Tải bản đầy đủ

Quản lý dạy học ở trường tiểu học thị xã phúc yên tỉnh vĩnh phúc theo yêu cầu trường chuẩn quốc gia

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-------------------------

LÊ MINH ĐỨC

QUẢN LÝ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ
XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC THEO YÊU
CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-------------------------

LÊ MINH ĐỨC


QUẢN LÝ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ
XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC THEO YÊU
CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ GIÁO DỤC.
MÃ SỐ
: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:
TS: MAI CÔNG KHANH

THÁI NGUYÊN - 2014


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quản lý là vấn đề được đặc biệt quan tâm; từ thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm,
tìm hiểu quy luật vận động và nguyên tắc hoạt động của nó để quản lý hiệu quả. Quản
lý luôn được xem là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội nói
chung và của tổ chức nói riêng. Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực
tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng
đều cần đến một sự chỉ đạo…”. GD&ĐT cũng như các lĩnh vực hoạt động khác.
Quản lý giáo dục là một yếu tố, là điều kiện cơ bản để đảm bảo hoạt động GD&ĐT
đạt được mục đích đã hoạch định. Tức là muốn phát huy được hiệu quả GD&ĐT, cần
phải được quản lý, được điều khiển từ Trung ương đến địa phương. Lĩnh vực hoạt
động quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục nói chung. Muốn
duy trì, phát triển và nâng cao chất lượng GD&ĐT của nhà trường là khâu then chốt,
cơ bản có tính quyết định là phải nâng cao chất lượng quản lý của Hiệu trưởng đối với
hoạt động dạy học trong đội ngũ giáo viên.
Đất nước ta trải qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển kinh tế, nền
GD&ĐT nước ta cũng đã phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng như:
Quy mô lớn, số lượng tăng nhanh. Các hình thức giáo dục đào tạo đa dạng; chất
lượng được nâng lên một bước. Bên cạnh những thành tích đó, GD&ĐT còn bộc lộ
những yếu kém so với các nước trong khu vực và trên thế giới, Nghị quyết Trung
ương 2 (khoá VIII) chỉ rõ: GD&ĐT nước ta còn yếu, bất cập về quy mô, cơ cấu, đáng
quan tâm nhất là chất lượng và hiệu quả còn thấp. GD&ĐT chưa đáp ứng kịp thời
những đòi hỏi ngày càng cao về nguồn lực của công cuộc đổi mới KT - XH. Trong
giáo dục, chất lượng giáo dục và hoạt động dạy học của giáo viên là hai thành tố cơ


bản tạo nên hiệu quả giáo dục. Để góp phần khắc phục những hạn chế trên đây, việc
nghiên cứu sâu sắc về biện pháp QLDH của Hiệu trưởng là việc làm thiết thực nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên, qua đó nâng cao chất
lượng giáo dục. Do vậy, cần phải tìm kiếm những biện pháp trong quản lý để có thể
tạo sự chuyển biến mới, tạo ra hệ thống tác động tích cực, mạnh mẽ trong giáo dục
nói chung, trong các nhà trường Tiểu học nói riêng. Việc nghiên cứu hoạt động dạy


học trong nhà trường để tìm ra những biện pháp tối ưu của người Hiệu trưởng đối với
hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên là định hướng đúng đắn có ý nghĩa thiết thực
trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc.
Nhà trường Tiểu học là cơ sở giáo dục của cấp Tiểu học, cấp học nối tiếp giữa
Mầm non, Trung học cơ sở thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Với mục tiêu đào tạo
mà Nghị quyết Trung ương 2 đã nêu rõ: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Nhiệm vụ vẻ vang nhưng hết sức nặng nề, đòi hỏi các nhà trường cần
phải có những bước đi phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế phát triển của thời
đại. Việc giảng của giáo viên ở bậc Tiểu học có ý nghĩa quan trọng làm ảnh hưởng tới
chất lượng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Thường xuyên chăm lo xây dựng đội
ngũ giáo viên Tiểu học vững vàng về chuyên môn, đủ phẩm chất chính trị, đạo đức là
vấn đề được quan tâm, có ý nghĩa quyết định sự phát triển của các trường Tiểu học
nói riêng và sự nghiệp GD&ĐT nói chung. Việc nghiên cứu để tìm ra những biện
pháp quản lý có hiệu quả của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học của giáo viên
trường Tiểu học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của cấp học, chuẩn bị tốt
nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Bước vào thế kỷ thứ XXI, đất nước tiến hành công cuộc CNH - HĐH, nghị
quyết TW 2 (khoá VIII) đã nêu: Phải chăm lo đào tạo nhân tài, sự tồn vong, cất cánh
của đất nước là ở giáo dục. Trong công cuộc đổi mới đất nước, nâng cao chất lượng
giáo dục không thể thiếu sự nỗ lực của người thầy và càng không thể thiếu vai trò của
người quản lý trong nhà trường hiện nay đặc biệt là QLDH của Hiệu trưởng.
Hơn 10 năm trở lại đây sự nghiệp giáo dục Tiểu học của Thị xã Phúc Yên nói
riêng cũng như tỉnh Vĩnh Phúc nói chung phát triển nhanh cả về số lượng và chất
lượng. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền đoàn thể đều đã quan tâm kịp thời đến sự
nghiệp giáo dục. Tuy nhiên, sự nghiệp giáo dục Tiểu học của Thị xã Phúc Yên vẫn
còn một số bất cập như: Chất lượng giáo dục còn thấp, CSVC trường học chưa đáp
ứng được các yêu cầu của trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia, nội dung giáo dục
toàn diện cho học sinh chậm đổi mới về phương pháp giáo dục; việc giáo dục học
sinh ý thức tự lập đi vào cuộc sống xã hội và lao động chưa được đề cập nhiều qua
kiến thức giáo dục của các nhà trường. Nguyên nhân của những bất cập nêu trên do


