Tải bản đầy đủ

Tác động của mạng lưới xã hội đến khả năng tìm việc làm của dân nhập cư trên địa bàn quận bình tân

TR N THUẬN KHÔI NGUYÊN

Lớp: ME06A

LỜI CÁM ƠN
---o0o--Trong suốt quá trình làm luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tâm
của Quý thầy cô, do đó, tôi xin chân thành cám ơn Quý thầy cô Khoa Đào tạo sau
Đại học, Khoa Kinh tế và Luật, đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
PGS.TS. Nguyễn Văn Phúc; ThS.Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên; ThS. Phạm
Quang

nh Thư; ThS. Huỳnh Đặng Bích Vy. Thầy, cô đã tận tình chỉ bảo, định

hướng cho tôi trong quá trình hoàn thành bài luận văn của mình.
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cám ơn những người bạn câu lạc bộ
Kinh tế trẻ, Trần Quốc Bồi, Phạm Hữu Hai, Huỳnh Công Toại, Trần Trung Hiếu,
Dương Bảo thông, Nguyễn Hoàng Dũng đã hỗ trợ tôi hết mình trong quá trình
khảo sát và đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện bài luận văn.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn cùng với những hạn chế về kiến thức nên
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của
Quý thầy cô.

Tôi kính chúc Quý thầy cô cùng các bạn lời chúc sức khỏe và thành đạt.
Chân thành cảm ơn!
Tp.HCM, Ngày … tháng ….năm 2016
Sinh viên
Trần Thuận Khôi Nguyên

Trang i


TR N THUẬN KHÔI NGUYÊN

Lớp: ME06A

Mục Lục
CHƯ NG 1 T NG QU N Đ T I NGHI N CỨU ........................................... 1
1.1.

Đặt vấn đề ................................................................................................. 1

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................. 3

1.4.

Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................... 4

1.5.

Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 4

1.6.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 5

1.7.

Kết cấu của bài nghiên cứu....................................................................... 5

CHƯ NG 2 C SỞ LÝ THUY T ....................................................................... 6


2.1.

Lý thuyết về di cư ..................................................................................... 6

2.1.1.

Khái niệm di cư (xuất cư và nhập cư)................................................ 6

2.1.2.

Nguyên nhân dẫn đến di cư ............................................................... 7

2.1.3.

Ảnh hưởng của di cư đến phát triển kinh tế-xã hội ........................... 7

2.2.

Lý thuyết về vốn xã hội ............................................................................ 9

2.3.

Lý thuyết về mạng lưới xã hội ................................................................ 14

2.3.1.

Một số định nghĩa về mạng lưới xã hội ........................................... 14

2.3.2.

Vai trò của mạng lưới xã hội ........................................................... 17

2.4.

Các nghiên cứu trước.............................................................................. 18

CHƯ NG 3 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NHẬP CƯ TR N ĐỊA BÀN QUẬN
BÌNH TÂN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ....................................................... 26
3.1.

Thực trạng về tình hình dân nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh.......... 26

3.2.

Thực trạng về tình hình dân nhập cư tại Quận Bình Tân ....................... 27

3.3.

Mô hình nghiên cứu ................................................................................ 29

3.4.

Số liệu nghiên cứu .................................................................................. 35

3.5.

Phương pháp chọn mẫu: ......................................................................... 36

Trang iii


TR N THUẬN KHÔI NGUYÊN

Lớp: ME06A

3.5.1.

Phương pháp chọn mẫu ................................................................... 36

3.5.2.

Xác định kích thước mẫu ................................................................. 36

3.6.

Phương pháp ước lượng ......................................................................... 37

CHƯ NG 4. K T QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 39
4.1.

Tác động của mạng lưới xã hội đến thời gian tìm được việc làm của lao

động nhập cư tên địa bàn Quận Bình Tân ........................................................ 39
4.2.

Tác động của mạng lưới xã hội đến thu nhập từ công việc hiện tại của

lao động nhập cư trên địa bàn Quận Bình Tân ................................................. 51
CHƯ NG 5 K T LUẬN VÀ KI N NGHỊ ........................................................ 62
5.1.

Tổng kết .................................................................................................. 62

5.2.

Kiến nghị: ............................................................................................... 67

5.2.1.

Vấn đề cần giải quyết: ..................................................................... 67

5.2.2.

Kiến nghị: ........................................................................................ 67

5.3.

Hạn chế của đề tài:.................................................................................. 69

PHỤ LỤC ............................................................................................................. 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 88

Trang iv


TR N THUẬN KHÔI NGUYÊN

Lớp: ME06A

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tóm t t lý thuyết về di cư .................................................................. 9
Bảng 2.2. Tóm t t lý thuyết về vốn xã hội ......................................................... 13
Bảng 2.3. Tóm t t lý thuyết về mạng lưới xã hội .............................................. 18
Bảng 2.4. Tổng hợp các nghiên cứu trước ......................................................... 22
Bảng 3.1. Số lượng và phân bố số người di cư từ 15 tuổi trở lên, năm 2012 .... 25
Bảng 3.2. Bảng mô tả biến mô hình 1 ................................................................ 30
Bảng 3.3. Bảng mô tả biến mô hình 2 ................................................................ 32
Bảng 4.1. Tương quan tuổi và trình độ học vấn................................................. 39
Bảng 4.2. Tương quan tuổi và thời gian tìm việc đầu tiên tại Tp.HCM ............ 40
Bảng 4.3. Kiểm định sự khác biệt về thời gian tìm việc giữa nam và nữ .......... 40
Bảng 4.4. Kiểm định sự khác biệt về thời gian tìm việc theo trình độ học vấn . 41
Bảng 4.8. Kiểm định đa cộng tuyến mô hình 1.................................................. 46
Bảng 4.9. Kiểm định sự phù hợp và mức độ giải thích của mô hình ................. 46
Bảng 4.10. Mô hình 1 sau khi đã kh c phục phương sai thay đổi của phần dư . 49
Bảng 4.11. Kiểm định sự khác biệt về thu nhập giữa người tự tìm việc và người
tìm việc qua mạng lưới xã hội ............................................................................ 50
Bảng 4.12. Tương quan giữa phương tiện tìm việc và thu nhập hiện tại ........... 51
Bảng 4.13. Kiểm định khác biệt về thu nhập giữa nam và nữ ........................... 52
Bảng 4.14. Kiểm định sự khác biệt thu nhập theo trình độ học vấn .................. 53
Bảng 4.16. Kiểm định đa cộng tuyến các biến trong mô hình 2 ........................ 55
Bảng 4.18. Kết quả hồi quy cuối cùng chỉ còn lại những biến có ý nghĩa thống kê
mô hình 2 ............................................................................................................ 56

Trang v


TR N THUẬN KHÔI NGUYÊN

Lớp: ME06A

CÁC TỪ VI T TẮT
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
UNFPA : Quỹ dân số Liên hiệp quốc

