km về phía Nam theo quốc lộ 1 và quốc lộ
21, cách cảng Hải Phòng 100 km nên Nam Định có cơ hội mở rộng thị trường
tiêu thụ, nhất là các mặt hàng nông sản thực phẩm. Đường sắt xuyên Việt đi qua
tỉnh dài 41,2 km với 6 ga, rất thuận lợi cho việc vận chuyển hành khách và hàng
hoá. Đường cao tốc bắc nam, Quốc lộ 10, quốc lộ 21, quốc lộ 37 b, quốc lộ 38 b
qua tỉnh đã và đang tiếp tục được đầu tư, cải tạo nâng cấp. Hệ thống sông Hồng,
sông Đào, sông Đáy, sông Ninh Cơ chảy qua địa phận tỉnh với chiều dài trên 251
km, cùng với hệ thống cảng sông Nam Định và cảng biển Thịnh Long thuận tiện
cho việc phát triển vận tải thuỷ; Bên cạnh đó, với 72 km đường bờ biển, tỉnh
Nam Định có điều kiện thuận lợi cho khai thác, nuôi trồng thuỷ, hải sản và phát
triển dịch vụ du lịch như khu du lịch Thịnh Long (huyện Hải Hậu) và khu du lịch
Quất Lâm (huyện Giao Thuỷ). Khu bảo tồn thiên nhiên Vườn Quốc gia Xuân
Thuỷ (huyện Giao Thuỷ) nằm ở vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng Nam
Sông Hồng đã được tổ chức UNESCO công nhận;
Thành phố Nam Định là đô thị loại I của tỉnh, cũng là trung tâm văn hóa,
chính trị, kinh tế của tỉnh, gồm 9 huyện, bao gồm 20 phường, 15 thị trấn và 194
xã với tổng diện tích 1.653 km2-chiếm khoảng 0,5% diện tích tự nhiên toàn quốc
(theo số liệu thống kê 2015).
-

Kinh tế của tỉnh phát triển khá nhanh chóng, quy mô nền kinh tế được nâng lên.
Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 1994) bình quân đạt 12,5%/năm, cao hơn
mức bình quân thời kì 2006-2010; thu ngân sách từ kinh tế địa phương năm 2015
đạt trên 3.000 tỷ đồng; vốn đầu tư toàn xã hội gấp 2,7 lần.

-

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá; một số sản phẩm công nghiệp đã tạo dựng
được thương hiệu và uy tín trên thị trường. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình
quân 22,3%/năm. Các ngành sản xuất chủ yếu tăng trưởng khá. Toàn tỉnh hiện có
3 khu công nghiệp đang hoạt động. Tổng diện tích đất quy hoạch 590 ha, tỷ lệ lấp
đầy 74%; giá trị sản xuất chiếm gần 17% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.

-

Nông nghiệp phát tiển ổn định, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển chung
của tỉnh. Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân tăng 3,2%/năm. Sản lượng
lương thực bình quân trên 1ha canh tác đạt 950,9 nghìn tấn. Giá trị sản xuất bình
quân trên 1 ha canh tác đạt 100 triệu đồng năm 2015. Bước đầu hình thành các
vùng sản xuất chuyên canh tập trung theo mô hình”cánh đồng mẫu lớn”. Chăn
nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại quy mô vừa và nhỏ, đảm
bảo an toàn dịch bệnh. Giá trị sản xuất tăng bình quân 7,3%/năm.

17


Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu kinh tế (2011-2015)
Chỉ tiêu

Đơn vị

Chỉ tiêu

Kết quả
thực hiện

Triệu
đồng

39-40

39

%
%
%

26,0
39,5
34,5

24,0
41,0
35

%

3,0-4,0

3,2

85-90

100

920-950

950,9

140-145

161,1

100-110

121,7

%

22-23

22,3

%
Triệu
ÚD
Tỷ
đồng

12-13

12,5

400-420

1.000

I. Các chỉ tiêu đạt và vượt
1. GRDP bình quân/người (giá hiện hành)
2. Cơ cấu kinh tế 2015
- Nông, lâm, thủy sản
- Công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ
3. Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm,
thủy sản bình quân
4. Giá trị sản phẩm trên 1ha canh tác đến
năm 2015
5. Sản lượng lương thực bình quân
6. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm
2015
7. Sản lượng thủy sản năm 2015
8. Tốc độ tăng GTSX công nghiệp bình
quân
9. Tốc độ tăng giá trị dịch vụ bình quân
10. Tổng giá trị hàng xuất khẩu năm 2015