nhiều yếu tố nhưng cơ bản nhất chính là công tác quản lý và giáo dục của giáo viên.
Vì vậy, phải coi trọng dạy kiến thức, phương pháp, giúp học sinh tự lực tìm kiếm và
chiếm lĩnh tri thức, thành tựu khoa học của loài người, trên cơ sở đó tiếp tục học tập
suốt đời. Do đó, việc đi sâu tìm hiểu và đưa ra các biện pháp QLDH nhằm nâng cao
chất lượng dạy học của giáo viên là rất cần thiết, ở các trường Tiểu học nói chung và
chương trình giáo dục Tiểu học nói riêng dạy học được coi là một hoạt động trọng tâm,
phong phú về nội dung và hình thức, thường diễn ra trong quá trình dạy học và giáo
dục với sự tham gia của nhiều nhân tố, chịu sự tác động của nhiều lực lượng như hiện
nay: Gia đình
- Nhà trường - Xã hội.
Trên thực tế, việc QLDH của các trường Tiểu học ở thị xã Phúc Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc trong những năm gần đây đã có những bước chuyển biến đáng kể song
hiệu quả chưa cao so với tầm của một thị xã phát triển về kinh tế, dẫn tới tồn tại nhiều
hạn chế, bất cập nhất định trong công tác QLDH. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên
cứu: Quản lý dạy học ở trường Tiểu học thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu
cầu trường chuẩn quốc gia.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn QLDH ở các trường Tiểu
học trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu cầu của trường Tiểu học
đạt chuẩn quốc gia, đề xuất các biện pháp QLDH ở các trường góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục Tiểu học trên địa bàn thị xã.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
QLDH ở các trường Tiểu học thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu cầu
trường chuẩn quốc gia.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
CBQL và GV các trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn thị xã Phúc
Yên,
tỉnh
Phúc.

Vĩnh
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, Hiệu trưởng các trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh


Vĩnh Phúc đã và đang thực hiện nhiều biện pháp QLDH nhằm nâng cao chất lượng


của đơn vị trường mình; song trong công tác quản lý của Hiệu trưởng còn nhiều bất
cập như chậm đổi mới: Phương pháp quản lý còn máy móc, khô cứng; phương pháp
giảng dạy chưa đa dạng; sử dụng phương tiện dạy học chậm đổi mới; đánh giá kết
quả học sinh chưa khoa học,.. trong đó nguyên nhân cơ bản là công tác QLDH của
Hiệu trưởng. Nếu đề xuất biện pháp QLDH của Hiệu trưởng phù hợp sẽ góp phần
nâng cao chất lượng dạy học ở trường TH đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn thị xã.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLDH ở trường Tiểu học.
- Tìm hiểu thực trạng và các biện pháp QLDH của Hiệu trưởng các trường Tiểu
học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất biện pháp QLDH của Hiệu trưởng trường Tiểu học đạt chuẩn quốc
gia trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu việc QLDH của 9 Hiệu trưởng trường Tiểu học đạt chuẩn quốc
gia và 18 CBQL là phó Hiệu trưởng, 18 tổ trưởng chuyên môn, 242 giáo viên, 4560
em học sinh và 152 lớp ở thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết
- Đọc tài liệu, nghiên cứu các văn bản, khái quát hệ thống hoá cơ sở lý luận
các tài liệu, nghị quyết của Đảng, ngành GD&ĐT của tỉnh Vĩnh Phúc liên quan đến đề
tài.
7.2. Phương pháp quan sát
- Quan sát hoạt động dạy học trên lớp của giáo viên, dự các buổi sinh hoạt
chuyên môn, dự giờ thăm lớp.
- Thăm quan CSVC như trường lớp, phòng học, trang thiết bị dạy học.
7.3. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Bằng hệ thống câu hỏi dành cho CBQL (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ
trưởng) và giáo viên các trường về nội dung QLDH của Hiệu trưởng tại các trường
Tiểu học đạt chuẩn quốc gia.
- Tìm hiểu nhận thức, thái độ của Hiệu trưởng về vai trò và ý nghĩa QLDH.
7.4. Phương pháp phỏng vấn