Trang vi


TR N THUẬN KHÔI NGUYÊN

Lớp: ME06A

TÓM TẮT
Hiện nay, khi nói đến những vấn đề kinh tế đang gặp phải tại Việt Nam thì
việc người dân nhập cư đến các đô thị lớn ngày càng nhiều gây quá tải dân số
cho độ thị và khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm đang là một vấn đề khiến
các nhà hoạch định chính sách phải quan tâm. Mặc dù lao động nhập cư từ các
tỉnh thành đổ về các đô thị lớn phát triển như Thành phố Hồ Chí Minh là nguồn
cung lao động dồi dào cho phát triển kinh tế tuy nhiên đây cũng là một bộ phận
dân cư khó quản lý, dễ tổn thương và thường thiếu thông tin về thị trường lao
động nên công việc tìm được rất bấp bênh và dễ bị thất nghiệp. Trước tình hình
đó cần có những giải pháp đặc thù để giải quyết việc làm cho dân nhập cư cũng
như đảm bảo phát triển kinh tế đô thị bền vững cho thành phố. Đó là lúc tầm
quan trọng của vốn xã hội cần phải được nhìn nhận một cách đúng mức. Vốn xã
hội được hình thành từ mạng lưới các mối quan hệ giữa người và người hay còn
gọi là mạng lưới xã hội, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng đây
chính là yếu tố quan trọng cung cấp thông tin cho người lao động nhập cư trong
quá trình tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam vẫn cón ít nghiên
cứu về vai trò mạng lưới xã hội trong nền kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên,
bài nghiên cứu này tập trung tìm hiểu về mối quan hệ giữa mạng lưới xã hội với
khả năng tìm kiếm việc làm của dân nhập cư tại quận Bình Tân – Quận có dân
nhập cư đông nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh; thông qua đó đề xuất những kiến
nghị nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp của dân nhập cư, góp phần giảm tải
sự tập trung lao động quá mức cho đô thị.
Bài nghiên cứu tổng hợp những lý thuyết và kết quả nghiên cứu của những
nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới về vốn xã hội như như Coleman (1988);
Fukuyama (2001), Putnam (1995), Van Deth (2008), David Marmaros và Bruce
Sacerdote (2001), Fredrik Andersson và đồng sự (2009),… đưa ra hai mô hình
nghiên cứu định lượng để xem xét tác động của các mối quan hệ gia đình và quan
hệ chức năng như việc liên lạc ngưởi thân và bạn bè để tìm việc hay nhở sự hỗ
trợ của các tổ chức như hội phụ nữ, đoàn thanh niên hoặc các phương tiện thông
tin đại chúng… có giúp cho ngưởi lao động nhập cư tìm được việc làm nhanh
Trang vii


TR N THUẬN KHÔI NGUYÊN

Lớp: ME06A

chóng và thu nhập đem lại cao hơn so với tự tìm kiếm hay không. Kết quả cho
thấy những người lao động nhập cư có trình độ học vấn thấp và ít liên hệ, sinh
hoạt trong các tổ chức địa phương nên thông tin việc làm của họ rất hạn chế.
Những người tìm được việc thông qua yếu tố mạng lưới xã hội như gia đình, bạn
bè,… và thường xuyên liên lạc với những người này sẽ có nhiều thông tin hơn về
những công việc mà họ quan tâm nên có thời gian tìm được việc ng n hơn và có
mức thu nhập cao hơn những người không tìm việc qua mạng lưới xã hội. Ngoài
ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy các tổ chức địa phương hoàn toàn có thể giúp
tăng cơ hội tìm được việc làm cho người nhập cư nhưng lại không phát huy hiệu
quả do người nhập cư không biết đến những kênh hỗ trợ này.
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số những kiến nghị tham khảo
cho các nhà hoạch định chính sách như tổ chức các lớp dạy nghề, đào tạo nghề
cho bộ phận dân nhập cư có trình độ thấp; song song đó chính quyền địa phương
cần sâu sát liên kết với các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động và chủ
động thông tin việc làm cho người nhập cư; phát huy vai trò của các tổ chức như
hội phụ nữ, đoàn thanh niên trong việc hỗ trợ việc làm cho người nhập cư. Bên
cạnh đó, xét trên góc độ vĩ mô trong dài dạn cần phải có quy hoạch phù hợp
nhằm phát triển các vùng ven thành phố, tránh tập trung phát triển quá nhiều vào
khu trung tâm như hiện nay; như vậy vừa có thể giải quyết được áp lực cho đô
thị, vừa giảm thiểu được sự cạnh tranh việc làm cho người lao động nhập cư.
Bài nghiên cứu được phát triển theo hướng nghiên cứu định lượng – một
hường nghiên cứu mới về các vấn đề xã hội đang dần phổ biến trong thời gian
gần đây trên thế giới, để lượng hóa các yếu tố vốn xã hội nói riêng và mạng lưới
xã hội nói chung nhằm mục đích cho người đọc nhận thấy tầm quan trọng của
các yếu tố xã hội trong chính sách giải quyết việc làm cho người nhâp cư. Qua
đó, tác giả mong muốn đây sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho những nghiên cứu
trong tương lai về mạng lưới xã hội.

Trang viii


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

CHƢƠNG 1
T NG QU N
1.1.

T I NGHI N CỨU

ặt vấn đề
Giá trị của tình thân, sự tương tác và thông cảm giữa các cá nhân hay gia

đình đã được biết đến lần đầu như là một nguồn lực của xã hội bên cạnh các loại
vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn con người từ những thập niên đầu tiên của thế
kỷ 20 thông qua những bài nghiên cứu của Hanifan (1916). Vào thời điểm đó,
những giá trị này được gọi tên là vốn xã hội. Đến những năm 1970 thì khái niệm
này mới thật sự được quan tâm đến và được dùng trong những nghiên cứu của
Bourdieu. Tuy nhiên, vốn xã hội chỉ thực sự là một thuật ngữ khoa học và trở
thành một hiện tượng nghiên cứu vào những năm 1980 khi mà Bourdieu công bố
tác phẩm ―Các hình thức của vốn‖. Tiếp theo đó là hàng loạt các nghiên cứu về
vốn xã hội của Coleman (1988); Fukuyama (2001), Putnam (1995), Van Deth
(2008) … đã bổ sung, phát triển và dần hình thành nên hai khía cạnh cơ bản của
vốn xã hội là khía cạnh cấu trúc và khía cạnh tri nhận. Theo đó, khía cạnh tri
nhận ám chỉ chuẩn mực, lòng tin, trách nhiệm và kỳ vọng của mỗi người và chỉ
mới được phát triển sau này vào đầu thế kỷ 21 bởi Fukuyama (2002) và
Woolcock (2001). Trước đó, khía cạnh cấu trúc của vốn xã hội hay còn gọi là
mạng lưới xã hội được hiểu là số lượng, cường độ các mối quan hệ giữa các cá
nhân,đã được nhìn nhận như là yếu tố cốt lõi và được đề cập xuyên suốt lịch sử
hình thành của vốn xã hội. Ngày nay, mạng lưới xã hội đang dần khẳng định tầm
quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là thị trường lao động của một nước. Vì
vậy chủ đề về mạng lười xã hội đã và đang được quan tâm nghiên cứu ở nhiều
nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Hiện nay, khi nói đến mạng lưới xã hội tại Việt Nam, các nhà hoạch định
chính sách quan tâm nhiều đến việc quản lý mạng lưới dân nhập cư vì đây là bộ
phận dân cư đóng góp rất nhiều cho thị trường lao động của các thành phố công
nghiệp lớn, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh. Ước tính mỗi năm GDP Thành
phố chiếm khoảng 1/5 GDP của cả nước và 1/3 tổng thu ngân sách nhà nước
(Niên giám thống kê TP.HCM, 2014). Sự phát triển nhanh chóng của thành phố
Trang 1