Triệu
đồng
Nghìn
tấn
Nghìn
tấn
Nghìn
tấn

11. Thu ngân sách từ kinh tế địa phương
2.200-2.300
3.000
năm 2015
12. Tốc đố tăng tổng vốn đầu tư toàn xã
%
15-17
18,5
hội
13. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015
%
3,0
2,5
14. Giảm tỷ suất sinh hàng năm
%
0,15-0,2
0,2
15. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2015
%
60
60
II. Các chỉ tiêu không đạt
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm GRDP bình
%
13-14
12,5
quân
Nguồn: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XIX
nhiệm kỳ 2015-2020

Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự
nhiên, kinh tế- xã hội đối với phát triển nông nghiệp của tỉnh

2.1.3

2.1.3.1
-

Thuận lợi

Đất đai đa dạng, thích hợp cho nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát
triển;
18


-

Quỹ đất chưa sử dụng có khả năng phát triển cho lâm nghiệp;

-

Lực lượng lao động dồi dào, tay nghề chuyên môn ngày càng tăng cao,
đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên sâu tạo điều kiện thuận lợi để bắt kịp
xu thế và chuyển giao công nghệ, áp dụng vào sản xuất;

-

Nông nghiệp và thủy sản đang được định hướng phát triển toàn diện, có
thế mạnh tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu;

-

Nhiều chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, đô thị hóa nông
nghiệp nông thôn được áp dụng giúp quy mô sản xuất từng bước chuyển
từ nhỏ lẻ manh mún sang sản xuất tập trung, quy mô lớn.

2.1.3.2

2.2

Khó khăn

-

Nam Định không nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, do đó chưa thu hút
đầu tư, nhất là nguồn vốn FDI.

-

Thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định, thu nhập bấp bênh;

-

Sức cạnh tranh hàng hóa thấp, nông sản xuất khẩu phần lớn ở dạng sơ chế
hoặc xuất khẩu thô; chất lượng sản phẩm nông sản chưa cao hiệu quả kinh
tế thấp.

-

Chưa hình thành được các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn.
Ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ, khó áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.

-

Là tỉnh ven biển nên khả năng chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu
đến sản xuất nông nghiệp như nước biển dâng gây ngập úng, phèn hóa,
mặn hóa đất nông nghiệp;

-

Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao để nâng cao năng
suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực còn hạn
chế; nông sản xuất khẩu phần lớn ở dạng sơ chế hoặc xuất khẩu thô; hiệu
quả kinh tế thấp.

-

Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tuy đã được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhất là giao thông
vùng nông thôn gây khó khăn cho việc vận chuyển các sản phẩm nông
sản.

Hiện trạng diện tích đất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định năm
2015
19


2.2.1

Hiện trạng diện tích đất năm 2015

Theo số liệu Báo cáo hiện trạng sử dụng đất năm 2015 của Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Nam Định, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 166.853,93 ha,
trong đó có 163.692,85 ha đất đã được sử dụng vào các mục đích khác nhau
chiếm hơn 98% diện tích tự nhiên. Diện tích đất tự nhiên được phân bố trên địa
bàn 9 huyện và 1 thành phố. Đơn vị có diện tích lớn nhất là huyện Nghĩa Hưng
25.888,80 ha, chiếm 15,51% diện tích tự nhiên và đơn vị có diện tích nhỏ nhất là
TP Nam Định 4.641,40 ha, chiếm 2,78% diện tích tự nhiên.
Cơ cấu sử dụng đất phân bổ như sau:
-

Đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp: 113.001,88 ha, chiếm 67,73%
diện tích tự nhiên.
Đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp: 50.690,97 ha, chiếm 30,38%
diện tích tự nhiên.
Đất chưa sử dụng: 3.161,08 ha, chiếm 1,89% diện tích tự nhiên

Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu diện tích đất năm 2015 tỉnh Nam Định

20


2.2.2

Hiện trạng diện tích đất nông nghiệp năm 2015

Bảng 2.3 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2015 tỉnh Nam Định

STT

Tổng diện tích
(ha)

Chỉ tiêu sử dụng đất

Cơ cấu (%)

Tổng diện tích đất tự nhiên

166.853,93

100,00

1

Đất nông nghiệp

113.001,88

67,73

1.1

Đất trồng lúa
Trong đó: Đất chuyên trồng
lúa nước
Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
Đất rừng sản xuất
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối

76.306,64

45,73

73.876,83

44,28

6.603,05
8.454,84
1.896,82
1.053,61
556,67
17.413,67
716,58

3,96
5,07
1,14
0,63
0,33
10,44
0,43

1.2
1.3
1.4
1.5
1.6
1.7
1.8

Nguồn: Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai tỉnh Nam Định năm 2015

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, bình quân diện tích đất nông nghiệp
theo nhân khẩu tự nhiên của tỉnh năm 2015 vào loại thấp 612 m 2/khẩu, bằng 42%
mức bình quân cả nước (2.920 m2/khẩu). Bình quân diện tích đất nông nghiệp
theo khẩu nông nghiệp là 635 m2/khẩu, bằng 40% mức bình quân cả nước (1.580
m2/khẩu)

21


Bảng 2.4 Đất nông nghiệp theo đơn vị hành chính năm 2015 tỉnh Nam Định (ha)
STT

Chỉ tiêu sử dụng đất

TP Nam
Định

Mỹ Lộc

Vụ Bản

Ý Yên

Nghĩa
Hưng

Nam Trực

Trực Ninh

Xuân
Trường

Giao Thủy

Hải Hậu

Tổng diện tích đất tự
nhiên

4.641,40

7.448,86

15.280,70

24.610,72

25.888,80

16.388,94

14.395,40

11.609,43

23.775,63

22.814,05

1

Đất nông nghiệp

1.588,96

5.065,11

10.820,86

17.427,56

16.860,75

11.582,22

9.811,72

7.594,26

16.615,66

15.634,78

1.1

Đất trồng lúa

962,01

3.115,96

8.926,49

14.030,05

10.082,36

8.411,60

7.647,35

5.756,66

7.498,57

9.875,59

1.2

Đất trồng cây hàng năm
khác

183,60

470,63

590,57

787,14

572,28

1.803,70

279,48

417,06

223,58

1.275,01

1.3

Đất trồng cây lâu năm

171,44

486,89

481,04

908,39

1.085,18

606,65

794,35

653,12

1.458,91

1.808,87

1.4

Đất rừng phòng hộ

45,98

25,29

1.076,14

722,91

26,50

1.5

Đất rừng đặc dụng

1.6

Đất rừng sản xuất

1.7

Đất nuôi trồng thủy sản

1.8

Đất làm muối

1.053,61

258,16

975,11

639,45

1.540,68

3.907,29
50,97

752,74

1.066,00

739,03

5.116,01

2.419,20

451,89

213,72

Nguồn: Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai tỉnh Nam Định năm 2015

22


Từ bảng 2.3 và bảng 2.4, có thể đưa ra nhận xét về diện tích đất nông
nghiệp theo từng mục đích sử dụng đất như sau:
2.2.2.1

Đất trồng lúa:

Từ bảng 2.3, ta thấy hiện có 76.306,64 ha, chiếm 45,73 % diện tích tự
nhiên và bằng 67,53 % diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất trồng lúa cao gấp
2,95 lần so với bình quân cả nước (15,21%), trong đó:
-

Đất chuyên trồng lúa nước: 73.876,83 ha chiếm 65,38 % đất nông nghiệp,
phân bố ở tất cả các huyện;

-

Đất trồng lúa nước còn lại: 2.429,81 ha bằng 3,18 % diện tích đất trồng
lúa, chủ yếu là đất 1 vụ lúa, 1 vụ lúa 1 vụ mầu.

Các huyện có diện tích đất sử dụng cho mục đích trồng lúa chủ yếu như:
Ý Yên, Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Vụ Bản với diện tích vào khoảng từ 9.000 đến
trên 10.000 ha.
Bảng 2.5 Diện tích các vùng sản xuất lúa của tỉnh năm 2015
Đơn vị: ha
Hạng mục