Trực tiếp phỏng vấn, trao đổi với đội ngũ Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ
trưởng chuyên môn và giáo viên về kết quả QLDH của Hiệu trưởng các trường Tiểu
học.
- Thu thập thông tin từ phía Phó hiệu trưởng, giáo viên và học sinh về cách xử
lý công việc của Hiệu trưởng trong quản lý.
7.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động dạy học
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động dạy học của giáo viên trường Tiểu học, hồ
sơ giảng dạy, giáo án, đồ dùng, kết quả học tập, điểm số...
- Nghiên cứu sản phẩm QLDH ở trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia của Hiệu
trưởng như: Kế hoạch năm học, kế hoạch chuyên môn, phân công giảng dạy.
7.6. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Qua thực tế và tổng kết thành quả về giáo dục toàn diện trong các trường Tiểu
học đạt chuẩn quốc gia. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về phương pháp QLDH của
Hiệu trưởng tại các trường Tiểu học.
7.7. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Sử dụng các phiếu điều tra, bảng hỏi các CBQL có kinh nghiệm trong thực
tiễn QLDH tại các trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn thị xã.
7.8. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
- Dùng phần mềm Excel để xử lý kết quả.
- Tính điểm trung bình: Hệ thống tương quan thứ bậc, từ đó làm cơ sở cho việc
đánh giá và rút ra các kết luận khoa học.
8. Cấu trúc luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài
liệu tham khảo. Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học ở trường Tiểu học theo yêu cầu
trường chuẩn quốc gia.
- Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học ở trường Tiểu học thị xã Phúc Yên,
tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu cầu trường chuẩn quốc gia .
- Chương 3: Biện pháp quản lý dạy học ở trường Tiểu học thị xã Phúc Yên,
tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu cầu trường chuẩn quốc gia.


Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ thời cổ đại, Khổng Tử (551- 479 trước công nguyên) nhà giáo dục lỗi lạc
Trung Quốc cho rằng: Đất nước muốn phồn vinh, yên bình, người quản lý cần chú
trọng đến 3 yếu tố: Thứ (dân đông); Phú (dân giàu); Giáo (dân được giáo dục). Như
vậy, giáo dục là một thành tố không thể thiếu được của mỗi dân tộc, ông cho rằng việc
giáo dục là cần thiết cho mọi người “Hữu giao vô loại”. Về phương pháp giáo dục
ông coi trọng việc tự học, tự luyện bản thân, phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng
lực nội sinh, dạy học sát đối tượng, cá biệt hoá đối tượng.
Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”. Toàn xã hội đều
có ý thức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, vì giáo dục đã tạo nên nguồn lực con
người phục vụ cho sự phát triển KT - XH.
Ở nước ta, nhiều nhà sư phạm đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các
vấn đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao
chất lượng dạy học đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục. Những ưu điểm và
nhược điểm của các hình thức tổ chức dạy học trên lớp và mối quan hệ giữa hoạt
động dạy và hoạt động học; vai trò của người dạy và người học. Việc đổi mới nội
dung và cách thức tổ chức tiến hành các hình thức dạy học trên lớp những tác giả tiêu
biểu hiện nay là: Hồ Ngọc Đại, Đặng Vũ Hoạt, Phạm Văn Hoàn, Hà Thế Ngữ, Hoàng
Đức Nhuận, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên...
Đứng trước nhiệm vụ đổi mới GD&ĐT nói chung và đổi mới nội dung, PPDH
nói riêng, nhiều người nghiên cứu trong đó có những nhà giáo dục học đã đi sâu nghiên
cứu vấn đề về đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn
khoa học với thực tiễn, vấn đề lấy học sinh làm trung tâm được thể hiện ở nhiều công
trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Văn Đản, Phạm Minh Hạc, Đỗ Đình Hoan,
Đặng Thành Hưng, Phan Trọng Luận, Trần Hồng Quân, Vũ Văn Tảo, Tôn Thân, Trịnh
Xuân Vũ, Phạm Viết Vượng, Trần Đức Xước.
Ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung trong các
công trình nghiên cứu là: Khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý trong


việc nâng cao chất lượng dạy học ở các cấp học, bậc học. Đây cũng chính là một
trong những tư tưởng mang tính chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta mà
Nghị quyết Hội nghị TW2 ( khóa VIII) nêu “Đổi mới mạnh mẽ, phương pháp giáo
dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng
tạo của người học,từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện
đại vào quá trình dạy học”[ 6, Tr 41].
- Tỉnh Vĩnh Phúc trong nhiều năm gần đây đã quan tâm đến công tác giáo dục
nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng. Ngành đã tổ chức bồi dưỡng thường xuyên
cho giáo viên. Hàng năm tổ chức các hội thi giáo viên dạy giỏi ở các cấp học, bậc
học. Việc làm này đã kích thích được tinh thần học hỏi, nâng cao trình độ chuyên
môn cho giáo viên, tuy nhiên để nâng cao chất lượng dạy học cho đại đa số giáo viên
thì rất cần có các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên.
- QLDH thực sự là vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu nâng cao chất lượng
giáo dục trong nhà trường. Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng
đã có một số tác giả viết về đề tài:“Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu
trưởng trường Tiểu học huyện Yên Định tại thành phố Thanh Hoá” (2010.) của tác
giả Trịnh Lệ Thủy; Đề tài:“Những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động dạy học ở các trường Tiểu học tại thành phố Đà Nẵng” của
tác giả Nguyễn Hữu Dũng. Đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng cho Hiệu
trưởng trường Tiểu học ở trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội” của tác giả
Trần Văn Hoà. Đề tài: “Một số biện pháp đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra
chuyên môn của Hiệu trưởng trường Tiểu học quận 1- Thành phố Hồ Chí Minh”
của tác giả Trịnh Phương Trinh... Những công trình nghiên cứu, các luận văn chủ yếu
dừng lại ở vấn đề lý luận mang tính định hướng, vấn đề QLDH cho từng trường thì
còn ít người nghiên cứu nhất là vấn đề QLDH ở các trường TH theo yêu cầu của
trường chuẩn quốc gia.
- Tại thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc chưa có tác giả nào nghiên cứu đề tài
này. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài "Quản lý dạy học ở trường Tiểu học thị xã Phúc
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu cầu trường chuẩn quốc gia" để nghiên cứu.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC
1.2.1. Quản lí


với
.
Quản lí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc tổ chức điều hành hoạt động
:“