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

Hồ Chí Minh đã biến nơi đây thành nơi thu hút đầu tư nhiều nhất nước ta. Hàng
năm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các công ty, tập
đoàn lớn đã đem lại hàng trăm nghìn việc làm cho người dân tại Thành phố Hồ
Chí Minh. Chỉ tính riêng năm 2015, thành phố đã giải quyết việc làm cho hơn
295 nghìn người (Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, 2016). Nhu cầu lao
động cao đã thu hút dân nhập cư từ các tỉnh đổ về thành phố Hồ Chí Minh. Trong
giai đoạn 2012 – 2014 bình quân mỗi năm dân số thành phố Hồ Chí Minh tăng
thêm khoảng 60.000 dân nhập cư (tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê,
2015).
Thống kê của Bộ lao động Thương binh Xã hội cho thấy hiện nay 80%
công nhân tại thành phố Hồ Chí Minh là lao động nhập cư. Bộ phận dân nhập cư
vào Thành phố Hồ Chí Minh đã đáp ứng phần lớn nhu cầu lao động phục vụ phát
triển công nghiệp, đầu tư trong và ngoài nước và trong dài hạn nguồn lao động
này còn góp phần điều tiết thị trường lao động và điều chỉnh giá cả trên thị
trường này (Devlin và cộng sự, 2014). Theo Báo cáo phân tích thị trường lao
động của Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động
trong năm 2015, trung bình mỗi quý nhu cầu của thị trường lao động tại thành
phố Hồ Chí Minh cần khoảng 50.000 vị trí việc làm. Mặc dù nhu cầu lao động
cao nhưng người dân nhập cư hiện nay vẫn rơi vào tình trạng thất nghiệp nghiêm
trọng, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm người này cao gần gấp năm lần so với tỷ lệ thất
nghiệp của lao động từ 15 tuổi trở lên và tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi thanh
niên 15-24 tuổi, là nhóm mới gia nhập vào thị trường lao động (Tổng cục Thống
kê, 2012). Một bộ phận đáng kể trong số họ hiện có công việc thiếu ổn định, bấp
bênh, đặc biệt là khu vực phi chính thức. Nguyên nhân là do nhiều người nhập cư
gặp phải sự phân biệt đối xử trong thị trường lao động, so với người bản địa.
Người nhập cư do trình độ thấp nên thường tập trung vào các khu vực phi chính
thức, làm các công việc được trả lương thấp, ít an toàn. Họ dễ tìm được công việc
giản đơn như bán hàng, bốc xếp, công nhân… nhưng cũng dễ rơi vào cảnh thiếu
việc làm, thất nghiệp khi doanh nghiệp phá sản, số lao động đổ về thành phố liên
tục tăng. Về phúc lợi xã hội, họ cũng không được tiếp cận bảo hiểm xã hội, y tế
và việc làm (Quỹ dân số liên hiệp quốc, 2011). Chính vì vậy điều cấp thiết hiện
Trang 2


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

nay ở các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh là cần có những chính sách giúp
giảm tỷ lệ thất nghiệp hướng đến ổn định việc làm một cách nhanh chóng cho
dân nhập cư.
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về khả năng tìm việc làm của các đối
tượng khác nhau ở Việt Nam như nghiên cứu của Trần Thị Minh Phương và
Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), Phạm Đức Thuần và Dương Ngọc Thành (2014),
Nguyễn Mạnh Hải và Trần Toàn Th ng (2009). Tuy nhiên, hiện vẫn còn ít
nghiên cứu và tài liệu cho thấy vai trò của mạng lưới xã hội như gia đình, họ
hàng, bạn bè, thầy cô,… tác động đến khả năng tìm việc của người dân nhập cư
tại thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, trong bài nghiên cứu này tác giả muốn làm rõ
mối quan hệ trên để từ đó kiến nghị những chính sách giúp các nhà hoạch định
cải thiện thời gian tìm kiếm việc làm việc làm, ổn định thu nhập cho người dân
nhập cư và dần xóa bỏ các nhân tố xô đẩy người dân di chuyển đến các đô thị lớn
như Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế
nên giới hạn của đề tài chỉ thực hiện trên địa bàn Quận Bình Tân, quận có dân số
đông nhất trong 24 quận huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh, dân số trung bình
của quận này năm 2014 là 672.309 người (Niên giám thống kê Tp.HCM năm
2014) trong đó trên 50% là dân di cư từ các tỉnh thành khác (UBND Quận Bình
Tân, 2015). Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Tác động của mạng lƣới xã hội đến
khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình
Tân”.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xem xét mối liên hệ giữa mạng lưới
xã hội và khả năng tìm kiếm việc làm của người dân nhập cư tại Quận Bình Tân.
Các mục tiêu cụ thể là:
- Phân tích tác động của mạng lưới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm
của người lao động nhập cư trên địa bàn Quận Bình Tân. Theo thống kê của Liên
đoàn lao động Mỹ (2011) thì một trong những yếu tố thể hiện khả năng tìm được
việc làm của một người là thời gian tìm được việc làm của người đó nhanh hay
chậm kể từ thời điểm b t đầu tìm kiếm việc làm. Ngoài ra, khi nghiên cứu về cơ
Trang 3


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

hội tìm kiếm việc làm các nhà nghiên cứu về lao động còn quan tâm đến vấn đề
thu nhập đem lại từ công việc tìm được vì điều này sẽ quyết định sự ổn định
trong công việc của người lao động như các nghiên cứu của Marmaros và
Sacerdote (2001);

ndersson và đồng sự (2009); Galeotti và Merlino (2010). Do

đó, mục tiêu này sẽ được cụ thể hóa bằng hai tác động chính:
+ Tác động của mạng lưới xã hội đến thời gian tìm được công việc đầu
tiên của lao động nhập cư trên địa bàn Quận Bình Tân;
+ Tác động của mạng lưới xã hội đến thu nhập từ công việc hiện tại của
lao động nhập cư trên địa bàn Quận Bình Tân.
- Đề xuất những chính sách thông qua mạng lưới xã hội sẽ nâng cao cơ hội
tìm kiếm việc làm cho người lao động nhập cư.

1.3. Giả thuyết nghiên cứu
Mạng lưới xã hội có tác động đến khả năng tìm kiếm việc làm của người
dân nhập cư tại Quận Bình Tân. Người có mạng lưới xã hội càng rộng thì thời
gian tìm được việc càng nhanh và thu nhập từ công việc càng cao.

1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, nghiên cứu dự kiến trả lời câu hỏi sau:
- Mạng lưới xã hội có cải thiện thời gian tìm kiếm việc làm cho người nhập
cư hay không ?
- Mạng lưới xã hội có giúp người nhập cư tìm được việc làm có thu nhập cao
hay không ?

1.5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu chủ yếu:
- Phương pháp phân tích thống kê được dùng để đánh giá thực trạng lao động
nhập cư tại Quận Bình Tân.
- Phương pháp phân tích định lượng. Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS,
Eview để phân tích mô hình hồi quy yếu tố mạng lưới xã hội và các yếu tố khác

Trang 4


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

ảnh hưởng đến khả năng tìm việc làm của người dân nhập cư tại Quận Bình Tân.

1.6.

ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: người lao động nhập cư trên địa bàn Quận Bình
Tân, là những người trong độ tuổi lao động di chuyển đến Quận Bình Tân thường
trú hoặc tạm trú nhằm mục đích tìm kiếm việc làm (không bao gồm đối tượng là
sinh viên và những người di chuyển con l c).
- Phạm vi nghiên cứu: việc nghiên cứu chủ yếu nhằm quan sát sự tương
quan giữa mạng lưới xã hội đến cơ hội tìm kiếm việc làm của người dân nhập cư
tại các phường trên địa bàn Quận Bình Tân.

1.7.

ết cấu của

i nghiên cứu

- Chƣơng 1: Phần mở đầu: Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu.
- Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này cung cấp các khung lý thuyết cơ
sở của nghiên cứu có liên quan đến mạng lưới xã hội và việc làm của dân nhập
cư.
- Chƣơng 3: Tổng quan thực trạng chung về tình hình nhập cư trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh nói chung và Quận Bình Tân nói riêng.
- Chƣơng 4: Chương này trình bày mô hình nghiên cứu và các kết quả
nghiên cứu. Đồng thời thực hiện thống kê mô tả tổng quát cho thấy vai trò của
mạng lưới xã hội đối với việc làm của dân nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Chƣơng 5: Kết luận, tổng quát toàn bộ nghiên cứu và khuyến nghị các
giải pháp chính sách.

Trang 5


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

CHƢƠNG 2
CƠ SỞ

THU

T

2.1. Lý thuyết về di cƣ
2.1.1. Khái niệm di cƣ (xuất cƣ v nhập cƣ)
Liên Hiệp Quốc (1958) định nghĩa về di cư là môt hình thức di chuyển
trong không gian giữa con người từ một đơn vị địa lý hành chính này đến một
đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên. Định
nghĩa này không bao gồm người sống lang thang, dân du mục, di dân theo mùa
và di dân theo kiểu con l c (đi và về theo ngày). Di cư bao gồm hai quá trình:
- Xuất cư: là quá trình chuyển đi của dân cư từ một vùng hay một quốc gia
này đến một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặc tạm
thời (trong một khoản thời gian dài).
- Nhập cư: là quá trình chuyển đến của dân cư từ một vùng hay một quốc
gia này đến một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặc
tạm thời (trong một khoản thời gian dài).
Theo định nghĩa của Tổng cục thống kê người nhập cư là những người thay
đổi nơi thực tế thường trú, tức là số người thực tế thường trú của đơn vị hành
chính khác (nơi xuất cư) để nhập cư đến đơn vị hành chính đang nghiên cứu (nơi
nhập cư) trong kỳ báo cáo (một năm lịch) để ở. Khái niệm này không bao gồm
những người chuyển đến tạm thời (như đến thăm người thân, đến để du lịch hoặc
chữa bệnh,…) hoặc loại ―di chuyển con l c‖ (như từ nơi làm việc trở về nhà
riêng).
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích tác động của mạng
lưới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của người dân nhập cư trên địa bàn
Quận Bình Tân (khả năng tìm kiếm việc làm ở đây là công việc đầu tiên người
lao động nhập cư nhận được sau khi nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh), đề tài
đưa ra khái niệm về lao động nhập cư tương ứng nhằm chọn mẫu khảo sát. Cụ
thể, lao động nhập cư trong đề tài này là những người trong độ tuổi lao động di
chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh thường trú hoặc tạm trú nhằm mục đích tìm
kiếm việc làm (không bao gồm sinh viên và những người di chuyển con l c).
Trang 6


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

2.1.2. Nguyên nhân dẫn đến di cƣ
Có rất nhiều nguyên nhân khiến người dân có thể di cư từ nơi này đến nơi
khác để sinh sống. Mỗi cá nhân có những quyết định khác nhau phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: tuổi, giới tính; trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp;
sự nhận thức về cơ hội, lối sống, điều kiện vật chất của từng cá nhân hay người
thân và bạn bè cũng đóng vai trò là một yếu tố tác động đến quyết định di cư.
Quyết định ra đi hay ở lại của mỗi người được hình thành nhờ sự tổng hợp của
tất cả các yếu tố này cho nên rất khó để biết được một cách đầy đủ lý do di cư
của một người (Quỹ dân số Liên hiệp quốc, 2011).
Ortega và Peri (2009) khái quát hóa những nguyên nhân chủ yếu của việc di
cư thông qua mô hình kéo và đẩy (Push and Pull Model) như sau:
- Yếu tố thúc đẩy (Push factors) là những yếu tố buộc một người phải di
cư một cách tự nguyện. Đó có thể là yếu tố về tự nhiên hay tôn giáo nhưng một
nền kinh tế nghèo nàn và thiếu việc làm lại là yếu tố đóng vai trò chủ chốt thúc
đẩy một người rời quê hương tìm đến nơi khác để mưu sinh và cải thiện chất
lượng cuộc sống.
- Yếu tố kéo (Pull factors) là những đặc điểm tại nơi đến thu hút được
người dân nhập cư như cơ hội tốt hơn về kinh tế, việc làm, và hứa hẹn về một
điều kiện sống tốt hơn.

2.1.3. Ảnh hƣởng của di cƣ đến phát triển kinh tế-xã hội
Di cư mang bản chất kinh tế xã hội sâu s c. Trong điều kiện bình thường
người ta di cư vì các nguyên nhân kinh tế và xã hội là chủ yếu. Do đó, động cơ di
cư đã và đang là vấn đề được các nhà nghiên cứu dân số và xã hội học quan tâm.
Di cư tác động đến kinh tế-xã hội ở cả nơi đến và nơi đi (Quỹ dân số liên hiệp
quốc, 2011).
ối với nơi đến
- Tác động tích cực: Góp phần phát triển kinh tế - xã hội làm tăng GDP và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nơi đến đặc biệt là các thành phố.
Trang 7


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

Ngoài việc mở rộng cung ứng lao động, trong ng n hạn việc tăng cung lao động
sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường lao động và làm giảm tiền lương. Tuy
nhiên dần dần các kỹ năng của người nhập cư sẽ bổ trợ cho lực lượng lao động
sẵn có và làm tăng năng suất của nền kinh tế. Điều này dẫn đến sự tăng trưởng về
tiền lương trong trung và dài hạn. Người nhập cư cũng mở rộng nhu cầu tiêu
dùng hàng hóa và dịch vụ nên trong trung và dài hạn họ có thể kéo theo sự tăng
đầu tư cho nền kinh tế. Như vậy, việc nhập cư mặc dù làm tăng tính cạnh tranh
cho công việc hiện tại nhưng mặt khác nó lại thúc đẩy nền kinh tế tạo ra nhiều
công ăn việc làm mới (Ruhs và Vargas – Silva, 2015).
- Tác động tiêu cực: Số lượng người di cư đến các thành phố lớn, đặc biệt
đa số họ là những người trình độ học vấn thấp, chưa qua đào tạo nghề nghiệp. Vì
vậy, rất nhiều người di cư không có công việc làm ổn đinh, thu nhập thấp thậm
chí nếu dòng di cư trở nên không thể kiểm soát sẽ gây ra tình trạng thất nghiệp
cao và dễ dẫn đến các tệ nạn xã hội.
Trong ng n hạn sẽ có sự giảm nhẹ tiền lương nên một số người lao động sẽ
chấp nhận làm việc với thu nhập thấp, điều này khiến họ bỏ qua năng suất lao
động, những khóa đào tạo và động lực đổi mới. Ngoài ra, Các điều kiện về cơ sở
hạ tầng như nhà ở, trường học, bệnh viện, điện, nước, đường phố, vệ sinh môi
trường và các điều kiện khác hiện chưa thể đáp ứng được tốt so với số dân thực
tế đang sống tại thành phố (Migration Advisory Committee, 2014).
ối với nơi đi
- Tác động tích cực: Góp phần phát triển kinh tế gia đình ở địa phương nơi
đi qua đó làm thay đổi bộ mặt làng quê ở nơi đi. Tác động tích cực của người di
cư đối với gia đình và địa phương nơi đi được đánh giá qua số tiền gửi về gia
đình, sử dụng tiền gửi của gia đình vào phát triển kinh tế, giáo dục và chăm sóc
sức khỏe cho các thành viên trong gia đình và đầu tư phát triển kinh tế ở địa
phương. Bên cạnh đó người di cư còn góp phần phát triển kinh tế ở địa phương
qua việc người di cư có thu nhập cao đầu tư về phát triển ngành nghề ở địa
phương. Nhiều người di cư đã học được kinh nghiệm sản xuất ở nơi đến, khi trở
về quê họ mở ngành nghề mới thu hút lao động địa phương qua đó cải thiện đời
Trang 8