Lúa năng
Lúa chất
Lúa đặc
Tổng số
suất cao
lượng cao
sản
Toàn tỉnh
35.000
38.000
4.000
77.000
1. Tp Nam Định
440
300
740
2. Mỹ Lộc
1.700
1.550
3.250
3. Vụ Bản
4.300
4.450
8.750
4. Ý Yên
6.200
8.000
14.200
5. Nghĩa Hưng
4.340
5.050
700
10.090
6. Nam Trực
4.360
3.800
500
8.660
7. Trực Ninh
3.850
2.900
700
7.450
8. Xuân Trường
2.460
2.750
500
5.710
9. Giao Thủy
3.220
4.000
500
7.720
10. Hải Hậu
4.130
5.200
1.100
10.430
Nguồn: Báo cáo điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai tỉnh
Nam Định đến năm 2020
Tình trạng thâm canh cao, sử dụng quá nhiều phân hóa học dẫn đến diện
tích đất nông nghiệp dùng cho trồng trọt đang thu hẹp và có xu thế bị xói mòn,
mất cân đối về dinh dưỡng đất. Ngoài ra, do nhiễm mặn gia tăng, nhất là các
vùng ven biển nên diện tích đất canh tác, đặc biết là diện tích đất trồng lúa cũng
bị thu hẹp đáng kể.
23


2.2.2.2

Đất trồng cây lâu năm:

Diện tích 8.454,84 ha, chiếm 5,07 % diện tích tự nhiên bằng 7,48 % đất
nông nghiệp, phân bố đều ở các xã, thị trấn trong tỉnh. Các huyện có diện tích đất
trồng cây lâu năm lớn là Hải Hậu (1.808,87 ha), Giao Thủy (1.458,91 ha), Nghĩa
Hưng (1.085,18 ha).
Trong những năm gần đây một phần diện tích đất trồng cây lâu năm đang
được cải tạo thành các vườn cây ăn quả, cây cảnh và trồng rau màu. Ngoài ra,
một phần làm quỹ đất dãn cư khi có nhu cầu.
2.2.2.3

Đất lâm nghiệp:

Đất lâm nghiệp có rừng 2.950,43 ha, chiếm 1,77 % diện tích đất tự nhiên
và bằng 2,61% diện tích đất nông nghiệp, thấp hơn rất nhiều so với cả nước
(47,88%)
Đất rừng phòng hộ: có diện tích là 1.896,82 ha thuộc các huyện Vụ Bản
(45,98 ha); Ý Yên (25,29 ha); Nghĩa Hưng (1.076,14 ha); Giao Thuỷ (722,91 ha)
và Hải Hậu (26,50 ha). Rừng phòng hộ ven biển Nam Định có nét đặc trưng gồm
rừng ngập mặn trên đất phù sa lầy sụt và rừng phi lao trên các cồn cát, dải cát ven
đê biển, phân bố trên đất bãi triều thuộc các huyện Nghĩa Hưng, Giao Thủy và
Hải Hậu.
Đất rừng đặc dụng: diện tích là 1.053,61 ha chủ yếu ở huyện Giao Thuỷ.
2.2.2.4

Đất làm muối:

Toàn tỉnh có 716,58 ha đất làm muối chiếm 0,63 % diện tích đất nông
nghiệp. Trong đó có 9.524 hộ gia đình và cá nhân sử dụng 699,18 ha, có 13 đơn
vị của cơ quan nhà nước sử dụng 17,40 ha.
Đất làm muối chỉ phân bố ở 3 huyện giáp biển là: Hải Hậu 213,72 ha,
Nghĩa Hưng 50,97 ha và Giao Thủy 451,89 ha.
2.2.2.5

Đất nuôi trồng thủy sản:

Đất nuôi trồng thủy sản có 17.413,67 ha, chiếm 10,44 % diện tích tự nhiên
và bằng 15,41% diện tích đất nông nghiệp;
Hiện có 239.643 chủ sử dụng đất trong đó:
-

Hộ gia đình cá nhân (239.004hộ) sử dụng 9.600,18 ha;

-

216 cơ quan đơn vị Nhà nước sử dụng 6.759,01 ha;
24


-

37 tổ chức kinh tế sử dụng 846,04 ha; tổ chức khác sử dụng 0,09 ha;

-

82 tổ chức cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo sử dụng 39,79 ha;

-

Tổ chức sự nghiệp công lập 8,14 ha;

-

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng 2,88 ha.

2.2.2.6

Đất nông nghiệp khác:

Toàn tỉnh có 556,67 ha đất nông nghiệp khác chiếm 0,49 % diện tích đất
nông nghiệp. Trong đó:
-

604 hộ gia đình và cá nhân sử dụng 238,65 ha;

-

23 tổ chức kinh tế sử dụng 131,58 ha;

-

Cơ quan đơn vị Nhà nước sử dụng 181,65 ha;

-

Tổ chức sự nghiệp công lập 0,89 ha;

-

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng 3,90 ha.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×