” [2, tr 34]. Trong tiến trình hình thành, phát triển khoa học quản lí nói chung,
các nhà khoa học đã đưa ra học thuyết và
đối với những lĩnh vực ho

.

- Theo Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich: Quản lí là “thiết kế
một môi trường mà trong đó con người cùng làm việc với nhau trong các nhóm có thể
hoàn thành mục tiêu” [3, tr 29].
- Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lí (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể quản lí (đối
tượng quản lí) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,... bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể
nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [10, tr 7].
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế hoạch
của các chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm thực hiện những mục tiêu dự
kiến” [30, tr 24].
Nhìn nhận nội hàm của khái niệm mà các nhà khoa học đã nêu ở trên, có thể
hiểu quản lí một tổ chức là sự tác động có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch và hợp
quy luật của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (những người bị
quản lí) nhằm huy động và điều phối mọi nguồn lực cho các hoạt động của tổ chức để
đạt tới mục tiêu đã định trong một môi trường luôn luôn thay đổi.


Sơ đồ: 1.1. Cấu trúc hệ thống quản lý.

MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ
Công cụ
Chủ thể QL

Đối tượng QL

Mục tiêu QL

Phương pháp

QL là sự tác động có ý thức thông qua kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm
đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.
Trong quản lý giáo dục, Điều 22 chương VI của Quy chế về tổ chức và hoạt
động của thanh tra giáo dục ghi rõ: “Hiệu trưởng các trường, thủ trưởng các cơ sở
giáo dục đào tạo trong ngành giáo dục có trách nhiệm sử dụng bộ máy quản lý và
cán bộ trong đơn vị để kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ kế
hoạch của cá nhân và của bộ phận thuộc quyền, xét và giải quyết các khiếu nại, tố
cáo về các vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý của mình. Các hoạt động kiểm tra được
tiến hành thường xuyên, công khai dân chủ, kết quả kiểm tra được ghi nhận bằng văn
bản và lưu trữ. Hiệu trưởng hay thủ trưởng phải chịu trách nhiệm về các kết luận
kiểm tra này”.
Như vậy, kiểm tra các vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý mà
nội dung là đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đổi
mới cơ chế quản lý, phương pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
quản lý nói chung và quản lý giáo dục đào tạo, quản lý nhà trừơng nói riêng. Các
chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau được thể hiện ở sơ đồ sau:


Sơ đồ: 1.2. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Kế hoạch

Kiểm tra

Thông tin

Tổ chức

Chỉ đạo

1.2.2. Quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục được xem xét ở hai cấp độ:
- Quản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô (quản lí hệ thống giáo dục): Được hiểu là
những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật...
của chủ thể quản lí giáo dục đến các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện
có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh
các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) để hệ thống giáo dục vận hành đạt được mục
tiêu phát triển giáo dục.
- Quản lí giáo dục ở cấp độ vi mô (quản lí một cơ sở giáo dục): Được hiểu
là hệ thống những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và
hợp quy luật... của chủ thể quản lí một cơ sở giáo dục đến đội ngũ giảng viên, giáo
viên, nhân viên, người học và các lực lượng tham gia giáo dục khác trong và ngoài
cơ sở giáo dục đó, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đào tạ o của
cơ sở giáo dục.
Về cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục, M.I.Kônđacốp cho rằng:
Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài
chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo
dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất
lượng.


Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động
điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo
thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [8, Tr 31].
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà
trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo
đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường tiểu
học xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng
thái chất lượng mới”[30, tr 75].
Giáo sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể
mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy- học tức là
làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục
tiêu giáo dục”[17, tr 71].
1.2.3. Quản lí nhà trường
- Quản lí nhà trường theo phương diện quản lí nhà nước của các cơ quan quản
lí giáo dục các cấp như Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và các cấp chính
quyền (đơn vị hành chính từ Trung ương đến địa phương) đối với hệ thống các cơ sở
giáo dục (nhà trường) hoặc một nhà trường cụ thể nào đó.
- Quản lí nhà trường theo phương diện quản lí của chủ thể cơ sở giáo dục (hiệu
trưởng hoặc người có chức vụ tương đương như hiệu trưởng) đối với cơ sở giáo dục
mà họ được giao trách nhiệm trực tiếp quản lí.
Luận văn này cơ bản tập trung nghiên cứu về quản lí dạy học ở trường Tiểu
học thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu cầu trường đạt chuẩn quốc gia thông
qua
công tác quản lí của Hiệu trưởng các trường Tiểu học .
Quản lí nhà trường là những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống và hợp quy luật của của chủ thể quản lí giáo dục của các cơ quan quản lí
giáo dục đến khách thể quản lí nhà trường (cán bộ quản lí, giảng viên hoặc giáo viên,
người học, nhân viên và các lực lượng tham gia giáo dục khác của nhà trường) nhằm
đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục.