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

sống cho người lao động ở quê nhà. (UNFPA, 2011)
- Tác động tiêu cực:Thiếu lao động tại địa phương nơi đi, một số lối sống
đô thị không phù hợp với truyền thống đã du nhập vào cuộc sống hàng ngày ở
nơi đi. Ngoài ra còn một số các tác động khác liên quan đến tệ nạn xã hội và sự
thiếu tốn tình cảm gia đình của người di cư. (UNFPA, 2011)
Bảng 2.1. Tóm tắt lý thuyết về di cƣ
Di cƣ là môt hình thức di chuyển trong không gian giữa con người từ một đơn vị địa lý hành chính này đến một đơn
vị địa lý hành chính khác, kém theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên
Nguyên nhân dẫn đến di cƣ
- Yếu tố thúc đẩy là những yếu tố buộc một người phải di cư một cách tự nguyện. Đó có thể là yếu tố về tự nhiên, tôn
giáo nhưng một nền kinh tế nghèo nàn và thiếu việc làm lại là yếu tố đóng vai trò chủ chốt thúc đẩy một người rời
quê hương tìm đến nơi khác để mưu sinh và cải thiện chất lượng cuộc sống.
- Yếu tố kéo là những đặc điểm tại nơi đến thu hút được người dân nhập cư như cơ hội tốt hơn về kinh tế, việc làm, và
hứa hẹn về một điều kiện sống tốt hơn.
Ảnh hƣởng của di cƣ đến phát triển kinh tế-xã hội:
- ối với nơi đến:
+ Tích cực: Góp phần làm tăng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động; nguồn cung cấp nguồn nhân lực cho
các công việc lao động giản đơn; góp phần thúc đẩy phát triển ngành nghề dịch vụ; góp phần điều tiết giá cả lao động
trên thị trường lao động.
+ Tiêu cực: Gia tăng dân số cơ học nhanh; điều kiện về cơ sở hạ tầng chưa thể đáp ứng; người di cư chưa có thói
quen bảo vệ môi trường; gây khó khăn cho việc quản lý trật tự trị an; làm tệ nạn trộm c p và tệ nạn xã hội gia tăng.
- ối với nơi đi
+ Tác động tích cực:Góp phần phát triển kinh tế gia đình ở địa phương nơi đi; đầu tư về phát triển ngành nghề ở địa
phương; mở ngành nghề mới thu hút lao động địa phương qua đó cải thiện đời sống cho người lao động ở quê nhà.
+ Tác động tiêu cực:Thiếu lao động tại địa phương nơi đi; một số lối sống đô thị không phù hợp với truyền thống đã
du nhập vào cuộc sống hàng ngày ở nơi đi, một số các tác động khác liên quan đến tệ nạn xã hội và sự thiếu tốn tình
cảm gia đình của người di cư.
Nguồn: Tác giả tổng hợp

2.2.

thu ết về vốn xã hội
Vốn xã hội (social captial), là một thuật ngữ đã được sử dụng từ đầu thế kỷ

20, nhưng chỉ được sử dụng một cách rộng rãi sau công trình của Coleman,
Bourdieu vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Thuật ngữ này liên
quan đến mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tán thành/ thừa nhận khiến cho
hành động hợp tác giữa các cá nhân và các cộng động được dễ dàng. Từ năm
1995, đã có một sự bùng nổ trong các chủ đề nghiên cứu về vốn xã hội với phạm

Trang 9


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

vi rộng ở các ngành khoa học hàn lâm. Điều này cho thấy rằng các nhà hoạch
định chính sách, các thể chế quốc gia và quốc tế đã thể hiện sự quan tâm ngày
càng tăng về nhận thức và những ảnh hưởng của vốn xã hội (Hoàng Bá Thịnh,
2009).
Ở Châu Âu, Bourdieu (1983) đưa ra định nghĩa về vốn xã hội Là tổng hợp
các nguồn lực, hữu hình hay vô hình được tích luỹ bởi một cá nhân hay một
nhóm thông qua một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ qua lại có mức độ
thể chế hoá nhiều hay ít đã được thừa nhận. Cũng vào thời gian với Boundieu,
nhà xã hội học người Mỹ Coleman (1994), đưa ra một khái niệm rất rộng về vốn
xã hội mà không dựa vào cơ sở nghiên cứu lĩnh vực hẹp ―Vốn xã hội được định
nghĩa bằng chức năng của nó. Nó không phải là những thực thể riêng lẻ mà là
những thực thể đa dạng, với hai thành tố chung: chúng bao gồm một số khía cạnh
của cấu trúc xã hội và tất nhiên là chúng linh hoạt trong các hành động của các
tác nhân - dù các cá nhân hoặc liên kết các tác nhân - trong cấu trúc đó. Cũng
giống như các hình thức khác của vốn, nhờ vốn xã hội có thể đạt được những
mục tiêu cụ thể mà nếu không có vốn xã hội thì không thể đạt được‖.
Tiếp đó, tại một công trình nghiên cứu vào năm 1994, Coleman giải thích
vốn xã hội theo quan điểm chức năng, ông định nghĩa vốn xã hội là ―các nguồn
lực cấu trúc xã hội mà cá nhân có thể sử dụng như là nguồn vốn tài sản‖. Đồng
thời, ông cũng chỉ ra một số hình thái của vốn xã hội, như sau:
- Lòng tin, sự kỳ vọng, trách nhiệm được thể hiện trong quan hệ xã hội và
nhờ chúng mà hành động được thực hiện đều là những hình thái của vốn xã hội.
- Thông tin được phát triển và trao đổi trong quan hệ giữa người này với
người khác mà nhờ nó hành động được thực hiện cũng là hình thái của vốn xã
hội.
- Những chuẩn mực xã hội có hiệu lực mà nhờ nó hành động được thực
hiện.Dưới hình thái là những chuẩn mực, vốn xã hội có thể khuyến khích hoặc
kiềm chế hành động của các cá nhân, nhóm xã hội.
- Quyền lực hay uy tín cũng được xem là một hình thái của vốn xã hội, bởi
vì khi giao quyền kiểm soát hành động cho một người nào đó, điều này cũng có