Theo định nghĩa của Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với
ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”[17, tr 71].
Tóm lại quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD. Thực chất của quản lý
nhà trường, suy cho cùng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối
và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN
Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ. Người quản lý
nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành liên kết chặt chẽ với
nhau, đưa đến kết quả mong muốn.
1.2.4. Quản lí dạy học
Quản lí dạy học là những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ
thống và hợp quy luật của các chủ thể quản lí dạy học đến khách thể quản lí dạy học
nhằm đạt được mục tiêu quản lí dạy học.
Quản lí dạy học của Hiệu trưởng trường Tiểu học có đặc điểm: mang tính chất
quản lí hành chính nhà nước, quản lí theo pháp luật, nội quy, quy định, có tính chất
bắt buộc, thể hiện tính sư phạm, có tính xã hội cao, chịu sự chi phối của các điều kiện
kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội trong cộng đồng, có sự tương tác hiệu quả trong dạy
học tích hợp, giữa dạy học và giáo dục.
Quản lí dạy học trong các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia là quá trình tác
động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,... của Phòng
GD&ĐT đến khách thể quản lí dạy học ở trường Tiểu học nhằm huy động mọi nguồn
lực giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục cấp Tiểu học.
Trên cơ sở Phân phối chương trình và hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Bộ
GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng các nhà trường chủ động xây
dựng kế hoạch quản lí dạy học đối với trường mình phụ trách. Trong đó có việc xác
định mục tiêu và các chỉ tiêu, xác định việc huy động các nguồn lực, dự kiến thời
gian và xác định các biện pháp để đạt tới mục tiêu quản lí. Mọi nội dung trong kế
hoạch phải gắn chặt với hoạt động quản lí của Hiệu trưởng về:


- Quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên như soạn bài, giảng bài và đánh
giá kết quả học tập của học sinh theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học, Chuẩn
kiến thức, kỹ năng và yêu cầu thái độ trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu
học;
- Quản lí học tập của học sinh như học tập tại trường, tham gia các hoạt động
ngoài giờ lên lớp, tự học ở gia đình học sinh theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu
học và Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu thái độ trong Chương trình giáo dục phổ
thông cấp tiểu học;
- Quản lí việc huy động, điều phối và sử dụng phương tiện và điều kiện dạy
học trong các trường: cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, môi trường giáo dục,... đáp ứng
yêu cầu dạy học theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học và Chuẩn kiến thức, kỹ
năng và yêu cầu thái độ trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.
1.2.5 Khái niệm dạy học
Dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: Bao gồm hoạt
động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ
chức, điều khiển của giáo viên người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển
hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Trong quá trình
dạy học, hoạt động dạy của giáo viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh
có vai trò tự giác, chủ động, tích cực. Nếu thiếu một trong hai hoạt động trên quá trình
dạy học không diễn ra.
Dạy học là hoạt động gắn liền với hoạt động của con người và có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mỗi quan hệ tương tác giữa các thành tố: Mục tiêu, nội
dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học.
Phân tích hoạt động dạy học chúng ta đi đến kết luận: Hoạt động học trong đó
có hoạt động học của học sinh có vai trò quyết định kết quả dạy học. Để hoạt động
học có kết quả, trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người giáo viên, giáo viên
phải xuất phát từ lô gíc của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức
tối ưu hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng dạy học. Nếu
xét quá trình dạy học như là một hệ thống thì trong đó, quan hệ giữa hoạt động dạy
của thầy với hoạt động học của trò thực chất là mối quan hệ điều khiển. Với tác động


sư phạm của mình, thầy tổ chức, điều khiển hoạt động của trò. Từ đó, chúng ta có thể
thấy công việc quản lý của nhà trường là: Hoạt động quản lý của Hiệu trưởng chủ yếu
tập trung vào hoạt động dạy của thầy và trực tiếp đối với thầy thông qua hoạt động
dạy và thông qua hoạt động học của trò.
1.3. TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA TRONG HỆ THỐNG
GIÁO DỤC QUỐC DÂN
1.3.1. Vị trí của trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia theo Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT
ngày 28/12/2012 về việc ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận
trường đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT. Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ I gồm 5 tiêu chuẩn.
+ Tiêu chuẩn 1 (Điều 12) Tổ chức và quản lí trường học;
+ Tiêu chuẩn 2 (Điều 13) CBQL, giáo viên và học sinh;
+ Tiêu chuẩn 3 (Điều 14) CSVC, trang thiết bị trường học;
+ Tiêu chuẩn 4 (Điều 15) Quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội;
+ Tiêu chuẩn 5 (Điều 16) Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục.
Với 5 tiêu chuẩn trên do Nhà nước đặt ra và xây dựng nhằm thực hiện mục
tiêu giáo dục Tiểu học. Trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia có vị trí, chức năng và
nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp “trồng người”.
Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II gồm 5 tiêu chuẩn, mức độ các tiêu
chuẩn đều được nâng lên,
+ Tiêu chuẩn 1 (Điều 10) Tổ chức và quản lí trường học;
+ Tiêu chuẩn 2 (Điều 11) Đội ngũ giáo viên
+ Tiêu chuẩn 3 (Điều 12) CSVC, trang thiết bị trường học;
+ Tiêu chuẩn 4 (Điều 13) Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục.
+ Tiêu chuẩn 5 (Điều 14) Hoạt động giáo dục và chất lượng giáo dục.
- Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 về ban hành Điều lệ
trường Tiểu học xác định rõ: “Trường Tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của
hệ thống giáo dục quốc dân. Trường Tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu
riêng” [14, Điều 2].


- Luật Giáo dục ghi: "Giáo dục Tiểu học được thực hiện trong 5 năm, từ lớp
một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào lớp một là sáu tuổi" [24, Điều 26]. "Giáo dục
tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng
đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học
sinh tiếp tục học Trung học cơ sở" [24, Điều 27].
Như vậy, với tư cách là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân,
giáo dục Tiểu học có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ xây dựng toàn bộ
nền móng không những chỉ đạo cho giáo dục phổ thông mà còn cho cả sự hình thành
và phát triển nhân cách con người.
Phân cấp quản lí: Trường Tiểu học do UBND quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh quản lý; các lớp Tiểu học, cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình
giáo dục Tiểu học quy định do cấp có thẩm quyền thành lập quản lý.
Phòng GD&ĐT thực hiện chức năng QLNN đối với mọi loại hình trường, lớp
Tiểu học và các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục trên địa bàn.
1.3.2 Mục tiêu giáo dục Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có
nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của
trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục Tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nắm vững các kỹ năng nói, đọc,
viết, tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội và con người; có
lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng thầy giáo,
cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ; yêu lao động, có kỷ
luật; có nếp sống văn hoá; có thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh; yêu quê
hương đất nước, yêu hoà bình.
Phát triển toàn diện con người là mục tiêu chung và lâu dài của giáo dục phát
triển. Giáo dục Tiểu học chỉ hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đó. Giáo dục
con người phát triển toàn diện phải có đầy đủ các phẩm chất và năng lực về đạo đức
trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ,…
1.3.3 Vai trò giáo dục Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân


Cấp Tiểu học đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc
dân, trong việc phổ cập mặt bằng dân trí, đào tạo những chủ nhân tương lai cho xã hội.
Điều 3 - Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học quy định mục tiêu của giáo dục Tiểu học
là: “Giáo dục Tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nắm vững các kĩ năng nói, đọc,
viết, tính toán, rèn luyện thân thể và giữ vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hoà
bình”.
Đối với mỗi con người có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xă hội, con
người, có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quí anh chị em, kính trọng
thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp đỡ bạn bè, em nhỏ; Yêu lao động, có kỉ
luật, có nếp sống văn hoá có thói quen trong quá trình trưởng thành, trường Tiểu học
là nơi con người chính thức được tổ chức học tập, rèn luyện một cách “chính quy”
nghiêm túc nhất. Trường Tiểu học lần đầu tiên tác động đến trẻ em bằng phương
pháp nhà trường ( nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục) nơi đầu tiên tổ chức
một cách tự giác hoạt động học tập với tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em,
nơi diễn ra cuộc sống thực và là nơi tạo cho trẻ em có hạnh phúc đi học.
1.3.4. Chức năng giáo dục Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Phát triển toàn diện con người là mục tiêu chung và lâu dài của giáo dục phát
triển. Giáo dục Tiểu học chỉ hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đó.
Giáo dục con người phát triển toàn diện phải có đầy đủ các phẩm chất và năng
lực về đạo đức trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và phải có các khái niệm cơ bản để tiếp tục
học lên, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Học xong bậc Tiểu học, học sinh phải tiếp tục học Trung học cơ sở. Khoản 2,
Điều 27 của Luật Giáo dục đã ghi: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở”
[24, Điều 27].
Từ mục tiêu trên, nội dung giáo dục Tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có
hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; Có thói quen rèn luyện
thân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về âm nhạc, mĩ thuật.
1.3.5 Nhiệm vụ giáo dục Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân


Tổ chức giáo dục, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu,
chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành.
Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, bỏ học đến
trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận bảo trợ
và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo
dục khác thực hiện chương trình giáo dục Tiểu học theo sự phân công của cấp có
thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình Tiểu học cho
học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách.
Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ GD&ĐT và nhiệm
vụ phát triển giáo dục của địa phương.
- Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục;
- Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh;
- QL đất đai, CSVC,trang thiết bị, tài chính theo quy định của pháp luật.
- Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt
động giáo dục.
- Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các
hoạt động xã hội trong cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.3.6. Dạy học ở trường Tiểu học theo yêu cầu trường chuẩn quốc gia
1.3.6.1. Dạy học là một hoạt động trung tâm của nhà trường
Mục tiêu giáo dục được Đảng ta khẳng định là giáo dục con người toàn diện:
Đức – trí - thể - mỹ. Hoạt động trong nhà trường bao gồm dạy học, hoạt động lao động,
giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất… Trong đó dạy học là hoạt động trung tâm bởi vì
việc hình thành nhận thức con người có thể bằng nhiều con đường, nhưng con đường
ngắn nhất, hiệu quả nhất, tối ưu nhất là thông qua nhà trường, dạy học được tiến hành
một cách có tổ chức có kế hoạch với nội dung dạy học được lựa chọn góp phần hình
thành nhân cách học sinh.
Đối với bậc Tiểu học hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo và phải được
sự hướng dẫn tổ chức của người thầy trong một môi trường giáo dục nhà trường.
Như vậy dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường.
1.3.6.2. Đặc điểm về dạy học của người giáo viên Tiểu học