Trang 10


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

nghĩa là đã tạo ra vốn xã hội cho người đó. (Coleman, 1994).
Putnam (1995) , một giáo sư xã hội học ở Đại học Harvard lại nhấn mạnh:
―vốn xã hội nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội như các mạng
lưới, các chuẩn mực, và sự tin cậy trong xã hội từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phối hợp và hợp tác nhằm hướng đến lợi ích chung‖. Dựa trên những quan
điểm của mình, Putnam đã chia cấu trúc của vốn xã hội thành hai dạng hình thái
chính: Thứ nhất, vốn xã hội co cụm bên trong (bonding social capital): là vốn xã
hội tồn tại qua các mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong một nhóm hay
cộng đồng có những đặc điểm chung đồng nhất với nhau (về giới tính, tuổi, dân
tộc, đây được xem là liên kết hiệu quả nhất giúp một người vượt qua những vấn
đề đang gặp phải. Thứ hai là Vốn xã hội vươn ra bên ngoài (bridging social
capital): những mối quan hẹ giữa các cá nhân vượt ra khỏi khuôn khổ của các
những nhóm hay cộng đồng đồng nhất.
Cũng với cách hiểu tương tự, Ngân hàng Thế giới (1999) đã đưa ra một
định nghĩa về vốn xã hội là ―các chỉ tiêu và quan hệ xã hội gắn liền với các cấu
trúc xã hội cho phép mọi người phối hợp hành động và đạt được mục tiêu mong
muốn, nó không chỉ là tổng số đơn thuần các thể chế tạo nên một xã hội - nó còn
là chất keo dính gắn kết chúng lại với nhau‖.
Mặt khác, Fukuyama - một nhà khoa học có tên tuổi và có nhiều bài viết về
vốn xã hộilại có những định nghĩa khác nhau khi bàn đến vốn xã hội và vai trò
của nó đối với sự phát triển. Ông nhận xét rằng, có rất nhiều định nghĩa quy vốn
xã hội vào những biểu hiện của nó hơn là chính bản thân vốn xã hội. Fukuyama
quan niệm ―vốn xã hội là những chuẩn mực không chính thức có tác dụng thúc
đẩy sự hợp tác giữa hai hay nhiều cá nhân‖ (Fukuyama, 2001). Theo ông, những
chuẩn mực cấu thành vốn xã hội có thể được kể từ những chuẩn mực của sự
tương tác giữa hai người bạn đến cả những học thuyết phức tạp, tỉ mỉ, quy củ như
Thiên Chúa giáo hay Nho giáo. Chúng phải được giải thích bằng một mối quan
hệ thực tế của con người: chuẩn mực của sự tương tác tồn tại tiềm tàng trong
cách cư xử của tôi với tất cả mọi người, nhưng nó chỉ được thực hiện một cách
thực sự trong cách cư xử của tôi với những người bạn của tôi. Bằng định nghĩa

Trang 11


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

này, lòng tin, mạng lưới, xã hội dân sự và những thứ tương tự, những thứ g n
vốn xã hội, là tất cả các sản phẩm phụ, nảy sinh như là kết quả của vốn xã hội
nhưng không cấu thành bản thân vốn xã hội. Một năm sau, trong một bài viết
khác, Fukuyama lại đưa ra một định nghĩa khác: ―Vốn xã hội là các chuẩn mực,
giá trị được chia sẻ đểthúc đẩy sự hợp tác xã hội, điều này được chứng minh
bằng các mối quan hệ xã hội thực sự‖ (Fukuyama, 2002).
Cùng thời điểm với Fukuyama, một nhà khoa học xã hội Woolcock (2001)
lập luận rằng những đóng góp quan trọng về vốn xã hội trước đây đến thời điểm
mà các quan điểm của Putnam ra đời không phân biệt rạch ròi giữa các loại khác
nhau của vốn xã hội. Từ đó ông phân biệt vốn xã hội thành ba nhóm chính được
xem là cơ sở cho các nghiên cứu về vốn xã hội sau này, bao gồm: Thứ nhất, vốn
xã hội co cụm bên trong (bonding social capital): biểu thị quan hệ giữa con
người trong những tình huống tương tự, chẳng hạn như gia đình, bạn thân và
hàng xóm. Kế đến là Vốn xã hội vươn ra bên ngoài (bridging social capital):
trong đó bao gồm mối quan hệ xa hơn, chẳng hạn như những người bạn và đồng
nghiệp không thân thiết. Và cuối cùng là vốn xã hội liên kết (linking social
capital) là những mối quan hệ vươn ra những người khác nhau trong các tình
huống khác nhau, chẳng hạn như những người hoàn toàn bên ngoài của cộng
đồng, do đó cho phép các thành viên tận dụng một phạm vi rộng hơn các nguồn
lực có sẵn trong cộng đồng. Vốn xã hội liên kết liên quan đến kết nối giữa những
người cầm quyền ở các lĩnh vực chính trị hay tài chính và có một sự ảnh hưởng
nhất định (Woolcock, 2002).
Đến năm 2008, Van Deth với cùng quan điểm rằng vốn xã bao gồm các
nguồn lực nằm trong mạng lưới và những mạng lưới này sẽ được g n kết bởi các
giá trị như chuẩn mực, lòng tin, trách nhiệm và kỳ vọng của mỗi người. Như vậy,
theo ông định nghĩa vốn xã hội chỉ đầy đủ khi bao gồm hai khía cạnh là vốn xã
hội cấu trúc và vốn xã hội tri nhận. Khía cạnh cấu trúc của vốn xã hội hay còn
gọi là mạng lưới xã hội được hiểu là số lượng, cường độ các mối quan hệ giữa
các cá nhân. Còn khía cạnh tri nhận ám chỉ chuẩn mực, lòng tin, trách nhiệm và
kỳ vọng của mỗi người.

Trang 12


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

Nhìn chung có thể nhận thấy sự khác biệt trong cách nhìn nhận về vốn xã
hội giữa các nhà nghiên cứu, sự khác biệt này có thể được chia làm ba luồng
quan điểm chính: trong khi quan điểm của Bourdieu cho rằng vốn xã hội là tổng
hợp những giá trị mà cá nhân hay một nhóm tích lũy được thông qua các mối
quan hệ thì Coleman, Putnam lại cho rằng vốn xã hội là những giá trịđược xem
như là tài sản chung cho cộng đồng hay toàn xã hội.Fukuyama, một nhà chính trị
học, lại nhấn mạnh đến khía cạnh chuẩn mực trên cơ sở các định chế xã hội.Tiếp
sau đó Woolcock là người đã tổng hợp các quan điểm trên và đưa ra 3 hình thái
tương đối đầy đủ của vốn xã hội. Cũng cùng quan điểm với Woolcock nhưng
Van Deth (2008) lại có cách phân loại vốn xã hội theo hai khía cạnh khác nhau là
khía cạnh cấu trúc và khía cạnh tri nhận. Các nghiên cứu này có thể được xem là
cơ sở cung cấp cái nhìn tổng quan về vốn xã hội để phục vụ cho các công trình
về vốn xã hội sau này. Với mục tiêu là tìm ra mối tương quan giữa các yếu tố đại
diện cho mạng lưới xã hội đến khả năng tìm việc của người lao động nhập cư,
trong đề tài này tác giả chỉ dừng lại nghiên cứu về khía cạnh cấu trúc của vốn xã
hộihay nói cách khác là nghiên cứu về hai nhóm vốn xã hội co cụm bên trong và
vốn xã hội vươn ra bên ngoài như lý thuyết của các nhà khoa học Putnam và
Woolcock.
Bảng 2.2. Tóm tắt lý thuyết về vốn xã hội
Về định nghĩa: có sự khác biệt giữa các nhà khoa học. Trong khi Bourdieu cho rằng vốn xã hội là tổng hợp những
giá trị mà cá nhân hay một nhóm tích lũy được thông qua các mối quan hệ thì Coleman, Putnam lại cho rằng vốn
xã hội là những giá trị được xem như là tài sản chung cho cộng đồng hay toàn xã hội. Fukuyama, một nhà chính trị
học, lại nhấn mạnh đến khía cạnh chuẩn mực trên cơ sở các định chế xã hội.
Phân loại vốn xã hội:
- Vốn xã hội co cụm bên trong (bonding social capital): biểu thị quan hệ giữa con người trong những tình
huống tương tự, chẳng hạn như gia đình, bạn thân và hàng xóm.
- Vốn xã hội vƣơn ra ên ngo i ( ridging social capital): trong đó bao gồm mối quan hệ xa hơn, chẳng hạn như
những người bạn và đồng nghiệp không thân thiết .
- Vốn xã hội liên kết (linking social capital) là những mối quan hệ vươn ra những người khác nhau trong các tình
huống khác nhau, chẳng hạn như những người hoàn toàn bên ngoài của cộng đồng, do đó cho phép các thành viên
tận dụng một phạm vi rộng hơn các nguồn luc có sẵn trong cộng đồng.
Các khía cạnh của vốn xã hội theo quan điểm của Van Deth:
- Khía cạnh cấu trúc: số lượng, cường độ các mối quan hệ giữa các cá nhân.
- Khía cạnh tri nhận:chuẩn mực, lòng tin, trách nhiệm và kỷ vọng của mỗi người.
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 13


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

thu ết về mạng lƣới xã hội

2.3.

2.3.1. Một số định nghĩa về mạng lƣới xã hội
Mạng lưới xã hội (Social Network), trước hết để hiểu về mạng lưới xã hội
một cách đơn giản, tốt nhất là đưa ra một vài ví dụ. Nhiều người đã tham gia vào
những tổ chức và mạng lưới xã hội khác nhau. Chúng ta là bạn bè, là đồng
nghiệp, là thầy trò. Chúng ta có thể thuộc một tổ chức xã hội hay nghề nghiệp.
Trong thời gian rảnh rỗi, chúng ta có thể chơi thể thao với một nhóm hay một câu
lạc bộ nào đó, trở thành thành viên của một nhóm có lợi ích cơ bản khác, như
những nhóm chứng khoán, buôn bán bất động sản, hoặc nhóm tín dụng. Chúng ta
cũng có thể thuộc về một tổ chức chính trị - xã hội. Và trong cuộc sống gia đình,
chúng ta là một phần của gia đình, chúng ta có mối quan hệ láng giềng, v.v.
Những mạng lưới hàng ngày, bao gồm rất nhiều các loại quy chế, khế ước xã hội
mà việc định nghĩa chúng và thực hiện chúng chính là những ý nghĩa mà chúng
ta nói về vốn xã hội.
Theo định nghĩa của Wasserman và Faust (1994), mạng lưới xã hội là một
cấu trúc của xã hội được hình thành từ những yếu tố xã hội (giữa các cá nhân độc
lập hay giữa các tổ chức với nhau), những quan hệ cặp đôi và những tương tác xã
hội khác.
Đến năm 1990, Coleman đã đưa ra cấu trúc mạng lưới ba người dưới dạng
một tam giác đều trong đó vốn con người nằm ở ba đỉnh và vốn xã hội nằm ở ba
chiều cạnh của tam giác tức là ở mỗi quan hệ giữa các cá nhân.
Hình 2.1. Sơ đồ cấu trúc ba người

Nguồn: Coleman, 1990

Trang 14


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

Từ sơ đồ cấu trúc đơn giản trên có thể khái quát thành một mô hình tổng
hợp cấu trúc mạng lưới xã hội phức tạp hơn (Lê Ngọc Hùng, 2008), mô hình
tổng hợp cho thấy vốn xã hội tồn tại trong từng quan hệ giữa các cá nhân, nhóm,
tổ chức tức là quan hệ xã hội giữa các đầu mối của mạng lưới xã hội người. Căn
cứ vào quy mô nhóm có thể phân biệt được mạng lưới xã hội vi mô và vĩ mô dựa
vào đặc trưng tập hợp các các quan hệ xã hội.

Hình 2.2. Sơ đồ vốn người, vốn xã hội và mạng lưới xã hội

Nguồn: Lê Ngọc Hùng, 2008

Trên bình diện xã hội học, khái niệm mạng lưới xã hội dựa trên cơ sở lý
thuyết hệ thống và tương tác xã hội. Mạng lưới xã hội là một tập hợp liên kết
giữa các cá nhân hay giữa các nhóm dân cư nhất định. Mạng lưới xã hội được
hình thành trong quá trình di cư cũng như phục vụ cho mục đích di cư được gọi
là mạng lưới di cư. Thông qua những mối quan hệ như họ hàng, bạn bè, người
thân, người di chuyển sẽ được sự giúp đỡ và tiếp nhận thông tin về nơi họ sẽ đến.
Các liên kết xã hội đó sẽ góp phần làm thấp cái giá (kinh tế và tâm lý) phải trả
trong quá trình di cư, đồng thời làm tăng vận hội thành công với đối tượng di
chuyển tại nơi đến. Gia đình, bạn bè, người thân tại nơi chuyển đến thường giữ
vai trò cưu mang, cung cấp thông tin, giúp liên hệ việc làm cũng như vượt qua
những khó khăn ban đầu (Đặng Nguyên Anh, 1998).
Cùng quan điểm trên, Hoàng Bá Thịnh (2009) cho rằng thuyết mạng lưới xã
hội là một nhánh của khoa học xã hội đã được ứng dụng cho một phạm vi rộng
Trang 15