Ở Tiểu học, đối tượng lao động trực tiếp của người giáo viên là các em học sinh
trong độ tuổi từ 6 đến 10. Các em ở độ tuổi này có quy luật phát triển tâm sinh lý riêng.
Đây là lứa tuổi còn nhỏ, do đó giáo viên luôn phải có tình thương yêu, sự tôn trọng
đúng mức, đối xử công bằng, dân chủ, khách quan, mềm dẻo nhưng cũng phải kiên
quyết. Bằng công cụ lao động là tri thức và phẩm chất của mình, người giáo viên cần
tác động vào đối tượng (học sinh). Phẩm chất và năng lực, đức và tài của thầy càng cao
thì sức thuyết phục học sinh càng lớn, như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Mỗi
thầy cô giáo là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”.
Lao động của người giáo viên là lao động tạo ra sản phẩm là những nhân
cách, tạo ra những giá trị nhân loại với s ự tổng hoà của các mối quan hệ xã hội.
Người giáo viên phổ thông có vai trò quan trọng, trong Luật giáo dục ghi rõ: “Nhà
giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải
không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học” [24, Điều 15].
Trong hoạt động dạy học của người giáo viên trường Tiểu học đạt chuẩn quốc
gia là dạy về nhiều môn học, nhiều lĩnh vực. Đây là điểm khác biệt với giáo viên dạy ở
các bậc học khác. Do vậy, đòi hỏi người giáo viên Tiểu học phải am hiểu kiến thức,
phải có năng lực (năng lực dạy học, giáo dục, năng lực tổ chức, năng lực hoàn
thiện,...).
Ngoài việc dạy tri thức môn học, người giáo viên Tiểu học phải dạy cho học
sinh kỹ năng học, kỹ năng tự học tự nghiên cứu. Dạy học nhằm mục đích tạo ra “cái
mới” cái chưa hề có trong kinh nghiệm của học sinh, vì vậy, để hạn chế những khó
khăn trong quá trình lĩnh hội những cái mới, cái chưa hề có và không ngừng gia tăng
hiệu quả học tập, cần thiết phải dạy các em cách học, cách tư duy độc lập bước đầu làm
quen với việc tự học, tự nghiên cứu.
1.4. NỘI DUNG QUẢN LÝ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO
YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA
1.4.1 Quản lý dạy học ở trường Tiểu học theo yêu cầu trường chuẩn quốc


gia
QLDH chính là điều khiển quá trình dạy học, quá trình đó vận hành có khoa
học, có tổ chức theo những quy luật khách quan và được sự chỉ đạo, giám sát thường
xuyên nhằm thực hiện mục tiêu dạy học.


Theo Trần Kiểm: Nhà trường là một tổ chức giáo dục. Là một đơn vị cấu trúc
cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Do đó, xét về bản chất trường học là tổ chức
mang tính nhà nước - xã hội - sư phạm, thể hiện bản chất sư phạm, thể hiện bản chất
giai cấp
Để QLDH hiệu quả, người Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở pháp lý và cơ
sở thực tiễn để điều hành hoạt động. Quản lý nhà trường trước hết là quản lý con
người gồm các yếu tố: Chủ thể quản lý khách thể, bị quản lý đối tượng quản lý và
mục tiêu quản lý.
Cơ sở pháp lý hiện nay là đường lối giáo dục của Đảng. Luật Giáo dục, Điều
lệ trường Tiểu học, Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, các văn bản pháp qui,…
Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách
nhiệm của minh, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để đạt tới mục
tiêu.
Trong quản lí nhà trường, QLDH là nhiệm vụ hàng đầu. Quản lí dạy học là
quản lý có hiệu quả thành tố cấu trúc của hoạt động dạy học, cần phải tạo điều kiện
và tác động cho sự cộng tác tối ưu giữa giáo viên và học sinh, nhằm xác định đúng
mục tiêu, lựa chọn nội dung chương trình thích hợp, thực hiện đúng kế hoạch, áp
dụng hài hoà các phương pháp, tận dụng các phương tiện và điều kiện có tổ chức linh
hoạt hình thức dạy học, tìm ra phương tiện kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học đáng
tin cậy. Để quản lí dạy học có hiệu quả cần chú ý đến những vấn đề cơ bản sau:
+ Chỉ đạo nội dung chương trình dạy học: Nội dung chương trình dạy học
thường xuyên được cụ thể hoá trong từng bộ môn, thông qua nội dung dạy học mà
người học sinh tiếp tục hoàn thiện, phát triển những năng lực trí tuệ và nhân cách của
mình theo mục tiêu đó.
+ Quản lí việc sử dụng sách giáo khoa là quản lí pháp chế trong tài liệu, hướng
dẫn dạy và học. Tính linh hoạt trong quản lí nội dung, trong tính dạy học thể hiện ở
chỗ tinh giản, mở rộng, bổ sung những nôi dung đặc thù trong phạm vi cần thiết đối
với từng loại trường.
+ Chỉ đạo hoạt động dạy học trên lớp: Chỉ đạo phương hướng chính trị, tư
tưởng bài giảng, với phương hướng chính trị của bài giảng là yếu tố hàng đầu góp