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

của tổ chức con người, từ những nhóm nhỏ cho đến toàn bộ quốc gia. Từ đó ông
đưa ra một khái niệm rộng hơn rằng thuật ngữ ―mạng lưới‖ liên quan đến chuỗi
các vật thể, điểm mấu chốt, và một bản đồ miêu tả về mối quan hệ giữa các vật
thể. Theo cách thức của mạng lưới xã hội thì các vật thể liên quan đến con người
hoặc những nhóm người. “Ví dụ, một mạng lưới có thể bao gồm một con người
và quan hệ của người đó với mỗi một người bạn cũng như người thân của
anh/chị đấy. Mối quan hệ đó có thể có định hướng một chiều hoặc hai chiều. Do
vậy, có thể định nghĩa một cách đơn giản, mạng lưới bao gồm tập hợp các đối
tượng (trong toán học: giao điểm) và một lược đồ hoặc sự miêu tả của mối quan
hệ giữa các đối tượng đó. Mạng lưới đơn giản nhất bao gồm hai đối tượng, A và
B và một mối quan hệ kết nối giữa chúng, khi có nhiều hơn một mối quan hệ,
mạng lưới xã hội được gọi theo thuật ngữ là quan hệ đa thành phần”.
Hiện nay, nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội đã cụ thể hoá
khái niệm mạng lưới xã hội thành khái niệm ―mạng an toàn‖, ―mạng sức khoẻ‖
để chỉ hệ thống các dịch vụ và các mối liên hệ nhằm hỗ trợ và đáp ứng những
nhu cầu, lợi ích của những nhóm nhất định. Sự phát triển vượt bậc của khoa học
công nghệ thông tin và truyền thông hiện nay đang mở ra những mạng toàn cầu
và ―thời đại mạng‖. Nhưng ngay cả khi internet hóa, mạng hoá thì cốt lõi của thời
đại mạng vẫn là mạng lưới xã hội, bởi không phải máy móc mà chính là con
người liên hệ với nhau, kết lại với nhau thành mạng lưới thông qua các phương
tiện công nghệ hiện đại.
Như vậy, mạng lưới xã hội là sự liên kết giữa con người với con người,
giữa con người với tổ chức và giữa các tổ chức với nhau và thông qua đó hình
thành nên cộng đồng xã hội. Do đó, để đo lường mạng lưới xã hội cũng chính là
đo lường các mối liên kết của những người lao động nhập cư. Những liên kết này
sẽ dựa vào hai hình thái cấu trúc của vốn xã hội là vốn xã hội co cụm bên trong
và vốn xã hội vươn ra bên ngoài như đã đề cập ở trên mà phân thành hai nhóm
biến chính đại diện cho mạng lưới xã hội là quan hệ gia đình và quan hệ chức
năng. Ngoài ra, việc phân nhóm biến này còn căn cứ theo bài nghiên cứu của Lê
Ngọc Hùng (2003) sẽ được đề cập ở phần sau cho phù hợp với tình hình thực tế
của Việt Nam.
Trang 16


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

2.3.2. Vai trò của mạng lƣới xã hội
Khi nghiên cứu các kiểu mạng lưới xã hội, Granovetter (1973) cho biết mật
độ và cường độ của các mối liên hệ xã hội có tác dụng khác nhau đối với giao
tiếp và sự hội nhập xã hội. Trái với quan niệm thông thường, ông cho rằng những
người có mạng lưới xã hội dày đặc khép kín trong đó mọi người đều quen biết và
thân thiết nhau có thể sẽ tạo ra sự hạn chế trong việc trao đổi thông tin và cản trở
sự liên hệ với thế giới bên ngoài. Ngược lại, một mạng lưới xã hội gồm các mối
liên hệ yếu ớt, lỏng lẻo, thưa thớt, luôn luôn mở lại tỏ ra có lợi cho sự trao đổi
thông tin và tạo ra sự hội nhập với xã hội cũng như tạo cơ hội cho cá nhân theo
đuổi mục đích của họ. Granovetter gọi đó là ―hiệu ứng mạnh của các mối liên hệ
yếu ớt‖.
Fukuyama (2001) khẳng định vốn xã hội là những chuẩn mực không chính
thức thúc đẩy sự hợp tác giữa các cá nhân. Theo ông, trong các hoạt động kinh tế,
vốn xã hội giữa mỗi cá nhân sẽ giúp giảm được nhiều chi phí trong giao dịch.
Ngoài ra khi nhấn mạnh đến tính tích cực của vốn xã hội. Ông chỉ ra cách mà
vốn xã hội có thể đóng gópvào phát triển kinh tế và xóa bỏ đói nghèo bằng cách
giúp cho nhiều người vượt qua khỏi những khó khăn trong giai đoạn suy thoái
kinh tế và thoát khỏi sự thất nghiệp (Fukuyama, 2002).
Vai trò quan trọng của mạng lưới xã hội được nhấn mạnh trên nhiều
phương diện, chẳng hạn mạng lưới di cư được coi là nhân tố quyết định toàn bộ
quá trình di cư trong nước và quốc tế. Khi nói đến vai trò của mạng lưới xã hội
đến những người di cư, Đặng Nguyên

nh (1998) nhận định di cư là một quá

trình bất tr c, một mạng lưới xã hội đáng tin cậy sẽ góp phần làm giảm rủi ro do
thiếu thông tin. Các liên kết xã hội ở nơi xuất cư và nơi nhập cư sẽ giúp giảm
thấp cái giá phải trả (cả về kinh tế lẫn tinh thần) cho quá trình di cư, đồng thời
làm tăng vận hội thành công cho đối tượng di chuyển tại nơi đến. Gia đình, người
thân, bạn bè tại nơi chuyển đến thường giữ vai trò cưu mang, cung cấp thông tin,
giúp liên hệ việc làm cũng như giúp vượt qua những khó khăn ban đầu. Những
quan hệ mà người di chuyển có được tại nơi nhập cư sẽ làm thuận lợi thêm cho
quá trình hòa nhập của họ với môi trường mới.

Trang 17


Tác động của mạng lƣới xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của ngƣời dân nhập cƣ trên địa bàn Quận Bình Tân

Bảng 2.3. Tóm tắt l thu ết về mạng lƣới xã hội
ịnh nghĩa: Mạng lưới xã hội là một cấu trúc của xã hội được hình thành từ những yếu tố xã hội (giữa các
cá nhân độc lập hay giữa các tổ chức với nhau), những quan hệ cặp đôi và những tương tác xã hội khác
Vai trò của mạng lƣới xã hội:
- Có lợi cho sự trao đổi thông tin và tạo ra sự hội nhập với xã hội cũng như tạo cơ hội cho cá nhân theo đuổi
mục đích của họ;
- Là những chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự hợp tác giữa các cá nhân; trong các hoạt động kinh tế,
vốn xã hội giữa mỗi cá nhân sẽ giúp giảm được nhiều chi phí trong giao dịch; thúc đẩy sự phát triển kinh tế;
- Một mạng lưới xã hội đáng tin cậy sẽ góp phần làm giảm rủi ro do thiếu thông tin, giữ vai trò cưu mang,
giúp liên hệ việc làm cũng như giúp vượt qua những khó khăn ban đầu;
- Những quan hệ mà người di chuyển có được tại nơi nhập cư sẽ làm thuận lợi thêm cho quá trình hòa nhập
của họ với môi trường mới.
Nguồn: tác giả tự tổng hợp

2.4. Các nghiên cứu trƣớc
Granovetter (1974) công bố một trong những công trình quan trọng tiên
phong trong việc lý giải cách thức các cá nhân tìm kiếm các công việc thông qua
các mối quan hệ xã hội. Ông tập trung vào đối tượng là những chuyên gia, kỹ sư
và những người quản lý công nghiệp ở thành phố Newton, Massachusetts, Mỹ và
kết quả cho rằng nhiều người tìm được công việc của mình thông qua các quan
hệ xã hội bởi vì các mạng lưới xã hội cho phép những người tìm kiếm việc làm
tập hợp được những thông tin tốt hơn về tính khả dụng của công ăn việc làm
cũng như các đặc điểm của công việc. Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng
người tìm việc thông qua mạng lưới xã hội thường có mức lương cao hơn.
Đặng Nguyên Anh (1998) tập trung phân tích ảnh hưởng của mạng lưới xã

Trang 18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×