phần hình thành sự phát triển nhân cách người học.
+ Chỉ đạo việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh: Kiểm tra, đánh
giá là một khâu không thể thiếu được trong hoạt động dạy học. Chỉ đạo việc kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên để họ
thực hiện đầy đủ và khoa học quá trình kiểm tra, đánh giá trên cơ sở công bằng,
khách quan nhằm thúc đẩy quá trình học tập của học sinh và quá trình giáo dục của
giáo viên đáp ứng ngày càng đầy đủ và vững chắc các yêu cầu do mục tiêu đã đề ra.
1.4.2. Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình và kế hoạch
dạy
học

vụ dạy học
của mình. Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi tập trung vào việc QLDH. Về
QLDH của Hiệu trưởng trước hết phải nói đến là: Quản lý kế hoạch việc thực hiện
chương trình của giáo viên.
Xây dựng kế hoạch giáo dục và việc xác định mục tiêu công tác giáo dục của
mỗi giáo viên phải dựa trên cơ sở trình độ tay nghề và kết quả phân tích tình hình học
tập của học sinh.
Trong công tác quản lí nhà trường, Hiệu trưởng phải coi việc giáo viên thực
hiện tốt kế hoạch giáo dục là một điều quan trọng để đảm bảo chất lượng dạy học. Vì
vậy, Hiệu trưởng phải biết sử dụng nhiều phương pháp quản lí phù hợp với tình hình
đội ngũ giáo viên nhà trường giúp họ hoàn thành kế hoạch một cách tốt nhất.
Chương trình dạy học quy định nội dung phương pháp, hình thức dạy học một
cách thống nhất, nhằm thực hiện những yêu cầu mục tiêu cấp học. Chương trình dạy
học là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành. Người Hiệu trưởng phải
thực hiện nghiêm chỉnh không được tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương
trình dạy học. Vì vậy, Hiệu trưởng phải nắm vững và tổ chức cho toàn thể giáo viên
nghiên cứu nắm vững chương trình, mục tiêu giáo dục của cả cấp học vào đầu các
năm học, hoặc khi có sự điều chỉnh của Bộ GD&ĐT. Có nắm vững chương trình dạy
học giáo viên mới có cơ sở thực hiện tốt các khâu trong quá trình dạy học: Soạn bài,


lên lớp, tổ chức thực hành, ôn tập, kiểm tra, cho điểm. Nắm vững chương trình dạy
học giáo viên mới chủ động và tổ chức có hiệu quả giờ lên lớp mới có khả năng đổi
mới về phương pháp, khai thác tốt mọi điều kiện chuẩn bị cho hoạt động dạy học đạt
hiệu quả.
Hiệu trưởng cùng với Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, phân công nhau
theo dõi nắm tình hình thực hiện hàng tuần, hàng tháng. Điều quan trọng là Hiệu
trưởng phải tiến hành phân tích tình hình thực hiện chương trình sau mỗi lần tổng hợp
để có những biện pháp quản lí tốt chương trình dạy học.
Sử dụng các biểu bảng, sổ sách như: Sổ báo giảng, giáo án, sổ điểm, lịch kiểm
tra học tập, sổ dự giờ,..để nắm tình hình có liên quan đến việc thực hiện hàng ngày.
1.4.3. Quản lý về đổi mới phương pháp dạy học
Ở trường Tiểu học bên cạnh việc tổ chức các giờ lên lớp theo khung chương
trình của Bộ GD&ĐT thì phải quan tâm chú ý tới hình thức thảo luận chuyên đề về
nội dung, phương pháp giáo dục. Để quản lý tốt hoạt động này, người quản lý phải:
- Có kế hoạch tổ chức chuyên đề từ đầu năm học. Chọn lọc chuyên đề phù
hợp với tình hình thực tế của nhà trường về đội ngũ giáo viên, về CSVC, phương tiện
phục vụ cho hoạt động dạy học.
- Chuẩn bị chu đáo, phân công nhiệm vụ cụ thể, tránh phô trương, hình thức.
Đổi mới PPDH là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng dạy học vì thế
bằng nhiều hình thức khác nhau, các biện pháp khác nhau Hiệu trưởng phải chỉ đạo
chặt chẽ đổi mới PPDH theo hướng kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh.
1.4.4. Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên
Việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho toàn
năm học và từng học kỳ hoặc chuẩn bị cho từng tiết lên lớp, kế hoạch dạy học cho cả
năm hay từng học kỹ dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ chương trình dạy học, sách giáo
khoa, tài liệu tham khảo, tình hình học tập của học sinh.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch cần tính đến khả năng của nhà trường
trong việc cung ứng những điều kiện vất chất kỹ thuật cho hoạt động dạy học, khả
năng tự làm đồ dùng dạy học. Từ đó lựa chọn phương pháp giáo dục, hình thức lên
lớp cho phù hợp.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×